Với diện tích vùng lõi 94.275 m2, vùng đệm vào khoảng 100.000 m2 có hơn 20 con suối lớn nhỏ khác nhau là nơi c trú của rất nhiều loại sinh vật nớc, đặc biệt là những nhóm côn trùng nớc đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 21.2.1 T×nh h×nh nghiªn cøu ®a d¹ng sinh häc c«n trïng níc trªn thÕ giíi 141.2.2 T×nh h×nh nghiªn cøu ®a d¹ng sinh häc c«n trïng níc ë ViÖt Nam 14
1.3 §iÒu kiÖn tù nhiªn, kinh tÕ- x· héi cña Vên Quèc gia Pï M¸t 15
Trang 3Chơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 33
3.3 Khoá định loại cho bộ cánh nửa (Hemiptera) ở Vờn Quốc gia Pù Mát 49
3.3.1 Khoá định loại cho các bộ của côn trùng nớc 493.3.2 Khoá định loại cho các họ của bộ cánh nửa 563.3.3 Khoá định loại cho các giống, loài phân bộ Heteroptera (Hemiptera) 63
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vờn Quốc Gia Pù Mát là một trong 5 khu vực bảo tồn động vật của Việt Nam ở đây có rất nhiều loại động thực vật c trú, độ đa dạng ở đây hết sức cao Với diện tích vùng lõi 94.275 m2, vùng đệm vào khoảng 100.000 m2 có hơn 20 con suối lớn nhỏ khác nhau là nơi c trú của rất nhiều loại sinh vật nớc, đặc biệt
là những nhóm côn trùng nớc đã và đang đợc nhiều nhà nghiên cứu nớc ngoài cũng nh trong nớc chú ý đến trong lĩnh vực nghiên cứu về chất lợng nớc cũng
nh sự đa dạng sinh học của nhóm này
Các vùng nớc ngọt ở nhiều nơi trên trái đất là đối tợng đang bị ô nhiễm bởi số lợng khổng lồ các chất gây ô nhiễm, một vài nơi trong số chúng đang
có nguy cơ tiềm ẩn khả năng phá hủy tới hệ sinh thái và sức khỏe các loài sinh
Trang 4vật chỉ bằng một số lợng rất nhỏ Nhiều hóa chất đợc sử dụng không đợc nhận dạng, trong lĩnh vực ảnh hởng sinh lí học các hợp chất hóa học đã tác động qua lại một cách cộng tác hoặc đối kháng vấn đề này cha đợc khám phá hiểu biết rõ ràng Thậm chí nếu có thể khảo sát chất lợng nớc một cách hiệu quả hơn bởi sự phân tích hóa chất, những phỏng đoán đáng tin cậy về ảnh hởng lên
hệ sinh thái và sức khỏe con ngời thì vẫn đầy khó khăn trong nhiều lĩnh vực Mối quan tâm hiện tại về sự tác động các hóa chất phá hủy tuyến nội tiết trong sức khỏe con ngời và cuộc sống hoang dã là một ví dụ cho điều này Tóm lại, khảo sát sinh học ở các vùng nớc ngọt đang trở nên ngày càng quan trọng nh một sự bổ sung, hoặc thậm chí là một sự thay thế cho sự phân tích hóa chất
Các phơng pháp của sự khảo sát sinh học có thể đợc phân chia gồm sự ởng ứng từng loài đơn lẻ và các ảnh hởng nhiều loại (cộng đồng) Nhóm thứ nhất bao gồm việc sử dụng các loại chỉ thị, đầu thụ cảm sinh học và các sự tích lũy sinh học, trong khi đó nhóm thứ hai bao gồm chỉ số đời sống, chỉ số đa dạng, chỉ số đồng dạng
h-Quá trình nghiên cứu côn trùng không chỉ để khảo sát chất lợng nớc mà còn cung cấp về số lợng các loài côn trùng nớc của Nghệ An nói riêng và của Việt Nam nói chung Cung cấp các dữ liệu và nền móng khởi đầu cho các nhà nghiên cứu về côn trùng nớc sau này
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc nghiên cứu côn trùng nớc, ở Việt Nam
đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm này nh công trình của Nguyễn Đình Yên, khảo sát côn trùng nớc ở Tam Đảo và Đà Lạt, 2004 Công trình nghiên cứu về nhóm Hemiptera loại bán nớc của nguyễn Quang Thắng Nghiên cứu về
bộ Phù Du (Ephemeroptera) tại Vờn Quốc Gia Bạch Mã của Nguyễn Văn Vịnh, 2008 Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu mà điển hình nh công trình nghiên của John C Morse, Yang Lianfang và Tian Lixin, 2000; ở Mỹ là Wetzel, 1983; Williams và Feltmate, 1992; Mackie, 1998; J Reese Voshell, 2003
Trang 5Hầu nh các công trình nghiên cứu, khảo sát về côn trùng nớc chỉ tập trung nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam là chính, nhng những công trình này vẫn còn đang rất hạn chế Đối với khu vực Bắc Miền Trung rất ít công trình nghiên cứu về côn trùng đặc biệt là côn trùng nớc ở Vờn Quốc Gia Pù Mát Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Đa dạng sinh học côn trùng nớc ở V-
ờn Quốc Gia Pù Mát - Con Cuông - Nghệ An ”
2 Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát độ đa dạng về côn trùng nớc của Vờn Quốc Gia Pù Mát
- Xác định mức độ đa dạng và số lợng họ côn trùng trong các bộ
- Biến động số lợng cá thể của các loài qua từng tháng
- Sự phân bố của các loài trong bộ Hemiptera theo sinh cảnh
- Sự biến đổi thành phần loài trên các tuyến khác nhau của dòng suối
- Mô tả và tổng hợp khoá định loại cho các loài của bộ Hemiptera
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: Côn trùng nớc ở VQG Pù Mát.
- Phạm vi nghiên cứu: VQG Pù Mát.
4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Là nền móng khởi đầu cho các nghiên cứu côn trùng nớc hữu ích trong việc khảo sát chất lợng nớc sau này
- Bớc đầu đã đáng giá đợc mức độ đa dạng côn trùng nớc bậc họ ở Vờn Quốc gia Pù Mát, thành phần loài cũng nh sự phân bố các loài trong bộ cánh nửa, sự biến động số lợng cá thể theo tháng trên các điểm nghiên cứu
Trang 6Chơng 1.
tổng quan tài liệu 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1.Khái niệm về đa dạng sinh học
Việc nghiên cứu ĐDSH và bảo vệ ĐDSH là vấn đề quan trọng đợc nhiều nhà khoa học quan tâm, nhng cụm từ "Đa dạng sinh học" còn rất nhiều định nghĩa khác nhau
Theo Odum (1975) tỷ lệ giữa số lợng loài và "các chỉ số phong phú” (số
l-ợng, sinh khối, năng suất ) gọi là chỉ số đa dạng về loài Sự đa dạng về loài
th-ờng không lớn trong "các hệ sinh thái bị giới hạn bởi các yếu tố vật lý", nghĩa là trong các hệ sinh thái bị phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố giới hạn vật lý - hoá
Trang 7học, và rất lớn trong các hệ sinh thái, bị khống chế bởi các yếu tố sinh học Sự đa dạng có quan hệ trực tiếp với tính ổn định, song không biết đợc là đến mức độ nào thì quan hệ đó là nguyên nhân - kết quả [8, 26]
Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF, 1989) định nghĩa "đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong đó các loài và là hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trờng" Do vậy ĐDSH đợc xác định theo 3 mức độ ĐDSH ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực vật, động vật và các loài nấm ở mức độ phân tử ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng nh sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể
ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng nh các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tơng tác giữa chúng với nhau [13]
ĐDSH là một khái niệm chỉ tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật
và những hệ sinh thái mà sinh vật là một bộ phận cấu thành Đó là một thuật ngữ bao trùm đối với mức độ biến đổi cả thiên nhiên, gồm cả số lợng và tần suất xuất hiện của các hệ sinh thái, các loài hay gen trong một tập hợp đã biết
Tuỳ theo các điều kiện cụ thể về khu vực nghiên cứu, số lợng và chất ợng mẫu, có thể sử dụng các chỉ số ĐDSH sau: chỉ số đa dạng Fisher, chỉ số phong phú Margalef, chỉ số Shannon - Weiner, chỉ số Jaccar - Sorenxen Trong các chỉ số trên thì chỉ số Shannon - Weiner và Margalef đợc sử dụng rộng rãi hơn cả trong quá trình đánh giá mức độ ĐDSH [8, 7, 21]
l-1.1.2 Côn Trùng nớc.
