1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh ninh bình

134 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 410,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu làđiều tra chọn mẫu tại 2 huyện có tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản pháttriển mạnh là huyện Kim Sơn

Trang 1

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP – 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ

đế lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đượccảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Văn Hưng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên củabạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi bày tỏ lòng kính trọng và biết ơnsâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn – Người thầy giáo đã dành nhiều thời gian vàtâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình họctập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nôngnghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài vàhoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy Ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, ban lãnh đạo các

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp & PTNT và những người dân địa phương đãcung cấp những thông tin cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu

đề tài tại địa bàn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên và khuyến khích tôi hoànthành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Văn Hưng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ ix

Danh mục hộp x

Trích yếu luận văn xi

Thesis Abstract xiv

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Nội dung nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 4

2.1.2 Vai trò và đặc điểm của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản9 2.1.3 Nội dung nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản 10

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản 14

2.2 Cơ sở thực tiễn 16

Trang 5

2.2.1 Thực tiễn liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản ở một số quốc gia trên

thế giới16

2.2.2 Thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam 18

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Ninh Bình 20

2.2.4 Các nghiên cứu có liên quan 21

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình 23

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 30

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 31

3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 32

3.2.4 Phương pháp phân tích 33

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 33

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35

4.1 Thực trạng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 35 4.1.1 Thực trạng sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 35

4.1.2 Thực trạng tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 37

4.2 Thực trạng các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 40 4.2.1 Thực trạng các hình thức liên kết trong cung ứng đầu vào cho quá trình sản xuất 40 4.2.2 Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 54

4.2.3 Lợi ích của các tác nhân tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 58 4.2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 63 4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các mô hình liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 65 4.3.1 Yếu tố chủ quan 66

Trang 6

4.3.2 Yếu tố khách quan 72

4.4 Giải pháp phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 73 4.4.1 Định hướng phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phầm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 73 4.4.2 Giải pháp phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 74 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 86

5.1 Kết luận 86

5.2 Kiến nghị 87

Tài liệu tham khảo 88

Phụ lục 90

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

QĐ-TTg Quyết định của Thủ tướng

QĐ-UBND Quyết định của Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 GDP và tốc độ tăng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế giai đoạn

2013 – 2015 ở tỉnh Ninh Bình 26

Bảng 3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất của tỉnh theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế 27

Bảng 3.3 Kết quả kinh doanh du lịch của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2013 – 2015 27

Bảng 3.4 Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2013

Bảng 4.3 Tình hình liên kết cung ứng giống cho nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình42

Bảng 4.4 Tình hình liên kết cung ứng vốn trong nuôi trồng thủy sản tỉnh Ninh Bình

Bảng 4.11 So sánh kết quả sản xuất của các hộ nuôi trồng thủy sản nước ngọt (tính

bình quân trên 1ha nuôi cá trắm đen) 59

Bảng 4.12 So sánh kết quả sản xuất của các hộ nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ

(tính bình quân trên 1ha nuôi tôm) 60

Trang 9

Bảng 4.13 Đánh giá của hộ liên kết về hiệu quả trước và sau khi tham gia liên kết 61

Bảng 4.14 Phân tích lợi ích trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản đối với

nhóm hộ liên kết và nhóm hộ không liên kết 62

Bảng 4.15 Đánh giá của doanh nghiệp và người thu gom có liên kết và không liên kết

trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở tỉnh Ninh Bình63

Bảng 4.16 Thuận lợi, khó khăn trong trong hoạt động của hộ 64

Bảng 4.17 Thông tin chung về người sản xuất 67

Bảng 4.18 Điều kiện sản xuất của các hộ nuôi trồng thủy sản 67

Bảng 4.19 Thông tin về doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh các sản phẩm

Bảng 4.20 Thông tin chung về hộ thu gom 71

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phân phối sản phẩm 8

Sơ đồ 2.2 Các dạng kênh phân phối sản phẩm 8

Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 39

Sơ đồ 4.2 Các tác nhân tham gia liên kết trong cung ứng giống nuôi trồng thủy sản

Trang 11

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Tâm lý nông dân mất mùa liên tiếp nên chán nản 48

Hộp 4.2 Tăng số lượng hợp đồng được ký kết 69

Hộp 4.3 Đầu tư nuôi trồng thủy sản lãi hơn nhiều so với cấy lúa 73

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên đề tài:

“Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”.

Họ tên: TRẦN VĂN HƯNG

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN TUẤN SƠN

Thời gian thực hiện: Từ tháng 5/2015 - 5/2016

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua nghiên cứu các hình thức liên kếttrong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh, đề xuất hệ thống giảipháp phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ởtỉnh Ninh Bình thời gian tới

Để thực hiện nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu làđiều tra chọn mẫu tại 2 huyện có tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản pháttriển mạnh là huyện Kim Sơn và huyện Gia Viễn; phương pháp thống kê mô tả, thống

kê so sánh để so sánh việc thực hiện liên kết, kết quả sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thủysản của các tác nhân nghiên cứu, so sánh lợi ích/ chi phí mà các tác nhân nhận được và

bỏ ra khi tham gia quá trình liên kết; Từ đó thấy được những mặt đạt được, chưa được

và nguyên nhân của nó làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển các hình thức liên kếttrong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở tỉnh Ninh Bình

Những nội dung và kết quả chính của nghiên cứu là:

1. Liên kết kinh tế là quá trình thâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuấtkinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuấtkinh doanh theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồngkinh tế khai thác tốt các tiểm năng của các chủ thể tham gia liên kết Liên kết kinh tế

có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc các ngành,trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trong khu vực và quốc tế nhằm giúp đỡ nhau

về kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, giúp đỡ nhau về đào tạo,bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, quản lý, công nhân…cũng như thực hiện các công việccung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, thông tin…theo như quy địnhđược hai bên thoả thuận và đưa ra, dựa trên nguyên tắc:

- Đảm bảo làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh;

- Hình thành trên tinh thần tự nguyện của các chủ

thể; - Đảm bảo công bằng, dân chủ, bình đẳng

Trang 13

2. Diện tích nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình biến động tăng qua các năm, chủyếu là nuôi trồng thủy sản nước ngọt Năm 2013 diện tích nuôi trồng thủy sản là 9.456

ha, đến năm 2015 sau hai năm diện tích nuôi trồng là 10.364 ha, tăng 908 ha; Sảnlượng nuôi trồng thủy sản tăng từ 17.022 tấn năm 2013 lên 19.692 tấn năm 2015, bìnhquân tăng 7.56% Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 2010) năm 2015 đạt 1.025 tỷđồng Quá trình tiêu thụ sản phẩm thủy sản với sự tham gia của nhiều tác nhân như hộnông dân nuôi trồng thủy sản, hộ bán buôn, bán lẻ, người thu gom lớn và các doanhnghiệp, cơ sở chế biến và người tiêu dùng

3. Các hình thức liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã đưa lại nhiều kết quả tích cực, thể hiện trên các điểm sau đây:

* Liên kết ngang:

-Người sản xuất – người sản xuất: mang lại lợi ích cho những người tham gia,góp phần giảm chi phí trong sản xuất và tiêu thụ của các hộ, tăng tính chủ động và vịthế của người sản xuất Tuy nhiên nội dung liên kết giữa các hộ còn đơn giản, diễn ratheo tính giai đoạn

-Người thu gom – người thu gom: còn lỏng lẻo, do cách thức liên kết chủ yếu

là thỏa thuận miệng, với các nội dung cung cấp sản phẩm, số lượng, chất lượng đượcthỏa thuận nhiều nhât 100%, nội dung giá sản phẩm, thời gian giao nhận sản phẩm,ứng tiền trước được thỏa thuận chiếm tỷ lệ nhỏ do lượng vốn của các hộ ít và giá cảphụ thuộc vào chất lượng sản phẩm khi bàn giao

- Doanh nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản: để đáp ứng yêu cầu hội nhập của thịtrường đòi hỏi các các doanh nghiệp, cơ sở chế biến tham gia thu gom trên địa bàn cần

có mối liên kết chặt chẽ, về cách thức liên kết và đa dạng về nội dung liên kết vớinhau, tỷ lệ doanh nghiệp thu mua sản phẩm qua hợp đồng cao

- Yếu tố chủ quan: Hiểu biết của các tác nhân về các hình thức liên kết trong sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm thủy sản có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hiểu biết về liên kết và nắm bắt các cơ hội do liên kết đem lại, tác nhân có hiểu biết rõ về vấn đề liên kết sẽ liên

Trang 14

kết chặt chẽ hơn Học vấn cũng quy định khả năng tư duy trong sản xuất, điều nàycũng ảnh hưởng tới hiệu quả liên kết trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm thủy sản trênđịa bàn tỉnh Điều này cho thấy trình độ quản lý và khả năng áp dụng khoa học kỹthuật của hộ sẽ hạn chế, khả năng tiếp cận và xử lý thông tin cũng kém.

