Mục tiêu của ngành lâm nghiệp được đề cập trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 là: “Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
TRIỆU TÒN XAY
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO VỆ PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ LIÊM PHÚ,
HUYỆN VĂN BÀN,TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
TRIỆU TÒN XAY
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO VỆ PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ LIÊM PHÚ,
HUYỆN VĂN BÀN,TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS Kiều Thị Thu Hương
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Sau bốn năm học tập, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy
cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đến nay khoá học đã sắp hoàn thành Được sự nhất trí của Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh
tế & Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi thực
hiện đề tài: “ Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ
phát triển rừng tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai ” Trong
quá trình thực hiện đề tài, dưới sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, cùng với sự
nỗ lực của bản thân, đến nay đề tài của tôi đã hoàn thành Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo khoa Kinh tế
&Phát triển nông thôn, đặc biệt là cô: Kiều Thị Thu Hương đã tận tình giúp
đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Cũng nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ, người dân xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại địa phương Do thời gian, điều kiện nghiên cứu và năng lực của bản thân có hạn, nên đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để chuyên đề của tôi hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày tháng năm 2019 Sinh viên
Triệu Tòn Xay
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TM-DV Thương mại- dịch vụ KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
UB MTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng LLVT Lực lượng vũ trang
DVMTR Dịch vụ môi trường rừng
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Bảng sản lượng, cơ cấu các loại cây trồng của xã Liêm
Phú giai đoạn 2015-2017 28
Bảng 4.2: Bảng cơ cấu vật nuôi của xã Liêm Phú 29
Bảng 4.3: Tình hình dân số và lao động của xã Liêm Phú 30
Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của địa phương 34
Bảng 4.5: Kết quả công tác quản lý, bảo vệ rừngqua các năm của Xã Liêm Phú 36
Bảng 4.6: Thống kê công cụ, dụng cụ chữa cháy rừng có thể huy động tại xã 37
Bảng 4.8: Thông tin chung của nhóm hộ điều raError! Bookmark not defined Bảng 4.9: Đặc điểm nhóm hộ điều tra nghiên cứu 38
Bảng 4.10: Diện tích bình quân các loại đất của các HGĐ 39
điều tra phân theo các thôn 39
Bảng 4.11: Diện tích bình quân các loại đất của các HGĐ điều tra phân theo các hộ 40
Bảng 4.12: Tổng thu, chi của nhóm hộ điều tra phân theo thôn 41
Bảng 4.13: Tổng thu, chi của nhóm hộ điều tra phân theo hộ 41
Bảng 4.15:Các hoạt động bảo vệ phát triển rừng mà các hộ gia đình tham gia 42
Bảng 4.16: Kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng năm 2018 43
Bảng 4.17: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý 44
của xã Liêm Phú 44
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Sơ đồ thể hiện sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý bảo vệ rừng xã Liêm Phú 45
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu củ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩ trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm về rừng 4
2.1.2 Đặc điểm của rừng 4
2.1.3.Phân loại rừng 5
2.1.4 Khái niệm bảo vệ rừng 6
2.1.5 Khái niệm phát triển rừng 6
2.1.6 Vai trò của rừng 6
2.2 Cơ sở thực tiễn 8
2.2.1 Tình hình công tác bảo vệ phát triển rừng trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình công tác bảo vệ rừng trong nước 14
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 18
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
Trang 83.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.4.2 Phương pháp tổng hợp và sử lý số liệu 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 26
4.2 Thực trạng công tác bảo vệ phát triển rừng tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 34
4.3.1 Hiện trạng của các hộ điều tra khảo sát 38
4.3.2 Điều kiện đất đai của các hộ gia đình 39
4.3.3 Điều kiện kinh tế của các hộ gia đình 40
4.3.4 Công tác bảo vệ phát triển rừng của xã 42
4.3.5 Vai trò của các bên liên quan trong quản lý bảo vệ rừng xã Liêm Phú 45 4.4 Thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo vệ phát triển rừng của xã Liêm Phú 47
4.4.1 Thuận lợi 47
4.4.2 Khó khăn 48
4.5.2 Giải pháp về quản lý, bảo vệ rừng và phát triển các mô hình sinh kế dựa vào tài nguyên rừng: Error! Bookmark not defined 4.5.3 Giải pháp cải thiện hệ thống quản lý khai thác gỗ gắn liền với FLEGT(Kế hoạch hành động “Tăng cường thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản”) Error! Bookmark not defined 4.5.4 Giải pháp về tuyên truyền pháp luật về rừngError! Bookmark not defined PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