1.1.2.1 Khái quát về côn trùng nớc
Trong thế giới côn trùng chỉ 3 % các loài côn trùng là côn trùng nớc hoặc bán nớc, đó là những côn trùng có một hoặc nhiều hơn một giai đoạn sống trong hoặc gần môi trờng nớc Các đại diện này có thể tìm thấy trong 13 bộ côn
Trang 8trùng nớc Có nhiều loài là côn trùng nớc chỉ trong giai đoạn cha trởng thành,
mà sự nghiệp nghiên cứu về côn trùng nớc bao gồm cả các giai đoạn sống trên cạn, dới nớc hoặc bán nớc ở đây chúng tôi nghiên cứu chủ yếu giai đoạn dới n-
ớc và bán nớc
Để tăng kích cỡ hoặc thay đổi hình dạng, một côn trùng sẽ lột xác bộ
x-ơng bên ngoài theo từng thời kỳ, quá trình này đợc gọi là sự rụng lông (molting) Một phần của lớp biểu bì (cutin) cũ đợc tiêu hoá và hấp thụ, trong
khi lớp biểu bì mới đợc hình thành bên dới Phần ngoài cùng của lớp biểu bì cũ long ra, bắt đầu từ trên đỉnh đầu và đến phần ngực Quá trình nhanh chóng lột xác hay rụng lông này đợc gọi tên là sự lột da (ecdysis), lớp da bị loại bỏ này
gọi là vỏ lột (exuviae).
Hành động lột da này cung cấp một phơng tiện có ích cho việc phân chia các giai đoạn lịch sử đời sống của côn trùng Hình dạng côn trùng giữa những lần lột da đợc gọi là dát hình sao (instar), thời gian giữa những lần lột da đợc
gọi là giai đoạn stadium Sau khi trứng nở côn trùng là dạng instar đầu tiên của giai đoạn đầu tiên; sau lần lột da đầu tiên, dạng instar thứ 2 là thuộc giai đoạn thứ 2, v.v… Hầu hết các côn trùng có 4 đến 6 instar, nhng một số mayfly, drsgonfly và stonefly có thể có 13, 15 hoặc nhiều hơn những lần instar Các côn trùng trởng thành hay là các thành trùng (imago) là các instar thành trùng, đợc
phân biệt bởi các cơ quan tái sản xuất chức năng bên ngoài và thờng tạo cánh
Collembola một bộ côn trùng nhỏ cổ xa là bộ không bao giờ phát triển cánh có ở một số loài bán nớc Hình dạng thay đổi rất ít sau khi nở trừ việc là trở nên lớn hơn khi chúng qua thời instar cha trởng thành Sau khi bộ phận có khả năng sinh sản trở thành chức năng, các con trởng thành có thể tiếp tục lột xác Các loài có quá trình lịch sử đời sống với sự không thay đổi hình dạng này
đợc gọi tên là sự biến thái không thay đổi (ametabolous metamorphosis).
Các côn trùng bán biến thái (Hemimetabolous), hoặc những côn trùng
trải qua sự biến thái đơn giản hoặc cha hoàn thành, gồm tất cả các loài thuộc bộ
Trang 9Odonata, Ephemeroptera và Plecoptera ấu trùng dới nớc của những bộ này đợc một số nhà nghiên cứu gọi tên là nữ thuỷ thần (naiads), có những cái yếm để hô
hấp hoặc nếu không thì có những điều chỉnh phù hợp cho cuộc sống dới nớc, trong khi đó những con trởng thành ở trên cạn (một loài thuộc Plecopteran có con trởng thành ở dới nớc) ấu trùng của loài bán biến thái tơng tự loài trởng thành ở hình dạng chung ít hơn Paurometabolous và luôn có thói quen ăn uống khác, c trú trong môi trờng sống khác hơn con trởng thành (Hình B) Sự thay
đổi hình dạng từ ấu trùng đến con trởng thành là lớn hơn ở các exopterygote
Ephemeroptera khác biệt với các loài côn trùng có cánh ở chỗ có 2 instar
có cánh Instar có cánh thứ nhất gọi là dới thành trùng (subimago), nổi trên mặt
nớc Thờng trong vòng 24 tiếng đồng hồ, côn trùng lột xác lần cuối để trở thành thành trùng Sự sinh sản bị hạn chế cho đến instar cuối hoặc instar thành trùng
Nhóm chính thứ hai của loài côn trùng có cánh, Endopterygote chứa số ợng lớn nhất các loài dới nớc hoặc bán nớc Sau khi nở, những instar đầu tiên hoàn toàn khác con trởng thành Không có một dấu hiệu bên ngoài nào của cánh cái mà chỉ phát triển bên trong nh những đệm mô Các chân và râu có thể nhỏ lại hoặc biến mất hoàn toàn, mắt là những mắt đơn đơn giản, ngợc lại với những mắt kép ở những con trởng thành Con côn trùng có dạng giun và đợc gọi
l-là ấu trùng (larva) Khi lớn hoàn chỉnh ấu trùng chuyển thành dạng không cần
ăn, thờng là instar ít hoạt động là con nhộng (pupa) Các cánh, chân, râu và các
mắt kép của con trởng thành đợc tạo thành trong suốt thời kỳ con nhộng, nhng cha phân chức năng vì sự phát triển thêm là cần thiết trớc khi con nhộng chuyển thành con trởng thành có cánh Giai đoạn thuộc vòng đời này đợc gọi là biến thái hoàn toàn (Holometabolous metamorphosis)
Trang 10Hình1.1: Các giai đoạn biến thái ở Trichoptera và Plecoptera
Tám bộ Endopterygote có ít nhất một vài loài dới nớc hoặc bán nớc, đầu tiên trong suốt giai đoạn cha trởng thành; Megaloptera, Neurptera (chỉ họ Sisyridae hoặc Spongillafly là dới nớc), Mecoptera (chỉ họ Nannochorisdae ở Australia là dới nớc), Trichoptera, Lepidoptera( một số họ sâu bớm là dới nớc), Coleoptera (nhiều họ dới nớc) và Diptera (nhiều họ dới nớc) ấu trùng dới nớc dạng instar cuối cùng của Megaloptera, Neurptera và hầu hết Coleoptera phát triển thành nhộng trên vùng cạn trong khi đó những con thuộc bộ khác cẫn ở trong nớc Các con nhộng thuộc Trichoptera, Megaloptera, Neurptera (Sisyridae) và Dipteran, Culicidae (muỗi) là các loài khá linh hoạt Các con tr-ởng thành của tất cả các bộ trở lại gần hoặc thực sự quay lại môi trờng nớc để
đẻ trứng Tuy nhiên Coleoptera gồm chỉ các loài Endopterygote - những sâu bọ
có cánh trong này thì lại sống cuộc sống trởng thành ở dới nớc theo từng khoảng thời gian đều đặn [23]
Trang 111.1.2.2 Sơ lợc bộ Hemiptera
Bộ Hemiptera đợc chia thành 3 phân bộ Nhóm nớc và bán nớc, tất cả xuất hiện trong phân bộ Heteroptera Các loài của phân bộ Stermorrhyncha và Auchenorrhyncha luôn trên mặt đất mặc dù một số ít Cercopoidea và Cicadelloidea (Auchenorrhyncha) có thể xem ít nhiều là bán nớc, có ít nhiều mối quan hệ với vùng phần bờ lúc triều lên xuống và các mép bờ vùng nớc ngọt Hầu hết các Heteroptera có tập quán ở trên đất, chỉ có một số loài nhỏ hơn của phân họ này có liên quan gần gũi với môi trờng nớc
