- Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin từ việc lấy ý kiến người dân thì côngtác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập như: có những vụviệc giải quyết chư
Trang 1H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ
HOÀNG HỒNG HẠNH
ĐÁNH GIÁ TH C TR NG VÀ Đ XU T GI I PHÁP Ự Ạ Ề Ấ Ả NÂNG CAO HI U QU GI I QUY T KHI U N I,T Ệ Ả Ả Ế Ế Ạ Ố CÁO V Đ T ĐAI TRÊN Đ A BÀN HUY N MÊ LINH, Ề Ấ Ị Ệ
THÀNH PH HÀ N I Ố Ộ
Ng ườ ướ i h ng d n khoa h c: ẫ ọ PGS TS Nguy n Văn Dungễ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng đượcdùng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ từnguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Hồng Hạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,đồng nghiệp và gia đình
Trước hết, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đếnPGS.TS Nguyễn Văn Dung đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉdẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài:
“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố
cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh Thành phố Hà Nội ”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trongquá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Chi nhánh Vănphóng đăng ký đất đai huyện Mê Linh, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Thanh trahuyện Mê Linh, Ban tiếp công dân huyện Mê Linh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôitrong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Hồng Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa 3
Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4
2.1 Cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo về đất đai 4
2.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai 4
2.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 6
2.1.3 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và nội dung khiếu nại, tố cáo 8
2.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số nước trên thế giới 14
2.2.1 Nhật Bản 15
2.2.2 Cộng hòa Liên bang Đức 18
2.2.3 Hàn Quốc 19
2.3 Cơ sở thực tiễn và tính pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 21
2.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 21
2.3.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai 24
2.3.3 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai hiện nay 27
2.3.4 Khái quát thực trạng tình hình khiếu nại tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai hiện nay 31
Trang 52.4 Một số nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở
Việt Nam
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh
3.2.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội từ năm 2014 đến năm 2018
3.2.3 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
3.5.3 Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu
3.5.4 Phương pháp so sánh
Phần 4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mê Linh
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
4.1.3 Hıện trạng sử dụng đất đaı của huyện Mê Lınh
4.1.4 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai huyện Mê Linh thành phố Hà Nội
4.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh từ 2014-2018
4.2.1 Nhân lực và cơ sở vật chất
4.2.2 Công tác tiếp dân và tiếp nhận đơn
4.3 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh từ 2014-2018
4.3.1 Kết quả giải quyết khiếu nại
4.3.2 Kết quả giải quyết tố cáo
4.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 64.4.1 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp công
dân, giải quyết khiếu nại tố cáo 85
4.4.2 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai 86
4.4.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 86
4.4.4 Tăng cường phối kết hợp với các cơ quan có liên quan 87
4.4.5 Một số giải pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo 88
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 90
5.1 Kết luận 90
5.2 Kiến nghị 91
Tài liệu tham khảo 92
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo 25
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Mê Linh năm 2018 48
Bảng 4.2 Thực trạng cán bộ liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của huyện Mê Linh năm 2018 52
Bảng 4.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật 53
Bảng 4.4 Tình hình tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 2014 -2018 57
Bảng 4.5 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Mê Linh 2014 - 2018 60
Bảng 4.6 Kết quả giải quyết Đơn khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 2014- 2018 64
Bảng 4.7 Tổng hợp đơn khiếu nại liên quan đến phiếu điều tra 67
Bảng 4.8 Tổng hợp ý kiến liên quan đến phiếu điều tra đơn khiếu nại 69
Bảng 4.9 Kết quả giải quyết Đơn tố cáo trong lĩnh vực đất đai 2014 - 2018 76
Bảng 4.10 Tổng hợp đơn tố cáo liên quan đến phiếu điều tra 78
Bảng 4.11 Tổng hợp ý kiến liên quan đến phiếu điều tra đơn tố cáo Trình tự thủ tục tiếp nhận, xử lý đơn 96
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí huyện Mê Linh trong thành phố Hà Nội 43Hình 4.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành từ năm 2015-2018 46Hình 4.3 Cơ cấu diện tích các loại đất huyện Mê Linh năm 2018 47
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Hồng Hạnh
Tên luận văn: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết
khiếu nại tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”
Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 8.850103
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo và đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Mê Linh
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giảiquyết khiếu nại, tố cáo và công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện MêLinh, thành phố Hà Nội trong những năm tiếp theo
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: các số liệu thứ cấp được thuthập tại các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ có liên quan đến công tác giải quyếtkhiếu nại tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: điều tra 123 công dân, cán bộ công chức
là người có đơn, bị đơn hoặc có liên quan đến các vụ khiếu nại tố cáo về đất đai đượcđiều tra, cán bộ công chức được giao giải quyết các cụ khiếu nại tố cáo về đất đai trên
- Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia: tham vấn ý kiến để phân tích các nguyên nhân dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Phương pháp phân tích,thống kê, xử lý và tổng hợp số liệu: thống kê kết quả tiếp công dân, kết quả xử lý đơn thư, kết quả điều tra, kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo.
Trang 11Năm 2014-2018, UBND huyện Mê Linh đã tiếp nhận 368 đơn, trong đó 236 đơnkhiếu nại tố cáo thuộc lĩnh vực đất đai có 227 đơn thuộc thẩm quyền Mặc dù thời giantiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo đảm bảo nhưng vấn đề xử lý đơn của cán bộ được giaocòn có những hạn chế nhất định Có những trường hợp phân tích, xử lý đơn không sátdẫn đến nhận đơn chưa đúng thẩm quyền, giao việc về các phòng, ban chưa đúng ngườiđúng việc hoặc hướng dẫn người có đơn khiếu nại, tố cáo thực hiện chưa đúng trình tự,thủ tục Thực tế cán bộ chuyên trách công tác tiếp dân, xử lý đơn thư chỉ có một người,lượng công việc lại nhiều, hiệu quả công việc chưa cao.
Năm 2014-2018, huyện đã giải quyết 195 đơn khiếu nại, trong đó: cấp huyện là
133 đơn, cấp xã là 62 đơn Số đơn khiếu nại được điều tra là 63 đơn (cấp huyện) có nộidung: 30% về giấy chứng nhận QSDĐ, 45% về giải phòng mặt bằng, 25% nội dungkhác Số công dân đồng ý là 29/63 người chiếm 53,97%, không đồng ý chiếm 46,03%,cán bộ 20/20 không đồng ý chiếm 100% Số đơn tố cáo được giải quyết là 32 đơn, trongđó: cấp huyện là 12 đơn, cấp xã là 20 đơn 30 đơn được tiến hành điều tra, nội dung chủyếu: tố cáo cán bộ xã là 75%, tố cáo cán bộ huyện là 16,67%, nội dung khác là 8,33%.Kết quả điều tra: công dân đồng ý là 46,67%, không đồng ý chiếm 53,33%, cán bộ côngchức đồng ý là 40%, không đồng ý là 60%
- Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin từ việc lấy ý kiến người dân thì côngtác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai còn nhiều hạn chế, bất cập như: có những vụviệc giải quyết chưa thấu tình, đạt lý, chưa đảm bảo các quy định của pháp luật dẫn đếnngười dân tiếp tục khiếu nại, tố cáo kéo dài và phải nhờ đến các cơ quan cấp trên trựctiếp giải quyết Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số xã còn rất hạn chế, nănglực cán bộ còn chưa thực sự chuyên nghiệp
- Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai, huyện Mê Linh cần phải: nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, tăng cường phối kết hợp với các cơ quan có liên quan và một số biện pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo Mục đích của các giải pháp này nhằm hạn chế việc phát sinh khiếu nại, tố cáo và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh trong thời gian tới.