Trang 9TÀI LIỆU THAM THẢO 56
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Rừng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kính tế xã hội của mỗi một quốc gia và của khu vực Rừng bảo vệ môi trường sống của con người, bảo tồn các nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế thiên tai, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất phát triển, rừng cung cấp các nhu cầu thiếu yếu cho cuộc sống con người, rừng bảo tồn những nét văn hóa truyền thống, lịch sử của các cộng đồng,… Đặc biệt rừng cung cấp phần lớn các nhu cầu thiết yếu cho các các cộng đồng dân tộc sống trong rừng, sống gần rừng, sống phụ thuộc vào rừng Chính vì vậy công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng là một trong những vấn đề đang được Đảng, Nhà Nước và các địa phương quan tâm hàng đầu Trong thời gian vừa qua, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về quản lý bảo vệ rừng nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng Hơn nữa việc quản lý bảo vệ rừng có thành công hay không phụ thuộc vào sự tham gia của các bên liên quan trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của cộng đồng địa phương Do vậy các chính sách về quản lý bảo vệ rừng đều hướng vào lôi cuốn, tạo điều kiện cho các thành phần tham gia, ưu tiên cho những người dân sống trong rừng, gần rừng và sống phụ thuộc vào rừng
Trong giai đoạn vừa qua, nhờ những thành công trong đổi mới chính sách quản lý bảo vệ rừng, rừng ở nước ta dần dần được phục hồi, độ che phủ tăng lên, môi trường sống được cải thiện, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ổn định và nâng cao đời sống người dân sống trong và gần rừng Bên cạnh đó chính sách bảo vệ phát triển rừng còn nhiều bất cập, những tác động ảnh hưởng tiêu cực đến việc quản lý và bảo vệ rừng vẫn còn Thực tế này đòi hỏi cần có những nghiên cứu cụ thể, mang tính hệ thống về tác động của các chính sách quản lý bảo vệ rừng đối với người dân
Trang 11Mục tiêu của ngành lâm nghiệp được đề cập trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 là: “Thiết lập, quản lý, bảo
vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020; đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững an ninh quốc phòng’’
Xuất phát từ các vấn đề trên, tôi thấy việc“Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ phát triển rừng tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” là hết sức quan trọng và cấn thiết, đáp ứng yêu cầu của
công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng hiện nay
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Đề tài giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
Trang 12- Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin, xử lý số liệu và viết báo cáo
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho địa phương trong quá trình bảo vệ phát triển rừng vào thời gian tới
- Là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bảo vệ phát triển rừng và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Các kết luận của đề tài có thể tham khảo để sử dụng cho việc giảng dạy, học tập trong nhà trường, phục vụ cho công tác nghiên cứu của các đối tượng khác có quan tâm
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về rừng
Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết
để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.[10]
Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý
Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài
Năm 1974, I.S Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.[10]
2.1.2 Đặc điểm của rừng
Rừng có một số đặc điểm như sau:[12]
- Thứ nhất, rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó
- Thứ hai, rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của
sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng
Trang 14- Thứ ba, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao Khả năng tự phục hồi giúp rừng chống lại những thay đổi nhất định
- Thứ tư, rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác
- Thứ năm, sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương
hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng
- Thứ sáu, rừng có phân bố địa lý theo vùng miền, địa phương Các vùng miền, địa phương có điều kiện khác nhau có kiểu rừng khác nhau, hệ sinh thái rừng cũng có những đặc trưng riêng theo vùng miền
2.1.3.Phân loại rừng
* Phân loại rừng theo mục đích sử dụng gồm có ba loại :[5]
- Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu
và bảo vệ môi trường
- Rừng đặc dụng: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường
- Rừng sản xuất: là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh
gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường
* Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành có rừng tự nhiên và rừng trồng :[12]
- Rừng tự nhiên gồm có rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, rừng phục hồi
và rừng sau khai thác
