1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng

63 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ (7)
    • I. Tính cấp thiết của đề tài (7)
      • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (9)
      • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (9)
  • PHẦN 2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN (10)
    • 2.1. Cơ sở lí luận (10)
      • 2.1.1. Một số khái niệm liên quan (10)
      • 2.1.2. Vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng NTM (11)
      • 2.1.3. Cơ sở của việc ban hành chương trình xây dựng NTM (12)
      • 2.1.4. Mục tiêu của xây dựng NTM (17)
      • 2.1.5. Cơ sở thực tiến (25)
      • 2.1.6. Thuận lợi và khó khăn trong xây dựng NTM ở Việt Nam (28)
      • 2.1.7. Thuận lợi khó khăn trong xây dựng NTM tại tỉnh Cao Bằng (29)
      • 2.1.8. Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới của tỉnh Cao Bằng (30)
  • PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1 Đối tượng nghiên cứu (40)
    • 3.2. Nội dung nghiên cứu (40)
    • 3.3. Phương pháp nghiên cứu (40)
      • 3.3.1. Chọn điểm nghiên cứu (40)
      • 3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin (40)
      • 3.3.3. Phương pháp xử lí thông tin (43)
  • PHẦN 4. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ PHI HẢI – HUYỆN QUẢNG UYÊN – TỈNH CAO BẰNG (44)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã phi hải (44)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (44)
      • 4.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội (45)
    • 4.2. Vai trò và chức năng của các bên liên quan tại địa phương (47)
    • 4.3. Cách thức tiển khai xây dựng nông thôn mới của xã Phi Hải (48)
    • 4.4. Đánh giá nguồn lực cho thực hiện NTM tại xã (48)
    • 4.4. Hiện trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Phi Hải (0)
    • 4.5. kết quả thực hiện từng tiêu chí NTM ở xã Phi Hải (0)
      • 4.4.1 Tiêu chí chưa đạt và nguyên nhân (0)
    • 4.6. bài học rút ra (53)
    • 4.7. Thực trạng kinh tế đời sống của hộ (0)
      • 4.7.1. nguyên nhân đói nghèo (0)
    • 4.8. Thuận lợi, khó khăn, trong xây dựng NTM ở xã Phi Hải (56)
  • PHẦN 5. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP (57)
    • 5.1. Định hướng (57)
    • 5.2. Giải pháp (57)
  • PHẦN 6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (60)
    • 6.1. Kết luận (60)
    • 6.2. kiến nghị (61)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (63)

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Cơ sở lí luận

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Ngành này khai thác cây trồng và vật nuôi như tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp không chỉ là một ngành sản xuất lớn mà còn bao gồm nhiều chuyên ngành như trồng trọt, chăn nuôi và sơ chế nông sản, đồng thời còn mở rộng ra lâm nghiệp và thủy sản.

Nông dân là những người lao động sống tại nông thôn và tham gia vào sản xuất nông nghiệp, chủ yếu dựa vào ruộng vườn và các ngành nghề liên quan đến đất đai Quyền sở hữu ruộng đất của nông dân có thể khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia và giai đoạn lịch sử Họ tạo thành giai cấp nông dân, đóng vai trò quan trọng trong xã hội.

Nông thôn là khu vực nằm ngoài các thành phố, thị xã và thị trấn, được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở, cụ thể là Ủy ban Nhân dân xã.

Nông thôn mới (NTM) là khu vực nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, với cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất hợp lý NTM kết nối nông nghiệp với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp và dịch vụ, đồng thời phát triển nông thôn gắn liền với đô thị theo quy hoạch xã hội dân chủ Mục tiêu của NTM là bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, duy trì an ninh trật tự, và nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Với tinh thần đó, NTM có năm nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại. Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa.

Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, đồng thời bản sắc văn hóa dân tộc cũng được bảo tồn và phát triển.

Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ.

Xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng lớn, khuyến khích cộng đồng dân cư nông thôn hợp tác để cải thiện cơ sở hạ tầng thôn, xã và gia đình Mục tiêu là phát triển toàn diện các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân Qua đó, tạo ra môi trường sống văn hóa, an toàn và sạch đẹp, góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ cách mạng quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị, không chỉ liên quan đến kinh tế - xã hội mà còn là một vấn đề tổng hợp về kinh tế - chính trị.