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Hong Hanh
Thesis title: “Evaluate the real status and propose solutions to increase the effect of
settling complaints and denunciations on land in Me Linh district, Hanoi
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
- Evaluation of receiving citizens and settling complaints, denunciations on land
in Me Linh district, Hanoi
- Propose some solutions to improve the efficiency of the settlement of
complaints and denunciations on land in Me Linh district, Hanoi
Methods
Following methods were used in the thesis:
- The method of collection secondary data, document: Secondary data wascollected in the professional departments, divisions related to the settlement ofcomplaints and denunciations on land in Me Linh district, Hanoi
- Method of collection primary data: survey of 123 citizens, public officials arethe applicant, the defendant or related to complaints and denunciations on land beinginvestigated, officials are assigned to resolve above specific complaints anddenunciations on land
- Method of consulting expert: consultation to analyze the causes of the
complaints and denunciations on land
- Method of data analysis, statistics, processing and aggregation: statistics results
of receiving citizens, results of resolving letters, the results of the investigation, theresults of settlement of complaints and denunciations
Main findings and conclusions
- Me Linh is a gateway of the Hanoi capital with rapid speed of urbanization.The settlement of complaints and denunciations in Me Linh district in recent years hasachieved certain results The promulgation and implementation of legal documents inthe field of land was carried out regularly; law enforcement in the work of landacquisition, land allocation, land lease, land use license, compensation, support andresettlement, clearance ; the district has 18/18 communes and towns having cadastralmaps, land use planning maps The district office and all communes and towns had used
Trang 13specialized software, software for processing applications
In 2014-2018, Me Linh district ‘s People's Committee had received 368applications, of which 236 complaints and denunciations in the field of land, had 227application under the jurisdiction Although the time to receive complaints anddenunciations was ensure but the application processing of assigned officers had certainlimits There were cases which analysis, processing the application does not closeproperly resulting in receipt of no jurisdiction, assignment of wrong people or guidepeople with complaints and denunciations done not right process, procedure In fact,staffs in the reception of citizens, handling complaints was only one person, a lot ofwork, work efficiency was not high
In 2014-2018, the district had resolved 195 complaints, of which 133 application
in district level, 62 application in commune level Number of complaints investigatedwas 63 (district level) with the content of: 30% of land use right certificates, 45% ofland clearance, 25% of others The number of citizens who disagreed was 29/63,accounted for 53,97%, disagreed accounting for 46,03%, staff disagreed 20/20,accounted for 100% Number of complaints resoved were 32 applications, of which 12application in the district level, 20 application in the commune level 30 applicationwere investigated, the main contents: commune officials denounced as 75%, districtofficials denounced as 16.67%, other content was 8.33% Survey results: citizens agreewas 46.67%, disagree accounting for 53.33%, officials agree is 40%, disagree 60%
- According to a survey, gathering information from the people consulted, thesettlement of complaints and denunciations on land was limited and inadequate as: therewere cases resolved not reasonable, not assure the provisions of the law resulted inpeople continuing complaints and denunciations in long time and had to ask the superioragency to resolve The settlement of complaints and denunciations of some communeswas very limited, staff capacity was not really professional
- To improve the efficiency of the settlement of complaints and denunciations onland, Me Linh district need to: complete the land law policy system and settlement ofcomplaints and denunciations; build a reasonable structure and improve staff capacity;investment funds to settle complaints and denunciations, investment in science andtechnology in the settlement of complaints and denunciations; strengthen propagandaand popularization of legal education and other solutions The purpose of these solutions
is to minimize the occurrence of complaints and denunciations and improve theefficiency of the settlement of complaints and denunciations of the State administrativeorganization in Me Linh district in the near future
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giảiquyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đặc biệt là khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vựcđất đai Chính sách, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo ngày càng hoànthiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khiếu nại,
tố cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, tình hình khiếu nại, tốcáo trong lĩnh vực đất đai vẫn diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi phải có những giảipháp hết sức căn cơ, đồng bộ, với sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành
Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai thường xuyên xảy ra do nhữngmâu thuẫn, bất cập trong quá trình quản lý và sử dụng đất Việc khiếu nại, tố cáo
và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai đã được Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định cụ thể hóa tại Luật Đất đai năm 2003 sửađổi, bổ sung tại Luật Đất đai năm 2013; Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998, 2005
và Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 Trong lĩnh vực đất đai các quy địnhcủa Nhà nước về giá đất, giao đất, cho thuê đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ vàtái định cư luôn thay đổi qua từng thời kỳ do sự phát triển của đất nước, bêncạnh đó là việc khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng có xu hướng gia tăng cả
về hình thức và nội dung phức tạp hơn
Nhìn chung, tổ chức và cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai thiếu ổnđịnh và bất cập so với yêu cầu thực tế Giải quyết một vụ khiếu nại đòi hỏi phải
có các bước điều tra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận, do đó cần một độingũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việc chuyêntrách Nhưng hiện nay, hầu hết cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại chủ yếu
là kiêm nhiệm; khiếu nại về đất đai chủ yếu nảy sinh ở cấp huyện, xã nhưng cơquan có thẩm quyền thụ lý giải quyết ở cấp này lại không tương ứng Chủ tịchUBND các cấp là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính về quyết định giải quyếtkhiếu nại nhưng lại phải giải quyết rất nhiều công việc khác nhau của địa phươngnên khó có điều kiện chuyên tâm về việc này Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫnđến tình trạng giải quyết khiếu nại chậm, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp, dẫnđến tình trạng khiếu kiện lại hoặc khiếu kiện vượt cấp Trong tổ chức thực hiệnpháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo lĩnh vực đất đai, nhiều địa
Trang 15phương chưa làm tốt việc tiếp dân, nhận đơn, hướng dẫn cụ thể theo pháp luật vềviệc nộp đơn dẫn đến tình trạng người đi khiếu kiện lúng túng, mất nhiều thờigian, công sức khi phải đi hết nơi này đến nơi khác Khi phát sinh khiếu kiện, cấp
ủy, chính quyền một số địa phương chưa tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời,còn né tránh, đùn đẩy Nhiều vụ việc đã có quyết định giải quyết cuối cùngnhưng việc tổ chức thi hành quyết định không nghiêm; cơ quan ra quyết địnhthiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để giải quyết dứt điểm; một số vụ việc không cótính khả thi trong tổ chức thi hành dẫn tới phát sinh những khiếu kiện mới phứctạp hơn
Mê Linh là huyện ngoại thành có vị trí cửa ngõ của thủ đô, có tốc độ đô thịhóa nhanh, giá trị đất đai ngày càng tăng, có nhiều dự án được triển khai trên địa bànhuyện dẫn đến tình trạng đơn thư khiếu nại tố cáo gia tăng Từ đầu năm 2013 đến hếtnăm 2018, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước trên địabàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định Tuynhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác giải quyếtkhiếu nại tố cáo và quản lý nhà nước về đất đai như: hệ thống văn bản pháp luậtthiếu tính đồng bộ, nhận thức về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của một bộphận cán bộ và người dân còn chưa đầy đủ, do cơ chế thị trường và sự phát triểnkinh tế mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng đất nên một số đối tượng sử dụngđất đã lợi dụng những bất cập trong chính sách đất đai của Nhà nước nhằm đạt đượclợi ích bất hợp pháp là những nguyên nhân chính dẫn đến việc giải quyết, khiếu nại,
tố cáo và quản lý đất đai thêm phần khó khăn và phức tạp
Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo,xuất phát từ thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện MêLinh, thành phố Hà Nội, để góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất
giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội” là cần thiết.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo và đánh giá thực trạng công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Mê Linh
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bànhuyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong những năm tiếp theo
Trang 16Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai: nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường côngtác quản lý nhà nước về đất đai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáodục pháp luật, tăng cường phối kết hợp với các cơ quan có liên quan và một sốbiện pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Làm cơ sở triển khai các đề án nhằm cải cách công tác tiếp dân xử lýđơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại huyện Mê Linh nói riêng và trên địabàn Thành phố Hà Nội nói chung
+ Nắm bắt được hoạt động tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mê Linh
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Đánh giá được công tác tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tốcáo về đẩt đai tại huyện Mê Linh trong những năm gần đây
+ Rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
+ Nâng cao hiệu quả trong công tác tiếp dân và xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI
2.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
Căn cứ theo khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011 về khái niệm khiếu nạithì khiếu nại đất đai được hiểu như sau: Khiếu nại về đất đai là việc người sửdụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất theo thủ tụccủa Luật Khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lạiquyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai của cơ quan hànhchính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nướckhi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đó tráipháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Khái niệm về khiếu nại của Nhà nước Việt Nam được sử dụng lần đầu tiêntại Điều 2, Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký,trong đó quy định: “…Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận các đơn khiếunại của nhân dân…” (Chính phủ, 1945) Khiếu nại của nhân dân ở đây là sựkhiếu nại đối với chính quyền khi người khiếu nại cho rằng cán bộ, nhân viên nhànước đang làm việc trong bộ máy chính quyền có những hành vi VPPL hoặc
vi phạm quyền lợi của mình Thực chất, đó chính là sự khiếu nại những hành vinảy sinh trong bộ máy HCNN, do những người làm trong các cơ quan HCNNthực hiện
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằmđảm bảo mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người
sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai TạiKhoản 2 Điều 264 Luật số 64/2010/QH12 Luật Tố tụng Hành chính đã đượcQuốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấtđai về khiếu nại, khởi kiện đối với QĐHC, HVHC về quản lý đất đai, trong đóquy định: “Người sử dụng đất có quyền khiếu nại QĐHC hoặc HVHC về quản lýđất đai” (Quốc hội, 2010)
QĐHC là văn bản do cơ quan HCNN hoặc người có thẩm quyền trong cơquan HCNN ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động
Trang 18quản lý HCNN được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.HVHC là hành vi của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quanHCNN thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định củapháp luật (Khoản 8, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011) Các QĐHC hoặc HVHC bịkhiếu nại được quy định tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai QĐHC trong quản lý đất đai bị khiếu nạibao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phépchuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư;Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; Quyết định gia hạn thờihạn sử dụng đất (Chính phủ, 2004).