- Yếu tố khách quan: sự cạnh tranh trên thị trường; Giá cả là yếu tố quan trọngtrong việc quyết định lựa chọn các đối tác của người sản xuất Giá cả cao hay thấp tùythuộc vào nhiều yếu tố, để thu được lợi nhuận cao nhất người nuôi trồng thủy sảnthường quan tâm tới cách làm thế nào để giảm chi phí sản xuất, trong khi đó sản lượngthủy sản vẫn tăng trưởng, phát triển tốt Việc các doanh nghiệp, người thu gom đưa ramức giá thu mua các sản phẩm thủy sản ảnh hưởng rất lớn đến liên kết giữa các hộ vàcác doanh nghiệp và người thu gom Ngoài ra để ký kết được hợp đồng và thực hiệnđúng hợp đồng thì việc giữ giá cả ổn định là điều hết sức cần thiết

5. Để phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ởtỉnh Ninh Bình, các biện pháp cần thực hiện tốt là: tạo lập môi trường kinh tế ổn định

và có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nuôi trồng thủy hải sản tậptrung với quy mô lớn Mở rộng và phát triển hệ thống ngân hàng, khuyến khích thànhlập các quỹ tín dụng, khai thác hiệu quả các khoản hỗ trợ; Tuyên truyền nâng cao nhậnthức và hiểu biết của người dân về liên kết là vấn đề cần thiết và cần được tiến hànhngay; phát triển thị trường; Hoàn thiện và tạo lập được hành lang pháp lý giải quyếttranh chấp giữa các tác nhân…

Trang 15

THESIS ABSTRACT

Project title:

"Look at the link in the form of production and consumption of fishery products in Ninh Binh".

Full name: TRAN VAN HUNG

Instructors: Assoc Nguyen Tuan Son

Implementation period: From 5/ 2015 - 5/2016

The objective of this research is to study through research linked forms ofproduction - consumption of fishery products in the province, the proposed systemdevelopment solutions in the form of links production and consumption seafoodproduct sales in the coming time, Ninh Binh province

To perform this study we use the method mostly sample survey in two districtswhere the production and consumption of fishery products thrive as Kim Son districtand Gia Vien district; descriptive statistical methods, comparative statistics to comparethe performance of the link, the results of production - consumption of fisheryproducts of research agents, comparing the benefits / costs which the agent receivedand money while participating in the affiliate; From then see the face to achieve, notits cause and basis solutions proposed development forms the link in the productionand consumption of fishery products in the province of Ninh Binh

The main content and results of the study are:

1. Link economic penetration, work together in the production and trading ofeconomic entities in the form of voluntary in order to promote production andbusiness in favor of most of the legal framework, through economic contracts exploitthe potential of associated actors Economic integration can proceed vertically orhorizontally, within the industry or sector, in a country or several countries, regionaland international levels in order to help each other in production and businessexperience, management experience, help each other in training and retraining oftechnical staff, managers, workers as well as the implementation of the provision ofsupplies, consumer products, transportation services, information as defined undermutually agreed upon and put in place, based on the following principles:

- Ensure increase business efficiency;

- Forming on the voluntary spirit of the subject;

- Ensuring justice, democracy and equality.

Trang 16

2 aquaculture area in Ninh Binh volatility increased over the years, mostly freshwater aquaculture 2013 aquaculture area is 9456 hectares, 2015 after two years of farming area is 10 364 ha, an increase of 908 ha; Aquaculture output increased from 17

022 tonnes to 19 692 tonnes 2013 2015 increase in the average 7,56% The value of aquaculture production (constant 2010) 2015 1,025 billion The process of consumption of fishery products with the participation of many actors , such as farmers aquaculture, wholesalers, retailers, collectors and large businesses, processors and consumers

3. Forms link in the production - consumption of fishery products in theprovince of Ninh Binh has brought about many positive results, shown on thefollowing points:

* Cross-linking:

- The producers - producers: benefits for the participants, contributing to costreduction in the production and consumption of households, increasing the autonomyand the status of the production However the content links between households aresimple, take place on the stage

- The collectors - collectors: loose, because of the way links are mostly verbalagreement to provide product content, quantity and quality are the most 100%agreement, content rating products, product delivery time, advance paymentagreement small proportion of households due to less capital and price depends on thequality of the product upon delivery

- Enterprise, seafood processing facilities, to meet the requirements of marketintegration requires businesses and processing establishments participating collectinglocalities should closely affiliated, on how links and richly interlinked content, theproportion of firms purchasing products through contract high

Trang 17

possibility of thinking in the production, which also affects the effective link in theproduction of fishery products consumed in the province This shows the level ofmanagement and the ability to apply science and technology will limit household,access and process information less well.

-An objective factor : competition in the market ; Price is an important factor

in determining the choice of partners from producer Price high or low depending onmany factors , to obtain the most profitable aquaculture people often care about how

to reduce the cost of production , while aquaculture production is growing , welldevelopement The businesses , collectors offer the purchase price of aquatic productsgreatly influence the link between households and businesses and collectors Inaddition to signing the contract and comply with the contract, keeping price stability isessential

5 To develop forms of association in the production and consumption of fishery products in Ninh Binh , the need to implement measures are: creating a stable economic environment and have policies to encourage companies investment industry marine aquaculture focus on a large scale Expand and develop the banking system , encourage the establishment of a credit fund , effective exploitation grants ; Propaganda to raise awareness and understanding of people about the problems associated necessary and should be carried out immediately ; market development; Improving and creating a legal framework established dispute resolution between actors

Trang 18

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI

Ngành thủy sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội Việt Nam, trong những năm qua sản xuất thủy sản đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 6,56 triệu tấn (tănggấp 5,1 lần so với năm 1990, bình quân tăng 8,49%); sản lượng nuôi trồng đạt 3,53triệu tấn (tăng gấp 9,7 lần so với năm 1990, bình quân tăng 12,02%); sản lượngkhai thác thủy sản đạt trên 3,03 triệu tấn (tăng gấp 3,1 lần so với năm 1990, bìnhquân tăng 5,83%/năm) Mặt hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 164 quốc gia

và vùng lãnh thổ trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt trên 6,7 tỷ USDgiảm 14,2% so với cùng kỳ năm 2014 (tăng gấp 29,8 lần so với năm 1990, bìnhquân tăng 18,5%/năm) Đặc biệt tôm và cá tra là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lựctrong nhiều năm, năm 2015 đạt kim ngạch xuất khẩu tôm là 2,59 tỷ USD và cá tra

là 1,37 tỷ USD Ngành thủy sản của Việt Nam luôn nằm trong tốp đầu các mặthàng xuất khẩu của đất nước và giữ vai trí top 10 nước xuất khẩu thủy sản hàngđầu thế giới (Viện Kinh tế quy hoạch thủy sản, 2015)