Xây dựng nông thôn mới không chỉ mang lại niềm tin cho nông dân mà còn khuyến khích họ trở nên tích cực, chăm chỉ và đoàn kết hơn Sự hợp tác này giúp cộng đồng nông thôn phát triển một cách giàu đẹp, dân chủ và văn minh.

Phát triển nông thôn là quá trình cải thiện bền vững các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân ở khu vực nông thôn.

2.1.2 Vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng NTM

Trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng NTM hiện nay, nông dân giữ vị trí là

Chủ thể là yếu tố quan trọng trong việc khẳng định và phát huy tiềm năng của nông dân, góp phần vào sự phát triển toàn diện của nông thôn về kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng của họ.

Vì vậy, vai trò của nông dân trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại, được thể hiện là:

(1) Chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng, quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM

(2) Chủ thể chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế

(3) Chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn

(4) Chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá – xã hội, môi trường ở nông thôn

(5) Là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm ANTT xã hội ở cơ sở.

2.1.3 Cơ sở của việc ban hành chương trình xây dựng NTM

Sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu lớn, với sự phát triển mạnh mẽ về sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất và chất lượng, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng cường công nghiệp và dịch vụ, hạ tầng xã hội được cải thiện, đời sống người dân nông thôn ngày càng nâng cao, góp phần xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, thành tựu này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, còn nhiều bất cập như sự phát triển không bền vững, năng suất thấp, và chậm đổi mới trong cơ cấu kinh tế Các hình thức tổ chức sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, trong khi môi trường ngày càng ô nhiễm và đời sống người dân vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, nơi tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao.

Các hạn chế trong phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Hiện chưa có hệ thống quan điểm lý luận rõ ràng về các lĩnh vực này, dẫn đến cơ chế và chính sách phát triển thiếu đồng bộ và đột phá Nhiều chủ trương không hợp lý và chưa được điều chỉnh kịp thời, trong khi đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp còn thấp Công tác tổ chức chỉ đạo và quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, và vai trò của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc cũng như các đoàn thể trong việc triển khai chính sách về nông nghiệp ở nhiều nơi vẫn còn hạn chế.

Tại hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 đã được ban hành, nhấn mạnh xây dựng nông thôn mới với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại Nghị quyết đề ra việc gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp và dịch vụ, đồng thời phát triển nông thôn theo quy hoạch đô thị Mục tiêu là tạo ra một xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, chính phủ đã ban hành Nghị quyết 24/2008/NQ-CP và Quyết định số 491/QĐ-TTg về bộ tiêu chí nông thôn mới.

Chương trình xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là chương trình phát triển toàn diện về kinh tế-xã hội và hệ thống chính trị, đồng thời đảm bảo an ninh quốc phòng Chương trình này mang lại ý nghĩa to lớn cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, với mục tiêu nâng cao sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống, và hiện đại hóa diện mạo nông thôn theo hướng văn minh và quản lý dân chủ.

Xây dựng nông thôn mới nhằm hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý và tổ chức sản xuất hiệu quả Mục tiêu là gắn nông nghiệp với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời kết nối phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch Cần tạo ra một xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, duy trì an ninh trật tự, và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

* Đặc trưng của nông thôn mới giai đoạn 2010-2020

 Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao

 Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ

 Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát huy

 An ninh tốt, quản lý dân chủ

 Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

* Mục tiêu là xây dựng nông thôn mới[8]

 Nông thôn mới kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại

 Cơ cấu kinh tế, tổ chức sản xuất hợp lý

 Phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, gắn với phát triển nông nghiệp

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- nghiên cứu tình hình xây dựng NTM ở xã Phi Hải và tình hình đời sống nhân dân của xã Phi Hải

Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng kinh tế-xã hội của xã Phi Hải theo 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM ở xã Phi Hải

- Thực trạng về điều kiện kinh tế, đời sống của hộ

- Một số giải pháp để xây dựng NTM ở Phi Hải

Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu Điểm nghiên cứu là xã Phi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin chính thức của cơ quan nhà nước, bao gồm nghiên cứu của cá nhân và tổ chức về thực trạng xây dựng nông thôn mới (NTM) Các báo cáo và tổng kết về việc thực hiện chính sách xây dựng NTM tại địa phương cũng như thông tin thống kê về phát triển kinh tế địa phương được sử dụng Đặc biệt, tài liệu liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội của huyện Quảng Uyên và tỉnh Cao Bằng được thu thập từ UBND xã Phi Hải và Phòng NN&PTNT huyện Quảng Uyên.