Trang 15- Rừng trồng bao gồm rừng trồng mới trên đất chưa có rừng, rừng trồng lại sau khi khái thác rừng trồng đã có và rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng
đã khái thác
2.1.4 Khái niệm bảo vệ rừng
- Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái.[1]
* Theo tác giả Nguyễn Huy Dũng (2002) cho rằng bảo vệ rừng bao gồm các hoạt động sau:
- Thứ nhất, phải thực hiện tốt công tác tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật
- Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại cho cây rừng
- Thứ ba, hàng năm thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng
2.1.5 Khái niệm phát triển rừng
- Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng.[2]
2.1.6 Vai trò của rừng
Vai trò kinh tế- xã hội
Trang 16Kinh tế: Rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của con người từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo ra hàng trăm mặt hàng đa dạng và phong phú như: Trang sức, mỹ nghệ, dụng cụ lao động… cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện đại
Lâm sản ngoài gỗ: Rừng là nguồn dược liệu vô giá, không chỉ khai thác
để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe mà còn có giá trị thương mại vô cùng to lớn Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “Dược liệu rừng” nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y, góp phần phát triển nền kinh tế Không chỉ vậy, rừng còn là nơi cư trú của rất nhiều loài động vật Động vật rừng là nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, da lông, sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là một dịch vụ của rừng cần sử dụng một cách bền vững Nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành gắn liền với các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần
mà còn tăng thêm thu nhập cho dân địa phương
Xã hội: Cùng với rừng, người dân được nhà nước hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn, các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho người dân Giúp người dân thấy được lợi ích của rừng, gắn bó và có tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng Từ đó người dân sẽ ổn định nơi ở sinh sống
Vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sống:
- Khí hậu: Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị, khu du lịch Đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất mà
Trang 17nhờ đó nó có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu Hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn carbon trong khí quyển Vì thế
sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu và ổn định khí hậu
- Đất đai: Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất ở vùng có đủ rừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn nạn bào mòn, rửa trôi nhất là trên đồi núi dốc thì tác dụng ấy có hiệu quả lớn nên lớp đất mặt không
bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ, mối quan hệ qua lại: Rừng tốt thì đất tốt và ngược lại
- Nước: Rừng làm sạch và điều tiết nước, điều hòa dòng chảy bề mặt chuyển nó vào tầng nước ngầm Phòng chống lũ lụt, hạn chế lắng đọng dòng sông, lòng hồ, điều hòa dòng chảy của các con sông, con suối Rừng có vai trò rất lớn trong việc chống cát di động ven biển, ngăn chặn sự xâm mặn của biển che chở cho vùng đất bên trong nội địa, rừng bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn, …
2.2 Cơ sở thực tiễn
Quản lý bảo vệ rừng là lĩnh vực tương đối rộng với những biện pháp kĩ thuật khác nhau tác động từ nhiều phía lên hệ sinh thái rừng nhằm tạo điều
kiện cho rừng phát triển một cách tốt nhất, năng suất và chất lượng cao nhất
Với đặc điểm của nước ta diện tích đồi núi chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên và cũng là nơi sinh sống của hầu hết các dân tộc ít người Vùng miền núi đất sản xuất Nông nghiệp ít, lương thực làm ra hàng năm chưa đủ phục vụ cho dân do thâm canh lạc hậu, sản xuất chủ yếu mang tính tự cung tự cấp và còn phụ thuộc vào thiên nhiên, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình độ dân trí thấp cộng thêm phong tục tập quán du canh du cư dẫn đến việc đốt phá rừng bừa bãi để làm nương rẫy người dân lợi dụng triệt để vào rừng để khai thác
Trang 18lâm sản trái phép, săn bắn động vật rừng làm diện tích rừng bị suy giảm, chất
lượng rừng kém
Với những vị trí quan trọng của miền núi Đảng và Nhà nước đã quan tâm xây dựng, phát triển kinh tế xã hội và phát triển ngành lâm nghiệp, đề ra chủ trương chính sách quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn mức thấp nhất nạn phá rừng, khai thác trái phép
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bao gồm nhiều văn kiện, nghị định, thông tư mang pháp chế về công tác quản lý bảo vệ rừng, xây dựng và phát triển rừng của Ban lâm nghiệp nói riêng và các ngành liên quan nói chung Những văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành lâm nghiệp Trong công tác bảo vệ xây dựng vốn rừng, tái sinh, trồng lại rừng Cụ thể:[2]
Nghị định số: 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ hướng
dẫn thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Nghị định số: 119/2006/NĐ-CP, ngày 16/10/2006 của Chính phủ Về tổ