Hiện nay, liên kết là một chủ đề thời sự, là mối quan tâm của nhiều chủ thểkinh tế Thông qua các hình thức liên kết giúp cho người sản xuất có sự ràng buộclẫn nhau và với các tác nhân trong tất cả các khâu từ việc cung ứng đầu vào chođến tiêu thụ sản phẩm đầu ra, hạn chế và khắc phục bất lợi của tự nhiên, tăng tínhcạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, tránh hiện tượng được mùa, không đượcgiá, bị ép giá Nắm bắt được những lợi thế của việc liên kết trong sản xuất và tiêuthụ, ngày 25/10/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 63/QĐ-TTg vềchính sách phát triển hợp tác, liên kết gắn với tiêu thụ nông sản và xây dựng cánhđồng mẫu lớn

Ninh Bình là một tỉnh của đồng bằng sông Hồng có tổng diện tích tự nhiên

là 1.389 km2, trong đó diện tích nông nghiệp chiếm khoảng 78,36% Mặc dù tỷtrọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm đi đáng kể do tác động của quá trìnhcông nghiệp hóa nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Bình Các sản phẩm nông nghiệpchủ yếu: lúa gạo, lợn, gà, khoai sắn, bò, dê, tôm, cá, Tuy nhiên cũng như nhiềuđịa phương khác, vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông sản, trong đó có sản phẩm thủysản (tôm, cá) gặp nhiều thách thức trong bối cảnh nên kinh tế vĩ mô có nhiều bấtổn

Trang 19

Câu hỏi đặt ra là thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địabàn tỉnh Ninh Bình hiện nay như thế nào? Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện đang

có các hình thức liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thủy sản nào? Nhữngtác nhân tham gia trong các hình thức liên kết này là ai? Các hình thức liên kếttrong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thủy sản mang lại lợi ích gì cho chủ thể liên kết

và các bên tham gia liên kết? Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tham gia liên kết vàkết quả thực hiện liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thủy sản của các chủthể liên kết trong địa bàn tỉnh? Một số giải pháp cần hoàn thiện các hình thức liênkết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình là gì?

Do vậy, để góp phần tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên, tác giả nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Thông qua nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩmthủy sản trên địa bàn tỉnh, đề xuất hệ thống giải pháp phát triển các hình thức liên kếttrong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời gian tới

- Đề xuất giải pháp phát triển các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thức liênkết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản ở tỉnh Ninh Bình

Đối tượng nghiên cứu bao gồm: các tác nhân tham gia liên kết sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm thủy sản (Hộ nông dân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp, tổ chứctín dụng, ) và các tổ chức khác có liên quan (Chi cục Thủy sản, UBND tỉnh, huyệnKim Sơn, huyện Gia Viễn, )

Trang 20

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụsản phẩm thủy sản; Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và hoạt động củacác hình thức liên kết từng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnhNinh Bình;

- Về thời gian:

+ Số liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm 2013 – 2015;

+ Số liệu sơ cấp điều tra trong năm 2015

+ Giải pháp đề xuất đến năm 2020

- Về không gian: tỉnh Ninh Bình

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện đang có các hình thức liên kết trong sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản nào? Những tác nhân tham gia trong các hìnhthức liên kết này là ai?

-Các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản mang lại lợi ích gì cho chủ thể liên kết và các bên tham gia liên kết?

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển các hình thức liênkết và kết quả thực hiện liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản củacác chủ thể liên kết trong địa bàn tỉnh?

- Một số giải pháp cần đề xuất để phát triển các hình thức liên kết trong sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới?

1.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn các hình thức liên kết trong sản xuất

Trang 21

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỦY SẢN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan

a Khái niệm về liên kết

Theo quy luật phát triển của xã hội, đoàn kết tạo nên sức mạnh và theo tácđộng của quy luật kinh tế cơ bản, việc tích luỹ, tích tụ, tập trung hoá trong sản xuất

để sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn xã hội đồng thời đẩy nhanh quátrình xã hội hoá sản xuất Các hoạt động này diễn ra theo hai phương pháp: Cưỡngbức (thôn tính nhau qua cạnh tranh đi tới hợp nhất, sát nhập) và tự nguyện liênhiệp, liên kết với nhau Đó là xu hướng phát triển của bất cứ nền kinh tế nào Sựliên kết phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, không gò ép, cùng có lợi,quản lý dân chủ và hoạt động từ thấp đến cao Sau đây là một số quan điểm về liênkết kinh tế

Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của viện nghiên cứu và phổ biến tri thức

bách khoa thì “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra sự ổn định của các hoạt động kinh tế thông qua các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”

(Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006)

Liên kết kinh tế chỉ là tình huống khi mà các khu vực khác nhau của mộtnền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp vớinhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình pháttriển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững”

Tác giả Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng: “Liên kết kinh tế là quá trình thâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng

có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế khai thác tốt các tiểm năng của các chủ thể tham gia liên kết Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trong khu vực và quốc tế”.

Trang 22

Trong các văn bản của nước ta thì liên kết kinh tế được hiểu là các hìnhthức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và

đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanhcủa mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất

Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh

tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quanđến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng

có lợi nhất Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị trông tổ chức lên kết kinh tếcùng nhau ký hợp đồng những vấn đề có liên quan đến phần hoạt động của mình

để thực hiện

Tóm lại, liên kết kinh tế là các quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều chủ thểkinh tế với mục đích đạt được lợi ích kinh tế xã hội của các bên, dựa trên nhữnghợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định, những giấy tờ, bằng chứng cótính ràng buộc bằng pháp luật, những cam kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh(Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006)

b Khái niệm về hình thức liên kết

Hình thức liên kết là cách thức mà các hộ thực hiện liên kết với nhau trongquá trình sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm nào đó Có nhiều hình thức liên kết đểngười sản xuất và tiêu thụ có thể lựa chọn như hình thức liên kết thuần túy là sựliên kết thông qua thỏa thuận miệng (hình thức này vẫn được người dân ưa chuộng

sử dụng) và hình thức liên kết thông qua hợp đồng bằng văn bản, hình thức nàyyêu cầu các tác nhân tham gia liên kết phải thực hiện theo đúng các nội dung đã kýcủa hợp đồng

c Khái niệm về sản phẩm thủy sản

- Khái niệm về thủy sản

Theo Bách khoa toàn thư, Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về nhữngnguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con ngườikhai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bántrên thị trường

Nuôi trồng thủy sản là sự tác động của con người vào ít nhất một giai đoạntrong chu trình sinh trưởng, phát triển của đối tượng nuôi trồng nhằm tăng tỷ lệsống, tốc độ sinh trưởng để đạt hiệu quả kinh tế cao (Kim Văn Vạn, 2009)

Trang 23

- Khái niệm về sản phẩm thủy sản

Sản phẩm thủy sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngànhthủy sản thông qua quá trình nuôi trồng và đánh bắt Sản phẩm thủy sản bao gồmnhiều nhóm hàng như cá, giáp xác, động vật thân mềm, rong, bò sát…

d Khái niệm hợp đồng sản xuất nông nghiệp

Hợp đồng sản xuất nông nghiệp là phương thức gắn kết các khâu trongchuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm Sảnxuất nông nghiệp theo hợp đồng hay còn gọi là sản xuất theo hợp đồng bao tiêusản phẩm Trong xu hướng hiện đại hóa và thương mại hóa, sản phẩm nôngnghiệp, hợp đồng sản xuất nông nghiệp đang dần trở nên cần thiết ở Việt Nam.Tuy nhiên, hầu hết người làm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa quen với phươngthức sản xuất theo hợp đồng với doanh nghiệp Mô hình này vẫn chưa phát huy hếthiệu quả

