1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát

104 995 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát
Tác giả Lê Đông Hiếu
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Xuân Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Động vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 31,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ĐDSH lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam đã được tiến hành trên nhiều lĩnh vực như nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, hình thái phân loại, phân bố địa lý và sinh thái học.... Việc

Trang 1

LÊ ĐÔNG HIẾU

ĐA DẠNG SINH HỌC LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT

VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

VINH 2008

Trang 2

LÊ ĐÔNG HIẾU

ĐA DẠNG SINH HỌC LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT

VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT

Chuyên ngành: Động vật

Mã số: 60.42.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Người hướng dẫn: PGS TS HOÀNG XUÂN QUANG

VINH 2008

Trang 3

Luận văn có kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước và bổ sung thêm những tư liệu mới.

Tác giả

Trang 4

Nhân dịp này, cho phép tôi bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu trường Đại Học Vinh, khoa Sau Đại Học, khoa Sinh Học, bộ môn Động Vật - Sinh Lý đã quan tâm giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập

và nghiên cứu

Xin cảm ơn Ban quản lý VQG Pù Mát, chính quyền và nhân dân các địa phương trong vùng đệm đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực địa, nghiên cứu.

Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Hoàng Xuân Quang,

người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, và nhất là những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này.

Tác giả

Trang 5

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3

1.2.1 Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát tại Việt Nam 31.2.2 Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát tại VQG Pù Mát 8

1.4 Đặc điểm tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 10

1.4.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất và thổ nhưỡng 12

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin 26 2.2.4 Nghiên cứu sinh cảnh phân bố lưỡng cư, bò sát 26

3.1.2 Đặc điểm phân loại học lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát 35 3.1.3 Đa dạng về phân loại học lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát 97 3.1.4 Tình trạng bảo tồn các loài lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát 100 3.1.5 Những phát hiện mới về lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát 101 3.1.6 So sánh đa dạng lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát với những VQG,

KBTTN ở Bắc Trường Sơn

102

3.2 Đặc điểm phân bố lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát 103 3.2.1 Đặc điểm sinh cảnh các khu vực điều tra 103

Trang 6

3.3 Tình hình săn bắt, khai thác lưỡng cư, bò sát 110

Phụ lục 1 Hình ảnh hoạt động điều tra, nghiên cứu

và một số loài LCBS ghi nhận tại VQG Pù Mát

123

Phụ lục 2 Những loài động vật hoang dã bị săn bắt, buôn bán 128

Phụ lục 3 Đánh giá hoạt động bảo tồn tại VQG Pù Mát 130

Bảng 2.1 Tổng hợp điều tra thực địa

Bảng 3.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát

Bảng 3.2 Số loài và giống lưỡng cư, bò sát trong các bộ, họ

Bảng 3.3 Những loài lưỡng cư, bò sát bổ sung cho VQG Pù Mát

Bảng 3.4 So sánh đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát với những VQG, KBTTN ở Bắc Trường Sơn

Bảng 3.5 Phân bố lưỡng cư, bò sát theo khu vực điều tra

Bảng 3.6 Phân bố lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh

Bảng 3.7 Thống kê động vật bị săn bắt, buôn bán

Biểu đồ 3.1 Phân bố lưỡng cư, bò sát theo khu vực điều tra

Biểu đồ 3.2 Phân bố lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh

Biểu đồ 3.3 Tình trạng săn bắt buôn bán động vật hoang dã

Trang 7

FFI : Tổ chức động, thực vật quốc tế

VQG: Vườn Quốc gia

WWF: Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên

VNC: Vùng nghiên cứu

Trang 8

MỞ ĐẦU

Đa dạng sinh học (biodiversity, biological diversity) là sự khác nhau giữa

các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: Các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái (Công ước ĐDSH).

Đa dạng sinh học có vai trò sống còn đối với trái đất, có nhiều giá trị vô cùng to lớn đối với đời sống con người cũng như sinh vật: Giá trị sinh thái môi trường, giá trị kinh tế và giá trị nhân văn.

Lưỡng cư, bò sát là nhóm động vật có ý nghĩa đối với môi trường tự nhiên, ĐDSH và con người Lưỡng cư, bò sát là một thang bậc tiến hóa của sinh giới, là mắt xích quan trọng trong tự nhiên tạo nên sự cân bằng sinh học, sinh thái, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học Lưỡng cư, bò sát có giá trị về văn hóa, kinh tế, thương mại và phục vụ trực tiếp cho đời sống của con người.

Nghiên cứu ĐDSH lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam đã được tiến hành trên nhiều lĩnh vực như nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, hình thái phân loại, phân bố địa lý và sinh thái học Trong những năm qua có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở những địa phương, đặc biệt chú ý đến các VQG, KBTTN.

Vườn quốc gia Pù Mát nằm phía Tây - Nam tỉnh Nghệ An với diện tích vùng bảo vệ là 94.804ha và vùng đệm 86.000ha, là VQG có diện tích lớn nhất miền Bắc Việt Nam VQG Pù Mát là một trong 12 khu vực cần ưu tiên cao nhất trong công tác bảo tồn ĐDSH của quốc Pù Mát là VQG quan trọng của Khu dự trữ sinh quyển Miền tây Nghệ An.

Tuy nhiên những hoạt động của con người như phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép, cháy rừng, săn bắn động vật hoang dã đã và đang làm cho ĐDSH trong đó có ĐDSH lưỡng cư, bò sát của VQG Pù Mát ngày càng bị suy giảm.

Trang 9

Việc nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ lưỡng cư, bò sát cũng như những ảnh hưởng của con người là vấn đề đang được quan tâm trong công tác bảo tồn VQG Pù Mát Vì vậy tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát Vườn quốc gia Pù Mát ".

Các số liệu nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp cho các nhà quản lý đưa ra những giải pháp hữu hiệu trong công tác bảo tồn ĐDSH nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ lưỡng cư, bò sát và ĐDSH VQG Pù Mát.