HVHC trong quản lý đất đai bị khiếu nại theo quy định của pháp luật làhành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan trựctiếp đến các QĐHC về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, chuyểnmục đích sử dụng đất; cấp và thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, bồi thường, hỗ trợ,tái định cư và hành vi gia hạn thời hạn sử dụng đất cho người sử dụng đất(Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011) Như vậy, các QĐHC và HVHC nêu trênnếu bị khiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai Ngoài cáctrường hợp nêu trên, nếu các QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai mà bị khiếunại thì việc giải quyết tuân thủ theo quy định của pháp luật khiếu nại
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giảiquyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật (Khoản 6 và Khoản 11,Điều 2, Luật Khiếu nại 2011)
Như vậy, có thể hiểu, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quanHCNN là hoạt động kiểm tra, xác minh kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lýcủa QĐHC, HVHC trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giảiquyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của phápluật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợiích chung của nhà nước và xã hội
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan HCNN là nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan HCNN nhân danh Nhà nước tiến hànhxem xét, đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các QĐHC, HVHC trong lĩnh vựcquản lý và sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về
Trang 19quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Các bước khiếu nại hành chính, giải quyết khiếu nại hành chính theo quyđịnh hiện hành như sau:
Hình 2.1 Sơ đồ Các bước khiếu nại hành chính, giải quyết khiếu nại hành
chính 2.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyềnkhiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làmtrái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Theo đó, Hiến pháp năm 2013 đã
có điểm mới so với Hiến pháp năm 1992 trong đó quy định quyền tố cáo là quyềncon người chứ không chỉ dừng lại ở quyền công dân; đồng thời đề cao vấn đềthực thi quyền con người, quyền công dân… Mặt khác, những sửa đổi, bổ sung
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng liên quan đến việc xác địnhtrình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tố cáo của người dân trong Luật Tố cáo
Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợiích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, baogồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Trang 20Khái niệm tố cáo được hiểu dưới góc độ pháp lý là việc công dân theo thủtục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết
về hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đedọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơquan, tổ chức (Khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2018)
Pháp luật hiện hành quy định, khi phát hiện hành vi VPPL của bất cứ cơquan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng đất gây thiệt hại hoặc đe dọagây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơquan, tổ chức thì mọi công dân có quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthẩm quyền biết để giải quyết theo quy định của pháp luật Tố cáo hành vi VPPLcủa cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việccông dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi VPPLcủa cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo
và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Người tố cáo là công dân thựchiện quyền tố cáo Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tốcáo Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giảiquyết tố cáo (Khoản 7, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2018)
Điều 139 Luật Đất đai năm 2003 (nay là Điều 205 Luật đất đai 2013) quyđịnh: “Cá nhân có quyền tố cáo VPPL về quản lý và sử dụng đất đai Việc giảiquyết tố cáo VPPL về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định củapháp luật về khiếu nại, tố cáo” (Chính phủ, 2003) Đây là một quy định mangtính dẫn chiếu, theo đó thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai sẽthực hiện theo các quy định của Luật Tố cáo
Như vậy, có thể hiểu, tố cáo hành vi VPPL về quản lý nhà nước trong lĩnhvực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyềnbiết về hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấphành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai
Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan HCNN là việckiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩmquyền giải quyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quyđịnh của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của các hội, quyền và lợiích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trang 212.1.3 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và nội dung khiếu nại, tố cáo
2.1.3.1 Khái niệm về đất đai và Quản lý Nhà nước về đất đai
Đất đai là tài nguyên không thể tái tạo, là tài sản vô cùng quý giá của mỗiquốc gia với vai trò và ý nghĩa đặc trưng: đất đai là nơi ở, nơi xây dựng cơ sở hạtầng của con người và tư liệu sản xuất
Về mặt thổ nhưỡng, đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, đượchình thành do kết quả tác động của nhiều yếu tố: khí hậu, địa hình, đá mẹ, sinhvật và thời gian Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích và độ phì
Đất đai và giá trị sử dụng của nó tồn tại mãi với con người nếu được khaithác, cải tạo và bảo vệ phù hợp Cùng với sự phát triển của xã hội, đất đai khôngchỉ được sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi mà còn được sử dụng để phát triểncác ngành nghề khác như công nghiệp và dịch vụ Hoạt động của con người càng
đa dạng thì vai trò của đất đai càng mở rộng Trên cơ sở lao động của con người,đất đai không còn đơn thuần là một tặng phẩm của tự nhiên mà đã trở thành tàisản của mọi cá nhân và mọi quốc gia
Trong phạm vi mỗi quốc gia, đất đai và các chính sách đất đai là mối quantâm hàng đầu của nhà nước bởi nó có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị xãhội và sự phát triển kinh tế Nếu chính sách đất đai phù hợp không những đảmbảo được sự bình ổn về an ninh, chính trị mà còn tạo điều kiện thúc đẩy kinh tếphát triển và ngược lại Với tầm quan trọng, ảnh hưởng rộng khắp, vấn đề quản lý
và sử dụng đất đai luôn là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi nhà nước trong từng thời
kỳ phải có sự cân nhắc, lựa chọn hướng đi cho phù hợp
Quản lý là sự tác động, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạtđộng của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục tiêu
đề ra, đúng ý chí của con người quản lý và bao gồm 5 yếu tố quản lý: xã hội,chính trị, tổ chức, quyền uy, thông tin
Quản lý Nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng có thểcủa đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất của từng vùng,từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp Từ đó thống nhất về quyhoạch, kế hoạch sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai để xâydựng thành một hệ thống quản lý đồng bộ, thống nhất, tránh tình trạng phân tánđất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc để đất hoang, hoá, làm cho đất xấuđi
Trang 22Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục,
có mối liên hệ gắn kết trực tiếp với sự tồn tại và phát triển của các chủ thể trong