Hợp đồng là một cơ cấu quan trọng để điều phối sản xuất, phân phối, vàbán lẻ sản phẩm giữa những người tham gia khác nhau trong chuỗi giá trị

Cụ thể, một hợp đồng là đưa ra những luật lệ của việc giao dịch qua việcphân bổ của ba yếu tố chính: giá trị, rủi ro, và quyền quyết định Một hợp đồngthành công do đó sẽ phân bổ giá trị, rủi ro, và quyết định theo cách mà hai bêncùng có lợi, lý tưởng là cùng chia sẻ rủi ro và cải tiến chất lợng và sản xuất

Hợp đồng sẽ định rõ những chi tiết điển hình khác nhau về các điều kiệnthương mại như là giá thành, số lượng, ngày giao hàng, điều kiện thanh toán, điềukhoản đóng góp, đặc điểm sản xuất (Trương Đình Chiến, 2012)

e Khái niệm về tiêu thụ

Tiêu thụ là quá trình mua bán, trao đổi sản phẩm giữa người mua và ngườibán, giúp sản phẩm đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng Theo nghĩa hẹp tiêuthụ sản phẩm hay việc bán hàng là quá trình chuyển giao hàng hóa cho khách hàng

và nhận tiền từ họ sau khi mua bán đạt sự thống nhất, người bán giao hàng, ngườimua trả tiền quá trình tiêu thụ kết thúc ở đây

Trong quá trình sản phẩm đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuốicùng hai tác nhân này trao đổi trực tiếp với nhau, nhưng cũng có thể thông qua mộtvài tác nhân trung gian khác Hoạt động tiêu thụ đã hình thành nên các kênh tiêuthụ sản phẩm và các kênh tiêu thụ này có độ dài ngắn khác nhau phụ thuộc vào sốtác nhân tham gia vào kênh (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

Trang 24

f Khái niệm về kênh tiêu thụ

Kênh tiêu thụ là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinhdoanh độc lập hay phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo ra dòng vậnchuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu dùng

Thành viên của kênh là tất cả những người tham gia vào kênh phân phối,bao gồm cả người sản xuất và người tiêu dùng Ngoài hai tác nhân này ra còn lạiđược gọi là trung gian thương mại, bao gồm:

- Nhà bán buôn, bán hàng hóa dịch vụ cho các trung gian khác như các nhà bán lẻ hay những nhà sử dụng công nghiệp

-Nhà bán lẻ bán hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng

- Đại lý môi giới có quyền hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác

- Nhà phân phối là những người trung gian thực hiện chức năng phân phối trên thị trường (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

* Vai trò của kênh tiêu thụ với người sản xuất

Các bộ phận trung gian là đối tượng chịu phần chi phí trong việc bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng

Có điều kiện tập trung vào sản xuất chuyên môn hóa

Giảm số lượng các mối quan hệ giao dịch làm tăng hiệu quả phân phối cho

xã hội, tiết kiệm nhiều khoản chi phí

Được chia sẻ rủi ro với các nhà trung gian (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

* Vai trò của kênh tiêu thụ đối với người tiêu dùng

-Được lựa chọn những mặt hàng yêu thích mà không mất công tìm kiếm

-Tăng tổng cung sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của xã hội

- Kích thích tiêu dùng và nâng cao tổng cầu của xã hội về sản phẩm và dịch

vụ hàng hóa

-Giúp cho cung cầu nhanh chóng gặp nhau

Bản chất của kênh tiêu thụ là một chuỗi liên kết các tác nhân với nhau, phânphối qua những trung gian này đem lại cho nhà sản xuất nhiều điều lợi ích hơn sovới nhà sản xuất tự phân phối Chúng ta có thể quan sát sơ đồ sau:

Trang 25

qua

hình

vẽ

cho

tat

Trang 26

với 3 nhà sản xuất nếu để họ tự

phân phối thì cần tới 9 lần tiếp

xúc, nhưng với một trung gian

phân phối thì chỉ còn 6 lần tiếp

xúc và tại đây người tiêu dùng

được tiếp cận với nhiều sản phẩm

hơn, ta thấy qua một trung gian

phân phối có thể tiết kiệm được

cả thời gian và chi phí (Nguyễn

Thị Bích Hồng, 2008)

* Cấu trúc kênh phân phối

Kênh phân phối được chia

làm các loại kênh như kênh trực

tiếp, kênh cấp 1, cấp 2 các tên

gọi này tùy thuộc vào độ dài kênh

và số thành viên tham gia kênh

phân phối (Trương Đình Chiến,

NgườiSX

Người thu

gom cấp 1

Ng ười thu go

m cấp 1

Ng ười thu go

m cấp 2

Người thugom cấp 1

Người thu gom cấp 2

Người thu gom cấp 3

Cơ sở chếKênh cấp 3

8

Trang 27

2.1.2 Vai trò và đặc điểm của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản

2.1.2.1 Vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản giúp các tác nhânkhắc phục những bất lợi về quy mô Qua liên kết giúp các tác nhân trong liên kết

có thể tập trung vào phát triển thế mạnh của mình, đem lại hiệu quả cao hơn so vớiviệc phải đầu tư dàn trải trong nhiều lĩnh vực Đồng thời có thể tận dụng được thếmạnh của đối tác liên kết của mình, cùng tiến hành những dự án, cơ hội lớn

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản giúp giảm thiểu rủi rotrong sản xuất kinh doanh Liên kết chính là hình thức chia sẻ cả về lợi nhuận vànhững rủi ro, nó ràng buộc các tác nhân liên kết với nhau, tuy khi có lợi nhuận sẽkhông được hưởng cả nhưng bù lại khi gặp rủi ro chúng ta cũng không mất hết

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản giúp các tác nhânphản ứng nhanh hơn với những thay đổi của thị trường Thông qua những mối liênkết tác nhân liên kết sẽ được tiếp xúc với nhiều tác nhân khác, tiếp xúc với nhiềuthông tin hơn, cũng như nhiều công nghệ mới, qua đó cùng với những mối quan hệrộng rãi giúp tác nhân liên kết có thể nắm bắt nhanh thông tin và có những phảnứng kịp thời (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

2.1.2.2 Đặc điểm của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản

Từ lý thuyết về liên kết, chúng ta đưa ra những đặc trưng cơ bản của liênkết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản như sau:

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản là một phạm trùkhách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ những lợi ích kinh tế khác nhaucủa từng chủ thể kinh tế cũng như quá trình vận động phát triển tự nhiên của lựclượng sản xuất

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản là những quan hệkinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định, thường xuyên lâu dài thông quanhững thoả thuận, hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản là quá trình làm xíchlại gần nhau và ngày càng cố kết với nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bêntham gia liên kết Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang từ quan

hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại

Trang 28

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản là những hình thứchoặc những biểu hiện của sự hành động giữa chủ thể liên kết thông qua những thoảthuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp định, điều lệ Mối liên kết nhằm thực hiệntốt những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của hoạt độngkinh tế (đầu tư, sản xuất kinh doanh ) Tuỳ theo góc độ xem xét quá trình liên kết

có thể diễn ra liên kết theo ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kếttheo vùng lãnh thổ (Minh Hoài, 2006)

