1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên

125 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ bao gồm: 1 Điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương; 2 Trình độ chuyên môn của công nhân vệ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ LỆ QUYÊN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ

CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Nguyên Cự

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu điều tra, kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất kỳ khóa luận, luận văn, luận án nào.

Tôi xin cam đoan các thông tin trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc và trích dẫn đầy đủ.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Lệ Quyên

i

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn với lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Nguyên Cự, người đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ tôi khi tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.

Tôi vô cùng cảm ơn các thầy, cô giáo bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy và bồi dưỡng kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.

Tôi trân trọng cảm ơn các bác, cô, chú, anh, chị tại UBND huyện Yên Mỹ, cũng như người dân tại huyện Yên Mỹ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi những số liệu, thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài của mình.

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do điều kiện không cho phép và trình độ, năng lực chuyên môn còn hạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong được các thầy, cô và mọi người đóng góp ý kiến để tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Lệ Quyên

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Danh mục sơ đồ vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Lý luận chung về chất thải 4

2.1.2 Chất thải rắn 5

2.1.3 Chất thải rắn sinh hoạt 9

2.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý chất thải rắn sinh hoạt 10

2.2 Cơ sở thực tiễn 27

2.2.1 Thực trạng chất thải rắn tại Việt Nam 27

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt một số nước trong khu vực 29 2.2.3 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số tỉnh thành của Việt Nam 30

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 33

iii

Trang 5

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 35

3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 41

3.2 Phương pháp nghiên cứu 42

3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 42

3.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 44

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 45

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 45

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47

4.1 Thực trạng quản lý ctrsh ở huyện Yên Mỹ 47

4.1.1 Thực trạng hệ thống quản lý hành chính chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ 47

4.1.2 Thực trạng nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Yên Mỹ 50 4.1.3 Thực trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Yên Mỹ.53 4.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Yên Mỹ 69

4.1.5 Đánh giá chung tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Yên Mỹ 70 4.2 Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Yên Mỹ 73

4.2.1 Định hướng 73

4.2.2 Giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ 74

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 88

5.1 Kết luận 88

5.2 Kiến nghị 90

Tài liệu tham khảo 92

Phụ lục 95

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt

Cơ cấu Công nghiệp Chất thải rắn

Chất thải rắn công nghiệp

Chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn y tế Đơn vị tính

Hộ gia đình Khối lượng Kinh tế xã hội Lao động Nông nghiệp Quản lý chất thải rắn Quản lý chất thải rắn sinh hoạt Quản lý môi trường

Số lượng Tài nguyên môi trường Thành phố

Ủy ban nhân dân

Vệ sinh môi trường

v

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chất thải rắn theo nguồn phát sinh khác nhau 5 Bảng 2.2 Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt 15 Bảng 2.3 Lượng chất thải rắn phát sinh năm 2003 và 2008 27 Bảng 2.4 Thành phần chất thải rắn toàn quốc năm 2008, xu hướng năm 2015

28

Bảng 2.5 Dự báo lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam 28 Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Mỹ 2011 - 2015 37 Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế của huyện Yên Mỹ thời kỳ 2011 - 2015 39 Bảng 3.3 Đối tượng điều tra 44 Bảng 4.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn

huyện Yên Mỹ năm 2015 51 Bảng 4.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ

năm 2015 52 Bảng 4.3 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ

năm 2015 53 Bảng 4.4 Tình hình phân loại CTRSH của các hộ điều tra 54 Bảng 4.5 Vật dụng chứa chất thải rắn sinh hoạt của các hộ điều tra 56 Bảng 4.6 Phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt ở

huyện Yên Mỹ 58 Bảng 4.7 Diện tích, quy mô khu xử lý chất thải theo công nghệ hiện đại

62

Bảng 4.8 Diện tích, quy mô khu xử lý chất thải theo phương pháp thủ công

tại huyện Yên Mỹ 63 Bảng 4.9 Công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ 64 Bảng 4.10 Nguồn nhân lực thực hiện việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt

tại huyện Yên Mỹ 66 Bảng 4.11 Nguồn tài chính thực hiện việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt

tại huyện Yên Mỹ 67 Bảng 4.12 Mức lương trả cho công nhân 69

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Hướng dẫn phân loại rác tại nguồn 16

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Mỹ 34

Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Yên Mỹ năm 2015 38

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1.Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 8

Sơ đồ 2.2 Hệ thống quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 11 Sơ đồ 4.1.Hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ 48

Sơ đồ 4.2.Quy trình thu gom chất thải rắn sinh hoạt sinh hoạt 57

Sơ đồ 4.3.Hệ thống tái chế chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ 60

Sơ đồ 4.4.Mô hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt mới 78

vii

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Đỗ Lệ Quyên

2 Tên luận văn: “Giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên”.

3 Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra và làm thay đổi bộ mặt đất nước từng ngày, nhưng bên cạnh đó các hiểm họa về môi trường cũng gia tăng Sự phát sinh chất thải nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng do các hoạt động của con người tăng nhanh và vượt qua ngưỡng khả năng tự làm sạch của môi trường do bị ô nhiễm nghiêm trọng Và huyện Yên Mỹ cũng không ngoại lệ Vì vậy, việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt, trong đó có thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt là vấn đề được chính quyền địa phương xác định là quan trọng trong mục tiêu phát triển của huyện.

Trong nghiên cứu này, tôi tập trung vào nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải rắn

ở huyện Yên Mỹ trong thời gian qua, rút ra những mặt được và tồn tại, trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải rắn tại huyện Yên Mỹ trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt; (2) Phản ảnh thực trạng tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Trong nghiên cứu này tôi sử dụng số liệu thứ cấp là các báo cáo, văn bản liên quan đến vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt Số liệu sơ cấp được thu thập bằng điều tra các đối tượng: hộ gia đình, công nhân vệ sinh môi trường, cán bộ quản lý môi trường tại 4 xã, thị trấn là: xã Liêu Xá, Nghĩa Hiệp, Trung Hòa và thị trấn Yên Mỹ Ngoài ra, tôi còn sử dụng phương pháp phân tích số liệu như: thống kê mô tả và thống kê so sánh để phản ảnh thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Qua quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở huyện Yên Mỹ, luận văn đã đưa ra một số kết quả nổi bật sau:

gia đình, các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất với thành phần chất thải khá đa dạng như: thực phẩm thừa, túi nilon, giấy, kim loại, Mỗi ngày, chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện thải ra là 148,5 tấn (năm 2015).