chức và hoạt động của Kiểm lâm
Quyết định số: 186/2006/QĐ-TTg ngày 16/10/2006 của Thủ tướng
Chính phủ quy định về quy chế quản lý rừng
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 325/TB- VPCP ngày 11/11/2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề
án: Quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2010 - 2015
Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 về ban hành một số
chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
Trang 19Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/09/2011 về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống
người thi hành công vụ
Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 về quy định hồ sơ
lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản
Nghị đinh 159//2007/NĐ-CP về xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Nghị định số 39/CP, ngày 18/05/1994 của Chính phủ quy định về hệ
thống tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của kiểm lâm
Nghị định 22/CP của chính phủ ban hành ban quy định về PCCCR
Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 của Thủ tướng chính phủ
về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng
Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
Quyết định số 04/2004/QĐ-BNN-LN ngày 02/02/2004 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành quy chế về khai thác gỗ và lâm
sản khác
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản
lý lâm sản
2.2.1 Tình hình công tác bảo vệ phát triển rừng trên thế giới
Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều chương trình dự án nhằm bảo vệ phát triển rừng rất thành công, ví dụ như một số nước tiêu biểu sau:
* Ấn Độ:
Trong những năm 1920, các nhà chức trách thuộc địa tại ấn độ đã thử đưa ra các hệ thống quản lý rừng địa phương mới Tại bang Uttar Pradesh, người ta đã thành lập các “hội đồng rừng” địa phương đặc biệt (van panchayat) nhằm mục đích tạo ra một lớp đệm giữa rừng của nhà nước và dân
Trang 20làng địa phương Hội đồng này có quyền đưa ra những quy tắc giải quyết các vấn đề sử dụng rừng chung của địa phương dựa trên những luật lệ được chính phủ ban hành.[11]
Sau đó với sự hỗ trợ của những nhà tài trợ trong và ngoài nước, nhiều chính phủ ở các bang ở Ấn Độ đã bắt đầu xúc tiến các kế hoạch xây dựng lâm nghiệp xã hội thông qua những kế hoạch quản lý tài nguyên rừng công cộng
Và Ấn Độ trở thành một trong những nước đầu tiên thử nghiệm “lâm nghiệp
xã hội” trong những năm 1970, tuy nhiên mục tiêu là không để cho người dân kiểm soát quá lớn nguồn tài nguyên rừng Thay vào đó, lâm nghiệp xã hội tập trung vào việc thiết lập rừng cho cộng đồng sử dụng trên đất chưa có rừng để giải phóng những khu rừng hiện có cho khai thác thương mại Tuy nhiên, với việc thử nghiệm lâm nghiệp xã hội khá sớm đã dẫn đến các cuộc xung đột ngày càng tăng giữa các cơ quan lâm nghiệp và người dân địa phương, khiến chính phủ phải đưa ra một chính sách mới nhấn mạnh việc quản lý rừng cho bảo tồn và nhu cầu của người dân Điều này dẫn đến sự ra đời của chương trình quản lý rừng có sự tham gia (JFM), đây là chương trình nổi tiếng nhất trên toàn cầu được biết đến với hệ thống quản lý rừng dựa trên sự chia sẻ trách nhiệm và lợi ích giữa nhà nước và người dân địa phương [7]
Việc sửa đổi hiến pháp 73 và đạo luật 1992 cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó phân cấp những quyền hạn khác nhau liên quan đến việc thực thi những kế hoạch phát triển kinh tế và công bằng xã hội cho các tổ chức (PRIs), hoặc những hội đồng làng, những tổ chức mà có chức năng ở huyện, khối hay
ở thôn Ở đây có hình thức quản lý rừng theo nhóm người sử dụng gọi là CFUG Ghorlas, CFUG đại diện cho một loạt các nhóm xã hội mà chủ yếu là những người có cuộc sống gắn bó với sản xuất nông nghiệp Các chính sách lâm nghiệp (1998) cũng đã hỗ trợ nhiều cho sự tham gia của cộng đồng vào lâm nghiệp tại Ấn Độ
Trang 21Ở bang Andhra Pradesh, Ấn Độ hơn 250 tổ chức phi chính phủ đã chính thức tham gia vào việc thực hiện Doanh nghiệp Quản lý rừng và đã cải thiện được sự giao tiếp giữa chính phủ và người dân địa phương Chương trình Lâm nghiệp cộng đồng ở Andhra Pradesh, xuất hiện khá thuận lợi với sự giám sát được thực hiện bởi một số uỷ ban bao gồm kiểm lâm, tổ chức phi chính phủ, người đứng đầu các panchayat và hiệu trưởng các trường làng.[7]
* Philippin:
Quản lý rừng cộng đồng (CBFM) được coi là chiến lược chính của quản
lý rừng ở Philipin Nhận thức rằng người dân ở vùng cao có thể là đối tác trong việc quản lý rừng, chính phủ đã chuyển hướng chiến lược của mình sang hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng CBFM phát triển từ các chương trình định hướng người dân trước đó vào những năm 1970 như các phòng quản lý rừng (FOM), gia đình tiếp cận phục hồi rừng (FAR) được kết hợp dưới sự hợp nhất của chương trình lâm nghiệp xã hội (ISFP) thông qua các văn bản ban hành, các chỉ thị của tổng thống Marcos vào năm 1982 Sau
đó có các chương trình tương tự được khởi xướng bởi chính phủ để thúc đẩy