Sự phân loại cao hơn của Heteroptera có thay đổi trong những năm gần
đây Theo quan niệm truyền thống nó đợc chia thành Geocorssae và Hydrocorisae, trong đó Geocorssae là ở trên cạn và Hydrocorisae chúng ở trên cạn nhiều hơn ở dới nớc Nhiều nhóm bán nớc đôi lúc đợc xem là tách ra từ
“Hydrocorisae sensu lato” để tạo thành một nhóm độc lập gọi là
“Amphibicorisae” Những hệ thống này luôn xuất hiện trong các quyển sách về các động vật sâu bọ trớc những năm 1970 Một hệ thống mới bao gồm 7 tận cùng của bộ đợc đề xuất bởi P.Stys và Kerhner vào năm 975 và ngày nay đợc chấp nhận rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu sâu bọ có cánh, trong đó Nepomorpha, Gerromorpha và Leptopodomorpha bao gồm các con đợc gọi là
“các con rệp nớc và bán nớc”
Tận cùng bộ Nepomorpha (ngoại trừ liên hộ Ochteroidae gồm: Họ Gelastocoridae và Ochteridae) thờng sống dới nớc, sống hầu hết quãng đời của chúng trong nớc Hầu hết chúng là những loài bơi rất giỏi, cơ thể thon dài Họ Notonectidae và Pleidae là họ bơi lộn ngợc, có phần mặt lng lồi nh đáy con thuyền Họ Nepidae chân mãnh không phù hợp với việc bơi lội, nhng thờng bò trên bùn đáy hoặc bám vào các cây Nhiều Họ Nepomorphan sống ở vùng nớc
tù (Hồ, ao, đầm lầy) nhng một số giống thuộc Naucorid và hầu hết Aphelocheiridae thích sống ở các dòng suối và các dòng chảy, thờng trốn dới các tảng đá và các đá cuội dới đáy Một số loài Corixidae xuất hiện ở các hồ n-
Trang 12ớc mặn Ochteroidea (Gelastocoridae và Ochteroidae) là những c dân vùng duyên hải, Ochteroidae xuất hiện ở các vùng biển bùn và đầm lầy trong khi Gelastocoridae luôn a thích vùng hồ cát, đôi khi trốn trong các khe hở, dới đá, hoặc một nửa bị cát phủ.
Tận cùng bộ Gerromorpha bán nớc là những loại ở trên bề mặt nớc, lớt hoặc trên bề mặt do cân nặng cơ thể đợc nâng đỡ bởi sức căng bề mặt Mặt bụng của cơ thể và khối xơng cổ chân bị bao phủ bởi một lớp mỏng lông tơ rậm,
do đó đã làm cho những con rệp nớc này không bị ớt, trong khi đó các móng có thể bị ớt và xuyên vào nớc, kéo hoặc đẩy cơ thể đi theo Những Gerromorphan
c trú cả trong các sông hồ và các dòng chảy Hầu hết các Mesoveliid, Hydrometrid và Hebrid a thích các đầm lầy, sông hồ nhỏ và ruộng lúa có nhiều cây Một số Gerrid và veliid xuất hiện ở những dòng chảy có tốc độ nhanh, một
số khác có thể tìm thấy ở các vùng đầm lầy, ở những hòn đá ẩm ớt, rêu, hay các vách đá dựng đứng ở những vùng lân cận các vùng nớc, những con có sải chân dài ở nớc thuộc Halobatinae và một số Veliidae trôi dạt trên bề mặt các biển
mở, chúng là những dạng ở ngoài biển thực sự, tạo thành một bộ phận chính của quần côn trùng biển rải rác
Tận cùng bộ Leptopodomorpha là nhóm nhỏ sống trong các môi trờng biển Họ Salđiae nhanh nhẹn đợc nhìn thấy dễ dàng trong bùn ở các bờ của hồ
và các đầm lầy, chúng rất cảnh giác, luôn sẵn sàng nhảy và bay thấp một quảng ngắn khi bị quấy rầy Một số xuất hiện ở vùng bờ biển và những loại khác a thích môi trờng thuộc vùng núi cao khắc nghiệt, thậm chí gần vùng sông băng Leptopodidae đợc tìm thấy ở các tảng đá hoặc các bãi đá cuội dọc các bờ sông
và rất hiếm khi đợc nhìn thấy Gần nh tất cả Heteroptera nớc và bán nớc là loại
ăn thịt động vật Nepomorpha nớc ăn thịt các côn trùng khác nh ốc sên, nòng nọc và những lish nhỏ Chúng đâm xuyên qua con mồi bằng những cái ống và hút dịch trong cơ thể con mồi Trờng hợp ngoại lệ duy nhất là Conxidae ăn tạp,
là côn trùng chủ yếu ăn tảo và các mảnh vụn, mặc dù Conxidae vẫn có một số
Trang 13loài ăn thịt động vật nh ấu trùng Chironomid Các Gerromorphan luôn ăn các côn trùng sống hoặc chết, các động vật nhỏ khác bị rơi trên bề mặt nớc Sadidae Leptopomorphan dò ra, xuyên thủng ấu trùng côn trùng và những động vật trong đất khác bị chôn trong bề mặt lớp bùn hoặc cát ớt.
Trong Nepomorpha, vấn đề hô hấp đợc giải quyết nhờ vào việc mang một kho khí giữa cánh và bụng Kho khí này đợc chiếm dụng và bổ sung bằng cách chạm điểm bụng với bề mặt nớc (Notonectidae, Pleidae và Naucoridae) Thông qua một vòi chích ngắn ở đuôi (Belostomatidae) hoặc một cái vòi chích dài (Nepidae) Aphelocheiridae đợc biết đến với khả năng ở dới n-
ớc một cách vô hạn mà không cần bổ sung kho chứa khí, nhờ vào một hệ thống yếm ngực rất phát triển [23]
1.1.3 Loại hình thuỷ vực
- Sự hình thành các dòng suối
Một tầng nớc ngầm liên tục đợc bổ sung nớc đến khi tràn trên mặt đất, kết quả là hình thành các con suối Các con suối có thể là rất nhỏ, chỉ có nớc chảy khi có một trận ma đáng kể, đến các con suối lớn chảy với hàng trăm triệu gallon nớc mỗi ngày
Các con suối có thể hình thành trong bất cứ loại đá nào, nhng phần lớn chúng hình thành trong các loại đá vôi hoặc loại đá đolomit, dễ dàng rạn nứt và hoà tan trong ma axit Khi đá bị phá huỷ và hoà tan, các khoảng trống đợc hình thành và cho phép nớc chảy qua Nếu dòng chảy theo phơng ngang, nó có thể chảy tới mặt đất, hình thành các con suối
Nớc từ các dòng suối thờng sạch Tuy nhiên, nớc ở vài con suối có thể có màu trà, ở vùng Tây Nam Colorado (gần Alamowater), nớc suối có màu đỏ của sắt do nớc ngầm tiếp súc với khoáng sắt trong lòng đất Tại bang Florida (nơi có
Trang 14trụ sở của Flowmatic), nhiều nguồn nớc mặt chứa các axít tamin tự nhiên từ các chất hữu cơ ở trong đất đá làm cho nớc suối có màu Lu lợng của nớc màu trong các suối cho thấy nớc đang chảy tự do trong tầng nớc ngầm mà không đợc lọc qua các vùng đá vôi.