Mục tiêu nghiên cứu

1 Nghiên cứu ĐDSH lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát và vùng đệm.

2 Xác định những nguyên nhân gây nên suy giảm ĐDSH của khu hệ lưỡng cư,

bò sát ở VQG Pù Mát và vùng đệm.

3 Đề xuất những giải pháp thích hợp để bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ lưỡng cư, bò sát ở VQG Pù Mát và vùng đệm.

Nội dung nghiên cứu

1 Đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát.

2 Đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố lưỡng cư, bò sát.

3 Nguyên nhân gây nên sự suy giảm ĐDSH khu hệ.

4 Những giải pháp bảo tồn thích hợp, các hoạt động ưu tiên để bảo vệ rừng, bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, và ĐDSH khu hệ lưỡng cư, bò sát.

Ý nghĩa của đề tài

1 Cung cấp hệ thống tư liệu về ĐDSH lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát và vùng đệm, từ đó góp phần vào nghiên cứu ĐDSH tại VQG Pù Mát, Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An và Việt Nam

2 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân suy giảm ĐDSH lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát; Đề xuất những biện pháp bảo tồn thích hợp để bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học lưỡng cư bò sát và làm giảm sự suy thoái tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia và vùng đệm.

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

"Đa dạng sinh học là sự phong phú của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường" (WWF, 1989).

Bảo tồn ĐDSH ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thể loài đang tồn tại và phát triển Công việc này có thể được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên.

Quản lý động vật hoang dã là sự "vận hành" các quần thể động vật hoang

dã và môi trường sống của chúng cùng với những tương tác giữa hai yếu tố này để đạt được mục tiêu bảo tồn.

1.2 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư, bò sát tại Việt Nam

Nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam bắt đầu từ khi Morice (1875) lập nên danh sách các loài lưỡng cư, bò sát thu được mẫu ở Nam Bộ mở đầu cho

các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ

19 Những nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát tiếp theo ở Bắc Bộ có J.Anderson (1878), ở Nam Bộ có J Tirant (1885), G Boulenger (1890), Flower (1896), Boettger (1901) là người đầu tiên đề cập tới lưỡng cư, bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong tài liệu “Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen und Batrachien Annam” Tuy nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra khu hệ lưỡng cư, bò sát, xây dựng danh lục lưỡng cư, bò sát các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921,1923,1924) Những công trình của Bourret R và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R 1936, 1941, 1942) Đáng chú ý là những công trình

Trang 11

nghiên cứu Bourret R có nói nhiều đến lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, ông đã công bố và bổ sung danh lục cho nhiều loài lưỡng cư, bò sát (Bourret R 1934,

1937, 1939, 1940, 1943) [29].

Từ năm 1954, nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam được tiến hành ở Miền Bắc trong đó có vùng Bắc Trung Bộ Năm 1960, Đào Văn Tiến nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh (Quảng Trị) đã thống kê

được nhóm lưỡng cư, bò sát có 12 loài Lớp ếch nhái có 1 họ Ranidae với 1 loài, lớp bò sát có 6 họ: họ Gekkonidae 2 loài, họ Agamidae 3 loài, họ Colubridae 2 loài, họ Viperidae 2 loài, họ Typhlopidae 1 loài và họ Emididae 1 loài Tác giả đã

bổ sung cho vùng nghiên cứu 3 loài và mô tả 1 loài mới [29] Năm 1977, nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại lưỡng cư Việt Nam và công

bố 87 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ 12 họ [44] Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khoá định loại thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [45] Năm 1981-1982, nghiên cứu các đặc điểm phân loại, xây dựng khoá định loại và đã xác định ở Việt Nam có 167 loài rắn thuộc 9

họ 69 giống [46,47].

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981), nghiên cứu lưỡng cư,

bò sát từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài bò sát thuộc

2 bộ, 19 họ và 69 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ, 9 họ [20]

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985), Báo cáo điều tra thống

kê khu hệ bò sát, ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài lưỡng cư Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lí, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài [22]

Những năm 1980 đến nay các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc thống

kê và vẽ bản đồ phân bố các loài lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam Kết quả từ năm

1980 đến 2006 đã phát hiện 3 giống mới, 79 loài mới và 3 phân loài mới cho khoa học (39 loài lưỡng cư, 43 loài bò sát) Ngoài ra, có ít nhất 90 loài lần đầu tiên được

Trang 12

ghi nhận ở Việt Nam trong giai đoạn này Kết quả nghiên cứu cho thấy các khu vực núi cao của Việt Nam chứa đựng sự đa dạng về thành phần loài lưỡng cư và

bò sát Một số địa điểm quan trọng đối với khu hệ lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam gồm: dãy Hoàng Liên Sơn (Phan-xi-păng) ở khu vực Tây Bắc, dãy Bắc Sơn và Yên Tử ở khu vực Đông Bắc, dải Trường Sơn và khu vực Tây Nguyên ở miền Trung và vùng lưu vực sông Cửu Long ở Miền Nam Các khu vực này hiện còn tồn tại một diện tích khá lớn các khoảnh rừng tự nhiên và cần tiếp tục được nghiên cứu Sự ĐDSH mới này xuất phát từ việc nhận biết các loài mới thông qua những phân tích về hình thái và di truyền của các loài riêng biệt (các loài chưa rõ nguồn gốc) mà trước đây được coi là các quần thể chưa phân hóa của một loài duy nhất

có phân bố rộng Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra sự phong phú tiềm ẩn trong

những nhóm loài của Ếch xanh (Rana livida), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa dứa (Cyclemys dentata) Nguồn thứ hai làm tăng nhanh số

lượng loài có trong nước là những loài trước kia chưa được tìm thấy tại Việt Nam

như Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) là loài chuyên sống trên địa hình

núi đá vôi được tìm thấy ở vùng Đông Bắc của Việt Nam vào năm 2003 và trước đây chỉ biết đến ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc [17,54].

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996), công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài lưỡng cư (chưa kể 14 loài bò sát và 5 loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục) [38]

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005), công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát [40].