Trang 10

- Việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện còn chưa được thực hiện tốt, người dân chủ yếu phân loại theo cách đơn giản như: thức ăn thừa để riêng, chất thải có thể tái chế (đồ nhựa, sắt thép, ) thì đem bán, còn lại chất thải không thể tái chế để riêng Các hộ gia đình chủ yếu xô nhựa, thùng xốp hoặc túi nilon, bao dứa để đựng chất thải rắn sinh hoạt, đây là những vật dụng mang tính chất gọn nhẹ, dễ di chuyển, đảm bảo vệ sinh.

- Thu gom chất thải rắn sinh hoạt được thực hiện thông qua các tổ vệ sinh môi trường trong từng thôn, xóm Tuy nhiên, các phương tiện thu gom của công nhân vệ sinh môi trường còn chưa đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động; trang thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân còn thiếu Đa số trình độ của công nhân còn thấp, chủ yếu chưa qua đào tạo bài bản, không có trình độ chuyên môn Mặt khác, các chính sách hỗ trợ, đãi ngộ cho công nhân còn ít.

pháp thủ công là chôn lấp và đốt chất thải ngoài trời do huyện chưa có công nghệ xử lý hiện đại Hiện nay, huyện đang xây dựng nhà máy xử lý chất thải theo công nghệ hiện đại, dự kiến sẽ đưa vào sử dụng vào năm 2025.

- Trên địa bàn huyện chưa quy định được mức phí, lệ phí môi trường, chưa áp dụng bảng phí riêng đối với các hộ kinh doanh và các hộ không kinh doanh Vì vậy, nhiều hộ dân chưa thực hiện đúng quy trình thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Ngoài ra, các chế tài xử phạt trên địa bàn huyện còn chưa được thực hiện triệt để và nghiêm khắc đối với các hộ không chấp hành theo quy định của địa phương.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên

Mỹ bao gồm: (1) Điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương; (2) Trình độ chuyên môn của công nhân vệ sinh môi trường; (3) Thái độ, nhận thức trách nhiệm của người dân; (4) Công tác tuyên truyền vệ sinh môi trường của địa phương.

Cuối cùng, nghiên cứu này đã đề xuất năm giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ: (1)Tăng cường quản lý nguồn thải; (2) Hoàn thiện mô hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt; (3) Hoàn thiện mô hình

xử lý chất thải rắn sinh hoạt; (4)Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng; (5) Nâng cao vai trò của các cấp ngành và các tổ chức, gia đình, cá nhân trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ.

Đồng thời, đề tài đưa ra một số kiến nghị, bao gồm xây dựng đồng bộ hệ thống văn bản liên quan dành riêng cho công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt Bên cạnh đó nên tích cực khuyến khích các tổ chức tham gia vào công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường và tầm quan trọng của phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.

ix

Trang 11

THESIS ABSTRACT

1 The writer: Do Le Quyen

2 The master thesis: “Solution to strengthen the management of solid waste in

Yen My district, Hung Yen province”.

3 Major in: Economic Management Code: 60.34.04.10

4 Training facility: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

The process of industrialization and urbanization make Vietnam changed very much day by day, but the environmental hazards is increasing Its generated waste and solid waste by people activities and surpassed the self-cleaning ability of the environment Therefore, the solid waste management such as the collection and disposal of solid waste are issue of local government in sustainable development This research objectives included (1) review theorical and paticular of solid waste management; (2) To assess the situation of solid waste management in Yen My district, Hung Yen province; (3) To support some solutions to enhance solid waste management in Yen My district, Hung Yen province.

This study used primary and secondary data related solid waste management through by interviews, semi-structured interviews of households and local government in 4 communes Lieu Xa, Nghia Hiep, Trung Hoa and Yen My The research methodology such as described statistical analysis, comparative as well as the analysis the groups of factors affecting the solid waste management.

The results show that the main origin of solid waste from households and the manufacturing, enterprises such as food waste, plastic bags, paper, metal The domestic solid waste about 148.5 tonnes in Yen My district The sorting of solid waste are not good, the household classified the solid waste is very simple such as to separate food waste, recyclable waste (plastic, steel, ) are sold to get money The households used plastic buckets, barrels of foam or plastic bags to store solid waste The collection

of solid waste are carried out through environmental sanitation teams in each hamlets However, the occupational safety; equipment and labor protection for workers are lacking Besides, the forms of handling solid waste is landfilling and waste burning because there are not modern technology Currently, the local government is building waste treatment plants in modern technology, it is expected to put into use in 2025.

Currently, the local government has not specified the environmental fees, especially the enterprises and bussiness households Therefore, there were many households have not comply with the collection of solid waste, sorting and disposal of

Trang 12

domestic solid waste Moreover, the sanctions have not been implemented and strictly There were some factors effected to the solid waste management in Yen My district such

as (1) The conditions of locality socio-economic development; (2) Qualifications of sanitation workers; (3) The attitude, awareness of the people; (4) The propaganda of environmental sanitation in the localities Last but not least important, the research supported some solutions (1) Enhance the management of waste; (2) Improve the collection of solid waste; (3) Improve the waste disposal; (4) Enhance the education, advocacy, community awareness; (5) Enhance the role of the sector and organizations, household and individuals in the management of solid waste in Yen My district.

xi

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Môi trường là thành phần có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại

và phát triển của con người và sinh vật Trong những năm gần đây, dưới sự tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam có những bước phát triển về mọi mặt cùng với đó là nền kinh tế nước nhà có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường, làm cho môi trường nước ta xuống cấp nhanh chóng bởi lẽ môi trường hàng ngày đã phải gánh chịu khối lượng lớn và đa chủng loại rác thải từ các hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt và y tế của con người gây ra.

Trong những năm qua, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Yên Mỹ có sự phát triển nhanh, mạnh góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Tuy nhiên tốc độ đô thị hoá nhanh nên tình trạng ô nhiễm môi trường cũng bị tăng lên Nhất là tại các làng nghề, vùng nông thôn hiện đang bị ô nhiễm nặng về không khí và nguồn nước do mật độ dân cư cao, mặt bằng sản xuất chật hẹp, công nghệ sản xuất lạc hậu, lượng rác thải sinh hoạt lớn Ô nhiễm môi trường không chỉ gây tổn thất kinh tế mà còn tác động tiêu cực và trực tiếp đến sức khỏe con người.

Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn hiện nay đang trở thành vấn đề nổi cộm nhận được nhiều sự quan tâm, ưu tiên giải quyết của chính quyền địa phương Lượng chất thải rắn từ sinh hoạt nông thôn ngày ngày phát sinh nhiều, đa dạng về thành phần và tính chất độc hại và đang gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường Theo ước tính, mỗi năm sinh hoạt nông thôn thải ra môi trường trên 10 triệu tấn, đa số trong số rác thải này chưa được thu gom và xử lý đúng quy định Cùng với các loại chất thải khác từ trồng trọt, chăn nuôi, ảnh hưởng của chất thải từ sinh hoạt nông thôn đến môi trường, hoạt động sản xuất và cảnh quan nông thôn ngày càng nghiêm trọng đòi hỏi phải có các giảm pháp quản lý phù hợp (Nguyễn Đức Hiếu, 2015).

Được biết mỗi ngày trên địa bàn huyện thải ra hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt Thực tế ở các địa phương trong huyện hiện nay cho thấy tỷ lệ thu gom và

Trang 14

xử lý chất thải rắn (CTR), nước thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp đúng quy chuẩn còn thấp Việc xử lý và quản lý chất thải rắn chưa hợp lý, không hợp vệ sinh không những gây ảnh hưởng tới môi trường mà còn ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội và sức khỏe người dân Chất thải từ sản xuất nông nghiệp

và sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn không được thu gom, xử lý đúng quy cách, hợp vệ sinh Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề vẫn khó kiểm soát,

xử lý và khắc phục, có nơi ngày càng trở nên trầm trọng Ngoài ra năng lực quản

lý chất thải rắn (QLCTR) còn hạn chế cũng như thiếu các biện pháp giảm thiểu CTR phù hợp Các thiết bị và trách nhiệm của các cơ quan trong xử lý tiêu hủy CTR và chất thải nguy hại còn thiếu, công nghệ xử lý CTR rất đơn giản và lạc hậu, chủ yếu bằng cách chôn lấp, ý thức của cộng đồng còn yếu.

Thực trạng trên đã và đang tạo ra những rào cản lớn trong việc thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Chất thải, chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt là gì?

- Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ra sao?

2

Trang 15

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên?

- Làm thế nào để việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ đạt kết quả tốt nhất?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về nội dung quản lý chất thải rắn sinh hoạt, các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt và giải pháp. 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng quản lý và xử lý CTRSH tại huyện Yên Mỹ chủ yếu là thu gom và xử lý trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt (QLCTRSH) Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cho việc QLCTRSH trên địa bàn huyện.

- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện dựa trên thu thập các tài liệu có liên quan đến các nội dung nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2015 Số liệu điều tra năm 2015 – 2016.

- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại khu vực Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Luận văn đã đánh giá được thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ Chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, những thành tựu cũng như tồn tại của quá trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Luận văn đã phân tích một cách cụ thể tác động của những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Yên Mỹ.

Luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản

lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Mỹ.

Những kết quả nghiên cứu trên của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu cùng lĩnh vực sau này và là tài liệu để UBND huyện Yên Mỹ tham khảo để thực hiện những giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện.

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Lý luận chung về chất thải

* Khái niệm

Trong cuộc sống hàng ngày của con người diễn ra nhiều hoạt động khác nhau: sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt nhằm phục

vụ nhu cầu tồn tại và phát triển Những hoạt động này của con người

đã thải ra môi trường nhiều loại vật chất dưới nhiều dạng khác nhau.

Và nó được gọi với cái tên chung là “chất thải” Vậy “chất thải” là gì?

Theo chương I điều 3 của Luật Bảo vệ Môi trường 2014 định nghĩa: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.

Vậy có thể hiểu chất thải là những gì mà con người đã sử dụng, không còn dùng được nữa (hoặc không muốn dùng nữa) vứt bỏ ngoài môi trường.

* Phân loại chất thải:

- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh gồm có:

+ Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư các trung tâm dịch vụ, công viên,

+ Chất thải công nghiệp: phát sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí).

+ Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.

+ Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch.

- Phân loại theo trạng thái chất thải gồm: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất

thải khí.

- Phân loại theo thành phần chất thải: theo cách phân loại này chia ra thành phần chất thải vô cơ và hữu cơ.

4

Trang 17

- Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật thì gồm có: chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại.

Mỗi cách phân loại đều có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng, tái chế hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả. 2.1.2 Chất thải rắn

* Khái niệm

Theo nghị định số 38/2015/NĐ – CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, thì “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”.

Một quan điểm khác thì: “Chất thải rắn là tất cả các chất thải, phát sinh từ các hoạt động của con người và động vật, thường ở dạng rắn và bị đổ bỏ vì không sử dụng được hoặc không được mong muốn nữa” (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010).

Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của CTR

là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý, và đề xuất các chương trình quản lý CTR thích hợp.

* Phân loại

- Phân loại CTR theo nguồn gốc phát sinh:

Bảng 2.1 Chất thải rắn theo nguồn phát sinh khác nhau

Nguồn phát sinh

CTR đô thị

CTR nông thôn

Trang 18

- Theo Nguyễn Thị Kim Thái (2011) tùy từng mục tiêu mà CTR được phân chia thành các cách khác nhau Theo bản chất nguồn tạo thành, CTR được phân thành các loại:

động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại Chất thải rắn sinh hoạt

có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả,

+ Chất thải rắn công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp bao gồm:

Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện.

Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất.

6

Trang 19

Các phế thải trong quá trình công

nghiệp Bao bì đóng gói sản phẩm.

vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình, chất thải xây dựng gồm:

Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình

xây dựng Đất đá do việc đào móng trong xây dựng

Các vật liệu như kim loại, chất dẻo

Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước

thiên nhiên, nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố.

+ Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và những mẫu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, của các lò giết mổ,

- Theo mức độ nguy hại:

+ Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan, có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe người, động vật và cây cỏ.

Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động

y tế, công nghiệp và nông nghiệp.

+ Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại chất thải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá và trạm y tế Các nguồn phát sinh ra chất thải bệnh viện bao gồm:

Các kim loại, ống tiêm

Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ

Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân

Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thủy ngân, cadimi, arsen, xianua,

Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện

Trang 20

+ Chất thải không nguy hại: là những chất thải không chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần Trong số các chất thải thì chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ có thể sơ chế dùng ngay trong sản xuất và tiêu dùng, còn phần lớn phải hủy bỏ hoặc phải qua một quá trình chế biến phức tạp, qua nhiều khâu mới có thể sử dụng lại nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của con người.