sự tham gia của người dân địa phương vào việc phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng CBFM nhằm thúc đẩy trao quyền cho người dân, quản lý rừng bền vững, lành mạnh và cân bằng sinh thái, và công nhận quyền của người dân bản địa đối với những những khu vực của tổ tiên của họ Quyền sử dụng được thể hiện trong thoả thuận quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFMA),
mà phục vụ như sự bảo lãnh cho cộng đồng để tiếp cận và quản lý rừng trong
25 năm và gia hạn thêm 25 năm nữa (Pulhin 2003) [7]
* Thái lan:
Vào cuối những năm 1990, kế hoạch phát triển quốc gia của Thái lan đã kêu gọi sự tham gia của người dân địa phương trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu quản lý rừng của mình
từ tập trung sản xuất nhỏ hẹp đến cân bằng giữa bảo tồn, phục hồi chức năng
Trang 22và sản xuất bao gồm cả sự phát triển sinh kế địa phương “Hiến pháp của người dân” được ban hành vào năm 1997 của Thái lan đưa đến cho cộng đồng quyền quản lý và duy trì sự sử dụng tài nguyên bền vững Tuy nhiên theo Kaewmahanin và Fisher thì xuất hiện nhiều xung đột giữa cán bộ lâm nghiệp
và người dân địa phương, họ đổ lỗi cho nạn phá rừng là do người dân địa phương thay vì làm việc với cộng đồng để tìm ra các giải pháp khắc phục Cục Lâm nghiệp Hoàng gia đề xuất dự thảo đầu tiên về dự luật lâm nghiệp cộng đồng, trong đó phần lớn là một bộ quy tắc và quy định để cho phép người dân địa phương tham gia trong đề án tái trồng rừng của chính phủ (Makarabhirom 2000) Cộng đồng rừng ngập mặn Pred Nai được xem như một trường hợp nghiên cứu để minh họa cho khả năng tham gia của người dân trong lâm nghiệp, các làng Pred Nai đã thành công trong việc ngăn chặn việc đốn gỗ và tiến hành tham gia các hoạt động như trồng cây Những tác động ngay lập tức bao gồm việc cải thiện sinh kế và điều kiện của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, ngoài ra còn là xúc tác cho phong trào quản lý dựa vào cộng đồng ở Thái Lan.[7]
* Trung quốc
Chính phủ Trung Quốc hiện đang triển khai chương trình phục hồi rừng lớn nhất thế giới, diện tích đất canh tác ở những khu vực có độ dốc lớn được chuyển thành đất rừng, có hàng nghìn hộ được trợ cấp để thực hiện chương trình này Nhà nước phát huy quyền tự chủ và sự tham gia của địa phương trong khi thực hiện chương trình, các chính sách về lâm nghiệp có sự thay đổi, cộng đồng địa phương và chính quyền cơ sở được gia tăng về quyền lực trong việc ra quyết định về quản lý và sử dụng rừng Mặc dù vậy, hiệu quả về kinh tế, xã hội của chương trình là chưa cụ thể, rõ ràng, sinh kế của người dân chưa được cải thiện, nhưng chính sách đã giúp cho diện tích rừng được tăng lên, các giá trị của rừng được cải thiện Điều đó cho thấy các chính sách về lâm nghiệp tiếp cận từ dưới lên thường có hiệu quả tích cực, đặc biệt ở những
Trang 23vùng đồng bào dân tộc thiểu số.(Jun He (2014),Governing forest restoration: Local case studies of sloping land conversion program in Southwest China (Quản trị phục hồi rừng): Governing forest restoration: Nghiên cứu điểm địa phương về chương trình bảo vệ đất dốc ở Đông Nam Trung Quốc (sloping land conversion program in Southwest China) Forest Policy and Economics
46 (2014)
* Indonesia
Indonesia là một trong những quốc gia vượt trội về thương mại lâm sản trong khối Asian, đã ban hành hệ thống cấp giấy chứng nhận gỗ hợp pháp cấp quốc gia, có cơ chế cho vay lãi suất thấp cho các hoạt động phát triển rừng của cộng đồng, rừng thôn bản, rừng tư nhân, doanh nghiệp chế biến
2.2.2 Tình hình công tác bảo vệ rừng trong nước
Ở nước ta đã có rất nhiều các chương trình dự an, chính sách của các cá nhân, tổ chức và nhà nước để nâng cao công tác bảo vệ phát triển rừng ví dụ như sau:
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Xuân Phương cùng với các tác giả khác năm 2003 và kết quả nghiên cứu điểm hiện nay tại tỉnh Sơn La đã cho thấy hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng làng bản và các tổ trong bản ở một số địa phương đã được giao đất giao rừng lâu dài, được cấp sổ đỏ và được quyền hưởng lợi Kết quả đã chỉ ra rằng các đối tượng trên đều thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển rừng Không có biểu hiện nào cho thấy cộng đồng, nhóm hộ yếu kém trong việc quản lý, thậm chí rừng còn được khôi phục và bảo vệ tốt hơn rừng của hộ gia đình như tại bản Nà Ngà của xã Chiên Hặc.[6]
Về vấn đề xây dựng quy ước bảo vệ rừng thì Đỗ Đình Sâm, Hoàng Liên Sơn và Lê Quang Sơn trong nghiên cứu của mình về “Forest governance in VietNam” đã chỉ ra rằng, từ năm 2000 các cộng đồng người dân địa phương
đã được khuyến khích lập hương ước quản lý bảo vệ của cộng đồng được chi
Trang 24cục hoặc cơ quan lâm nghiệp công nhận Trong tỉnh Lai Châu có 1.791 ngôi làng của 145 xã có quy ước, và ở tỉnh Sơn La, Hòa Bình có 339 và 1.566 quy ước, tương ứng Những quy ước được xây dựng dựa theo phong tục và truyền thống quản lý và bảo vệ rừng, đồng thời được sửa đổi và phát triển để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện nay Các mô hình quản lý đã chứng minh là