Trong những năm qua có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở những địa phương, đặc biệt chú

ý đến các VQG, KBTTN và khu rừng đặc dụng Khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Trường Sơn đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố Từ năm 1980 đến

Trang 13

năm 2006 đã có 23 loài mới được mô tả dựa trên mẫu chuẩn thu được ở khu vực này, trong đó có 8 loài lưỡng cư, 7 loài thằn lằn, 5 loài rắn, 3 loài rùa Tất cả những loài mới thuộc nhóm lưỡng cư, bò sát này cho đến nay mới chỉ được biết ở một vài địa điểm [54].

Hoàng Xuân Quang (1993), điều tra thống kê danh lục lưỡng cư, bò sát ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài bò sát của 59 giống 17 họ và 34 loài lưỡng cư của 14 giống 7 họ Tác giả đã bổ sung thêm cho danh lục lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung thêm cho vùng phân bố 9 loài Bên cạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố lưỡng cư, bò sát trong nước [29] Năm 1998, tác giả đã bổ sung thêm 12 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, trong đó có 1 giống, 1 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam [30].

Ngô Đắc Chứng (1995), nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Bạch

Mã đã thống kê được gồm 49 loài thuộc 15 họ, 3 bộ Có 3 loài lưỡng cư và 8 loài

bò sát được xem là quý hiếm cần được bảo vệ [5]

Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999), nghiên cứu về khu phân bố lưỡng cư, bò sát ở Nam Đông - Bạch Mã - Hải Vân xác định có 23 loài lưỡng cư thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 41 loài bò sát thuộc 31 giống, 12 họ, 2 bộ [31]

Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế (2000), nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát khu vực Chúc A (Hương Khê - Hà Tĩnh) công bố 53 loài thuộc 40 giống, 18

họ, trong đó có 18 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát Mức độ đa dạng về số loài lưỡng cư, bò sát ở Chúc A không thua kém các vùng khác [32]

Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang (2000), nghiên cứu khu hệ lưỡng

cư, bò sát VQG Bến En đã thống kê được 54 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 31 loài lưỡng cư thuộc 6 họ [39].

Trang 14

Võ Văn Phú, Lê Trọng Sơn, Lê Vũ Khôi, Ngô Đắc Chứng (2003), nghiên cứu ĐDSH động vật VQG Bạch Mã đã thống kê được 19 loài lưỡng cư thuộc 7 giống, 5 họ và 30 loài bò sát thuộc 22 giống, 8 họ, 2 bộ [28].

Nguyễn Nghĩa Thìn, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Xuân Quỳnh, Nguyễn Văn Quảng, Ngô Sỹ Vân, Đặng Thị Đáp (2004), đánh giá tính ĐDSH VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã thống kê được 60 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 22 loài lưỡng

cư thuộc 6 họ [43].

Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nikolai Orlov (2007), nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát khu vực huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận được 41 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, trong đó có 01 loài mới cho khoa học là

loài Nhái cây trường sơn Philautus truongsonensis Orlov and Ho, 2005 và 51 loài

bò sát thuộc 8 họ 2 bộ [6].

Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn, Cao Tiến Trung, Nguyễn Văn Quế (2007), công bố kết quả điều tra nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã Kết quả điều tra nghiên cứu từ năm 1996-2006,

đã xác định thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã có 93 loài thuộc 19

họ của 3 bộ, trong đó lưỡng cư có 37 loài thuộc 5 họ của Bộ không đuôi – Anura,

bò sát có 56 loài thuộc 14 họ của 2 bộ Kết quả này đã bổ sung cho VQG Bạch

Mã 3 họ ( họ Thằn lằn rắn Anguidae, họ Rùa đầu to Platysternidae, họ Rùa núi Testudinidae), 39 loài (14 loài lưỡng cư, 25 loài bò sát) [35].

Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Andrew Grieser Johns, Cao Tiến Trung, Hồ Anh Tuấn, Chu Văn Dũng (2008), công bố công trình nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở KBTTN Pù Huống Tác giả đã ghi nhận được 22 loài lưỡng cư thuộc 6 họ và 61 loài sò sát thuộc 15 họ, 2 bộ [36]

Hoạt động nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát của nước ta nói chung và khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Trường Sơn nói riêng đang tiếp tục trên nhiều lĩnh vực

Trang 15

như nghiên cứu đa dạng về thành phần loài, hình thái phân loại, phân bố địa lý và sinh thái học lưỡng cư, bò sát

1.2.2 Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư, bò sát tại VQG Pù Mát

Nghiên cứu ĐDSH ở khu vực VQG Pù Mát đang còn ít được thực hiện Năm 1992, khảo sát về khu hệ động vật đã được tiến hành để làm cơ sở cho việc xây dựng dự án khả thi KBTTN Pù Mát Kết quả đợt điều tra này đã xác định được 64 loài thú, 137 loài chim, 25 loài bò sát, 15 loài lưỡng cư [50].

Năm 1998 - 1999, chương trình “Điều tra ĐDSH toàn diện KBTTN Pù Mát” do tổ chức Động Thực Vật thế giới (FFI) tiến hành với sự tham gia của Bryan Stuart, Hoàng Xuân Quang đã khảo sát khu hệ lưỡng cư, bò sát, kết qủa thu được gồm 23 loài lưỡng cư, 48 loài bò sát [8].

Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang và Nguyễn Quảng Trường (2000), Điều tra nghiên cứu khu hệ Rùa tại KBTTN Pù Mát, đã ghi nhận được 14 loài

thuộc 4 họ: họ Rùa đầu to (Platysternidae) 1 loài, họ Rùa đầm (Emydidae) 8 loài,

họ Rùa núi (Testudinidae) 2 loài và họ Ba ba (Trionychidae) 3 loài [10]

Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang (2001), Kết quả điều tra bước đầu về thành phần loài lưỡng cư ở Khu BTTN Pù Mát, đã ghi nhận được 71 loài trong đó

21 loài ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 50 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ [27].

Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn (2004), đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố theo sinh cảnh lưỡng cư, bò sát vùng đệm VQG Pù Mát, đã ghi nhận được thành phần loài lưỡng cư, bò sát vùng đệm VQG

Pù Mát có 41 loài thuộc 14 họ, 3 bộ Bổ sung thêm 15 loài vào danh lục ĐDSH của Vườn [33].

Trang 16

Năm 2003-2004, chương trình "Điều tra và đánh giá nhanh tính ĐDSH tại VQG Pù Mát" do tổ chức Động Thực Vật thế giới (FFI) tiến hành Đã xác định được lưỡng cư VQG Pù Mát gồm 33 loài [11].

Những vấn đề chưa được giải quyết

Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát, nhưng các thông tin về đặc điểm của khu hệ, tính đa dạng, đặc điểm phân bố, thực trạng, nguyên nhân làm suy giảm ĐDSH khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát vẫn chưa đầy đủ và có những vấn đề rất cần thiết để phục vụ cho công tác bảo tồn chưa được nghiên cứu, đề xuất

1.3 ĐA DẠNG SINH HỌC VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT

Rừng kín thường xanh mưa mùa chưa bị tác động ở đai cao.

Rừng thường xanh mưa mùa bị tác động mạnh ở đai cao.

Rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất thấp chưa bị tác động.

Rừng thường xanh mưa mùa trên đất thấp bị tác động mạnh

Trảng thường xanh nhiệt đới đai thấp

Trảng cỏ thứ sinh nhiệt đới đai thấp.

Trang 17

(Nguồn: Vườn quốc gia Pù Mát)

1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Pù Mát nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, toạ độ:

180 46'- 19012' Vĩ độ Bắc, 1040 24'-104056 ' Kinh độ Đông (Bản đồ 1.)

Vườn quốc gia Pù Mát là Vườn có diện tích lớn nhất Miền Bắc với 94.804

ha vùng lõi và 86.000 ha vùng đệm thuộc địa giới hành chính của 16 xã của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương tỉnh Nghệ An Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn và Đỉnh Sơn Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Châu Khê, Chi Khê và

Trang 18

Lạng Khê Huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Quang, Tam Đình, Tam Hợp, Tam Thái.

Trang 19

Bản đồ 1 Vị trí địa lí Vườn quốc gia Pù Mát

Trang 20

1.4.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất và thổ nhưỡng

Địa hình

Vườn quốc gia thuộc Bắc Trường Sơn có độ cao từ 100 - 1841m so với mặt nước biển, trong đó 90% diện tích là dưới 900m Địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông Đỉnh cao nhất là đỉnh Pù Mát có độ cao 1.841 m được lấy tên đặt tên cho VQG Từ dãy núi này nghiêng dần theo hướng Đông Nam tạo thành hệ thống dông núi có độ cao từ 500 - 1500 m, đồng thời cũng tạo thành các thung lũng có kết cấu địa hình phức tạp

Địa mạo

Quá trình kiến tạo địa chất được hình thành qua các kỷ Palêzôi, Đềvôn, Cácbon - Pecmi, Triat, Hexini …cho đến ngày nay Trong suốt quá trình phát triển của dãy Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxini, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu.

Núi cao trung bình: Uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao và

hẹp nằm ngay biên giới Việt - Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (Puxailaileng 2711m, Rào cỏ 2286 m) Địa hình vùng này rất hiểm trở, đi lại cực kỳ khó khăn.

Kiểu địa hình núi thấp: Chiếm phần lớn diện tích của vùng và có độ cao

từ 1000m trở xuống Tuy cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn.

Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Phân bố ở độ cao dưới 300 m, diện tích

nhỏ nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm thung lũng các sông suối Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng (Sông Giăng) và hữu ngạn sông Cả Vùng này được cấu tạo từ các trầm tích bở rời, dễ bị xâm thực trong đó phổ biến

là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông.

Các khối đá vôi nhỏ: Phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình Karst trẻ

và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200-300m Cấu tạo thân phiến dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết.

Trang 21

Thổ nhưỡng

Địa chất thổ nhưỡng của VQG Pù Mát có những đặc điểm chung với địa chất của dãy Trường Sơn, được coi như là một chuỗi phay nghịch biến thái trầm tích tạo thành.

Đá mẹ gồm hai loại chính là đá vôi và phiến thạch (Đá vôi chiếm khoảng 50%), hiện tượng Karst trung bình, phong hóa mạnh Vùng núi thấp có ít đá mẹ phiến thạch sét rải rác, đá cát kết, đá biến chất.

Do các quá trình phong hóa, lắng đọng nên trong vùng nghiên cứu bao gồm năm nhóm đất chính.

Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi (dưới 200 m): Tập trung khu vực gần các

trục đường giao thông, phần lớn là đồi trọc, hoặc có cây bụi do rừng bị tàn phá.

Do đất bị rửa trôi xói mòn nhiều nên ít mùn (bé hơn 2%) độ chua cao (pH từ 4 4,5) có hiện tượng đá ong mạnh.

-Đất Feralit đỏ vàng trên núi đá vôi thấp (100 - 300 m): Có thảm thực vật

che phủ tương đối Do sườn núi dốc, dòng nước ngầm chảy mạnh không đọng lại trong đất, nên các dạng kết vón và tầng đá ong không phát triển được Hàm lượng mùn, đạm, lân, kali tổng số tương đối cao, độ chua thuỷ phân 6,61đl - 15 đl /100g đất, tổng số cation trao đổi 91đl - 14 đl/100 g đất.

Đất đỏ vàng trên núi đá vôi cao (từ 300 m trở lên): Phân bố rải rác khắp khu

vực nghiên cứu Ở nơi có địa hình thấp thường có tầng đất dày hơn, ở nơi cao đất đá vôi bị phong hoá và rửa trôi mạnh nên tầng đất rất mỏng Độ phì tương đối tốt (mùn

từ 2 - 4%, đạm từ 0,15% trở lên, đất chua pH < 4, độ no bazơ nhỏ hơn 50%).