* Nguồn gốc phát sinh:

Trong xã hội công nghệ thì CTR phát sinh ở khắp mọi khâu, từ khai thác khoáng sản, làm giàu nguyên liệu, sản xuất tới chế biến, phân phối và tiêu thụ sản phẩm Các quá trình sản xuất có công nghệ và thiết bị lạc hậu sẽ sản ra nhiều chất thải trên một đơn vị sản phẩm, gây lãng phí nguồn tài nguyên, hiệu quả sử dụng nguyên liệu và năng lượng thấp.

Các nguồn chủ yếu phát sinh ra CTR bao gồm:

Nhà dân, khu dân

Chợ, bến xe, nhà ga

Giao thông, xây

dựng

Sơ đồ 2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn

Nguồn: Nguyễn Văn Phước (2010)

8

Trang 21

Nhà dân, khu dân cư: chất thải phát sinh là những thực phẩm thừa, cacton, nhựa, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, kim loại, tro bếp, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, lốp xe, ) và các chất thải độc hại Thành phần chủ yếu của các chất thải từ khu vực gia đình là chất thải hữu cơ.

Các cơ quan, trường học: chất thải phát sinh là giấy, cacton,

gỗ vụn, nhựa, thủy tinh,

Nơi vui chơi giải trí: chất thải phát sinh là những thực phẩm thừa, nilon, cacton, vải, thủy tinh, lá cây,

Bệnh viện, cơ sở y tế: thực phẩm thừa, giấy, cacton, nilon, thủy tinh, nhựa, vải, Đặc biệt là chất thải y tế nguy hại.

Khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp: chất thải chủ yếu là các phế phẩm của quá trình sản xuất.

Nông nghiệp, hoạt động xử lý chất thải: đáng kể nhất ở đây chính là thuốc bảo vệ thực vật và vỏ thuốc bảo vệ thực vật.

Giao thông, xây dựng: chất thải chủ yếu ở đây chính là vôi, vữa, bê tông, gạch, thép, cốt pha,

Chợ, bến xe, nhà ga: chất thải gồm thực phẩm thừa, giấy vụn,

lá cây, túi nilon,

Như vậy, có thể thấy CTR được thải ra từ mọi hoạt động sống của đời sống xã hội Mọi hoạt động trong xã hội diễn ra sẽ kéo theo

sự phát sinh một lượng chất thải nào đó, điều này sẽ có ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người Vậy từ việc phân tích được các nguồn gốc phát sinh chất thải rắn thì cần phải xây dựng hướng giải quyết

cụ thể theo từng nguồn gốc phát sinh để có hiệu quả tốt nhất.

2.1.3 Chất thải rắn sinh hoạt

* Khái niệm

Theo nghị định số 38/2015/NĐ – CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, thì “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”

Theo Trần Thị Mỹ Diệu (2010) thì “Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn sinh

ra từ các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư,…), khu thương mại (cửa hàng, nhà hàng, chợ, siêu thị, văn phòng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch

Trang 22

vụ, của hàng sử xe,…), cơ quan (trường học, viện nghiên cứu, trung tâm, bệnh viện, nhà tù, các trung tâm hành chánh nhà nước,…) khu dịch vụ công cộng (quét đường, công viên, giải trí, tỉa cây xanh,…)

và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát nước Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm cả chất thải nguy hại sinh ra từ các nguồn trên”.

- Từ các trung tâm thương mại.

- Từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học và các công trình công cộng.

- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay.

- Từ các khu công nghiệp (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010).

2.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý chất thải rắn sinh hoạt

2.1.4.1 Hệ thống quản lý hành chính chất thải rắn sinh hoạt

a Hệ thống tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Dưới quan điểm quản lý, có thể hiểu hệ thống quản lý là tập hợp các yếu tố hay thành phần có tương tác lẫn nhau để hoàn thành một mục đích nào đó Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt là tập hợp các yếu tố hay thành phần có tương tác lẫn nhau nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững (Chế Đình Lý, 2009).

10

Trang 23

Bộ TN&MT UBND Tp

UBND

Quận/Huyện

Sở Tài chính

Sở TN&M T

Các Sở Ban ngành khác

Sơ đồ 2.2 Hệ thống quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị tại

Tp Hồ Chí Minh Nguồn: Bộ Tài nguyên môi trường (2011)

Trang 24

Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2011 thì hệ thống quản lý nhà nước về CTR đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện ở sơ đồ 2.2, các đơn vị được giao chức năng nhiệm vụ về quản lý CTR bao gồm:

Sở Xây dựng: chịu trách nhiệm về quản lý CTR sinh hoạt và các bãi chôn lấp rác thải gồm: giám sát việc thực hiện quy hoạch đô thị của tỉnh hoặc thành phố đã được Thủ tướng phê duyệt, tổ chức thiết kế và xây dựng các dự án chôn lấp rác thải theo tiêu chuẩn môi trường và xây dựng, hỗ trợ ra quyết định về các

dự án cơ sở xử lý chất thải, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo

và đề xuất quy hoạch các bãi chôn lấp rác thải, các cơ sở, nhà máy chế biến xử

lý CTR phù hợp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phê duyệt.

Sở Tài nguyên và Môi trường: có vai trò quan trọng trong quản lý chất thải, về giám sát chất lượng môi trường, quản lý và thực hiện các chính sách

và quy định về quản lý chất thải do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, phê duyệt báo cáo Đánh giá tác động môi trường cho các dự án xử lý chất thải, phối hợp với Sở Xây dựng xem xét và lựa chọn các bãi chôn lấp rác thải, sau đó đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt bãi chôn lấp phù hợp nhất Tuy nhiên, vai trò của Sở Xây dựng và

Sở Tài nguyên và Môi trường trong quản lý CTR phụ thuộc vào tính chất và

tổ chức của từng tỉnh thành và giữa chúng có thể có khác biệt.

Công ty Môi trường đô thị (URENCO): Ngoài các đơn vị quản lý nhà nước mang tính hành chính nói trên, Công ty môi trường đô thị là đơn vị dịch vụ công của nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải ở tỉnh hoặc thành phố Và cũng tùy thuộc theo từng địa phương, URENCO có thể trực thuộc Sở Xây dựng hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường Điển hình như Hà Nội, Hải Phòng và Thừa Thiên - Huế, URENCO trực thuộc sự quản lý của Sở Xây dựng; tại

Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh, URENCO lại trực thuộc quyền quản lý của UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý theo ngành dọc

về mặt chuyên môn (Báo cáo môi trường quốc gia, 2011).

b Hệ thống các văn bản pháp quy

– Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;

– Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;

12

Trang 25

– Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính Phủ về quản lý chất thải và phế liệu;

– Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

– Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007của chính phủ ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn

và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến QLCTR;

– Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT;

– Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

– Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050;

– Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dậy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;

– Quyết định số 1440/2008/QĐ-TTg ngày 6 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch các cơ sở xử lý chất thải tại ba vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, Trung, Nam đến năm 2020;

– Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại – Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;

– Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại;

– Thông tư liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng 1 năm

2001 hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn;

Trang 26

– Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn.