có hiệu quả, được công nhận và được áp dụng rộng rãi Các mô hình không chỉ củng cố vai trò của người dân trong quản lý và bảo vệ rừng, mà còn là củng cố vai trò của của phụ nữ [8]
Bên cạnh đó Jean-Christophe Castellaa, Stanislas Boissaua, Nguyễn Hải Thanh và Paul Novosad đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của việc giao đất giao rừng ở một số tỉnh miền núi Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra quá trình hình thành việc giao rừng và ảnh hưởng của việc giao rừng đến hệ thống sinh
kế định canh định cư, đến sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế Từ đó rút ra bài học cho các can thiệp đến sự phát triển cũng như tác động của các chính sách.[9]
Theo nghiên cứu của Vũ Hoài Minh và Dr Hans Warfving tại Nghệ An cho thấy tại đây mô hình quản lý rừng có sự tham gia của người dân đã xuất hiện rất sớm và đã thu được một số kết quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng Năm 1992 hạt kiểm lâm đã thực hiện giao 300 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn Thạch Dương, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Sau khi nhận rừng thôn đã tổ chức quản lý bảo vệ, người dân khi tham gia quản lý bảo
vệ được trả công bằng thóc Và đến năm 1998 đã tiến hành khai thác và bán ra thị trường, số tiền thu được ngoài việc chia cho các hộ gia đình trong thôn khoảng 40 đến 50 triệu đồng, còn lại để làm quỹ thôn Cũng trong nghiên cứu này, làng Khe Ngầu thuộc xã 18 Thạch Dương, huyện Tương Dương đã được giao 276 ha rừng tự nhiên vào năm 1995 để quản lý bảo vệ Người dân còn được một số tổ chức hỗ trợ về cây, con giống và tiền mặt để phát triển sản
Trang 25xuất Trong thỏa thuận cộng đồng phải quản lý bảo vệ 120 ha rừng lá rộng thường xanh và xúc tiến tái sinh trên 50 ha.[5]
Theo báo cáo của Phạm Thanh Lâm, Chi cục trưởng kiểm lâm Quảng Nam về kết quả và thực trạng giao rừng cho người dân tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cho thấy, hiện nay tại Quảng Nam diện tích rừng do cộng đồng dân cư thôn quản lý là 160.540 ha, chiếm 24,06% Cộng đồng dân cư thôn hầu như chưa nắm cụ thể được ranh giới, diện tích đất lâm nghiệp được giao, rừng và đất rừng giao cho cộng động chỉ mới dừng lại trên quyết định, chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng rừng Việc hưởng lợi sản phẩm từ rừng đối với từng hộ gia đình chưa thể hiện rõ ràng nên người dân vẫn chưa thấy được rừng đó thực sự là của mình, nên công tác quản lý bảo vệ chưa đạt được kết quả cao Tình trạng khai thác, vân chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm rẫy trên diện tích đất rừng đã giao cho cộng đồng quản lý vẫn diễn ra.[4]
Theo báo cáo của Khổng Trung, sở NN và PTNT tỉnh Quảng Trị về công tác giao rừng tự nhiên đến hộ gia đình và cộng đồng tại Quảng Trị cho thấy, từ năm 2005 đến năm 2010 Quảng Trị đã tổ chức giao 4.615,2 ha rừng cho cộng đồng và hộ gia đình, trong đó gia cho 31 cộng đồng với diện tích là 4.194,3 ha Và theo Báo cáo Đánh giá kết quả thực hiện giao rừng tự nhiên thí điểm tại Huyện Hướng Hoá và Đakrông của Chi cục kiểm lâm Quảng Trị năm 2008 thì huyện Hướng Hoá đã giao 187,9ha và huyện Đakrông đã giao 1.318,5ha cho cộng đồng quản lý bảo vệ rừng Đối tượng rừng giao là rừng phòng hộ ít xung yếu, giao cho các đồng bào dân tộc ít người như Vân Kiều, Pako Qua thực hiện giao thí điểm rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ gia đình
ở 2 huyện bước đầu đã đạt được một số kết quả như là hạn chế được các vụ vi phạm tài nguyên rừng, rừng được phục hồi và phát triển tốt, đồng thời tạo được động lực phát triển kinh tế cho người dân Tuy nhiên còn một số hạn chế
là nghiệp vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng của người dân chưa cao, đặc
Trang 26biệt là việc đầu tư làm giàu rừng của cộng đồng và hộ gia đình chưa được quan tâm.[11]
Về việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng thì theo Khổng Trung, với sự hỗ trợ của dự án, 11 cộng đồng thuộc các xã A Vao, Tà Long, Pa Nang, Đakrông, A Ngo, Húc của Quảng Trị đã xây dựng được kế hoạch quản
lý rừng cộng đồng, được UBND xã phê duyệt, song việc thực hiện kế hoạch
đó vẫn chưa được triển khai.[4]
Một thực tế là không chỉ riêng ở Quảng Trị mà hiện nay rất nhiều cộng đồng ở các tỉnh trên cả nước hoặc là không xây dựng kế hoạch quản lý rừng sau khi giao hoặc là có kế hoạch nhưng việc triển khai thực hiện chưa có hiệu quả Đã có nhiều nghiên cứu về việc lập kế hoạch quản lý rừng sau khi giao, trong đó phải kể đến đề tài của Bảo Huy về “Xây dựng mô hình quản lý rừng
và đất rừng dựa vào cộng đồng dân tộc thiểu số J Rai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai”, để tài đã tiến hành xây dựng tài liệu hướng dẫn: “ Lập kế hoạch quản lý rừng dựa vào cộng đồng” Hướng dẫn này có hệ thống theo tiến trình, dưới dạng các cộng cụ để lập kế hoạch để kinh doanh rừng dựa vào cộng đồng sau khi giao đất giao rừng Các phương pháp điều tra và lập kế hoạch quản lý rừng được giới thiệu là đơn giản, tạo điều kiện để người dân có khả năng tham gia, có tính thực tiễn và như là một tài liệu cụ thể hóa các quy phạm lâm sinh hiện hành cho phù hợp với điều kiện quản lý rừng của các người dân dân tộc thiểu số.[3]