Các suối nớc nóng vẫn chỉ là suối thông thờng nhng nớc tại đó ấm, một vài nơi còn nóng nh các con suối bùn ở Hoà Bình, Nha Trang, Bà Rịa Nhiều suối nớc nóng suất hiện ở những vùng gần núi lửa hoạt động, đợc bổ sung nớc nóng do tiếp súc với đá nóng sâu dới lòng đất Càng dới sâu các tầng đất đá càng nóng hơn, và nếu nớc dới sâu bề mặt đất chảy tới một khe nứt rộng thì có thể tạo ra một dòng chảy lên đến lớp đất trên mặt, và tạo ra một suối nớc nóng
- Thuỷ vực sông và suối
Sông là thuỷ vực nớc chảy tiêu biểu với đặc điểm: khối nớc luôn chảy
theo một chiều nhất định, từ thợng lu tới hạ lu, do sự chênh lệch về độ cao so với mặt biển của dòng sông Dòng chảy của một con sông khi nớc đầy, giữa hai
bờ sông gọi là dòng chảy nền Khi nớc cạn, dòng chảy của sông thu vào dòng chảy gốc, cách xa hai bờ sông Bãi nớc cạn hở ra trong mùa nớc cạn nằm giữa
bờ sông và dòng chảy gốc gọi là bãi sông, có thể phân thành nhiều tầng
Theo dòng chảy, từ đầu nguồn tới cửa sông, dòng sông có thể chia thành
ba phần: phần nguồn (thợng lu), giữa nguồn (trung lu), cuối nguồn (hạ lu) sai khác nhau về hình thái, tốc độ nớc chảy, nền đáy và nhiều đặc điểm khác Sông
ở thợng lu thờng hẹp, nông, tốc độ nớc chảy mạnh, nền đáy là nền đáy gốc bao phủ bởi các phần tử vật chất cở lớn: nền ở vùng núi nền đáy sang thờng chủ yếu lá đá cở lớn Sông oẻ trung lu có dòng sông rộng dần ra, có thêm nhiều phụ lu,, tốc độ nớc giảm đi Nền đáy sông ở phần này có rính chất hỗn hợp: nền đáy gốc chỉ có ở một số nơi, còn chủ yếu là nền đáy bồi đắp, cấu tạo bởi các phần tử vật chất cỡ nhỏ (đá nhỏ, cát, bùn) do nớc sông tải đến, lắng đọng xuống Vùng hạ l-
u có lòng sông mở rộng cho tới cửa sông, tốc độ nớc chảy giảm nhẹ Nền đáy ở phần này hoàn toàn là nền đáy bồi đắp và chỉ gồm các phần tử vật chất cở nhỏ
Trang 15(cát, bùn) Vùng cửa sông là vùng tiếp xúc với biển, chịu ảnh hởng rõ rệt của thuỷ triều, nớc sông pha lẫn với nớc biển tạo thành một vùng có đặc tình thuỷ lý hoá học và thuỷ sinh học rất phức tạp và đặc sắc Tốc độ nớc chảy của sông cũng thay đổi theo chiều ngang: mạnh ở giữa dòng, giảm nhẹ đi ở hai ven bờ
Do vận động của nớc sông, bờ sông và nền của đáy sông không ngừng bị bào mòn Các vậy chất bị bào mòn ở nơI này sẽ đợc tải đến bồi đắp ở nơi khác do đó làm lòng sông luôn luôn biến đổi theo chiều ngang cũng nh theo chiều thẳng
đứng, có khi làm dòng chảy đổi hớng tạo thành hình thái khúc khuỷ của dòng sông ở trung lu
Sông ở nớc ta rất nhiều tạo thành một mạng lới chằng chịt từ Bắc tới Nam gồm hai hệ thống sông lớn: sông Hồng ở miền Bắc và sông Me kông ở miền Nam ở vùng cựcBắc nớc ta (Cao Bằng, Lạng Sơn) còn có những nhánh đầu nguồn của hệ thống sông Tây Giang của vùng Hoa Nam Tuy số lợng nhiều nh-
ng sông ở nớc ta, trừ sông Hồng và sông Mê Kông, đều thuộc loại nhỏ và có
đặc tính sông ven biển (Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập, 1963) ở miền Bắc Việt Nam sông ngòi có thể chia thành hai bộ phận, sai khác nhau khá rõ rệt: song vùng núi và sông vùng đồng bằng Các sông vùng núi thờng là các phần thợng lu và trung lu, có đặc điểm hẹp và sâu, tốc độ nớc chảy mạnh và thờng có thác, các sông vùng đồng bằng, thờng là phần hạ lu có dòng chảy khúc khuỷ, n-
ớc chảy chậm
Ngoài các sông tự nhiên, ở vùng đồng bằng nớc ta còn có một hệ thống kênh mơng dày đặc đang đợc xây dựng ngày càng nhiều để phục vụ nông nghiệp Hệ thông kênh đào Bắc Hng HảI có kênh chính dài tới 207km rộng tới
30 - 50m, độ sâu lớn nhất tới 8,5m
Sông ngòi trên toàn lục địa có thể chia thành hai khu vức lớn, đợc phân
đôi bằng đờng phân thuỷ thế giới Các sông ngòi ở khu vực thứ nhất đều chảy ra
Đại tây dơng còn khu vực thứ hai chảy ra ấn độ dơng và Thái bình dơng Các sông lớn trên thế giới là: Missisipi (7330km) Amazôn (6480km) ở Châu Mỹ,
Trang 16sông Nin (6500km) ở Châu Phi, sông Vonga (3690km) ở Châu Âu, sông Gangiơ (2700km), Hoàng Hà (4815km), Trờng Giang (5500km) ở Châu á, ở Việt Nam, sông Hồng (1149km) và sông Mê Kông (4200km) thuộc vào sông có
độ dài trung bình và lớn
Suối là loại hình thuỷ vực nớc chảy phổ biến ở vùng núi Suối đặc trng ở
lòng hẹp và nông của dòng chảy, mực nớc thấp và có nền đáy đá Theo chiều dài, một con suối có thể chia thành ba phần: đầu nguồn là phần ở trên sờn núi dốc, nớc đổ xuống thành thác nớc, đáy là đá tảng lớn: giữa nguồn là phần suối chảy qua thung lũng làng, bản, tơng đối bằng phẳng, lòng suối rộng ra có thể tới
15 - 20 m, nền đáy đá nhỏ hơn hoặc có khi có đáy bùn: cuối nguồn là nơi suối
đổ ra sông, lòng suối mở rộng có khi tạo thành các vịnh nhỏ Dọc theo dòng suối chính thờng có các nhánh phụ đổ vào Nớc suối chảy với tốc độ lớn, nhng giảm dần đi từ đầu nguồn tới cuối nguồn Phần khởi nguyên của các con sông ở vùng núi (phần đầu của đầu nguồn sông) đều có dạng của dòng suối Do dòng nớc chảy xiết, bờ thấp và không vững chắc nên dòng chảy của suối thờng luôn luôn thay đổi nhất là ở phần đầu nguồn, do tác động của ma lũ Mực nớc ở suối biến đổi rất đột ngột, mùa ma lũ, nớc dâng cao rất nhanh, chảy mạnh, có khi cuốn trôi cả nền đáy Sau một vài ngày mức nớc lai hạ thấp, nớc trong lại và chảy với tốc độ bình thờng