xã hội Trong đó, hoạt động thi hành pháp luật hành chính tác động trực tiếp đếnhiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước Công tác thực thi pháp luật hành chínhthời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn đó nhữnghạn chế đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp căn cơ để nâng cao hiệuquả thi hành pháp luật hành chính ở Việt Nam trong thời gian tới
Như vậy, để quản lý tốt về đất đai thì ở mỗi chế độ chính trị khác nhau vàtại mỗi thời điểm khác nhau, Nhà nước cần có chính sách quản lý đất đai khácnhau Tuy vậy, mục đích cuối cùng là thâu tóm toàn bộ quyền lực của Nhà nước
về quản lý tài nguyên đất, đề ra những quyết định quản lý, sử dụng và tổ chứcthực hiện, thanh tra, kiểm tra về đất đai Thông qua đất đai để điều chỉnh chi phốicác hoạt động khác của xã hội
Điều 17 và Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 1992 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản
lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích
và có hiệu quả ” (Quốc hội nước CHXHCNVN, 1992) Điều 53 Hiến pháp nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: " Đất đai thuộc sở hữutoàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" (Quốc hội nướcCHXHCNVN, 2003) Điều 5 Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Đất đai thuộc sởhữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thống nhất quản lý vềđất đai” Điều 21 Luật đất đai 2013 quy định cụ thể hơn:" Chính phủ, UBND cáccấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai", Điều 17 Luật đất đai 2013quy định " Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất" Điều này đãkhẳng định tính chất quan trọng của đất đai; đồng thời là cơ sở pháp lý để Nhànước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đấtđúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả
Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định 13 nội dung quản lý nhànước về đất đai bao gồm: Ban hành các văn bản QPPL về quản lý, sử dụng đất đai và
tổ chức thực hiện các văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơđịa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạngđất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sửdụng đất; Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuêđất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Đăng ký QSDĐ, lập
Trang 23và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSDĐ; Thống kê, kiểm kê đấtđai; Quản lý tài chính về đất đai; Quản lý và phát triển thị trường QSDĐ trong thịtrường bất động sản; Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ củangười sử dụng đất; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
về đất đai và xử lý VPPL về đất đai; Giải quyết khiếu nại tố cáo các vi phạmtrong việc quản lý và sử dụng đất đai; Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đấtđai (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)
Ngoài 13 nội dung đã quy định trong Luật Đất đai năm 2003 thì tại Điều 22Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014) quy định bổ sung 02 nộidung quản lý nhà nước về đất đai đó là: Xây dựng hệ thống thông tin đất đai và phổbiến, giáo dục pháp luật về đất đai (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)
sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhậnquyền sử dụng đất hoặc giao đất; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm
cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài
có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của
tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diệncủa tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất; Người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thườngxuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, chothuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; Tổ chức, cá nhân nướcngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư
Trang 24được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất (Điều 9, Luật Đất đai 2003 nay là Điều 5,Luật Đất đai 2013).
Quyền lợi của người sử dụng đất bị xâm phạm như bị lấn chiếm, bị chuyểnnhượng, sử dụng, hoặc cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà không có sự đồng ý củangười sử dụng đất là nguyên nhân công dân khiếu nại, tố cáo
2.1.3.3 Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải phóng mặt bằng
Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2013 ra đời, cùng với các văn bản pháp
lý liên quan đã góp phần tạo ra môi trường và tháo gỡ những khó khăn trong thựchiện chính sách bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ sởHiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật về đất đai được xây dựng, thống nhất vàtinh gọn, dễ hiểu Đây là cơ sở quan trọng giúp các chủ thể thực hiện chính sáchthu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư
- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra QĐHC để thu lại QSDĐ hoặc thu lại đất
đã được giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định củapháp luật (Khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai 2003) Khoản 11, Điều 3 Luật đất đai
2013 quy định thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đấtcủa người được Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất củangười sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai
- Giải phóng mặt bằng: Khi Nhà nước cần thu hồi đất để sử dụng vào mụcđích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh
tế thì sẽ tiến hành các bước theo đúng qui định của pháp luật nhằm mục đích lấyđược mặt bằng khu đất cần sử dụng cho các mục đích trên gọi là giải phóng mặtbằng
- Bồi thường: "Bồi thường" hay "Đền bù" (hiểu theo quy định của phápluật cũ) có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào
đó bị thiệt hại vì mọi hành vi của chủ thể khác Việc bồi thường thiệt hại này cóthể vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằng tiền hoặc bằng vật chấtkhác) theo đúng qui định của pháp luật hoặc do thoả thuận của các chủ thể
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đốivới diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Khoản 6, Điều 4, Luật Đất đai2003) Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định "Bồi thường về đất là việc Nhànước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích thu hồi cho người sử dụng đất"
- Hỗ trợ: Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào Hỗ trợ khi Nhà nước thu
Trang 25hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua việc đào tạo nghềmới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới, ổn định đờisống, ổn định sản xuất (Khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai 2003 nay là Khoản 14Điều 3 Luật Đất đai 2013).
- Bố trí tái định cư: Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằngviệc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thìđược bồi thường bằng giá trị QSDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi Đối vớicác dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở và tiến hành phân lô theo quyhoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bố trí lại cho các hộ giải phóngmặt bằng sau khi đã thi công hạ tầng cơ sở thì được gọi là tái định cư tại chỗ.Việc bố trí lại đất tái định cư tại nơi ở mới phải có điều kiện sinh hoạt tốt hơnhoặc bằng nơi cũ (Chính phủ, 2004)
Giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi Nhà nướcthu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là những hành vi được qui định tại mục 4chương II Luật Đất đai năm 2003 nay là Mục 2 Chương VI Luật đất đai 2013 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành
Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 thì: “Bồi thường vềđất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồicho người sử dụng đất”
Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Hỗ trợ khi Nhànước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạonghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” Tuynhiên, khái niệm này cũng chưa đầy đủ và xúc tích nên trong Luật Đất đai năm
2013, tại Khoản 14 Điều 3 đã giải thích một cách bao quát hơn như sau: “Hỗ trợkhi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để
ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”
Như vậy, Luật Đất đai năm 2013 đã làm rõ hơn mục đích cơ bản trongchính sách việc hỗ trợ của Nhà nước cho người dân thu hồi đất nông nghiệp Hỗtrợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi
để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển
Khi công dân bị thu hồi đất, được đền bù, hỗ trợ không thỏa đáng dẫn tớiviệc đơn thư khiếu nại, tố cáo
Trang 262.1.3.4 Giá đất
Khoản 19 điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: “Giá đất là giá trị của quyền
sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất” Trước đó, Luật đất đai 2003 cũngtừng quy định về giá đất tại khoản 2 điều: “Giá quyền sử dụng đất (giá đất) là sốtiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hìnhthành trong giao dịch về quyền sử dung đất.” Như vậy, Luật đất đai 2013 đã có
sự khái quát hóa khái niệm về giá đất hơn trước, phù hợp hơn với sự phát triển đadạng hiện nay
Tại Điều 12 Luật Đất đai năm 1993, lần đầu tiên khái niệm giá đất chínhthức được quy định ở Việt Nam: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuếchuyển QSDĐ, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giaođất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá cácloại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian” (Quốc hội nước CHXHCNVN,1993)
Theo quy định tại Khoản 24 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 thì giá QSDĐ(sau đây gọi là giá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quyđịnh hoặc được hình thành trong giao dịch về QSDĐ Khoản 19 Điều 3 Luật Đất đainăm 2013 quy định giá đất là giá trị của QSDĐ tính trên một đơn vị diện tích đất
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 Giá trị QSDĐ
là giá trị bằng tiền của QSDĐ đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sửdụng đất xác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003) (nay là Khoản 20 Điều 3Luật Đất đai năm 2013) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)
Một số nước trên thế giới có hai loại giá đất: giá đất do Nhà nước quy định
và giá đất hình thành trên thị trường Giá đất do Nhà nước quy định trên cơ sở giáđất thị trường nhằm phục vụ mục đích của Nhà nước Giá đất thị trường đượchình thành trên cơ sở thoả thuận giữa bên sở hữu đất và các bên có liên quan Cảhai loại giá đất có mối quan hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau, trong đó giá đất doNhà nước quy định là cố định trong một khoảng thời gian xác định, còn giá đấtthị trường luôn biến đổi
Giá đất được hình thành bởi sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhaucủa ba mặt là hiệu quả, tính khan hiếm tương đối và yêu cầu hữu hiệu, mà nhữngnhân tố này lại luôn luôn ở thế biến động Các nguyên tắc cơ bản trong định giáđất là những nguyên tắc kinh tế, chúng có liên quan mật thiết tới học thuyết kinh
Trang 27tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến quan niệm giá thị trường Những nguyên tắc nàyrất ít khi được xem xét một cách riêng rẽ mà người ta thường sử dụng các nguyêntắc này trong mối liên quan chặt chẽ với nhau, bởi vì chúng luôn đi với nhau và
bổ sung cho nhau
Giá đất theo quy định của Thành phố luôn thấp hơn so với giá thị trường,khi đền bù giải phóng mặt bằng công dân không nhất trí là nguyên nhân có đơnthư khiếu nại, tố cáo
Tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ (nayđược thay thế bởi Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014) đã quy định bổsung về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và đượcgọi chung là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất (Chính phủ, 2009)
Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trườngphát hành thống nhất một mẫu chung trong cả nước
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO Ở MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Cũng như ở Việt Nam, giải quyết khiếu nại tố cáo luôn được các nướcquan tâm, nghiên cứu, từ mô hình giải quyết của cơ quan hành chính nhà nướcđến cơ chế, trình tự, thủ tục giải quyết KNHC nhằm bảo đảm việc giải quyếtKNTC được khách quan, dân chủ, công khai đúng quy định pháp luật
Trên thế giới, mặc dù việc giải quyết các KNTC hành chính đã có từ lâu
và hiện nay đã đi vào nề nếp, song ngoài việc xác định thẩm quyền giải quyết của
Trang 28Tòa án thì nhiều nước vẫn duy trì và coi trọng việc giải quyết KNTC của cơ quanhành chính Một số nước còn coi việc giải quyết khiếu nại qua cấp hành chính làthủ tục bắt buộc trước khi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa ánhành chính hoặc tòa án tư pháp Đa số các nước vẫn cho phép công dân có quyềnlựa chọn khiếu nại đến cơ quan hành chính (cơ quan đã ban hành QĐHC hoặcthực hiện HVHC) để thực hiện việc khiếu nại Điểm đáng lưu ý là hầu hết cácnước đều xác định khiếu nại hành chính dù đã được giải quyết bởi cơ quan hànhchính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính thì đương sựvẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án Xem xét cách tổ chức thựchiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính một số nước trên thế giới để cóthể hiểu rõ hơn về vấn đề này.
2.2.1 Nhật Bản
Thẩm tra hành chính, từ đó đến nay đã sửa đổi, bổ sung, song không nhiều Theo
đó, giải quyết KNHC chủ yếu được thông qua hoạt động tư vấn hành chính docác chuyên gia tư vấn hành chính thực hiện Hiến pháp của Nhật Bản cho phépngười dân có quyền biểu thị chính kiến của mình bằng phương pháp trưng cầudân ý về mọi lĩnh vực và đặc biệt là về sự tồn tại của chính quyền Công dân cóquyền khiếu nại bất cứ hành vi và quyết định nào của Nhà nước kể cả các vănbản qui phạm pháp luật, các chính sách của Nhà nước nếu như họ cho rằng nhữnghoạt động đó ảnh hưởng bất lợi đến quyền và lợi ích của họ Hệ thống các cơquan tiếp nhận và giải quyết KNHC của Nhật Bản được tổ chức thực sự đầy đủ,toàn diện và linh hoạt ở cả hệ thống hành pháp, tư pháp và lập pháp đảm bảo bất
cứ một khiếu nại nào của người dân cũng được xem xét thấu đáo và thoả đáng
Hệ thống này tùy theo từng địa phương có thể thành lập ra cơ quan Thanh tra,hiện Nhật Bản có khoảng 32 địa phương thành lập ra cơ quan Thanh tra để tiếpnhận và giải quyết các khiếu nại của địa phương Các cơ quan Trung ương có các
bộ phận tiếp nhận đơn thư ở hầu hết các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp
Bộ Nội vụ và Truyền thông có Cục Đánh giá hành chính được giao chuyên tráchđảm nhận chức năng tiếp nhận đơn khiếu nại gửi các cơ quan hành chính ở Trungương và khu vực Khi có đơn thư gửi đến thì bộ phận tiếp nhận phải phân tích vàgửi cho các cơ quan chức năng mà chủ yếu là các cơ quan hành chính theo thẩmquyền để giải quyết Để làm tốt chức năng này, Bộ Nội vụ và Truyền thông thànhlập 50 Văn phòng đại diện đặt ở hầu hết các tỉnh, thành phố để trực
Trang 29tiếp tiếp nhận và một phần giải quyết khiếu nại của công dân Ngoài ra Bộ Nội vụ
và Truyền thông còn có Hội cứu trợ hành chính để tư vấn cho những vụ việckhiếu nại về chính sách có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiềuđịa phương, ngành Một phương thức khác nữa là có khoảng 5000 người (thường