Đất mùn vàng trên núi trung bình: Đất này có diện tích rất ít, phân bố

trong khu vực núi đá vôi nơi nghiên cứu.

Đất mùn màu đen trong các khe núi: Đất có độ dày tầng đất mỏng, cấu

tượng viên hạt thoát nước.

Trang 22

1.4.1.3 Khí hâụ, thuỷ văn

VQG Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Do chịu ảnh hưởng của địa hình dãy Trường Sơn đến hoàn lưu khí quyển nên khí hậu ở đây có sự phân hoá và khác biệt lớn trong khu vực

Khí hậu

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 240C, tổng nhiệt năng 8500

- 87000C Mùa đông từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình của các tháng này xuống dưới 200C Ngược lại, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 có gió mùa Tây Nam khô nóng kéo dài, nhiệt độ trung bình hơn 250C, tháng nóng nhất là tháng 6 với nhiệt độ trung bình

là 300C, nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối lên đến 420C ở Con Cuông và 42,70C ở Tương Dương Độ ẩm có tháng xuống dưới 30%.

Bảng 1.3 Số liệu khí hậu của Con Cuông và Tương Dương (1996 - 2005)

Trạm Tương Dương

Con Cuông

2 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối (0C) 42,7 420c

3 Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối (0C) 2,10c 2,20c

11 Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối (%) 10 14

(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Bắc Trung Bộ)

Chế độ mưa ẩm: Vùng này có lượng mưa trung bình năm từ 1300

-1400mm, hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 8, tháng 9 và thường kèm

Trang 23

theo lũ Độ ẩm không khí trung bình đạt 84 - 85%, trong mùa mưa độ ẩm lên đến 90%.

Đặc điểm thời tiết đáng chú ý: Hoạt động của gió Tây Nam thường gây

nên hạn hán trong thời kỳ đầu và giữa mùa hè (tháng 5-7) Trong những tháng này, nhiệt độ có thể vượt quá 400C, độ ẩm xuống dưới 30%

Thủy văn

Trong khu vực có hệ thống sông Cả chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông Cả, chảy qua giữa tỉnh Nghệ An tạo thành ranh giới phía phía Bắc cho vùng Bắc Trung Bộ Nó trùng khớp với vùng chuyển tiếp về sinh học, địa chất, dân tộc và đánh dấu sự bắt đầu của dãy Trường Sơn ở Việt Nam

Hệ thống sông suối trong VQG Pù Mát đều bắt nguồn từ các hệ thống dông và nghiêng từ Tây sang Đông đổ về sông Cả Có ba lưu vực sông suối chính, đó là: Khe Thơi, Khe Choăng và Khe Khặng (sông Giăng)

Sông suối có đặc điểm ngắn, dốc, lòng hẹp, nước chảy xiết Với lượng mưa trung bình năm từ 1300 -1400 mm, nguồn nước mặt trên diện tích của VQG lên tới hơn 3 tỷ m3 Do lượng nước đó phân bố không đều giữa các mùa và các khu vực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra.

1.4.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội

VQG Pù Mát và vùng đệm nằm trên địa bàn 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương Là các huyện miền núi của Nghệ An với cơ sở hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, đời sống của đồng bào các dân tộc còn nghèo khó, lạc hậu.

Trên địa bàn vùng đệm và vùng lõi của Vườn có 7 dân tộc chính sinh sống, các dân tộc có phong tục tập quán khác nhau và sự phân bố dân số, dân cư không đồng nhất Sự phân bố dân cư đã tác động trực tiếp đến ĐDSH của Vườn, đặc biệt hiện nay còn có những bản người Đan Lai định cư trong vùng lõi của Vườn.

Bảng 1.4 Dân tộc và dân số vùng đệm VQG Pù Mát.

Trang 24

TT Tên dân tộc Số hộ Số khẩu Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2004)

Các ngành kinh tế trên điạ bàn hầu hết là sản xụất Nông - Lâm nghiệp; Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ du lịch có cơ cấu tỷ trọng còn thấp Với diện tích tự nhiên phần lớn là rừng và đất lâm nghiệp, người dân có thói quen và tập quán canh tác trên đất dốc, làm nương rẫy Nông nghiệp

có canh tác lúa nước nhưng diện tích nhỏ Vì vậy thời gian nông nhàn, người dân

đi vào rừng chặt củi, khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã, lấy mật ong, thu hái các sản phẩm phi gỗ Hiện có 5 con đường chính dẫn từ Quốc lộ 7 vào rừng VQG

Pù Mát, trong số này có 3 con đường dẫn đến sát rừng Hệ thống giao thông trong vùng đệm đang được ưu tiên phát triển Trong VQG có nhiều con đường mòn, đó

là các con đường mòn tuần tra hoặc đường đi của các thợ săn, thợ khai thác và những người buôn lậu qua biên giới Đây là vấn đề khó khăn đối với công tác bảo

vệ rừng, bảo tồn ĐDSH của VQG Pù Mát.

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỊA ĐIỂM - THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Điều tra nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ 3/2007 đến 4/2008 Tại VQG Pù Mát, gồm vùng lõi và vùng đệm, các xã Phúc Sơn

Trang 25

huyện Anh Sơn; xã Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Châu Khê thuộc huyện Con Cuông; xã Tam Quang huyện Tương Dương (Bảng 2.1).