1.2 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nớc
1.2.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nớc trên thế giới
Trong suốt cuối thế kỉ XIX, sự nghiệp nghiên cứu về các dòng nớc ngọt bắt đầu phát triển nh một lĩnh vực nghiêm túc của nghiên cứu khoa học (Macan
và Worthington, 1974) và việc khoả sát sinh học về các sinh vật nớc ngọt cũng
nh các chỉ tiêu của sự ô nhiễm, cũng đợc quan tâm ở thời gian này (Lindegaard, 1995) Với sự quan tâm ngày một lớn về việc ảnh hởng của ô nhiễm tới quần xã thuỷ sinh và mối quan tâm tới môi trờng lớn hơn, việc áp dụng khoả sát sinh vật ngày càng đợc mở rộng [24]
Trang 17Có nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học và côn trùng nớc nh của (Wetzel, 1983; Williams và Feltmate, 1992; Mackiae,1998) Một số công trình nghiên cứu về bộ Hemiptera của Singapore và Malaisia đợc công bố trên tạp chí thành phố singapore (Nico Nieser, 2002) [25], sinh học côn trùng nớc và đời sống dới nớc (J Reese Voshell, 2003) Côn trùng nớc Trung Quốc hữu ích trong việc khảo sát chất lợng nớc (John C Morse, Yang Lianfang, 1994) [23]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học côn trùng nớc ở Việt Nam
Năm 2004, một số nhà khoa học thuộc Đai Học Quốc Gia Hà Nội (Nguyễn Xuân Quỳnh và Mai Đình Yên) cùng với các chuyên gia ngời Mĩ (Cllive Pilder, Steve Tilling) đã khảo sát các sinh vật cỡ lớn không xơng sống ở các vùng nớc ngọt và đa ra khoá định loại cho các bộ côn trùng nớc ở Đà Lạt và Tam Đảo
Nguyễn Văn Vịnh, 2004 Dẫn liệu về phù du ở suối Thác Bạc, Vờn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc 2005 Kết quả điều tra thành phần loài Phù Du tại Sa
Pa, Lào Cai
Năm 2006, côn trùng ở Suối Cát tỉnh Lâm Đồng với 33 họ thuộc 9 bộ (Phan Thị Bảo Chi, Hoàng Đức Huy)
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Vờn Quốc gia Pù Mát
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Theo luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng Vờn Quốc gia Pù Mát, một số
đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu nh sau:
Trang 181.3.1.2 Địa giới hành chính
Toàn bộ diện tích VQG nằm trong địa giới hành chính của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tơng Dơng tỉnh Nghệ An Diện tích vùng lõi là 94.275 ha (sau hiệu chỉnh năm 1999) vùng đệm khoảng 100.000 ha nằm trên diện tích 16 xã
- Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Cẩm Sơn, Tờng Sơn, Đỉnh Sơn
- Huyện Con Cuông gồm 7 xã : Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Châu Khê, Chi Khê, Lạng Khê
- Huyện Tơng Dơng gồm 4 xã : Tam Quang, Tam Đình, Tam Hợp, Tam Thái
1.3.1.3 Địa hình địa mạo
Sông suối chính trong khu vực khe Thơi, khe Choăng (gồm cả khe Bu) và khe Khặng Các đỉnh dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800- 1500m,
địa hình hiểm trở Khu vực cao nhất của VQG là phía Tây Nam, là nơi có đặc
điểm địa hình tơng đối bằng và thấp Đây là những vùng hiện còn dân sinh sống
và có các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Nằm trong khu vực này còn có khoảng 7057 ha núi đá vôi Hầu hết diện tích núi đá nằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có khoảng 150 ha nằm trong vùng lõi [4]
Trang 191.3.1.4 Khí hậu thuỷ văn
VQG Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Do địa hình của dãy Trờng Sơn nên ảnh hởng mạnh đến hoàn lu khí quyển, đã tạo ra sự khác biệt lớn trong phân hoá khu vực Tài liệu khí hậu quan trắc nhiều năm của trạm khí tợng: Tơng Dơng , Con Cuông, Đô Lơng và Vinh đợc trình bày trong bảng 2.1[17]
Bảng 1.1: Số liệu khí hậu của 4 trạm trong vùng
2 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối 42,7Tháng 50 C 42,Tháng40 C 42,1Tháng 50 42,Tháng 60 C
3 Nhiệt dộ không khí thấp nhất tuyệt đối 1,7Tháng 10C 2,0Tháng 10C 5Tháng 10C 4Tháng 10C
Trang 20* Địa chất: VQG Pù Mát nằm trên sờn của dải Trờng Sơn Bắc Quá
trình kiến tạo địa chất đợc hình thành qua các kỷ palêzôi, Đềvôn, Pecmi,Triat, Hexini… đến Miroxen cho đến ngày nay Trong suốt quá trình phát triển lâu dài của dãy Trờng Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxini, địa hình luôn
Cácbon-bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu
+ Núi cao trung bình: uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao
và hẹp nằm ngay biên giới Việt - Lào (Có vài đỉnh cao trên 2000 m nh Pulaileng: 2711 m, Rào cỏ: 2286 m), địa hình hiểm trở, qua lại rất khó khăn
+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao chiếm phần lớn diện tích của miền
và có độ cao từ 1000m trở xuống Tuy cấu trúc tơng đối phức tạp, đợc cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực tuy chiếm một diện tích nhỏ nhng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ hơn 300 m bao gồm thung lũng các sông suối: Khe Thơi, Khe Choang , Khe Khặng (Sông Giăng) và bờ phải sông Cả Cấu tạo bằng các trầm tích bở rời dễ bị xâm thực Trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông khá phát triển
Trang 21+ Các khối đá vôi nhỏ, phân tán dạng khối uốn nếp có quá trình Karst trẻ phân bố hữu ngạn sông Cả cao chừng 200 - 300 m, cấu tạo phân phiến dầy màu xám sáng đồng nhất và tinh khiết.