2.1.3 Nội dung nghiên cứu các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản

2.1.3.1 Liên kết trong việc cung ứng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất

Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các cửa hàng, đại lý,công ty, doanh nghiệp, nhà khoa học với cơ sở sản xuất (nông dân) (liên kếtdọc), bên cạnh đó còn có hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa các nhàkhoa học hay giữa các người sản xuất với nhau chủ yếu là cung ứng nguyên liệuđầu vào mà họ cùng sản xuất (liên kết ngang) Người sản xuất có tư liệu sản xuất(đất đai, sức lao động ) họ cần các nguyên liệu đầu vào là giống, thức ăn Khithực hiện mối liên kết này, các cửa hàng, đại lý, công ty, doanh nghiệp, nhà khoahọc sẽ đứng ra ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận trực tiếp với người sản xuấthoặc thông qua địa phương Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào sẽ cungcấp các đầu vào để người sản xuất có vật tư đầu vào và họ sản xuất (Nguyễn TấtThắng, 2010) Như vậy, thông qua mối liên kết này, các nhà cungứng nguyên liệuđầu vào sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổchức, đơn vị mình Đồng thời người sản xuất lại có đầu vào để sản xuất với camkết đảm bảo số lượng, chất lượng vật tư đầu vào Khi liên kết này được thực hiệnđều mang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó người sản xuất sẽ chủ động vềcác nguồn nguyên liệu đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn Có các dạng chủ yếusau:

+ Ứng trước vật tư, vốn, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, mua bán lại sản phẩm thủy sản;

+ Bán vật tư, mua lại sản phẩm

2.1.3.2 Liên kết trong phòng chống dịch bệnh

Trong quá trình sản xuất – kinh doanh sản phẩm thủy sản người sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro; một trong những rủi ro mà người sản xuất gặp

Trang 29

phải đó là dịch bệnh của thủy sản Khi rủi ro xảy ra, trước hết gây thiệt hại trựctiếp cho bản thân người sản xuất, và phần nào ảnh hưởng đến lợi ích các tác nhânliên quan Do vậy, việc tiến hành liên kết trong phòng chống dịch bệnh luôn đượcNhà nông, cũng như các tác nhân liên quan quan tâm thực hiện.

Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa Nhà khoa học, doanhnghiệp với người sản xuất trong công tác phổ biến kỹ thuật hay tiến hành phòngtrừ dịch bệnh cho thủy sản Liên kết đó thường được sự trợ giúp, hỗ trợ từ Nhànước, được tiến hành thông qua chính quyền hay tổ chức đoàn thể ở địa phương.Bên cạnh dạng liên kết chủ đạo đó (liên kết dọc) thì liên kết giữa các cơ sở sảnxuất trong việc trao đổi những kinh nghiệm về phòng chống dịch bệnh cũng đượctiến hành (liên kết ngang) (Nguyễn Tất Thắng, 2010)

Việc thực hiện liên kết phòng chống dịch bệnh cho thủy sản là công tác khókhăn, và cả những chi phí tăng thêm cho quá trình sản xuất Tuy nhiên, việc thựchiện tốt công tác đó sẽ mang lại lợi ích cho việc phát triển bền vững, hạn chế rủi rotrong sản xuất – kinh doanh của các tác nhân

2.1.3.3 Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm thủy sản

Tiêu thụ luôn là nỗi lo của các cơ sở sản xuất Thực tế cho thấy được mùanhưng “rớt giá”, sản phẩm thủy sản bị tư thương ép giá, thu nhập giảm… Đây làtình trạng phổ biến, là thứ bệnh “kinh niên” chưa được “chữa trị” Trong cơ chế thịtrường sản phẩm thủy sản được sản xuất theo hướng hàng hoá để bán chứ không

“tự sản tự tiêu” như trước đây Chính vì thế nhu cầu liên kết trong khâu tiêu thụsản phẩm thủy sản là một nhu cầu thiết yếu nhằm mục đích bao tiêu sản phẩm sảnxuất ra của cơ sở sản xuất

Trong mối liên kết này các cơ sở sản xuất thường liên kết với các doanhnghiệp, cơ sở tiêu thụ sản phẩm thủy sản… Họ sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp (thôngqua các tổ chức chính quyền, các tổ chức cá nhân trung gian) ký kết các hợp đồnghoặc thỏa thuận miệng với các cam kết về số lượng, chất lượng… để cung cấp cácsản phẩm thủy sản mà mình sản xuất ra cho các nhà thu mua Còn nhiệm vụ củađơn vị, tổ chức thu mua… sẽ phải bao tiêu hết số lượng như đã cam kết với cơ sởsản xuất Mỗi bên liên kết đều mang lại lợi ích cho nhau theo đó thì lợi ích màngười sản xuất được hưởng là được bao tiêu sản phẩm thủy sản của cơ sở mình vớigiá cả ổn định, giảm thiểu rủi ro khi được mùa mất giá Gắn với nó thì nhà sảnxuất (doanh nghiệp, đơn vị chế biến, tiêu thụ…) cũng sẽ có nguồn

Trang 30

nguyên liệu đầu vào ổn định cho việc sản xuất - kinh doanh của mình Trong nộidung liên kết này các tổ chức, đơn vị tiêu thụ có thể thực hiện dưới hình thức muabán hay ứng trước một phần chi phí đầu vào… để đảm bảo nhà sản xuất sẽ cungứng đầu vào cho mình, gắn với mỗi nội dung liên kết thì lợi ích, chi phí của mỗibên nhận được và bỏ ra sẽ thay đổi theo hợp đồng, cam kết giữa các bên (NguyễnTất Thắng, 2010).

2.1.3.4 Tính chặt chẽ trong liên kết

Các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa các tác nhân là nhữngpháp nhân độc lập rất đa dạng, cùng với mỗi liên kết khác nhau, tính chặt chẽ trongliên kết cũng khác nhau và được thể hiện ở hai dạng cơ bản sau:

Hợp đồng bằng văn bản (Hợp đồng chính thống)

Hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản là phương thức gắn kếtcác khâu trong chuỗi giá trị thủy sản bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu thụ sảnphẩm Hợp đồng là một cơ cấu quan trọng để điều phối sản xuất, phân phối, và bán

lẻ sản phẩm giữa những người tham gia khác nhau trong chuỗi giá trị Cụ thể, mộthợp đồng là đưa ra những luật lệ của việc giao dịch qua việc phân bổ của ba yếu tốchính: giá trị, rủi ro, và quyền quyết định Một hợp đồng thành công do đó sẽ phân

bổ giá trị, rủi ro, và quyết định theo cách mà hai bên cùng có lợi, lý tưởng là cùngchia sẻ rủi ro và cải tiến chất lượng và sản xuất Hợp đồng sẽ định rõ những chi tiếtđiển hình khác nhau về các điều kiện thương mại như là giá thành, số lượng, ngàygiao hàng, điều kiện thanh toán, điều khoản đóng góp, đặc điểm sản xuất (TrươngĐình Chiến, 2012)

Theo Nguyễn Tất Thắng (2011) Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bánchính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bánsản phẩm Hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinhdoanh sản phẩm thủy sản và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm thủy sản vềviệc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với giá đặt trước” Đây là hìnhthức kinh tế hợp tác trực tiếp, quan hệ giữa hai bên bị ràng buộc bởi hợp đồng, do

đó nó có tính ổn định hơn Quan hệ hợp tác trên cơ sở hợp đồng được thực hiệndưới hai hình thức:

- Hợp đồng trên cơ sở cá nhân:

Là quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất ( như nông hộ, trang trại) với cơ sởtiêu thụ được thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với hai bên Các chủ thể có

Trang 31

trách nhiệm giao nộp sản phẩm đúng thời hạn, địa điểm, số và chất lượng cho cơ

sở tiêu thụ Ngược lại cơ sở tiêu thụ có trách nhiệm nhận sản phẩm thủy sản vàtranh toán hợp đồng cho bên kia Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm bồi thườngthiệt hại theo thỏa thuận

- Hợp đồng trên cơ sở nhóm: Có hai dạng

Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội Hiệp hội là tập hợp các nhà sản

xuất có cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản của quá trình sản xuất trên thịtrường Hiệp hội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng chung với cơ sở tiêu thụ

về thời gian giao nộp sản phẩm, địa điểm, số và chất lượng, giá cả cũng nhưphương thức thanh toán