2.1.4.2 Quản lý nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

a Nguồn phát sinh chất thải rắn

Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:

- Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su, còn có một số chất thải nguy hại;

- Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn, Các nguồn thải có thành phần tương

tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton, );

- Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn;

- Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ bỏ các công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa;

- Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác, Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố;

- Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phân compost,

- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm, Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc;

- Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây, Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp (Nguyễn Văn Phước, 2010).

14

Trang 27

b Thành phần chất thải rắn sinh hoạt

Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần chất thải rắn sinh hoạt là điều hết sức cần thiết Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế.

Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm ; Chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chưa bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng , chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp

Bảng 2.2 Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt

Trang 28

2.1.4.3 Thu gom, phân loại chất thải rắn sinh

hoạt Phương pháp phân loại rác tại nguồn

Rác thải sinh hoạt trước khi được đưa đi xử lý, cần được phân loại ngay tại hộ gia đình Cách nhận biết như sau:

- Rác hữu cơ dễ phân hủy: là các loại rác dễ bị thối rữa trong điều kiện tự nhiên sinh ra mùi hôi thối như: các loại thức ăn thừa,

hư hỏng (rau, cá chết ), vỏ trái cây,

không tái chế Rác tái chế là các loại rác có thể sử dụng lại nhiều lần trực tiếp hoặc chế biến lại như: giấy, các tông, kim loại (khung sắt, máy tàu hỏng, ), các loại nhựa Còn lại các loại rác không tái chế là phần thải bỏ.

Hình 2.1 Hướng dẫn phân loại rác tại nguồn

Nguồn: UBND tỉnh Quảng Nam (2014) Phương pháp thu gom rác

- Thu gom rác hữu cơ dễ phân hủy: Thu gom riêng vào vật dụng chứa rác để tận dụng làm phân compost (tại gia đình hoặc đưa đến nhà máy xử lý chế biến tập trung thành phân compost).

16

Trang 29

- Thu gom rác khó phân hủy

+ Thu gom rác tái chế: Rác tái chế được tách riêng và đựng trong túi nilon hoặc túi vải để bán lại cho cơ sở tái chế.

+ Thu gom rác không tái chế: Các thành phần rác không có khả năng tái chế sẽ được thu gom, đựng trong dụng cụ chứa rác tại gia đình và đưa đến điểm tập kết để xe chuyên dụng đến vận chuyển đưa đi xử lý tại các khu xử lý rác thải tập trung theo quy định.

Dụng cụ chứa rác là các thùng rác chuyên dùng hoặc tận dụng các vật dụng có sẵn ở gia đình như thúng, sọt, bao tải, túi nilon, (UBND tỉnh Quảng Nam, 2014).

2.1.4.4 Tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng chất thải rắn sinh hoạt

Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức, hộ gia đình và các

cá nhân có phát sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường Trường hợp không có khả năng tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn thông thường phải chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái

sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý (Quốc hội, 2014).

Tái chế là một hoạt động thu hồi lại chất thải có trong thành phần của chất thải rắn sinh hoạt sau đó được chế biến thành những sản phẩm mới phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.

Tái chế vật liệu: Bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ nguồn rác, xử lý trung gian và sử dụng vật liệu này để tái sản xuất các sản phẩm mới hặc các sản phẩm khác.

Tái chế nhiệt: Bao gồm các hoạt động thu hồi nguồn năng lượng từ rác thải.

Thu hồi nhiệt được thể hiện qua hai dạng sau đây.

- Thu hồi trực tiếp: Thông qua quá trình đốt rác như những loại nhiên liệu khác sau đó thu hồi ở dạng nhiệt cung cấp cho các quá trình sản xuất khác: hơi nước chạy tuốcbin, nhiệt để sấy sản phẩm,

- Thu hồi gián tiếp: Thông qua các quá trình chuyển hoá năng lượng.

+ Tái sinh các sản phẩm chuyển hoá sinh học: Chủ yếu thông qua qúa trình lên men, phân huỷ chuyển hoá sinh học chủ yếu như khí mêtan, các loại cồn,

Trang 30

+ Tái sinh năng lượng từ các sản phẩm chuyển hoá: từ các sản phẩm quá trình chuyển hoá bằng hoá học, sinh học từ đó có thể tái chế năng lượng.

* Lợi ích của những hoạt động tái chế

- Tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên do sử dụng những vật liệu tái chế thay cho những nguồn tài nguyên thiên nhiên cần phải khai thác (tái chế giấy - giảm khai thác rừng, tái chế nhiên liệu giảm áp lực khai thác các nguồn nhiên liệu hoá thạch);

- Giảm được lượng rác cẩn phải xử lý, giảm chi phí cho các quá trình này, nâng cao thời gian sử dụng của cac bãi rác;

- Một số chất thải trong quá trình tái chế tiết kiệm năng lượng hơn các quá trình sản xuất từ các nguyên liệu thô ban đầu (tái chế Nhôm tiết kiệm 95% năng lượng so với Nhôm nguyên liệu từ quá trình luyện kim);

- Giảm tác động đến môi trường do lượng rác thải gây ra;

- Có thể thu được nguồn lợi nhuận từ lượng rác vứt bỏ;

- Tạo công ăn việc làm cho một lực lượng lao động (Nguyễn Văn Phước,

2010).