là cán bộ về hưu) tự nguyện tham gia việc tiếp nhận các khiếu nại của người dân,
họ không hưởng lương nhưng được Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Truyền thông ủyquyền để tiếp nhận và tư vấn cho công dân Như vậy, chức năng chính của CụcĐánh giá hành chính là tiếp nhận, tư vấn, chuyển đơn cho các cơ quan hành chính
ở trung ương xem xét giải quyết các vấn đề liên quan đến người dân và thông báocho người dân biết Trong trường hợp mà những thông báo đó không được thựchiện thì phải nêu rõ lý do, trường hợp không thực hiện nhưng không được trả lờithì sẽ được báo cáo lên cấp trên và có thể bị xem xét, đánh giá về hiệu quả hoạtđộng
Về cơ chế giải quyết KNHC, công dân tự mình khiếu nại tới cơ quan hànhchính nhà nước (CQHCNN) cấp trên quản lý trực tiếp CQHCNN có quyết địnhhành chính (QĐHC) bị khiếu nại hoặc ủy nhiệm cho Luật sư khiếu nại Trong quátrình giải quyết, CQHC có thẩm quyền giải quyết tiến hành thẩm tra nội dungkhiếu nại, tổ chức để công dân trình bày nội dung khiếu nại, yêu cầu của họ và đểCQHC có QĐHC bị khiếu nại biện minh về việc ra quyết định đó; những người
có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan được tham gia buổi làm việc này Để giảiquyết khiếu nại, CQHC có thẩm quyền giải quyết ra quyết định có nội dung bãikhiếu nại khi có đủ căn cứ khiếu nại vi phạm các quy định thủ tục hoặc chấm dứtviệc khiếu nại khi có đủ căn khiếu nại là không có cơ sở và khẳng định QĐHCban hành đúng pháp luật; yêu cầu CQHC cấp dưới hủy bỏ QĐHC hoặc sửa đổi,
bổ sung QĐHC của mình nếu vi phạm pháp luật, đồng thời khắc phục hậu quả(nếu có) Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, công dân có quyềnkhởi kiện tại Tòa án
Về tổ chức tư vấn hành chính, như nói ở trên, hiện Nhật Bản có 50 Chi nhánh
tư vấn hành chính đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có khoảng 5000chuyên gia tư vấn hành chính là những người đã nghỉ hưu, Luật sư, Giáo sư… tựnguyện tham gia Các công chức nhà nước không được làm chuyên gia tư vấn hànhchính Danh sách người được đề nghị trở thành chuyên gia tư vấn hành chính phảiđược Bộ Quản lý công cộng, Nội vụ, Bưu điện và Viễn thông phê chuẩn Nhữngngười tự nguyện làm công tác tư vấn hành chính của Nhật Bản có
Trang 30nhiệm vụ tiếp nhận các khiếu nại từ người dân Trường hợp nhận thấy khiếu nại củacông dân không có cơ sở, chuyên gia tư vấn giải thích, trả lời; trường hợp khiếu nạicủa công dân có cơ sở hoặc vụ việc khiếu nại phức tạp, chuyên gia tư vấn chuyển tới
Cơ quan Đánh giá hành chính tại địa phương hoặc Trung ương và đề nghị các cơquan này yêu cầu các CQHC có chức năng giải quyết, điều chỉnh các quyết địnhquản lý, trả lời chuyên gia tư vấn để trả lời công dân Các chuyên gia tư vấn còn cóthẩm quyền kiến nghị các vấn đề liên quan tới việc cải cách hành chính của Bộ Quản
lý công cộng, Nội vụ, Bưu điện và Viễn thông Có thể thấy, hoạt động tư vấn hành
chính là giai đoạn “tiền giải quyết” KNHC ở Nhật Bản và cơ chế tư vấn hành chính
hàng năm đã giúp Nhật Bản xử lý ban đầu, đã góp phần giảm khoảng 50% vụ việcKNHC ở giai đoạn tư vấn hành chính Kinh phí để duy trì hoạt động của các tổ chức
tư vấn hành chính chủ yếu dựa trên nguồn hội phí do các hội viên đóng góp và tiềnchi trả của Nhà nước cho mỗi hoạt động tư vấn thực tế, cụ thể; ngoài ra, còn cónguồn hỗ trợ từ phía Nhà nước, song khoản này là rất nhỏ Hoạt động tư vấn hànhchính là trung lập giữa CQHCNN và công dân trong quá trình xử lý các KNHC(khách quan, không đứng về phía nào) Việc tư vấn hành chính là hoàn toàn miễnphí, song chuyên gia tư vấn hành chính được Nhà nước Nhật Bản chi trả theo quyđịnh đối với các chi phí thực tế mà họ phải chi phí khi thực hiện tư vấn (như tiền tàu
xe, chi phí cho việc soạn, in ấn đơn từ )
Ở Nhật Bản, Nghị viện cũng có một vai trò nhất định trong việc giải quyếtKNHC Công dân có quyền đệ trình KNHC lên Nghị viện, song việc đệ trình nàyphải được sự giới thiệu của ít nhất một Nghị sĩ hoặc khiếu nại thông qua Nghị sĩ
và Nghị sĩ đó có vai trò như người đại diện, bảo lãnh cho người khiếu nại.Thượng viện chỉ tiếp nhận những đơn khiếu nại này trong thời gian diễn ra kỳhọp của Nghị viện và chấm dứt trước một tuần khi Nghị viện kết thúc kỳ họp.Sau khi nhận được đơn khiếu nại gửi tới Thượng viện, Văn phòng Thượng viện
sẽ xem xét các điều kiện theo quy định để thụ lý, đơn sẽ được đệ trình ra Tiểu bancủa Nghị viện phù hợp nội dung khiếu nại để thẩm định và phân công xử lý Việc
xử lý từng khiếu nại tại Nghị viện được thông qua hình thức bỏ phiếu biểu quyết.Những khiếu nại phù hợp và đã có biểu quyết của Nghị viện sẽ được gửi cho Nộicác để giải quyết theo quy định của pháp luật Đối với những khiếu nại khôngphù hợp sẽ không tiến hành thủ tục trên và được tuyên hủy sau kỳ họp Nghị sĩgiới thiệu người khiếu nại sẽ được thông báo về kết quả giải quyết khiếu nại và
có trách nhiệm thông báo cho công dân.(Mạnh Hùng, 2016)
Trang 312.2.2 Cộng hòa Liên bang Đức
Cũng giống như một số nước châu Âu, quan niệm khiếu nại là việc côngdân, pháp nhân yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâmphạm hoặc bị đe dọa xâm phạm bởi hoạt động của CQHCNN, nhân viên nhà nước.Pháp luật Công hòa Liên bang Đức công nhận khiếu nại của công dân đối với hoạtđộng của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, khiếu nại đối vớiQĐHC, hành vi hành chính (HVHC) chiếm phần lớn Ngoài cơ chế giải quyết khiếunại của CQHCNN còn có cơ chế giải quyết theo thủ tục tố tụng của Tòa án bằng việcthành lập Tòa hành chính độc lập, song song với Tòa tư pháp nhằm tạo thêm cơ chếgiải quyết hữu hiệu, khách quan để người dân được lựa chọn Về mặt tổ chức, Tòahành chính được tổ chức theo ba cấp xét xử: Tòa hành chính sơ thẩm thành lập theođịa bàn quận, huyện; Tòa hành chính phúc thẩm, thành lập theo địa bàn tỉnh và Tòahành chính tối cao trực thuộc Nhà nước Liên bang
Về thẩm quyền của Tòa hành chính: Xét xử khiếu kiện của công dân đốivới QĐHC cá biệt và HVHC của nhân viên CQHCNN (không xem xét khiếukiện đối với văn bản quy phạm pháp luật) và việc bồi thường thiệt hại do QĐHChoặc HVHC gây ra Nói cách khác, Toà án hành chính giải quyết các khiếu kiệnthuộc về Luật Công không liên quan đến Hiến pháp và không được đạo luật củaLiên bang giao cho
Về trình tự, thủ tục giải quyết KNHC: Trước hết, người khiếu nại khiếunại đến CQHCNN có QĐHC, HVHC vi phạm pháp luật để được giải quyết.Trong quá trình xem xét, nếu xét thấy QĐHC hoặc HVHC trái pháp luật thìCQHCNN đó phải thu hồi, sửa đổi QĐHC hoặc chấm dứt HVHC; nếu gây thiệthại thì trước hết CQHCNN phải bồi thường cho người khiếu nại, sau đó cá nhâncông chức, viên chức có lỗi phải hoàn trả cho CQHCNN Để bảo đảm việc xemxét được khách quan, công khai, pháp luật quy định người khiếu nại được gặp gỡ,trình bày hoặc tranh luận với CQHCNN có QĐHC hoặc HVHC bị khiếu nại đểthoả thuận hướng giải quyết và bồi thường thiệt hại, nếu thoả thuận phù hợp vớiquy định của pháp luật thì CQHCNN ra quyết định công nhận Nếu người khiếunại thấy giải quyết của cơ quan có QĐHC, HVHC bị khiếu nại không thỏa đángthì họ có quyền khiếu nại lên CQHCNN cấp trên trực tiếp Nếu người khiếu nạikhông đồng ý với quyết định giải quyết của CQHCNN cấp trên thì họ có quyềnkhiếu kiện đến Tòa hành chính sơ thẩm Người khiếu nại có quyền kháng cáophán quyết của Tòa hành chính sơ thẩm lên Tòa hành chính phúc thẩm,
Trang 32kháng cáo phán quyết của Tòa hành chính phúc thẩm lên Tòa hành chính tối cao,kháng cáo phán quyết của Tòa hành chính tối cao lên Tòa án Hiến pháp Tòa ánHiến pháp có quyền xét xử chung thẩm đối với tất cả các vụ kiện hành chính đãđược các Tòa án cấp dưới xét xử.