Dạng thứ hai: Hợp tác thông qua hợp tác xã dịch vụ Người sản xuất có

quan hệ gián tiếp với cơ sở tiêu thụ và quan hệ trực tiếp với hợp tác xã dịch vụ.Hợp tác xã thay mặt người sản xuất đứng ra ký hợp đồng với cơ sở tiêu thụ, trựctiếp thanh toán, nhận, trả với cơ sở tiêu thụ sau đó thanh toán cho từng cơ sở sảnxuất (hoặc từng hộ nông dân)

Đối với mối liên kết kinh tế giữa cơ sở tiêu thụ với người sản xuất sảnphẩm thủy sản thì chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị,

xã hội khác nhau Về mặt kinh tế, nhân tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế

- xã hội, tức chế độ sở hữu và cơ chế vận hành nền kinh tế, bởi trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, đặc điểm ngành thủy sản và sản phẩm thủy sản, nhân tốchính trị - xã hội cũng có tác động nhất định đến liên kết

Hợp đồng miệng (Thỏa thuận miệng)

Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữacác tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó.Hợp đồng miệng cũng được các bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả,thời hạn và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độtín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng.Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết(họ hàng, bàn bè, anh em ruột, ) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác,liên kết sản xuất - kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thểhiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với cácđối tác Tuy nhiên, hợp đồng miệng trong thực tế thường chỉ là các thỏa tuận trênnguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa

Trang 32

2.1.3.5 Phương thức liên kết

Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản có thể tiến hành theocác phương thức chiều dọc (liên kết dọc) hoặc chiều ngang (liên kết ngang), trongnội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trênphạm vi khu vực và quốc tế Cụ thể:

- Liên kết dọc:

Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh sản phẩm thủy sản(theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theochiều dọc là toàn diện nhất bao gồm từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến tiêu thụsản phẩm phẩm Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa

có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tácnhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hìnhthành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vậnchuyển, chi phí cho khâu trung gian

- Liên kết ngang:

Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là mộtđơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểmsoát chung Mô hình liên kết trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủysản, mục đích liên kết có thể khác nhau nhưng đều mang lại lợi ích cho các tácnhân khi tham gia liên kết Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sảnphẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năngcạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của

tổ chức liên kết Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổchức liên kết như Hợp tác xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc quyềntrong một thị trường nhất định

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản

2.1.4.1 Các yếu tố chủ quan

a) Các yếu tố từ hộ sản xuất

Đối với người sản xuất do trình độ hiểu biết còn hạn chế về liên kết, về hợpđồng, trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn những cái lợi trước mắt mà khôngnhìn lâu dài Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi ký kết hợp đồng

Trang 33

Mặt khác, có những hộ sản xuất mặc dù đã ký hợp đồng tiêu thụ với công tynhưng nơi nào mua với giá cao hơn họ vẫn bán, thậm chí một số hộ nông dân trêncùng một diện tích và sản lượng lại ký hợp đồng tiêu thụ dẫn đến tình trạng phá vỡhợp đồng, làm các doanh nghiệp, cơ sở chế biến không chủ động được nguyênliệu.

Một yếu tố ảnh hưởng nữa là mặc dù các doanh nghiệp, cơ sở chế biến đãtạo điều kiện cho người dân sản xuất bằng cách ứng vốn, mua phân bón, chuyểngiao khoa học kỹ thuật, thu mua với giá đảm bảo ổn định, vậy mà vẫn có nhữngtrường hợp nông dân không “chung thuỷ” với các doanh nghiệp, cơ sở chế biếnsẵn sàng bán cho doanh nghiệp, cơ sở chế biến hoặc các lái buôn khác khi họ trảgiá cao hơn

Một thực tế khó khăn ảnh hưởng đến sự liên kết giữa những người thu gom,các doanh nghiệp chế biến và hộ sản xuất đó là hộ sản xuất luôn muốn chất lượnghàng hoá của mình là cao trong khi đó thực tế lại không đạt như vậy Vì vậy, dẫnđến tình trạng xảy ra các mâu thuẫn trong thu mua giữa các doanh nghiệp, cơ sởchế biến và hộ sản xuất không bán theo hợp đồng với công ty mặc dù theo hợpđồng các doan nghiệp trên đã đầu tư ban đầu cho các hộ sản xuất (hộ sản xuất sẵnsàng đi đến với các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất khác mà hộ không ký kết)

Sản xuất của hộ vẫn tự phát, không tập trung, quy mô kinh tế của hộ rấtnhỏ, diện tích manh mún, không mang tính tập trung, sản xuất hàng hóa Đã thế tưtưởng thay đổi phương thức sản xuất của hộ rất ít, hầu như hộ không giám mạnhdạn đầu tư trong sản xuất của mình, sợ ảnh hưởng đến quyền lợi mà họ đang có, sợrủi ro trách nhiệm khi tham gia liên kết

Như vậy, nhận thức của liên kết sản xuất của hộ rất kém, các lý do chínhtrên là làm cho việc liên kết còn hạn chế và để liên kết trong sản xuất của hộ đượchiệu quả hơn cần giải quyết tốt các lý do ảnh hưởng trên (Phạm Xuân Dũng,2007)

b) Các yếu tố từ doanh nghiệp, cơ sở chế biến

Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còn tìnhtrạng cơ sở chế biến ngừng mua hoặc giảm giá lại không thông báo cho nông dân,trong khi mua còn gây khó dễ với nông dân nhất là vào thời điểm chính vụ nôngsản

Trang 34

Chế tài mà công ty đưa ra để sử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệu lựcchưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ranhất là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá thị trường.

Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùngnguyên liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương, với hộ nôngdân chưa cao (Phạm Xuân Dũng, 2007)

c) Người thu gom (người trung gian phân phối sản phẩm)

Đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, tạo ra lợiích hài hòa với người sản xuất Họ nắm bắt thông tin thị trường khá nhạy bén, ítchịu quản lý, ràng buộc của một cơ quan tổ chức nào nên họ có thể ép giá, tranhmua tranh bán nhằm tối đa lợi ích cá nhân gây lên mối liên kết lỏng lẻo (PhạmXuân Dũng, 2007)

2.1.4.2 Các yếu tố khách quan

Là các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến các hình thức liên kết trong sản xuất

và tiêu thụ thủy sản mà các tác nhân khi tham gia hoặc không tham gia vào chuỗigiá trị thủy sản đều bị ảnh hưởng và không kiểm soát được các yếu tố đó Nghiêncứu các yếu tố này không nhằm mục đích để điều khiển nó theo ý muốn của cáctác nhân mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vậnđộng của nó

Trang 35

Hình thức hợp đồng được áp dụng phổ biến ở Thái Lan là: các công ty tưnhân cung cấp vật tư nông nghiệp, vốn tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, mua nông sản và

tổ chức tiếp thị hợp đồng với nông dân Tại Thái Lan, phương thức hợp đồng thuhút sự tham gia cao của khu vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài Một chínhsách quan trọng của chính phủ Thái Lan là yêu cầu mọi ngân hàng thương mạiphải đầu tư 20% tổng tiền gửi cho tín dụng tại nông thôn Trong điều kiện đó cácngân hàng thương mại muốn cho vay thông qua phương thức hợp đồng hơn là chonông dân vay riêng lẻ trực tiếp, nhờ đó phương thức hợp đồng thêm phát triển.Quả thật, hình thức tổ chức sản xuất hợp đồng đã góp phần quan trọng trong quátrình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của nước này từ một nền sản xuấtnông sản thô sang sản xuất kinh doanh nông sản chế biến tạo nên khả năng cạnhtranh cao trên thị trường thế giới (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

Có 4 hình thức chính của sản nghiệp hoá:

Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: tức là

doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình thức kýhợp đồng, khế ước, cổ phần rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyênliệu Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông sản định hướngsản xuất cho nông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệpsản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân vay vốn, bảo vệlợi ích của doanh nghiệp và nông dân trước các thay đổi của thị trường nhằm chodoanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất

Trang 36

Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp tác

nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn vị kinhdoanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ đóng vai trò nhưchiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với nông dân

Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức chia

sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ Giữa các hộ giađình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi

Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này hạt

nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là cácchợ công ty này tác động hướng dân nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ

đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình(Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

2.2.2 Thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam

Nhằm phát triển các vùng nguyên liệu bền vững tại nhiều địa phương thìnhiều mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩn nông sản đã xuấthiện Với mục đích là để có được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đủsức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàntrong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế Điển hình một số nơi đã thực hiệnthành công mô hình này như: Thái Bình, Nam Định, Kiên Giang

2.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình

Tại Thái Bình, khoai tây là cây có giá trị kinh tế cao nhưng chưa được mởrộng trong sản xuất do nguồn giống bị thoái hoá, sâu bệnh nhiều và năng suấtkhông cao Đặc biệt, người dân không chủ động được đầu ra nên vẫn còn tìnhtrạng “được mùa thì rớt giá, mất mùa thì được giá” Để khắc phục tình trạng đó,năm 2009, Trung Tâm Khảo nghiệm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh đã triển khai

mô hình sản xuất khoai tây thương phẩm

Đây là mô hình sản xuất khoai tây thương phẩm cho công ty Orion HànQuốc với giống Atlantic được trồng trên diện tích 15ha thuộc 16 xã trên địa bàn 3huyện là Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải Quá trình thực hiện mô hình, Trung tâm

đã làm cầu nối giữa các HTX trong tỉnh với công ty Orion, ngoài ra còn tổ chứctập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, cử cán bộ theo dõi, chỉ đạo và hướng dẫn hộtrồng Kết thúc quá trình trồng, mô hình đã thu được kết quả đáng phấn khởi:Khoai cho năng suất từ 800-1200 kg/sào, tỷ lệ củ thương phẩm cao đạt 90-

Trang 37

95%, hàm lượng tinh bột trong củ lớn rất thích hợp cho chế biến Đặc biệt, Công tyOrion đã ứng trước giống đạt tiêu chuẩn và ký hợp đồng thu mua toàn bộ khoaithương phẩm với giá cố định ngay từ đầu vụ, nên nông dân có thể tính được hiệuquả kinh tế trước khi trồng, yên tâm sản xuất.

Xã An Khê, xã Quỳnh Phụ là một xã điển hình trong phong trào sản xuấtcây vụ đông, vì vậy khi đưa mô hình về địa phương đã được cán bộ, nhân dân ủng

hộ nhiệt tình và quyết định trồng 2ha Với kinh nghiệm trồng khoai lâu năm cộngvới sự giúp đỡ của cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông tỉnh nên khoai sinhtrưởng và phát triển tốt Sau 3 tháng trồng, thu được khoảng 25 tấn/ha khoaithương phẩm, với giá 3.300đồng/kg, trừ chi phí lãi khoảng 1 – 1,2 triệu đồng/sào

Trồng khoai tây theo chỉ đạo của HTX mang lại sự yên tâm cho người dân.Đầu tư lớn nhất ban đầu là giống thì được hỗ trợ khi nào có sản phẩm mới phảithanh toán; quá trình trồng, chăm sóc đã có cán bộ kỹ thuật của Trung tâm khuyếnnông và ban chỉ đạo HTX giúp đỡ; khi thu hoạch khoai thương phẩm công ty muahết

Thành công từ mô hình đã được các HTX và hộ nông dân đánh giá cao,đồng thời gắn kết giữa nông dân với doanh nghiệp thông qua hệ thống khuyếnnông, mở ra hướng đi mới cho phát triển cây vụ đông ở Thái Bình Tuy nhiên đểcách làm này thực sự hiệu quả cần sự quan tâm hơn nữa của các nhà khoa học, cáccấp chính quyền, đặc biệt người nông dân cần thay đổi cách thức trong sản xuất từnhỏ lẻ, phân tán sang tập trung quy mô lớn, ký kết hợp đồng

Qua mô hình liên kết trên đã tạo điều kiện cho nông dân an tâm sản xuất,hạn chế được tình trạng tranh mua, tranh bán và giúp nông dân sản xuất theohướng bền vững, an toàn vệ sinh thực phẩm, tránh được các rủi ro trong sản xuất.Lúc tiêu thụ với giá bao tiêu trong hợp đồng, công ty luôn tạo điều kiện cho ngườinông dân vừa có lãi và giá bán không biến động lớn với ngoài thị trường Từ đónông dân cũng đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất theo hướng sản xuất an toàn, nângcao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

2.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Nam Định

Để nền kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển và đứng vững trong thời

kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, tỉnh Nam Định đang nhân rộng các mô hình liên kếttrong sản xuất, chế biến rau màu đặc biệt là các loại cây trồng vụ đông nhằm phục

vụ xuất khẩu

Trang 38

Tỉnh Nam Định đã thúc đẩy và nhân rộng các mô hình trồng rau màu xuấtkhẩu: Triển khai các chính sách hỗ trợ người nông dân trồng các loại cây vụ đôngphục vụ xuất khẩu, đồng thời tổ chức cho các doanh nghiệp gặp gỡ với nông dân

để thoả thuận, ký kết hợp đồng trồng và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, tỉnh cũngvận động các Ngân hàng Thương Mại tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân và cácdoanh nghiệp vay vốn đầu tư, mở rộng diện tích, chế biến rau màu xuất khẩu

Đến nay đã có 10 doanh nghiệp thường xuyên ký kết với gần 50 địa phươngtrong tỉnh, nhằm phát triển trồng cây vụ đông xuất khẩu với tổng số diện tích hơn1.000 ha Các doanh nghiệp còn ký kết hợp đồng với nông dân các địa phươngtrong tỉnh cung cấp giống cây trồng có chất lượng cao và chủ động đưa các giốngcây mới vào đồng rộng

Về phía người nông dân, họ đã đa dạng hoá cơ cấu cây trồng với nhiều loạicây rau màu như cà chua, dưa chuột bao tử, ngô bao tử, ngô ngọt, ớt Thu nhậpbình quân từ trồng cà chua nhót đạt 68 triệu đồng/ha/vụ, cà chua quả to cho thunhập 79,3 triệu đồng/ha/vụ, dưa chuột bao tử cho thu nhập 56,2 triệu đồng/ha/vụ

Tuy vậy, theo các công ty chuyên chế biến rau màu xuất khẩu, nông dântrong tỉnh vẫn chưa đáp ứng được việc cung cấp nguồn nguyên liệu rau màu chấtlượng cao Với nhu cầu hiện nay tại Nam Định, các doanh nghiệp cần thu mua củanông dân ở các địa phương từ 5.000 đến 10.000 tấn sản phẩm rau màu để chế biếnxuất khẩu trong khi nguồn cung chỉ mới đáp ứng được 30%

Nhằm khắc phục bất cập, yếu kém trong phát triển cây trồng vụ đông, tỉnhNam Định đã có các giải pháp như: Các địa phương cần tổ chức rà soát, quy hoạchlại vùng chuyên canh cây vụ đông xuất khẩu; ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ

sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi ở các vùng sản xuất cây rau màu vụ đông; tíchcực áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất rau màu; thường xuyên tổchức các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân trồng cây rau màu vụ đông; xây dựng

cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích nông dân phát triển trồng cây vụ đôngđồng thời khuyến khích các doanh nghiệp lo đầu ra tốt cho sản phẩm rau màu vụđông (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Ninh Bình

- Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa các hộ nuôi trồng thủy sản vớingười thu gom và các doanh nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản muốn có hiệu quả

Trang 39

tốt cần phải có sự giám sát của cơ quan quản lý (Nhà nước) đảm bảo sự liên kếtđược bền chặt và xuyên suốt Cần liên kết chặt chẽ trong từng khâu trong quá trìnhsản xuất Cần phải đánh giá rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình liên kết đạthiệu quả tốt nhất, để đảm bảo cho người dân yên tâm sản xuất, doanh nghiệp yêntâm đầu tư.