2.1.4.5 Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt

a Vị trí, quy mô điểm thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Căn cứ vào Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn thì Thông tư số 13/2007/TT-BXD yêu cầu đối với quy hoạch tổng mặt bằng xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn:

- Vị trí, quy mô cơ sở xử lý chất thải rắn phải phù hợp với quy hoạch quản lý chất thải rắn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Tiêu chuẩn diện tích đất, diện tích xây dựng; định mức sử dụng điện, nước được xác định theo công nghệ xử lý đã lựa chọn và theo tiêu chuẩn thiết kế tổng mặt bằng đối với các nhà máy công nghiệp và tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn;

- Đảm bảo hoạt động của nhà máy theo công suất thiết kế và

an toàn cho công nhân trong quá trình vận hành;

- Có biện pháp cách ly đối với các khu vực có khả năng gây ô nhiễm hoặc có nguy cơ cháy nổ (bãi chôn lấp, bể xử lý nước rác, nơi chứa tạm thời chất thải nguy hại sau khi phân loại và chờ đưa đi xử lý);

18

Trang 31

- Phải bố trí vị trí các điểm quan trắc môi trường (nước, không khí) nhằm theo dõi sự biến động về môi trường trong quá trình vận hành và sau khi đóng cửa cơ sở xử lý chất thải rắn;

- Phải dự kiến các phương án phục hồi cảnh quan và tái sử dụng mặt bằng cơ sở xử lý chất thải rắn sau khi chấm dứt hoạt động.

b Công nghệ xử lý chất thải rắn

Xử lý rác thải là công đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường Đây là công đoạn cần thiết góp phần chống ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước mặt và nước ngầm Để xử lý rác có rất nhiều cách, theo tài liệu tổng hợp của công ty môi trường tầm nhìn xanh, hiện nay chủ yếu áp dụng các cách sau:

* Đổ rác thành đống hay bãi rác hở

Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu, cho đến nay phương pháp này vẫn được áp dụng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới Nhưng có những nhược điểm sau:

- Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi chúng ta bắt gặp chúng.

- Đống rác thải là môi trường thuận lợi cho các loài động vật gặm nhấm, các loài côn trùng, vi sinh vật gây bệnh sinh sôi, nảy nở gây nguy hiểm cho con người.

Các bãi rác hở bị phân hủy lâu ngày sẽ bị rỉ nước và tạo nên vùng lầy lội, ẩm ướt và từ đó hình thành các dòng nước rò rỉ chảy thấm vào các tầng đất bên dưới, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, hoặc tạo thành dòng chảy tràn gây ô nhiễm nguồn nước mặt.

Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân hủy rác tạo thành các khí có mùi hôi thối, mặt khác ở các bãi rác hở còn có thêm hiện tượng “cháy ngầm” hay có thể cháy hình thành nên ngọn lửa, và tất cả quá trình trên sẽ dẫn đến nạn ô nhiễm không khí.

Có thể thấy đây là phương pháp rẻ tiền, chi tiêu tốn chi phí cho công việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác Tuy nhiên, phương pháp này còn đòi hỏi một diện tích bãi thải lớn, do vậy ở các thành phố đông dân cư và quỹ đất khan hiếm thì

nó lại trở thành phương pháp đắt tiền với nhiều nhược điểm khác.

* Bãi chôn rác vệ sinh

Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá trình

xử lý rác thải Ví dụ ở Mỹ có trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng

Trang 32

phương pháp này, hay ở một số nước khác người ta cũng hình thành nên các bãi chôn rác vệ sinh theo kiểu này.

Bãi chôn rác thải vệ sinh được thực hiện bằng nhiều cách, mỗi ngày trải rác thành lớp mỏng, sau đó ép chúng lại bằng các loại xe cơ giới, sau cùng là trải nên các lớp rác bị nén chặt một lớp đất mỏng khoảng 15cm Công việc này

cứ thế tiếp tục, việc thực hiện các bãi rác vệ sinh có nhiều ưu điểm:

muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở, các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, giảm thiểu được mùi hôi thối, ít gây ô nhiễm không khí.

- Góp phần làm giảm nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt.

- Các bãi chôn rác sau khi bị phủ đầy, có thể được xây dựng thành các công viên giáo dục, làm nơi sinh sống của các loài động thực vật, qua đó góp phần làm đa dạng tính sinh học cho đô thị Nơi đây các thế

hệ trẻ có thể học hỏi về thế giới sinh vật và môi trường sinh thái.

- Chi phí điều hành hoạt động bãi chôn rác không quá cao Tuy

nhiên phương pháp này cũng có những nhược điểm sau:

- Các bãi chôn rác này đòi hỏi diện tích đất đai lớn.

- Các lớp đất phủ ở các bãi chôn rác thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi xa.

- Các bãi này tạo ra khí CH 4 hoặc khí hydrogen sufide độc hại

có khả năng gây cháy nổ, ngạt thở.

* Ủ rác thành phân bón hữu cơ

Ủ rác thành phân bón hữu cơ là một phương pháp khá phổ biến ở các quốc gia đang phát triển Việc ủ rác sinh hoạt với thành phần chủ yếu

là chất hữu cơ có thể phân hủy được và tiến hành ngay ở các nước đang phát triển (quy mô hộ gia đình) Ủ rác theo phương pháp này có ưu điểm

là giảm được đáng kể khối lượng rác, đồng thời tạo ra được của cải vật chất, giúp ích cho công tác cải tạo đất Chính vì vậy, phương pháp này được ưa chuộng ở các quốc gia nghèo và đang phát triển.

Công nghệ ủ rác có thể được chia thành 2 loại:

- Ủ hiếu khí

Công nghệ này được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, Trung Quốc Công nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí với sự có mặt của oxy Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác khô thực hiện quá

20

Trang 33

trình oxy hóa cacbon thành dioxitcacbon (CO 2 ), thường thì chỉ sau 2 ngày, nhiệt

độ rác ủ tăng lên khoảng 45 o C Nhiệt độ này đạt được với điều kiện duy trì môi trường tối ưu cho vi khuẩn hoạt động, quan trọng nhất là không khí và độ ẩm.

Sự phẩn hủy hiếu khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau 2 - 4 tuần là rác được phân hủy hoàn toàn, các vi khuẩn gây bệnh và công trùng bị hủy diệt do nhiệt độ ủ dâng cao Bên cạnh đó mùi hôi cũng bị hủy nhờ quá trình ủ hiếu khí Độ ẩm phải được duy trì ở 40 - 50%, ngoài khoảng nhiệt độ này quá trình phân hủy sẽ bị chậm lại.

- Ủ yếm khí

Công nghệ này được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ Quá trình ủ này chủ yếu nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí Công nghệ này đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu không tốn kém, nhưng thời gian phân hủy lâu thường từ 4 - 12 tháng, các vi khuẩn gây bệnh luôn tồn tại cùng với quá trình phân hủy vì nhiệt độ thấp, các khí sinh ra từ quá trình này là khí metan và sunphuahydro gây ra mùi khó chịu.

Đây là phương pháp xử lý rác thải rẻ tiền nhất, sản phẩm phân hủy có thể kết hợp rất tốt với phân gia súc cho ta phân hữu cơ với hàm lượng dinh dưỡng cao tạo độ xốp cho đất.