Ngoài ra, Cộng hòa Liên bang Đức, có hệ thống cơ quan tài phán hànhchính hoàn toàn độc lập với Tòa án tư pháp Cơ quan tài phán hành chính ở Đứckhông có thêm chức năng tư vấn pháp lý Trong hệ thống Tòa án hành chính có
52 Tòa án hành chính khu vực, 16 Tòa án hành chính liên khu vực và một Tòa ánhành chính liên bang Quyền về bảo vệ pháp luật “triệt để” của công dân trướcquyền lực hành pháp phát sinh từ Khoản 4 Điều 19 của Hiến pháp Tính triệt đểnày được thể hiện ở chỗ công dân được bảo vệ trước tất cả các văn bản hànhchính hay nói cách khác, các Tòa án phải bảo đảm sự bảo vệ pháp luật về mặtnguyên tắc chống lại tất cả những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hànhpháp Các thẩm phán hành chính có nghĩa vụ phải nghiên cứu nội dung, làm rõviệc tranh chấp và trong trường hợp cần thiết có thể đưa ra ý kiến của mình vềcách giải quyết vụ việc Tòa án không bị ràng buộc bởi các bằng chứng và giảitrình của các bên Bằng nguyên tắc này, Tòa án hành chính có thể bù đắp sựkhông cân bằng giữa công dân và cơ quan hành chính và có thể giúp đỡ công dântrong quá trình tố tụng (Mạnh Hùng, 2016)
và được làm ngay tại địa phương cơ sở
Uỷ ban Chống tham nhũng và Bảo vệ quyền công dân (ACRC) là cơ quanchịu trách nhiệm chính trong công tác này Tại cơ quan Thanh tra, kiểm toán HànQuốc cũng có Vụ chuyên trách về tiếp nhận và xử lý KNHC, ở các địa phương
Trang 33dần dần cũng hình thành các bộ phận chuyên trách giúp chính quyền giải quyếtcác khiếu nại của người dân Trong giải quyết KNHC, Hàn Quốc quan tâm trướchết đến việc tìm ra phương án xử lý tranh chấp thông qua hoà giải thương lượng
và thuyết phục các bên Với những vụ việc đơn giản thì thường gửi về cho chính
cơ quan bị khiếu nại để giải quyết Vụ việc phức tạp hơn thì các cơ quan phốihợp để tiến hành thẩm tra, xác minh sau đó đưa ra yêu cầu với cơ quan có tráchnhiệm Về cơ bản thì các cơ quan này không trực tiếp ban hành quyết định giảiquyết, trừ ACRC có quyền phán quyết (tài phán) đối với việc khiếu nại cácQĐHC Nếu không thoả mãn với việc giải quyết của các CQHCNN thì ngườikhiếu nại có thể kiện ra Tòa án theo con đường tố tụng
Điểm nổi bật trong giải quyết KNHC ở Hàn Quốc là hết sức coi trọngcông tác hoà giải và tư vấn khiếu nại Hàn Quốc sử dụng đội ngũ tình nguyệnviên là những công chức về hưu hoặc những luật sư còn đang hành nghề nhưngdành thời gian nhất định cho công việc này một cách tự nguyện với khoản thù laonhỏ bé (chủ yếu là bù đắp chi phí đi lại) tham gia vào hoạt động tư vấn khiếu nại,tiếp và trao đổi với người khiếu nại Cách làm này tỏ ra rất phù hợp, tránh đượctâm lý căng thẳng và sự thiếu tin tưởng của người dân khi tiếp xúc trực tiếp ngayvới các cơ quan công quyền Tình nguyện viên là những người có nhiều kinhnghiệm trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nên việc tư vấn của họ tỏ ra rất hiệuquả Đây là cách làm hay và có thể vận dụng vào Việt Nam và cũng thể hiện xuhướng xã hội hoá các dịch vụ công trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại hànhchính Mặc dù có những ưu điểm nhưng trên thực tế thì cơ chế giải quyết KNHC
ở Hàn Quốc cũng khá phức tạp và đang tiến hành nghiên cứu, sửa đổi quy địnhcủa pháp luật cho phù hợp và đơn giản hiệu quả hơn Ngoài ra, Hàn Quốc cũngxây dựng Trung tâm tích hợp thông tin hành chính để giúp người dân thuận tiệnhơn khi tiến hành các thủ tục hành chính Tại đây, người dân có thể truy cập mọithông tin cần thiết và cũng có thể được tư vấn trực tiếp về những vấn đề mà họquan tâm Đây là việc làm hết sức có ý nghĩa để người dân có thể vượt qua cáckhó khăn khi thực hiện các quyền của mình và cũng giảm đi một số lượng đáng
kể các khiếu nại không cần thiết do thiếu thông tin
Mô hình quản lý khiếu nại quốc gia của Hàn Quốc như sau:
(1) Bộ An toàn hành chính phụ trách chung điều hành quản lý chế độkhiếu nại dân sự quốc gia; Ủy ban Quyền lợi quốc dân hoạt động theo LuậtChống tham nhũng, (điều hành 100 Trung tâm hướng dẫn khiếu nại nỗi khổ quađiện thoại)
Trang 34(2) Cơ quan Thanh tra, kiểm toán Chính phủ Hàn Quốc; cơ quan Thủtướng Quốc vụ, Bộ An tòan hành chính phụ trách quản lý kỷ cương công tác,những tiêu cực trong khối công chức (tố cáo hành chính) gồm: thiết lập kỷcương, điều tra hành vi phạm pháp của công chức ở các cơ quan hành chínhTrung ương, chính quyền địa phương, cơ quan công.
(3) Cơ quan Thanh tra, kiểm toán Chính phủ; Ủy ban Quyền lợi quốc dânphụ trách giải quyết khiếu nại nỗi khổ của người dân (khiếu nại hành chính) Cơquan Thanh tra, kiểm toán Chính phủ Hàn Quốc có trách nhiệm: Tiếp nhận và xử
lý khiếu nại dân sự dựa trên căn cứ vào quyền thanh tra giám sát chức vụ đượcqui định trong Hiến pháp và Luật Thanh tra, kiểm toán Chính phủ; Không chịu
sự tác động của Luật Xử lý hành chính dân sự (đó là căn cứ để xử lý khiếu nạidân sự của các cơ quan hành chính Trung ương); Thực hiện điều tra đặc biệt đốivới hành vi phạm pháp, tham nhũng của quan chức, công chức
Việc tiếp nhận, xử lý khiếu nại dân sự của người dân, doanh nghiệp đượcthực hiện bằng hai hình thức: gửi văn bản (đơn), hoặc gửi thông tin qua đườnginternet thông qua “Hệ thống thông tin điều hành giải quyết khiếu nại dân sự”
Hệ thống này được Chính phủ Hàn Quốc đầu tư, khai thác quản lý nhằm hiện đạihóa công tác xử lý khiếu nại dân sự
Hệ thống thông tin điều hành xử lý khiếu nại dân sự Hàn Quốc được thựchiện qua 02 hệ thống, thứ nhất là hệ thống “Cổng tiếp nhận khiếu nại và thắc mắccủa người dân”; thứ hai là “Cổng thông tin khiếu nại Chính phủ 24” Mỗi cơ quanhành chính Trung ương đều có một Cổng thông tin khiếu nại riêng và trên cơ sởchức năng, nhiệm vụ của mình để xem xét, xử lý khiếu nại thuộc chức năng,nhiệm vụ của mình Hai Cổng thông tin này có sự kết nối, chia sẻ thông tin vớinhau, phục vụ cho hoạt động xử lý khiếu nại trong cả nước, được nối mạng với
100 Trung tâm xử lý khiếu nại ở các vùng, giúp cho Chính phủ, Quốc hội nắmchắc tình hình khiếu nại và xử lý khiếu nại trong cả nước; vừa giản tiện cho việckhiếu nại của người dân, doanh nghiệp; vừa giúp cho việc kiểm tra việc xử lýkhiếu nại của các cơ quan có chức trách, nhiệm vụ (Mạnh Hùng, 2016)
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ TÍNH PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
2.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong công tác chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến
Trang 35pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bịxâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại, tố cáo làmột kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhànước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, côngtác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lýnhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúngđắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có
cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lýNhà nước Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề đượcĐảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo luôn được Đảng, Nhànước ta đặc biệt quan tâm và được thể chế hóa qua các thời kỳ tại các Hiến phápnăm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, mới đây nhất là Hiếnpháp năm 2013 và quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật kháccủa Việt Nam Chủ trương, đường lối của Đảng còn được thể hiện qua nhiều vănbản, trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và chính quyềntrong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thời gian qua, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân trong phạm vi cảnước có nhiều diễn biến phức tạp Nội dung các vụ việc chủ yếu liên quan đếnđất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng Nhiều vụ việc đã được giải quyết nhưngcông dân vẫn không đồng ý và tiếp tục khiếu kiện Tại Trụ sở Tiếp công dânTrung ương, một số đoàn khiếu kiện đông người đến Trụ sở mang theo băng rôn,