2.2.1 Phương pháp điều tra thực địa

Thiết lập tuyến điều tra

Tìm hiểu bản đồ, các tài liệu nghiên cứu về thảm thực vật, khí hậu thuỷ văn,địa hình địa mạo, thổ nhưỡng Xác định điểm điều tra nghiên cứu có sinh cảnh đặctrưng, phù hợp Tại điểm điều tra nghiên cứu thiết lập các tuyến điều tra trên thực địavới nguyên tắc tuyến điều tra được thiết lập phân bố trên toàn vùng điều tra, trên tất

cả các dạng sinh cảnh và các điều kiện sinh thái, ở những điểm điều tra điển hìnhnhất, nằm trong một sinh cảnh và có điều kiện sinh thái giống nhau

Chiều dài của tuyến điều tra phụ thuộc sinh cảnh, khoảng 1- 2 Km Chiều rộngcủa tuyến điều tra phụ thuộc vào tầm nhìn của người đi điều tra, khả năng phát hiện

và đếm trực tiếp bằng mắt thường hoặc nghe tiếng kêu Để có được kết quả sát vớithực tế phải tiến hành đếm nhiền lần trên một tuyến cố định, vào thời gian hoạt độngcủa lưỡng cư, bò sát

Trang 26

Bảng 2.1 Tổng hợp điều tra thực địa Khu vực

đỉều tra

Điểm điều tra

I.2 Sông Giăng (Vực Bụt)

II.4 Cánh đồng Mường Quạ

Trang 27

Khe Bu

IV.7 Khe Chát 180057.12 - 104041.17

Trang 28

Khu vực điều tra lưỡng cư, bò sát tại VQG Pù Mát (Bản đồ 2.1.)

- Khu vực I: Phúc Sơn - Cao Vều Khu vực này ở về phía đông nam củaVườn, có đỉnh Cao Vều cao hơn 1200m, điều tra theo Khe Súc

- Khu vực II: Lục Dạ - Môn Sơn - Khe Khặng Khu vực này nằm ở phía namcủa Vườn có khe Khặng là thượng nguồn của sông Giăng có lưu vực lớn, có cánhđồng Mường Quạ, có dải núi đá vôi

- Khu vực III: Trung Chính - Khe Kèm, Khe Mọi Khu vực này nằm ở giữaVườn, có núi đá vôi, nương rẫy, rừng sản xuất

- Khu vực IV: Khe Choăng, Khe Bu Đây là khe chính của Vườn có lưu vựcrộng lớn

- Khu vực V: Khe Thơi Đây là khe chính của Vườn có lưu vực rông lớn, có

độ cao lớn và có đỉnh Pù Mát, Pù Xám Liệm

Sinh cảnh cảnh điều tra lưỡng cư, bò sát

1 - Rừng kín thường xanh mưa mùa chưa bị tác động (Rừng nguyên sinh)

2 - Rừng kín thường xanh mưa mùa bị tác động (Rừng thứ sinh)

3 - Trảng thường xanh nhiệt đới (Trảng cỏ)

4 - Núi đá vôi

5 - Sông suối (Thảm thực vật trên đất ẩm ướt)

6 - Đất sản xuất (Rừng sản xuất, nương rẫy, vườn đồi)

7 - Đồng ruộng

8 - Bản làng (Khu dân cư)

Theo kết quả nghiên cứu về ĐDSH thực vật VQG Pù Mát [42], độ cao trên 800m

so với mặt nước biển có sự phân bố của thảm thực vật thường xanh đai cao, dưới 800 m sovơí mặt nước biển có sự phân bố của thảm thực vật thường xanh đai thấp Dựa vào đóchúng tôi phân chia sinh cảnh phân bố lưỡng cư, bò sát theo độ cao: đai cao có độ cao trên800m, đai thấp có độ cao thấp hơn 800m so với mặt nước biển

Trang 29

Bản đồ 2.1 Các khu vực điều tra lưỡng cư, bò sát tại VQG Pù Mát

Trang 30

Điều tra và thu mẫu

Tại các điểm điều tra, tiến hành điều tra và thu mẫu Thời gian điều tra vào thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, trong ngày thì điều tra lưỡng cưvào thời điểm từ 16h - 23h, điều tra bò sát vào thời điểm 7h30 - 10h 30; 15h - 23h

Do quy định về bảo tồn nên buộc chúng tôi phải hạn chế thu mẫu, chỉ quan sát, chụp ảnh và ghi nhận đặc điểm của loài và đặc điểm sinh cảnh phân bố Phương pháp, phương tiện thu mẫu đối với lưỡng cư, thằn lằn bắt chủ yếu bằng tay, vợt; Đối với các loài rắn sử dụng kẹp, móc bắt rắn

Mẫu lưỡng cư, bò sát thu được đựng trong các túi lưới, theo từng nhóm khác nhau và có nhãn

Xử lý mẫu

Trước khi tiến hành xử lý mẫu cần được làm tê liệt hoặc chết bằng Ethyl acetate, bằng cách cho các túi lưới đựng mẫu thu được vào trong túi nilon lớn rồi

bỏ lọ đựng bông thấm Ethyl acetate vào và buộc chặt miệng túi nilon Làm sạch mẫu vật, gắn Etiket thực địa và tiến hành xử lý mẫu

Mẫu được cố định bằng foocmon 10%, ngâm mẫu trong dung dịch foocmon 10% khoảng 7-10 ngày Sau đó rửa sạch và ngâm trong dung dịch foocmon3-5% để bảo quản lâu dài

2.2.2 Phân tích và định loại mẫu

Phân tích những dấu hiệu hình thái phân loại lưỡng cư, bò sát theo những chỉ tiêu hình thái của mỗi nhóm [34]

Các chỉ số hình thái phân loại lưỡng cư

1 Dài thân (L.): Từ mút mõm đến khe huyệt

2 Dài đầu (L.c.): Từ mút mõm đến chẩm

3 Rộng đầu (l.c.): Bề rộng lớn nhất của đầu

4 Dài mõm (L.r.): Khoảng cách từ mút mõm đến bờ trước của mắt

5 Gian mũi (i.n.): Khoảng cách bờ trong 2 lỗ mũi

Trang 31

6 Đường kính mắt (D.o.): Bề dài nhất của ổ mắt.