Ngoài ra Chi cục kiểm lâm Đắc Lắc cũng xây dựng tài liệu hướng dẫn quản lý rừng có sự tham gia của người dân Nội dung của tài liệu đề cập đến quá trình xây dựng quy chế bảo vệ và phát triển rừng, lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với rừng của người dân Trong từng quá trình đó, tài liệu cũng chú ý mô tả vai trò của các bên liên quan.[3]
Trang 272.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Nhiều nghiên cứu nước ngoài đã nghiên cứu và triển khai nhiều chương trình dự án về bảo vệ phát triển rừng như: chính phủ Trung Quốc hiện đang triển khai chương trình phục hồi rừng lớn nhất thế giới, diện tích đất canh tác
ở những khu vực có độ dốc lớn được chuyển thành đất rừng, có hàng nghìn
hộ được trợ cấp để thực hiện chương trình này Nhà nước phát huy quyền tự chủ và sự tham gia của địa phương trong khi thực hiện chương trình, các chính sách về lâm nghiệp có sự thay đổi, cộng đồng địa phương và chính quyền cơ sở được gia tăng về quyền lực trong việc ra quyết định về quản lý và
sử dụng rừng Mặc dù vậy, hiệu quả về kinh tế, xã hội của chương trình là chưa cụ thể, rõ ràng, sinh kế của người dân chưa được cải thiện, nhưng chính sách đã giúp cho diện tích rừng được tăng lên, các giá trị của rừng được cải thiện
Nhiều nghiên cứu như: Mr J I Elorrieta [2002] về “Biện pháp trồng rừng trong chương trình phát triển nông thôn ở Navarra”, Nuchanata Mungkung (2012) về “Phân tích kinh tế lượng đối với chương trình bảo vệ nguồn tài nguyên rừng ở vùng đầu nguồn Mae Salong ở Thái Lan” Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu cơ chế chính sách, kinh nghiệm và các giải pháp quản lý sử dụng rừng bền vững có sự tham gia của cộng đồng địa phương như nhóm dân tộc thiểu số, nhóm sử dụng rừng, lâm nghiệp cộng đồng, Quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng, trao quyền ra quyết định cho người dân, bình đẳng giới trong quản lý sử dụng rừng, các nghiên cứu này đã chỉ ra những mặt tích cực, những tồn tại hạn chế cũng như là thách thức trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng
Đối với các nghiên cứu trong nước như: Báo cáo “Đánh giá thực hiện 10 năm thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004” trong khuôn khổ hỗ
trợ của Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng cụ thể như sau: Luật
Trang 28bảo vệ và phát triển rừng vẫn mang tính định hướng, tạo ra một lĩnh vực pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đa tầng, cồng kềnh, có không ít mâu thuẫn
và chồng chéo, tính minh bạch, tính khả thi chưa cao thể hiện chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và cơ chế thực hiện các quyền của chủ rừng, các quy định
về khai thác rừng chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của chủ rừng; cơ chế chính sách hưởng lợi còn nhiều bất cập, thiếu chính sách khuyến khích phát triển công bằng và thương mại lâm sản; cơ chế, chính sách đầu tư, tín dụng, tài chính còn bất cập chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất lâm nghiệp
Trong cuốn “Phục hồi các hệ sinh thái bị thoái hóa – Tổng quan kết quả nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam” đã chỉ ra tác một số tồn tại trong chính
sách và việc thực thi chính cách quản lý bảo vệ rừng, cụ thể như sau: việc xử
lý vi phạm pháp luật về rừng, đất đai khó khăn, thường kéo dài Công tác bảo
vệ rừng chưa tiến hành một cách toàn diện, cấp chính quyền địa phương chưa
có các giải pháp hữu hiệu đối với công tác bảo vệ rừng, đầu tư cho lâm nghiệp thấp lại dàn trải; vốn ngân sách đầu tư cho chương trình giống lâm nghiệp ở các địa phương thiếu, một số địa phương không đầu tư bổ sung nên kết quả thực hiện dự án còn bị hạn chế; hệ thống nhân giống và dịch vụ giống còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất
Trong báo cáo “Đánh giá các văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến công tác quản lý các khu rừng đặc dụng tại Việt Nam”trong khuôn khổ
dự án tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên đã chỉ ra rằng: Các nhóm dân tộc khác nhau, mang những đặc trưng văn hóa khác nhau, có những nhận thức và phản ứng với chính sách phân quyền cũng khác nhau Việc thực hiện chính sách giao đât giao rừng đã mang lại một số tác động tích cực, nhiều chương trình, dự án đi kèm theo chính sách này đã giúp
đỡ, hỗ trợ người dân địa phương, và nhận thức của người dân về sự cần thiết
Trang 29phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng được nâng lên Tuy nhiên các chính sách này vẫn chưa đạt được những mục đích chính của chúng: quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng tốt hơn
Trong báo cáo “Đánh giá các chính sách có liên quan đến quản lý rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình ở vùng miền núi Bắc Bộ” của Viện nghiên cứu Lâm
nghiệp nhiệt đới (2011), chỉ ra những bất cập, thiếu minh bạch của các chính sách chủ yếu có liên quan đến quan đến quản lý rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình làm cản trở động lực của người dân tham gia BV&PTR tự nhiên