hô khẩu hiệu và có thái độ quá khích, lăng mạ lực lượng bảo vệ Một số công dânkhiếu kiện đơn lẻ đeo bám nhiều ngày tại khu vực trước Trụ sở, có hành vi quákhích, vi phạm pháp luật, thậm chí có trường hợp gọi điện, nhắn tin đe dọa côngchức Ban Tiếp công dân Trung ương, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại Trụ
sở Ban Tiếp công dân Trung ương đã chủ động phối hợp với lực lượng chứcnăng tuyên truyền, vận động công dân chấp hành pháp luật, trở về địa phương,nhưng một số công dân vẫn cố tình đeo bám Đặc biệt, tình trạng công dân khiếukiện tụ tập đông người kéo đến nhà riêng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và Trụ sở các cơ quan Trung ương có xu hướng gia tăng Trong đó, một số đoànđông người và công dân khiếu kiện chây ỳ mang theo băng rôn, khẩu hiệu và cóhành vi manh động Các vụ việc KNTC phức tạp chủ yếu liên quan đến vấn đề
Trang 36bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị,khu dân cư, khu du lịch, dịch vụ; khiếu nại việc chuyển đổi chợ truyền thốngthành trung tâm thương mại; khiếu nại tranh chấp đất đai giữa người dân với cácdoanh nghiệp, nông - lâm trường được giao sử dụng đất trồng cao su, trồng rừng,cây nguyên liệu, tranh chấp đất đai giữa người dân địa phương với người dân di
cư tự do tại Tây Nguyên…
Ngày 23/11/2012, tại kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông quaNghị quyết số 39/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thựchiện chính sách, pháp luật trong giải quyết KNTC của công dân đối với cácQĐHC về đất đai đã chỉ rõ: “Thủ trưởng các cơ quan HCNN theo thẩm quyềnchủ động xem xét từng vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai trong phạm vi quản lý
để giải quyết kịp thời, dứt điểm, công bố công khai kết quả giải quyết, không đểkhiếu kiện vượt cấp, diễn biến phức tạp, khiếu kiện đông người; chịu trách nhiệm
về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ” (Quốc hội nước CHXHCNVN năm 2012)
Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 14/5/2012
về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC vànhiều văn bản khác để chỉ đạo công tác giải quyết KNTC, trong đó tập trung vàocác nội dung: Chấn chỉnh, xử lý những tồn tại trong công tác quản lý nhà nước vềđất đai (như công tác quy hoạch sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khiNhà nước thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ ); giải quyết kịp thời những
vụ việc KNTC về đất đai ngay từ khi mới phát sinh, không để trở thành “điểmnóng”, gây phức tạp về an ninh, trật tự; tăng cường thanh tra, kiểm tra tráchnhiệm của Chủ tịch UBND các cấp trong công tác giải quyết KNTC, tập trungvào những địa bàn trọng điểm thường xảy ra các vụ việc KNTC đông người,phức tạp nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội (Chính phủ, 2012) Chỉ thị số35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết KN,TC”
Có thể nói khiếu nại, tố cáo về đất đai đang là một thách thức đối vớiĐảng, các cơ quan nhà nước HCNN có thẩm quyền và toàn thể xã hội Việc giảiquyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duytrì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương.Việc giải quyết KNTC trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan HCNN cần phải đổimới, thường xuyên tiếp nhận các thông tin phản hồi từ các tổ chức, hộ gia
Trang 37đình, cá nhân để điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai (về thể chế, bộmáy tổ chức…), quan tâm, chú trọng đến lợi ích chính đáng, thiết thực của ngườidân trong giải quyết KNTC nhằm đảm bảo công bằng xã hội, góp phần ổn địnhtình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội là vấn đề hết sức cấp bách hiệnnay đối với Đảng và Nhà nước ta.
2.3.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai
Trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quanHCNN, trình tự, thủ tục giải quyết KNTC Các văn bản pháp luật được ban hànhqua các thời kỳ mặc dù có một số quy định chưa thực sự hợp lý, nhưng nhìnchung đã thể hiện rõ sự phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn, thể hiện sự thayđổi về cơ chế chính sách ngày càng minh bạch, có lợi hơn cho người dân Cácvăn bản pháp luật được ban hành sau khắc phục được những mâu thuẫn, bất cậpchồng chéo của các văn bản đã ban hành trước đó
Các văn bản về giải quyết khiếu nại, tố cáo do Nhà nước ban hành tronggiai đoạn từ 01/01/2009 đến 31/12/2013 được thể hiện tại Bảng 1.1 Qua đó cóthể thấy hệ thống pháp luật quy định về giải quyết KNTC còn chưa đồng bộ,nhiều vấn đề mâu thuẫn, chưa thống nhất giữa các văn bản trong hệ thống phápluật nước ta về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây (Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đượcsửa đổi và bổ sung năm 2004, 2005, hiện nay đã hết hiệu lực thi hành) có các quyđịnh không thống nhất với Luật Đất đai năm 2003 như: quy định về trình tự, thủtục giải quyết khiếu nại về đất đai; quy định về việc khởi kiện vụ việc khiếu nạiđến Tòa án trong Luật Đất đai năm 2003 làm hạn chế quyền khởi kiện của ngườikhiếu nại hơn so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; sự khác nhau giữa các quyđịnh về thời hạn, thời hiệu Đây là những mâu thuẫn giữa Luật Khiếu nại, tố cáo
và Luật Đất đai năm 2003 gây khó khăn trong việc áp dụng để giải quyết khiếunại tố cáo
Luật Đất đai năm 2003 ra đời vào thời điểm Luật Khiếu nại, tố cáo năm
1998 chưa được sửa đổi, bổ sung Ngay từ khi mới ra đời, dù có một số quy định
về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai mâu thuẫn với quy định của LuậtKhiếu nại, tố cáo năm 1998 nhưng vẫn còn có thể “chấp nhận được” Tuy nhiên,sau khi sửa đổi Luật Khiếu nại, tố cáo nhiều quy định về trình tự, thủ tục giải
Trang 38quyết khiếu nại về đất đai trong Luật Đất đai đã trở thành lạc hậu, đòi hỏi phảiđược sửa đổi, bổ sung Nội dung đầu tiên cần phải sửa đổi là quy định liên quanđến “quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng” Chỉ thị số 35-CT/TW của BộChính trị ngày 26/5/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công táctiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng đưa ra giải pháp: “Tiếp tụchoàn thiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướngnâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan thanh tra; của Quốc hội, đại biểuQuốc hội, của hội đồng nhân dân, đại biểu hội đồng nhân dân trong việc thựchiện chức năng giám sát; của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại, tố cáo” Từ thực tế trên Luật Tố cáo 2018 được ban hành.
Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại (2011)và Luật Tố cáonăm 2018 ra đời đã quy định thống nhất hơn, tiếp đến Luật Đất đai số45/2013/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 29/11/2013 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014), trong đóquy định về quản lý, sử dụng đất và tại Chương XIII, Mục 2, Điều 204, Điều 205quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện và tố cáo về đất đai, phần nào đó đãkhắc phục những mâu thuẫn nêu trên
Bảng 2.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại,
STT hiệu, ngày tháng
I Một số Luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Luật số
1 09/1998/QH10 ngày02/12/1998
Luật số
2 26/2004/QH11 ngày15/6/2004
Luật số
3 58/2005/QH11 ngày29/11/2005
Trang 3925