- Trong quá trình liên kết phải thực hiện đúng những quy định đã đề ra, nhưvậy mới tạo nên mối liên kết lâu dài, đảm bảo lợi ích giữa các bên

- Xử lý đúng đắn, kết hợp hài hòa lợi ích giữa các bên trong quá trình liênkết Khi xảy ra rủi ro, bất khả kháng thì nhà nước cần can thiệp để đảm bảo cho cảngười dân và doanh nghiệp cùng chia sẻ rủi ro đó

- Để quá trình liên kết có sức lan tỏa và đi sâu vào cuộc sống cần đẩy mạnhcông tác tuyên truyền Tuyên truyền phải là bước đi đầu tiên trong quá trình liênkết, phải làm cho họ hiểu được lợi ích của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đặcbiệt đối với sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

2.2.4 Các nghiên cứu có liên quan

Ngày 25/10/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 62 TTg về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêuthụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn Quyết định này quy định một số chính sách

/2013/QĐ-ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước nhằm khuyến khích liên kết sản xuất gắn với chếbiến và tiêu thụ nông sản thuộc các dự án cánh đồng lớn theo quy hoạch và đượccấp có thẩm quyền phê duyệt Đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp trong nước;

hộ gia đình, cá nhân, trang trại; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã … Quyết định trên

đã bổ sung và hoàn thiện quyết định số 80/2002/QĐ-Ttg của Thủ tướng và đangđóng vai trò tích cực trong việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản

Nguyễn Xuân Dũng, 2009 cho rằng Liên kết bốn nhà cần phải chặt chẽ So

với yêu cầu phát triển nền sản xuất nông nghiệp bền vững, thì mức độ phát triểncủa khu vực nông nghiệp chưa đạt yêu cầu Đặc biệt, dù đã là hội viên của WTO,nước ta vẫn chưa có sự liên kết, đầu tư bài bản cho sản xuất, chế biến và tiêu thụnông sản giữa nông dân, doanh nghiệp, ngân hàng và các nhà khoa học Các ngànhtrong nội bộ khu vực kinh tế nông thôn chưa gắn kết, hỗ trợ nhau phát triển Có thểthấy rằng, một số chính sách kuyến khích phát triển nông nghiệp, nông sản hànghóa của Nhà nước chưa đồng bộ, công tác quy hoạch các vùng

Trang 40

trọng điểm, vùng động lực và vùng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa chưadựa trên nhu cầu thị trường, một số hợp đồng kinh tế giữa nông dân và doanhnghiệp đã được triển khai nhưng thiếu sự hỗ trợ của các nhà khoa học cũng nhưcủa các cơ quan quản lý nhà nước Nhiều hợp đồng kinh tế tiêu thụ sản phẩm đãđược ký kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn thiếu chuẩn mực và chưa bìnhđẳng.

Vũ Trọng Khải 2009 đề cập đến sự bế tắc trong thực hiện liên kết bốn nhà.

Một là khó khăn trong việc ký hợp đồng với hộ nông dân nhỏ lẻ Với quy mô nhỏ,các nhà nông này có thể dễ dàng tiêu thụ nông sản được sản xuất theo kỹ thuậttruyền thống ngay tại chợ quê Họ không cần liên kết với doanh nghiệpchế biến -tiêu thụ nông sản, họ không có khả năng và không cần áp dụng quy trình và tiêuchuẩn toàn cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm (Global GAP) Còn doanh nghiệp lạikhông thể ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với hàng ngàn hộ nông dân nhỏ lẻ Hai làviệc bội tín khi thực hiện hợp đồng Quyết định 80/2002/QĐ-TTg quy định giá sàntrong quan hệ mua bán giữa nhà nông và doanh nghiệp Khi giá cả xuống dưới giásàn thì nông dân bán nông sản cho doanh nghiệp nhưng khi giá nông sản tăng caonông dân vì lợi ích trước mắt lại bán cho bất kì ai theo giá thị trường Bản thândoanh nghiệp lại không thể mua theo giá này, hay nói cách khác phải buộc vi phạmcam kết với nông dân, vì các hợp đồng đầu ra của doanh nghiệp đã được ký kết từtrước, nếu tăng giá đầu vào doanh nghiệp sẽ bị lỗ Tác giả đề xuất đã đến lúc cầnđánh giá lại việc thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg trong thời gian qua vàthiết lập khung pháp lý mới cho giao dịch nông sản bằng hình thức sản xuất theohợp đồng

Như vậy liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản là một bước đi đúngđắn của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại trong quá trình thựchiện do đặc tính của sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, do xung đột về lợi ích giữa cáctác nhân, do tác động của thị trường, do tính pháp lý của hợp đồng… cần phải giảiquyết để liên kết thực sự hiệu quả, đem lại lợi ích thực sự cho người sản xuất,doanh nghiệp và cho toàn xã hội

Ngày đăng: 14/07/2021, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Xuân Dũng (2009), “Liên kết bốn nhà cần phải chặt chẽ. Ý kiến của tác giả về quyết định 80-2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết bốn nhà cần phải chặt chẽ. Ý kiến của tácgiả về quyết định 80-2002 của Thủ tướng Chính phủ nhằm khuyến khích tiêu thụnông sản hàng hoá thông qua hợp đồng
Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng
Năm: 2009
17. Vũ Trọng Khải (2009), ‘Liên kết “bốn nhà”: chủ trương đúng vẫn tắc’, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 16/6/2009, trang 41- 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bốn nhà
Tác giả: Vũ Trọng Khải
Năm: 2009
1. Cục thống kê tỉnh Ninh Bình, Niêm giám thông kê tỉnh Ninh Binh các năm 2013, 2014, 2015 Khác
2. Chính phủ (2013), Quyết định số 63/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển hợp tác, liên kết gắn với tiêu thụ nông sản và xây dựng cánh đồng mẫu lớn Khác
3. David Colman & Tre Vor Young (1994), Nguyên lý kinh tế nông nghiệp (Lê Ngọc Trung, Trần Trung Tá dịch), NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
4. Mai Ngọc Mác (2004), “Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cói tại làng nghề của xã Nga Tân – Nga Sơn – Thanh Hoá’’, luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội Khác
5. Minh Hoài (2006), Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng, tạp chí Kinh tế phát triển số tháng 9 năm 2006 Khác
6. Nguyễn Tất Thắng, (2011), Nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng. Đề tài cấp Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo).Mã số đề tài: B2010 – 11- 155TĐ Khác
7. Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008, Lợi ích của mối liên kết tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng, Nội san kinh tế số tháng 3 năm 2008, Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Khác
9. Phạm Thị Minh Nguyệt (2006), Giáo trình kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Khác
10. Phan Xuân Dũng (2007), Về mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Việt nam, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới số tháng 1 năm 2007 Khác
11. Quyền Mạnh Cường (2006), Nghiên cứu các mô hình liên kết giữa sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm chè trên địa bàn huyện Thanh Ba - Tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
12. Từ Thị Thanh Hiệp, Khoa kinh tế trường Đại học Tây Nguyên (2003), Tiêu thụ nông sản của các trang trại trên địa bàn huyện Cư Jut tỉnh Đăk nông Khác
13. Trương Đình Chiến (2012), Giáo trình quản trị kênh phân phối, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Khác
14. UBND tỉnh Ninh Bình, Báo cáo tình hình triển khai thực hiện phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Ninh Bình các năm 2013, 2014, 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn các năm tương ứng 2014, 2015, 2016 Khác
15. UBND tỉnh Ninh Bình, Báo cáo tổng kết kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2015, phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016 – 2020 Khác
16. Viện Quy hoạch thủy sản (2015), Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tấm nhìn đến năm 2030 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w