* Đốt rác

Đốt rác ở đây được hiểu là sự đốt rác có kiểm soát các chất rắn có thể đốt được Tuy nhiên nó không đơn giản chỉ là việc đốt cháy một bãi rác ngoài trời Đốt rác là một phương pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, thông thường người ta xây dựng các lò đốt chuyên biệt, nhiệt độ trong lò có thể lên đến hàng nghìn độ C, có thể đốt cháy cả kim loại, thủy tinh…Xử lý theo phương pháp này có những ưu điểm sau:

- Đốt cháy hay tiêu hủy các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh, chất gây ô nhiễm.

Trang 34

- Các lò đốt có thể xử lý các chất thải rắn có chu kỳ phân hủy rất dài như vỏ xe, đệm cao su, các loại túi bóng, túi nilon…

Bên cạnh những ưu điểm trên, phương pháp này cũng có những nhược điểm như: chi phí máy móc thiết bị cao.

* Chôn rác nhiệt phân

Đây là phương pháp xử lý rác thải tương tự như chúng ta làm than hầm,

có nghĩa là sử dụng nhiệt đốt bên ngoài để loại trừ dần không khí trong rác,

Phương pháp này có những điểm sau:

nhiễm.

- Có thể thu hồi nhiều vật chất sau nhiệt phân Ví dụ: rác thải đô thị ở Hoa Kỳ sau khi nhiệt phân có thể thu lại dầu nhẹ, hắc in và nhựa đường, chất ammonium sunfate, chất lỏng…tất cả các chất kể trên có thể tái sử dụng làm nguyên liệu (Nguyễn Trung Việt và Trần Thị Mỹ Diệu, 2016) 2.1.4.6 Nguồn lực thực hiện

a Nguồn nhân lực

* Cấp tỉnh

- Sở Tài nguyên và Môi trường: Theo dõi, hướng dẫn các địa phương tổ chức triển khai công tác quản lý chất thải rắn cùng nông thôn theo Đề án của tỉnh; Phối hợp tuyên truyền, tập huấn đến cho cộng đồng dân cư nông thôn về công tác tổ chức thu gom, phân loại, xử lý rác thải.

- Các Sở, ban ngành, hội, đoàn thể: phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường trong quá trình triển khai thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và ngành.

- Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị và các đơn vị dịch vụ vệ sinh môi trường trên địa bàn tỉnh thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các địa phương tổ chức vận chuyển, xử lý lượng rác thải tại vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh.

- Chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường và các ngành chức năng hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ các địa phương trong quá trình thực hiện phương án quản lý rác thải trên địa bàn.

- Chỉ đạo cụ thể, chặt chẽ tới cấp xã, thôn triển khai có hiệu quả các mô hình thu gom, xử lý chất thải rắn nông thôn.

22

Trang 35

- Chủ trì hoặc phối hợp tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường trên địa bàn các vùng nông thôn để nhân dân hiểu được quyền lợi và trách nhiệm để cùng tham gia trong công tác quản lý rác thải tại địa phương; tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật nhận biết

và phân loại rác tại nguồn cho tổ thu gom và người dân địa phương.

- Xem xét hỗ trợ bù đắp phần thiếu hụt cho các địa phương trong khoảng những năm đầu tiên triển khai thực hiện phương án vì

có thể việc thu gom và thu phí các hộ gia đình chưa đạt được chỉ tiêu (chú ý đặc thù mỗi vùng để có phương án hỗ trợ cho phù hợp).

- Đối với rác thải nguy hại đồng ruộng, hướng dẫn các địa phương lựa chọn

vị trí, xây dựng các bể chứa nguy hại đồng ruộng với kích thước phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương nhưng phải đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật; phối hợp với đơn vị chức năng thu gom, vận chuyển đưa đi xử lý theo đúng quy định.

* Cấp xã

UBND xã, thị trấn

Để việc triển khai giải quyết rác thải được đồng bộ và hiệu quả, UBND các xã, thị trấn vùng nông thôn nên thành lập Ban chỉ đạo triển khai công tác quản lý rác thải.

- Các thành viên gồm: cán bộ Nông - lâm, cán bộ Văn hóa, cán

bộ Thú y, Trưởng công an xã; đại diện Mặt trận tổ quốc, Ban chấp hành Đoàn xã, Hội Phụ nữ; Thôn trưởng, tổ trưởng các thôn, tổ Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo cấp xã:

- Ban hành quy chế tổ chức hoạt động của tổ thu gom.

- Xem xét kế hoạch hoạt động của tổ thu gom; tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch và quản lý tổ thu gom hoạt động hiệu quả.

- Định kỳ hằng quý, năm có sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện công tác BVMT trên địa bàn xã và có các giải pháp khắc phục hữu hiệu.

Trang 36

- Truyền thông, vận động để người dân, tổ chức trên địa bàn nhận thấy được ý nghĩa của việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải đảm bảo vệ sinh môi trường; Giao Đài phát thanh của xã phát thanh bài tuyên truyền giữ gìn vệ sinh môi trường, phân loại rác tại nguồn (tối thiểu: 3-5 phút/lần, 2 lần/tuần).

- Chủ trì hoặc phối hợp tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân trên địa bàn về bảo vệ môi trường.

- Bổ sung tiêu chí bảo vệ môi trường vào đánh giá bình chọn gia đình, thôn văn hóa của xã.

- Phối hợp chặt chẽ với đơn vị dịch vụ vệ sinh môi trường trong vận chuyển rác thải về bãi rác.

Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể của xã/thị trấn

Mặt trận tổ quốc, Đoàn thành niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh,… phối hợp với UBND xã, trưởng thôn tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các qui định về vệ sinh môi trường và quản lý rác thải nông thôn.

- Tham gia giám sát việc thực hiện qui định quản lý rác thải của các hộ gia đình, cơ quan, tổ chức đơn vị thuộc địa bàn mình quản lý, thông báo kịp thời với cơ quan chức năng các vi phạm hành chính về quản lý rác thải trên địa bàn. Trách nhiệm của Tổ thu gom

- Hằng năm, phải lập kế hoạch hoạt động của tổ thu gom trình lên UBND xã, thị trấn xem xét.

- Chủ động, tích cực thực hiện công tác thu gom và vận

chuyển rác thải theo đúng lịch trình đã thống nhất.

- Hướng dẫn người dân nhận biết và phân loại rác thải.

- Lập kế hoạch dự phòng cho việc thu gom rác thải trong mùa mưa bão.