7 Rộng mi mắt trên (L.p.): Bề rộng nhất của mi mắt trên

8 Gian mi mắt (Sp.p.): Khoảng cách bé nhất giữa 2 bờ trong của mi mắt trên

9 Dài màng nhĩ (L.tym.): Bề dài lớn nhất của màng nhĩ

10 Dài đùi (F.): Từ khe huyệt đến khớp gối

11 Dài ống chân (T.): Từ khớp gối đến cuối khớp ống cổ

12 Rộng ống chân (l.T.): Bề rộng nhất của ống chân

13 Dài cổ chân (L.ta.): Từ khớp ống cổ đến khớp cổ bàn

14 Dài củ bàn trong (C.int.): Bề dài củ bàn trong (đo ở gốc)

15 Dài ngón chân I (L.orI.): Từ bề ngoài củ bàn trong đến mút ngón I

16 Dài bàn chân (L.meta.): Từ bờ trong củ bàn trong đến mút ngón dài nhất

17 Dài chi sau (L.t.)

18 Rộng đĩa ngón chân(l.rt.): Bề rộng của đĩa ngón chân lớn nhất (ngón IV)

Các chỉ số hình thái phân loại thằn lằn

1 Dài thân (L.): Từ mút mõm đến khe huyệt

2 Dài đuôi (L.cd.): Từ khe huyệt đến mép đuôi ( không kể đuôi tái sinh)

3 Dài chi trước (L.f.): Từ gốc cánh tay đến mút ngón dài nhất

4 Dài chi sau (L.t.): Từ gốc đùi đến mút ngón chân dài nhất

5 Dài mõm - tai (L.st.): Chiều dài từ mút mõm đến bờ trước lỗ tai ngoài

Trang 32

6 Dài nách - bẹn (L.ag.): Chiều dài từ nách đến bẹn.

7 Đường kính ổ mắt (D.o.): Bề dài lớn nhất của ổ mắt

8 Đường kính màng nhĩ (L.tym.): Bề dài lớn nhất của màng nhĩ

9 Lỗ mắt: Hình dạng (tròn hay bầu dục)

10.Tấm mép trên (Lbs.): Số lượng tấm mép trên ở một bên

11.Tấm mép dưới (Lbi.): Số lượng tấm mép dưới ở một bên

12 Vảy trên mi mắt (Sp.c.): Số lượng vảy trên mí mắt ở một bên

13 Hàng vảy thân (C.): Số hàng vảy quanh thân, không kể tấm bụng (nếu có)

14 Hàng vảy ống tay (Sq.epi.): Số hàng vảy quanh ống tay

15 Số lỗ đùi (F.f.): Số lượng lỗ đùi (nếu có)

16 Số bản mỏng dưới ngón: Đếm số bản mỏng dưới ngón I chi trước (La.fI.) và ngón IV chi trước (La.fIV.) và ngón IV chi sau (La.fIV.) bên phải

Các chỉ số hình thái phân loại rắn

1 Dài thân (L.): Từ mút mõm đến khe huyệt.

2 Dài đuôi (L.cd.): Từ khe huyệt đến mép đuôi

3 Số vảy thân (C.): Số lượng vảy thân ở cổ, giữa thân và trước khe huyệt

4 Số vảy bụng (V.): Số lượng vảy bụng từ cổ đến vảy tiếp giáp với vảy hậu môn

5 Vảy dưới đuôi (S.cd.): Số lượng vảy dưới đuôi

6 Vảy trước mắt (Pro.)

7 Vảy sau mắt (Pto.)

Trang 33

8 Vảy dưới mắt (Ino.).

9 Tấm môi trên (Lbs.): Số lượng tấm môi trên ở một bên

10 Tấm môi dưới (Lbi.): Số lượng tấm môi dưới ở một bên

11 Vẩy thái dương (T.): Gồm các vẩy nằm giữa vẩy đỉnh và các tấm môi trên

12 Vảy má

13 Lỗ mắt: Hình dạng (tròn, bầu dục, elip)

14 Tấm cằm trước (MA.)

15 Tấm cằm sau (MP.)

16 Tấm hậu môn (A.): Chia hoặc nguyên

Các chỉ số hình thái phân loại rùa

1 Dài mai (L.ca.): Từ mép trước tấm gáy đến mép sau tấm đuôi

2 Cao mai (H.ca.): Từ yếm đến chỗ cao nhất của mai

3 Rộng mai (L.ca.): Kích thước chỗ rộng nhất của mai

Trang 34

Tên khoa học của loài theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005), Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam [40].

Mỗi loài được giới thiệu: Tên khoa học của loài, tên Việt Nam, xuất xứ, những ghi nhận của các tác giả có nghiên cứu tại VQG Pù Mát, tư liệu nghiên cứu,đặc điểm phân loại, phân bố của loài tại sinh cảnh, độ cao, khu vực điều tra nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

Trang 35

Phỏng vấn trực tiếp để điều tra đa dạng sinh học, thực trạng và sự tác động của con người đến đa dạng sinh học

Nội dung phỏng vấn bao gồm các vấn đề:

- Tên địa phương, đặc điểm bên ngoài, nơi bắt gặp, mùa sinh sản các thông tin phỏng vấn cũng được kiểm tra lại bằng ảnh màu của loài để đảm bảo độ tin cậy

- Các thông tin về hoạt động khai thác, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã và các hoạt động khác của con người có tác động đến đa dạng sinh học

Đối tượng phỏng vấn là những thợ săn có kinh nghiệm hoặc những người thường đi rừng khai thác lâm sản

Thu thập thông tin liên quan

Thu thập thông tin liên quan đến các nội dung nghiên cứu như sự tác động của con người đến tính đa dạng của khu hệ lưỡng cư, bò sát, bao gồm: tình hìnhsăn bắt, buôn bán động vật hoang dã và các hoạt động khai thác, sản xuất gây ảnh hưởng đến môi trường sống của khu hệ lưỡng cư, bò sát (khai thác lâm sản tráiphép, phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng ) Các số liệu này được thu thập từ các Hạt Kiểm Lâm các huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương, các LâmTrường Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương và các cơ quan chính quyền, người dân, những người buôn bán động vật hoang dã