* Thổ nhỡng
Qua công tác khảo sát ngoài thực địa và tham khảo bản đồ thổ nhỡng, trong khu vực có các loại đất chính nh sau: [17]
Bảng 1.2 Các loại đất trong vùng
Đất có màu vàng đỏ hoặc vàng xám, tầng mùn dày thành phần cơ giới (tpcg) nhẹ đến trung bình Có 2 loại phụ :
Phân bố từ độ Cao 800,900m
đến 1800m dọcbiên giới Việt Lào
(2,5%)
Feralit đỏ vàng phát triển trên
đá trầm tích , và biến chất có kết cấu hạt mịn,tpcg trung bình
Phân bố nhiều
ở phía Nam và
Đông NamVQG
(15,2%)
Feralit vàng nhạt hay vàng xám, phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô, tpcg nhẹ đến trung bình
Đất có màu đỏ vàng hay vàng
đỏ, tầng tích tụ dày nền vật chất tạo đất chia ra các loại phụ
Phân bố phía Bắc và Đông Bắc VQG
(29,1%)
Đất Feralit đỏ vàng, tpcg nặng đến trung bình
Phân bố chủyếu phần trung tâm và phía
đông VQG
Trang 222.2 Fq 87376 ha
(44,9%)
Đất Feralit vàng nhạt, tpcg nhẹ đền trung bình, tầng đất trung bình có nhiều đá lẫn trong tầng đất
Phân bố chủ yếu ở vùng trung tâm và phía Tây Bắc VQG
3 Đất dốc tụ
và đất phù sa
D, P
9140 ha (4,7%)
Đất có màu nâu xám, tpcgtrung bình, tơi xốp giàu dinh dỡng
Phân bố ven sông suối trong VQG
4 Núi đá vôi
(K2)
7057 ha (3,6%)
Núi đá vôi dốc đứng có cây gỗ nhỏ che phủ thấp dới 700m
Phân bố thành dải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả
* Độ che phủ rất cao 98% (So với năm 1993 là 94%)
* Rừng nguyên sinh hoặc rừng bị tác động không đáng kể chiếm 76% diện tích tự nhiên
Bảng 1.3: Hiện trạng tài nguyên rừng VQG Pù Mát
Trang 23Trạng thái Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
ơng rẫy đợc gộp vào kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng thờng xanh ma ẩm nhiệt
đới sau khai thác phục hồi sau nơng rẫy Trên quan điểm đó, thảm thực vật VQG Pù Mát đợc chia thành các kiểu rừng chính và kiểu rừng phụ dới đây :
Bảng 1.4: Các kiểu thảm thực vật VQG Pù Mát
Ký
hiệu Kiểu thảm
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
1.1 Rừng kín thờng xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim ẩm á
2.1 Rừng kín thờng xanh ma ẩm nhiệt đới 43802 46,5
2.2 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thờng xanh nhiệt đới
sau khai thác và phục hồi sau nơng rẫy 19842 212.3 Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác thứ sinh nhân tác 1320 1.42.4 Đất canh tác nông nghiệp và nơng rẫy 350 0.4
Trang 24Rừng kín thờng xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới
Phân bố từ độ cao 900m ở phía Bắc, và trên 800m ở phía Nam VQG, loại rừng này chiếm 29,5% diện tích, và còn giữ đợc tính nguyên sinh cao Tuy nhiên ở những vùng có phân bố gỗ Pơ Mu mà có thể tiếp cận, loại gỗ quý hiếm này đã có hiện tợng bị khai thác cũng nh hoạt động khai thác cây gió lấy trầm Các loại thực vật hạt trần đã đợc phát hiện trong loại hình này là: Pơ Mu
(Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia konishii), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia walllichiana), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông lông gà (Podocarpus imbricatus) hầu hết những loại này
đã đợc đề nghị xếp vào danh sách cần đợc bảo tồn
Kiểu phụ rừng lùn
Rừng lùn ở VQG Pù Mát xuất hiện ở đai cao trên 1500m, trên các dông và chỏm núi dốc, có đá nổi và gió mạnh trong khi các nơi khác xuất hiện ở đai thấp hơn
nh Cúc Phơng 600m, Tam Đảo 1100 m, Ba Vì 1100 m, Phong Nha 800 m…
Diện tích rừng lùn chiếm 1,6% diện tích tự nhiên Thành phần thực vật rừng lùn có các loài: Đỗ Quyên (Rhododendron spp), Sồi Lào (Lithocarpus laotica), Hồi
(Illicium sp.), Re lá nhỏ (Cinnamomum spp.) và các loài phong lan
Kiểu rừng kín thờng xanh ma ẩm nhiệt đới
Kiểu rừng kín thờng xanh ma ẩm nhiệt đới nằm ở dới đai cao 800 m phía Nam và 900 m ở phía Bắc chiếm 47,3 % diện tích VQG Về đặc tính đa dạng sinh học, theo các kết quả điều tra gần dây cho thấy có hơn 1000 loài phân bố trong kiểu rừng này Thảm thực vật chủ yếu trong kiểu rừng này là các loài cây gỗ a sáng nh Vạng (Endospermum chinensis), Bời lời (Litsea sp), Săng lẻ (Lagestroemia tomentosa), Hu đay (Trema orientalis)… ở các loài ven suối
chủ yếu các loài nh Vả, Sung (Ficus), Phay vi (Duabanga grandiflora) Bên
cạnh đó các loài tre nứa điển hình ở đây nh nứa lóng dài (Melocalamus sp),
Trang 25Giang đặc (Melocalamus copactiforus) Nhiều khu vực giang nứa phát triển
nhanh chóng trở thành rừng thuần loài tre nứa dày đặc dới tán các loài cây gỗ không còn để tái sinh và phát triển Những biện pháp kỹ thuật lâm sinh là cần thiết để có thể tác động nhằm chuyển hoá loại rừng này thành rừng gỗ
Trảng cỏ cây bụi cây gỗ rải rác
Là diện tích trớc đây đã canh tác nơng rẫy trong những thời gian bỏ hoang cha đủ để quá trình diễn thế thành rừng Loại hình này chiếm 1,4% diện tích VQG, phân bố chủ yếu ở hai lu vực suối chính Khe Thơi, và Khe Khặng bao gồm
những trảng Cỏ Tranh (Imperata cylindrica), Cỏ Lào (Eupatorium odoratum), Lau (Erianthus arundinaceus), Sậy (Phragmites vallatoria), Sim, Mua thỉnh thoảng có các loài cây bụi, cây gỗ nhỏ nh Sau Sau (Liquidamba formosana), Thành Nghạnh (Cratoxylon pruniflium), Ba Soi (Macaranga balansae)…
Đất canh tác nông nghiệp và nơng rẫy
Loại này có diện tích không đáng kể, chỉ chiếm 0,4% diện tích VQG, tập trung ven Khe Khặng có diện tích 15 ha đất thổ c, 30 ha đất màu ven suối và ruộng nớc, 300 ha nơng rẫy thuộc 3 bản ngời Đan Lai ở lu vực Khe Khặng Diện tích nơng rẫy này chủ yếu trồng sắn và ngô cung cấp nhu cầu tại chỗ cho 894 ngời thuộc 163 hộ [18]
1.3.1.7 Hệ thực vật
Thành phần loài
Trang 26Qua tập hợp kết quả các đợt điều tra từ trớc đến nay cho thấy hệ thực vật
Pù Mát có số lợng loài tơng đối phong phú Theo thống kê bớc đầu ghi nhận
đ-ợc VQG Pù Mát có 1297 loài thuộc 607 chi và 160 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao đợc phân bố cụ thể nh sau:
Qua đó cho ta thấy khu hệ thực vật VQG Pù Mát khá phong phú về thành phần loài, ngành thực vật phong phú nhất là nghành Ngọc lan - Magnoliophyta (92,91%) bình quân mỗi chi có 2,14 loài và mỗi họ có 8,11 loài Sự phong phú này đợc quyết định bởi trớc hết thành phần thực vật Pù Mát có quan hệ với nhiều khu hệ thực vật lân cận Đó là luồng thực vật Hymalaya - Vân Nam - Quí Châu di c xuống với đại diện là các loài trong ngành thông Pinophyta và các loài lá rộng rụng lá, luồng thực vật Malasia- Indonesia đi lên với các đại diện thuộc họ Dầu Dipterocarpaceae Luồng thực vật India - Myanmar đi từ phía Tây
đi sang với các họ đại diện thuộc họ Tử vi Lythraceae Họ Bàng Combretaceae
Đặc biệt là khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam- Nam Trung Hoa chiếm một
tỷ trọng lớn nhất Thứ hai là VQG Pù Mát có một diện tích rừng tự nhiên ít bị tác động, còn mang nhiều tính nguyên sinh, thể hiện sự đa dạng sinh học cao Nếu đối chiếu với khu hệ thực vật của một số VQG khác nh VQG Cúc Phơng
Trang 27nơi có bề dày nghiên cú về thực vật (từ 1992), và VQG Bến En nơi rừng nguyên sinh hầu nh không còn mới thấy đợc tính đa dạng loài của VQG Pù Mát [5]
1.3.1.8 Hệ động vật
Thành phần loài
Qua kết quả khảo sát các năm 1993, 1994 và 1998, 1999 của các nhà khoa học trong và ngoài nớc đã thống kê đợc 939 loài động vật ở Pù Mát, bao gồm các nhóm: Thú, Chim, Bò Sát, Lỡng c, Cá, Bớm Ngày và Bớm đêm Con số đó chứng tỏ Pù Mát có tính đa dạng sinh vật cao nhất so với các khu rừng đặc dụng khác ở Việt Nam đặc biệt là loài thú có tới 132 loài, các nhóm khác nh Bớm ngày, Bớm đêm, Cá, Chim tơng đơng với khu bảo tồn Vũ Quang và Phong Nha, hai khu gần kề và cùng nằm trên dải Trờng Sơn Bắc [4]
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội.