- Phối hợp chặt chẽ với các trưởng thôn trong việc thu tiền phí vệ sinh.

Các cá nhân, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ

Trang 37

24

Trang 38

- Tích cực tham gia phân loại rác tại nguồn và xử lý rác thải tại

hộ gia đình theo hướng dẫn của các tuyên truyền viên và tổ thu gom.

- Vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật phải bỏ vào các điểm tập kết qui định, không vất bừa bãi ra bờ ruộng, lòng kênh, mương.

- Xác súc vật chết do dịch bệnh phải được để riêng và báo cơ quan thú y và tổ thu gom để thu gom riêng.

- Tham gia bỏ rác đúng quy định; nộp đầy đủ và đúng hạn phí

vệ sinh theo quy định.

- Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư

- Thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với rác thải trong hương ước, quy ước và các qui định quản lý, xử lý rác thải do UBND tỉnh, huyện, xã ban hành (UBND tỉnh Quảng Nam, 2014).

b Nguồn tài chính

Xã hội ngày càng phát triển, chất thải rắn sinh hoạt gia tăng nhanh chóng, nguy cơ ô nhiễm môi trường trở thành mối lo ngại lớn đối với các cấp chính quyền và người dân Do đó, bên cạnh kinh phí sự nghiệp môi trường, cần quan tâm tới việc huy động nguồn lực tài chính, thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

Để thu hút hơn nữa nguồn lực tài chính đầu tư cho BVMT cần có cơ chế, chính sách hợp lý theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư và chi trả, coi đây là giải pháp đột phá khắc phục tình trạng thiếu nguồn lực tài chính đầu tư bảo vệ tài nguyên, môi trường, giảm gánh nặng đầu tư từ ngân sách Nhà nước Đồng thời, có giải pháp cân đối, bố trí các nguồn vốn ODA, vốn tín dụng trong kế hoạch ngân sách hằng năm cho công tác xã hội hóa về môi trường, tạo điều kiện

về thủ tục hành chính để các tổ chức, cá nhân tham gia vào các loại hình xã hội hóa trong công tác bảo vệ môi trường; Kết hợp tăng chi từ ngân sách với đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ tài nguyên, môi trường bao gồm cả

ưu tiên vay vốn ưu đãi, huy động tài trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước và huy động các nguồn lực trong xã hội; Tổ chức diễn đàn kêu gọi đầu tư vào các dự án, hoạt động bảo vệ môi trường, tăng cường cơ chế trao đổi thông tin liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2014).

25

Trang 39

2.1.4.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn

sinh hoạt a Tác động của chính sách

Mỗi một chính sách được thực thi đều có tác động đến cuộc sống của người dân chịu ảnh hưởng của chính sách đó, tác động đó có thể là tích cực hoặc tiêu cực Nếu chính sách phù hợp và được thực thi đúng thì sẽ có tác động tích cực đến cuộc sống của nhân dân, tác động tích cực đó có thể là giải quyết được tình trạng đổ chất thải bừa bãi, gây mất mỹ quan và làm ô nhiễm môi trường; nhờ có chính sách mà cơ quan chính quyền các địa phương có thể triển khai các dự án hỗ trợ trang thiết bị, đồ bảo hộ lao động cho công nhân vệ sinh môi trường, đầu tư xây dựng hạ tầng, khu xử lý chất thải, từ đó làm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường tại địa phương do chất thải rắn sinh hoạt Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp hoặc chưa được thực thi đúng thì sẽ gây tác động tiêu cực, như thông tư số 13/2007/TT-BXD hướng dẫn quy hoạch quản lý chất thải rắn liên vùng, liên đô thị nhưng do từng vùng khác nhau có điều kiện khác biệt không áp dụng được theo hướng dẫn trên dẫn đến các tỉnh đều lúng túng và hầu hết chưa có quy hoạch quản lý chất thải rắn, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều địa phương không có bãi tập kết chất thải và

đổ chất thải bừa bãi, do đó chính sách đó sẽ không hiệu quả.

b Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương có tác động đến việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt của từng địa phương đó Kinh tế địa phương phát triển sẽ có tiềm lực để xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thuận lợi, do đó việc thu gom, vận chuyển chất thải sẽ dễ dàng hơn; nếu cơ sở

hạ tầng giao thông thấp kém, đường giao thông nhỏ sẽ khó khăn cho việc thu gom, vận chuyển chất thải làm tăng chi phí trong thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt của địa phương Ngoài ra, dân cư phân bố không tập trung, địa hình phức tạp cũng làm tăng chi phí thu gom, vận chuyển chất thải rắn Và mỗi nơi có tập quán sinh sống riêng theo làng, bản, dòng họ, dẫn đến khó khăn trong việc thu gom, xử lý chất thải rắn tập trung.

c Năng lực quản lý của chính quyền địa phương và nhận thức của cộng đồng

Hiện nay, chính quyền cấp xã trực tiếp tổ chức thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nhưng ở nhiều xã trong cả nước chỉ có một công chức địa chính kiêm môi trường hoặc xây dựng, thủy lợi kiêm môi trường, do đó thiếu cán bộ quản lý, giám sát thực hiện việc thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt Nhận thức

Trang 40

của người dân trong quản lý chất thải rắn còn nhiều hạn chế, tình trạng đổ chất thải bừa bãi vẫn còn phổ biến, tỷ lệ hộ tham gia nộp phí và mức nộp phí vệ sinh môi trường còn thấp Vai trò của các tổ chức đoàn thể chưa được phát huy đầy đủ Hoạt động của các tổ chức dịch vụ thiếu chuyên nghiệp (Vũ Thị Thanh Hương, 2014) 2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Thực trạng chất thải rắn tại Việt Nam

Hiện nay, số liệu về phát sinh CTR mới chủ yếu được thống kê tại khu vực đô thị và các khu công nghiệp; ở khu vực nông thôn, hầu như số liệu về CTR chưa được thống kê một cách đầy đủ Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh trung bình tăng từ

150 – 200%, CTRSH đô thị tăng trên 200%, CTRCN tăng 181% và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới Dự báo của Bộ TN&MT đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước khoảng 44 triệu tấn/năm, phát sinh nhiều nhất tại các đô thị và khu CN (Bộ Tài nguyên môi trường, 2011).

Bảng 2.3 Lượng chất thải rắn phát sinh năm 2003 và 2008

sẽ còn tăng lên tương ứng với các con số 50,8 và 22,1%

27

Ngày đăng: 14/07/2021, 14:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w