Bài viết “Tác động của chính sách, pháp luật đến quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững” đã phân tích, bình luận để có cái nhìn toàn diện
về quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Việc phân tích được tiến hành từ hai cả hai phương diện: xây dựng chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, với hai cấp độ: cấp quốc gia và cấp địa phương; theo hai chiều hướng: tác động tích cực và tác động tiêu cực đến quá trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Kết quả phân tích chỉ ra rằng vẫn còn một số những rào cản liên quan đến quản lý rừng công bằng và bền vững như việc chậm tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sử dụng rừng; việc chậm ban hành các quy định về phương pháp và cách thức định giá rừng, giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản, chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan,… song những phát hiện chính nêu trên cho thấy quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động rất mạnh của chính sách
và pháp luật
Nhìn chung các nghiên cứu đã thực hiện, kể cả trong nước và ngoài nước, đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến đề tài như: Hệ thống chính sách bảo vệ và phát triển rừng; Kinh nghiệm quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên rừng; Sự tham gia của cộng đồng đia phương trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng; Quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng; Chia sẻ lợi ích trong quản lý tài nguyên rừng Một số nghiên cứu tập
Trang 30trung vào nghiên cứu phân tích hệ thống chính sách bảo vệ và phát triển rừng
về sự thay đổi trong phân loại và quy hoạch rừng, quy chế quản lý các loại rừng, quyền sở hữu/quyền sử dụng rừng và đất rừng, hỗ trợ trong bảo vệ và phát triển rừng, chia sẻ lợi ích, Đồng thời các nghiên cứu này cũng phân tích và chỉ ra những tồn tại hạn chế liên quan đến các lĩnh vực trên Một số nghiên cứu còn lại tập trung nghiên cứu ảnh hưởng, tác động của chính sách bảo vệ và phát triển rừng Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, của khu vực và trên phạm vi toàn quốc
Xuất phát từ thực tiễn trên việc “ Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ phát triển rừng tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai ” là rất cần thiết
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Tại xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
- Thời gian nghiên cứu: Từ 23/8/2018 đến 25/12/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn xã Liêm Phú
- Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo vệ phát triển rừng của xã Liêm Phú
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn xã Liêm Phú
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các tài liệu sẵn có được thu thập từ sách, báo, tạp chí, các văn bản báo cáo của địa bàn nghiên cứu, công trình nghiên cứu, liên quan đến công tác bảo vệ phát triển rừng
Trang 323.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Quan sát trực tiếp: Quan sát tình hình thực tế của địa phương để thu thập những thông tin về công tác bảo vệ phát triển rừng để từ đó đánh giá
được thực trạng và đưa ra được những giải pháp phù hợp
- Phỏng vấn các hộ dân bằng phiếu điều tra đã được lập sẵn về thông tin chung của các hộ, các thông tin liên quan đến công tác bảo vệ phát triển rừng của người dân
- Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm Phụ trách công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn nghiên cứu
3.4.1.3 Phương pháp điều tra chọn mẫu
* Chọn điểm nghiên cứu
Chọn ngẫu nhiên 60 hộ dân trong 3 thôn của xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
3.4.2 Phương pháp tổng hợp và sử lý số liệu
Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu Sau
đó tiến hành tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu trên Excel
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp này để phân tích các
số liệu thu nhập được sau đó biểu diễn số liệu đó trên các bảng biểu đồ để phân tích đánh giá tình hình thực tiễn
3.4.3.1 Phương pháp phân tích SWOT
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn
3.4.3.2 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp mô tả toàn bộ thực trạng công tác bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn xã Thông qua đó đánh giá, phân tích và đề ra giải pháp phù hợp nhằm nâng cao công tác bảo vệ phát triển rừng
Trang 333.4.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tổng diện tích rừng tự nhiên hiện có
+ Rừng phòng hộ
+ Rừng đặc dụng
+ Rừng sản xuất
- Số vụ cháy rừng, chặt phá rừng
- Số gỗ tịch thu được, số tiền thu phạt nộp Ngân sách Nhà nước
- Số vụ vi phạm săn, bắn, bắt, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép, khai thác lâm sản không đúng theo quy định của pháp luật
- Số diện tích rừng bị cháy
- Diện tích rừng được trồng mới
- Các chỉ tiêu về thu nhập của hộ gia đình và tỷ lệ % đóng góp từ rừng
- Chỉ tiêu về các thành phần tham gia bảo vệ phát triển rừng