Theo tài liệu niên giám thống kê của tỉnh Nghệ An năm 2004, một số
đặc điểm xã hội của khu vực nghiên cứu nh sau:
1.3.2.1 Dân tộc
Sinh sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG có 3 dân tộc chính là: Thái, Kinh, Khơ Mú, ngoài ra còn có một bộ phận dân c thuộc các dân tộc khác nh: Tày, H’Mông, Poọng, Ơ Đu
Bảng 1.6: Thành phần các dân tộc sinh sống trong khu vực
Trang 28Qua bảng trên thấy rằng: Dân tộc Thái có dân số đông nhất (chiếm
66,50%) và ít nhất là dân tộc Ơ Đu (chiếm 0,6%)
1.3.2.2 Dân số và lao động
Toàn bộ dân số trong 16 xã (huyện Con Cuông 7 xã, huyện Anh Sơn 5 xã
và huyện Tơng Dơng 4 xã) là 18.554 hộ với 98.387 nhân khẩu, , trung bình mỗi
hộ gia đình có từ 5 - 6 ngời Nh vậy số ngời sinh con thứ 3 thứ 4 vẫn còn rất phổ biến, điều này sẽ tạo ra một áp lực to lớn về vấn đề tăng dân số trong những năm sau này
1.3.2.3.Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu
Các hoạt động sản xuất chủ yếu hiện nay tập trung vào 16 xã vùng đệm
và 3 Lâm trờng Con Cuông, Tơng Dơng và Anh Sơn trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và một số hoạt động khác
- Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ đạo của 3 huyện, nhng với diện tích gieo trồng còn nhỏ hẹp, năng suất cây trồng thấp nên đời sống của ngời dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Vẫn còn 23% số hộ thiếu lơng thực trong những tháng giáp hạt
Trang 29Ngoài các cây trồng chính nêu trên, trong khu vực còn có một số loài cây trồng khác chiếm diện tích không đáng kể nh rau, đậu và một số loài cây công nghiệp nh vừng, lạc, mía…
- Sản xuất Lâm nghiệp
Các chơng trình lâm nghiệp đợc thực hiện nh: Chơng trình 327, 661 Hiện nay huyện Anh Sơn đã giao cho các hộ, các tập thể khoanh nuôi tu bổ, chăm sóc bảo vệ và trồng đợc 2217 ha rừng, huyện Tơng Dơng đợc 8306 ha, huyện Con Cuông đợc 30280 ha
Công tác trồng rừng cũng đợc chú trọng, cho đến thời điểm hiện nay diện tích rừng đã đợc trồng của huyện Anh Sơn là 2853 ha, Con Cuông là 3350 ha
và Tơng Dơng là 206 ha Ngoài diện tích rừng trồng tập trung ra, các huyện còn trồng đợc hàng triệu cây phân tán
Trong phạm vi vùng đệm VQG có 3 lâm trờng quốc doanh là lâm trờng Con Cuông, lâm trờng Anh Sơn và lâm trờng Tơng Dơng Các hoạt động chủ yếu của các lâm trờng này là bảo vệ, tu bổ làm giàu rừng và khai thác
- Y Tế - Giáo dục
* Y tế : Cơ sở vật chất y tế trong khu vực còn gặp rất nhiều khó khăn,
thiếu thốn, đa số các xã đều cha có trạm xá kiên cố hoàn chỉnh, cha có bác sỹ, chỉ có các y sỹ, y tá là ngời có tay nghề, khả năng và kỹ thuật cao nhất
Các loại bệnh phổ biến là bệnh đờng ruột, bệnh da liễu, bệnh sốt rét Đặc biệt bệnh sốt rét vẫn là mối đe dọa của ngời dân sinh sống trong khu vùng, nhất
là vào mùa ma Trong một vài năm gần đây bệnh sốt rét có chiều hớng giảm so với những năm về trớc Toàn vùng có 3 bệnh viện huyện (95 giờng bệnh), hai trung tânm khám đa khoa và các trạm y tế xã Tuy nhiên năng lực và phơng tiện của y tế cấp xã còn thiếu thốn nhiều
Trang 30• Giáo dục:
Là miền núi nhng tình hình giáo dục ở khu vực tơng đối tốt Năm học
1995 -1996 huyện Anh Sơn đã đợc tỉnh công nhận là một huyện miền núi điển hình đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học Huyện Con Cuông cũng đã hoàn thành chơng trình phổ cập tiểu học và xoá mù chữ, đợc nhà nớc tặng huân ch-
ơng lao động hạng 3 Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn rất nhiều trở ngại, là một
số ngời trong độ tuổi từ 15 -35 còn mù chữ (30% số dân mù chữ trong 3 bản
ng-ời Đan Lai thuộc vùng bảo vệ nghiêm ngặt) Một số bản ở vùng sâu vùng xa vẫn tiếp tục xuất hiện nạn tái mù chữ [17]
Chơng 2Vật t và phơng pháp nghiên cứu 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm thu mẫu và dụng cụ
Trang 31Hình 2.2: Bản đồ thu mẫu côn trùng nớc
Dụng cụ thu mẫu
- Vợt có cán dài 1.5 m mắt lới nhỏ 0.5 cm (ảnh phần phụ lục).
- Khay nhựa trắng cao 30 cm, rộng 30 cm, dài 50 cm (ảnh phần phụ lục).
- Bàn chải mềm (ảnh phần phụ lục).
Trang 32- Kẹp foóc xét (ảnh phần phụ lục).
- Lọ nhựa chuyên dụng đựng mẫu (ảnh phần phụ lục).