2.2.4 Nghiên cứu sinh cảnh phân bố lưỡng cư, bò sát

Trong phạm vi đề tài này chúng tôi nghiên cứu đặc điểm các sinh cảnh phân bố lưỡng cư, bò sát, gồm các yếu tố: Địa hình, thổ nhưỡng, độ cao, thuỷ văn,thảm thực vật

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Những số liệu về chỉ số hình thái phân loại, phân bố của lưỡng cư, bò sát và số liệu về tình trạng săn bắt, buôn bán động vật hoang dã được phân tích xử lýbằng phần mềm Microsoft Office Excel 2003

Trang 36

2.2.6 Phương pháp kế thừa

Chúng tôi kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học ở VQG Pù Mát đã được công bố [8, 10, 11, 27, 33, 40]

2.3 TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

- 72 mẫu thu được từ điều tra thực địa tại 36 điểm thuộc 5 khu vực điều tra được lưu trữ tại VQG Pù Mát; 334 mẫu lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Động vật rừng, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Đại học Lâm nghiệp

- Nhật ký điều tra thực địa theo các tuyến điều tra và phỏng vấn, thu thập các thông tin liên quan trong những đợt điều tra thực địa

- Dữ liệu bảo tồn lưu trữ tại Phòng Khoa học VQG Pù Mát

- Thông tin liên quan đến khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát

- Tài liệu nghiên cứu đã công bố về khu hệ lưỡng cư, bò sát vùng Bắc Trung Bộ, VQG Pù Mát và những tài liệu liên quan

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 37

TT Tên Việt Nam Tên khoa học liệu Tư Khu vực điều tra Sinh cảnh Cao Đai Tình trạng bảo tồn

4 Cóc mày bùn Leptolalax pelodytoides (Boulenger,1893) TL I, II, III, IV, V a,b,d H,L

5 Cóc mắt bên Megophrys lateralis (Andecson, 1871) M I, II, III, IV, V a,b,d H,L

12 Ếch bám đá nhỏ Amolops cremnobatus Inger and Cottelat, 1998 TL II, III,IV, V a,b,d H,L

Trang 38

16 Ếch mõm Huia nasica (Boulenger,1903) M III a,b,d L

18 Ngoé Limnonectes limnocharis (Boie, 1834) M I, II, III, IV, V a,b,d,e,f,g,h H,L

26 Ếch bắc bộ Rana bacboensis Bain, Lathrop, Murphy,

27 Chẫu chuộc Rana guentheri Boulenger,1882 M I, II, III, IV, V a,b,d,e,f,g,h H,L

32 Ếch màng nhĩ lớn Rana megatympanum Bain, lathrop, Murphy,Orlov and Ho, 2003 TL III b,d L

34 Chàng đài bắc Rana taipehensis Van Denburgh, 1909 TL I, II,III a,b,d,e,f,g,h H,L

Trang 39

39 Chẫu chàng mép trắng Polypedates leucomystax (Gravenhorst, 1829) M I, II, III, IV, V a,b,d,e,f,g,h H,L

41 Ếch cây orlov Rhacophorus orlovi Ziegler end Kohler, 2000 TL II, III, IV, V a,b H,L

44 Ếch cây sần nhỏ Rhacophorus verrucosus (Boulenger, 1893) TL II, III, IV, V a,b H,L

46 Nhái cóc đốm Kalophrynus pleurostigma Tschudi, 1838 TL I, II, III a,b,f H,L

49 Nhái bầu hoa Microhyla ornata (Dumeril and Bibron,1841) M I, II, III, IV, V a,b,d,e,f,g,h H,L

51 Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallowell, 1861) M I, II, III, IV, V a,b,d,e,f,g,h H,L

53 Thạch sùng đuôi sần Hemidactylus frenatus Schelegel, Dumeril and Bibron, 1836 M I, II, III, IV, V c,d,f,g,h L

55 Ô rô vảy Acanthosaura lepidogates (Cuvier, 1829) M I, II, III, IV, V a,b,c,d,e,f,g,h H,L

Trang 40

60 Rồng đất Physignathus cocincinus Cuvier, 1829 M I, II, III, IV, V a,b,d H,L VU

61 Thằn lằn eme chỉ Eumeces quadrilineatus (Blyth,1853) M I, II, III, IV, V a,b,d H,L

63 Thằn lằn bóng đuôi dài Mabuya longicaudata (Hallowell, 1856) M II, III, IV, V a,b,d,e,f,g,h H,L

64 Thằn lằn bóng hoa Mabuya multifasciata (Kuhl, 1820) M I,II,III,IV,V a,b,d,e,f,g,h H,L

74 Rắn mống Xenopenltis unicolor Reinhardt, Boie, 1827 M II, III, IV, V a,b,f H,L

77 Rắn roi thường Ahaetulla prasina (Reinhardt, in Boie, 1827) TL III, IV, V a,b,f H,L

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. ĐDSH động vật VQG Pù Mát - Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát
Bảng 1.2. ĐDSH động vật VQG Pù Mát (Trang 17)
Bảng 1.3.  Số liệu khí hậu của Con Cuông và Tương Dương (1996 - 2005) TT Các nhân tố khí hậu - Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát
Bảng 1.3. Số liệu khí hậu của Con Cuông và Tương Dương (1996 - 2005) TT Các nhân tố khí hậu (Trang 22)
Bảng 2.1. Tổng hợp điều tra thực địa Khu vực - Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát
Bảng 2.1. Tổng hợp điều tra thực địa Khu vực (Trang 26)
Bảng 3.2. Số loài và giống lưỡng cư, bò sát trong các bộ, họ - Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát
Bảng 3.2. Số loài và giống lưỡng cư, bò sát trong các bộ, họ (Trang 96)
Bảng 3.4. So sánh đa dạng lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát với những VQG, KBTTN ở Bắc Trường Sơn - Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát vườn quốc gia pù mát
Bảng 3.4. So sánh đa dạng lưỡng cư, bò sát VQG Pù Mát với những VQG, KBTTN ở Bắc Trường Sơn (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w