Thời gian nghiên cứu
Công việc đợc bắt đầu từ tháng 6/2007 đến 11/2008
2.2 Phơng pháp thu mẫu
2.2.1 Các điểm thu mẫu
Quá trình thu mẫu đợc tiến hành trên một số con suối chính:
- Khe Choang (Sông Giăng)
2.2.2 Phơng pháp và kỹ thuật thu mẫu
Phơng pháp thu thập mẫu vật ở những chân thác: Kỹ thuật su tầm mẫu
vật yêu cầu ngời su tập có thể bơi, bởi vì đáy của các thác nớc thờng sâu lao xuống vực, nơi có thể không có đá ngầm để đứng lên Những mẫu vật đợc lấy bằng tay đeo găng hoặc kẹp foóc xét Một cái chổi có lông mềm đợc dùng để quét qua đá, nó không đánh bật côn trùng ra khỏi nhng đủ làm chúng chuyển
động để từ đó có thể phát hiện ra và thu thập
Còn khi thu thập mẫu vật ở ngoài sông suối thì có một số điểm khác hơn Ngời thu mẫu phải có những đôi giầy chuyên dụng, có khả năng bám đá tốt và không làm cho bàn chân bị tê dát hay chảy máu khi dẫm lên những mãnh đá nhỏ
và nhọn, cùng với một chiếc vợt vuông ở phía đầu có tay cầm đủ dài Khi thu thập mẫu ngời thu mẫu cần đặt vợt ngợc với dòng chảy, dùng chân hoặc tay lật những phiến đá làm cho côn trùng bị bật ra theo dòng chảy vào trong vợt thu mẫu sau đó đổ mẫu vào một khay lớn dùng kẹp foóc xét để thu thập (Theo phơng pháp của Robert W Sites and Akekawat Vitheepradit, 2000)
Trang 33Mẫu vật thu thập đợc phân loại sơ bộ tại chỗ, bảo quan trong cồn 80 độ còn đối với những mẫu vật cần phân tích cao hơn thì bảo quản trong cồn 100 độ, cất giữ trong phòng thí nghiệm của khoa Nông Lâm Ng- Đại Học Vinh.
đọc Lần lợt từng căp, con số các lựa chọn sẽ giảm dần cho đến khi sự nghiên cứu cuối cùng với tên của một nhóm đợc phân loại
Với những mẫu vật không phù hợp với một phát ngôn nào, hãy cố gắng
đi theo một lộ trình có thể đến một sự nhận dạng Để cũng cố những sự nhận dạng không chắc chắn, nên có những kiểm tra, tra cứu, tham khảo, miêu tả hoặc minh hoạ cho nhóm đợc phân loại Tất nhiên, nếu có đủ thời gian thì nên kiểm tra tất cả các mẫu vật đợc nhận dạng [23]
2.3.2 Tài liệu định loại
Định loại theo những tài liệu chuyên khảo của John C.Mause, Xang Lianfang, Sun changhan (1994) và của Mai Đình Yên, Nguyễn Xuân Quỳnh, Clive Pinder cùng nhiều tác giả khác (2000)
2.4 Phơng pháp tính chỉ số đa dạng họ côn trùng nớc
Chỉ số Shannon - Weiner đợc tính bằng cách lấy số lợng cá thể sinh vật của một đơn vị phân loại chia cho tổng số các cá thể sinh vật trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó
Trang 34Chỉ số Shannon - Weiner (1949) nhằm xác định lợng thông tin hay tổng lợng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Công thức để tính chỉ số này là:
H = C(log10N - N
1
∑nilog10ni)Với H: Chỉ số đa dạng loài
s: Số lợng loài
Pi = ni/N: Tỷ lệ cá thể của loài so với số lợng cá thể trong toàn bộ thu mẫu
ni = Số lợng cá thể loài i
C: Thừa số chuyển đổi từ log10 sang log2
Hai thành phần của sự đa dạng đợc kết hợp trong hàm Shannon - Weiner
là số lợng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy,
số loài càng cao, chỉ số H’ càng cao và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài đợc xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner
Từ kết quả tính toán, đa ra nhận xét mức độ đa dạng theo các mức sau đây:
Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt
Nếu chỉ số đa dạng từ 1 - 3: ĐDSH khá
Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém
Để có thể tính toán các chỉ số đa dạng theo phơng pháp trên, trớc tiên phải chon lựa các nhóm sinh vật tiêu biểu mà các sinh vật này phải có các điều kiện: (1) ổn định về mặt phân loại học; (2) Dễ nhận biết cho ngời không chuyên; (3) có khoá phân loại tốt; (4) Nhiều đặc trng dễ nhận biết; (5) Kích thớc cơ thể
Trang 35phải tơng đối lớn; (6) Phân bố rộng rãi; (7) Phổ biến và phong phú ở địa phơng ở mọi thời điểm; (8) ít biến dị di truyền và sinh thái; (9) Di chuyển có mức độ; (10) Đời sống (tuổi thọ) tơng đối dài; (11) Thích hợp cho các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm; (12) Hiểu biết về sinh thái của nó [3]
2.5 Phơng pháp sử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2003
Chơng 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đa dạng họ côn trùng nớc và chỉ số đa dạng
Trang 36Suèi c¸ch Th¸c KÌm
200 m
Khe Choang
Khe KhÆng(S«ng Gi¨ng)
Trang 37Biểu đồ 3.1: Biểu thị phần trăm các bộ trong lớp côn trùng nớc
Phân tích 620 mẫu thu thập ở 4 điểm cho thấy côn trùng nớc có 35 họ, 7
bộ Trong đó, bộ Coleoptera có 8 họ (chiếm 23%), bộ Ephemeroptera có 7 họ (chiếm 20.0%), bộ Hemiptera có 6 họ (chiếm 17.0%), bộ Trichoptera có 6 họ (chiếm 17.0%), bộ Odonata có 5 họ (chiếm 14.0%), bộ Plecoptera có 2 họ (chiếm 5.7%), bộ Diptera có 1 họ (chiếm 2.8%)
Trang 38So với côn trùng ở Suối Cát tỉnh Lâm Đồng với 33 họ thuộc 9 bộ (Phan Thị Bảo Chi, Hoàng Đức Huy, 2006), độ đa dạng của Côn trùng nớc ở Vờn Quốc gia Pù Mát phong phú và đa dạng hơn
3.1.2 Chỉ số đa dạng bậc họ côn trùng nớc
Bảng 3.2 Mức độ đa dạng côn trùng nớc ở Vờn Quốc Gia Pù Mát, 2007- 2008
Thác Kèm
Suối cách Thác Kèm
200 m
Khe Choang Khe Khặng
Trang 393.2 C«n trïng bé c¸nh nöa (Hemiptera) ë Vên Quèc gia Pï M¸t 3.2.1.Thµnh phÇn loµi c«n trïng bé c¸nh nöa
B¶ng 3.3 Thµnh phÇn loµi cña bé c¸nh nöa
Trang 40Chân Thác Kèm
Cách Thác Kèm
200 m
Cách Thác Kèm
1000 m
Khe Khặng
Chú thích: (+) Sự xuất hiện của mẫu dới 5 con; (+ +) Sự xuất hiện của mẫu trên 5 con
Kết quả phân tích mẫu vật thu đợc ở các sinh cảnh thuộc Vờn Quốc gia Pù Mát đã xác định đợc 7 họ 15 giống 18 loài Dới đây là kết quả cụ thể của từng họ biểu hiện sự phân bố trên các sinh cảnh khác nhau của khu vực nghiên cứu
* Họ Aphelocheiridae