3.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp a Phỏng vấn hộ: Phiếu điều tra đã được xây dựng để phục vụ cho mục tiêu đề tài Nội dung phiếu phỏng vấn hộ bao gồm những thông tin cơ bản về năng lực sản xuất, tình hình sản xuất và thực trạng đời sống của hộ nhằm tìm hiểu tình hình sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật của hộ Đồng thời xem xét khả năng quản lí, sử dụng nguồn vốn để đầu tư cho hoạt động tái sản xuất của hộ Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập cho người dân

Phiếu điều tra đã được kiểm tra tính logic và điều chỉnh để đảm bảo các phần trong bảng hỏi phản ánh chính xác hoạt động sản xuất của địa phương, từ đó thu thập thông tin một cách chính xác trước khi tiến hành điều tra chính thức.

Để thực hiện nghiên cứu, 80 hộ đã được chọn ngẫu nhiên có định hướng từ danh sách hộ của 4 thôn, đảm bảo tính đại diện cho xã Phi Hải Các hộ được chọn bao gồm cả hộ khá, trung bình và nghèo, phản ánh tỷ lệ giàu nghèo tại địa phương Những hộ tham gia nghiên cứu hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Phương pháp điều tra bao gồm phỏng vấn trực tiếp các đại diện hộ được chọn thông qua phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn Ngoài ra, phỏng vấn sâu cũng đã được thực hiện ở hai cấp độ: cấp xã và cấp thôn để thu thập thông tin chi tiết hơn.

Tại cấp xã, chúng tôi tiến hành phỏng vấn Chủ tịch UBND xã, Chủ tịch hội Nông dân và cán bộ phụ trách nông nghiệp để nắm bắt thực trạng xây dựng nông thôn mới (NTM) và các giải pháp địa phương đã thực hiện Qua đó, chúng tôi cũng tìm hiểu hoạt động sản xuất và nguyên nhân nghèo đói tại địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đạt được các tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM.

Tại cấp thôn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trưởng thôn và chủ nhiệm HTX để hiểu rõ sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu về thực trạng sản xuất và nguyên nhân nghèo đói tại địa phương Dựa trên những thông tin thu thập được, chúng tôi sẽ đề xuất các biện pháp thu hút người dân tham gia vào quá trình xây dựng NTM, giúp họ trở thành chủ thể của chương trình này Ngoài ra, chúng tôi sẽ đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất, tăng thu nhập và giảm tỷ lệ nghèo, góp phần vào thành công của chương trình NTM Cuối cùng, chúng tôi tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm với 10-15 người mỗi nhóm để thu thập thêm ý kiến và đóng góp.

Cuộc thảo luận nhóm cán bộ tại xã bao gồm các thành phần như Phó chủ tịch xã, chủ tịch hội nông dân, chủ tịch hội phụ nữ, bí thư đoàn thanh niên, cán bộ y tế xã và các trưởng thôn, nhằm phân tích những khó khăn và thuận lợi trong việc xây dựng NTM Mục tiêu là đề xuất các giải pháp hiệu quả, phù hợp với thực tế địa phương, từ đó khắc phục những khó khăn và phát huy thế mạnh để thực hiện thành công chương trình NTM tại địa phương.

Cuộc thảo luận nhóm hộ khá tại xã nhằm tìm hiểu các hoạt động sản xuất và phương thức tăng thu nhập cho hộ gia đình Tham gia là các hộ sản xuất có kinh tế khá, từ đó chia sẻ kinh nghiệm và rút ra các phương pháp sản xuất hiệu quả Mục tiêu là phát triển kinh tế địa phương thông qua việc áp dụng các biện pháp phù hợp cho từng hộ.

Cuộc thảo luận nhóm với các hộ nghèo nhằm tìm hiểu hoạt động sản xuất và những khó khăn mà họ gặp phải Qua đó, chúng ta có thể xác định nguyên nhân nghèo đói và đề xuất các giải pháp hiệu quả để giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho các hộ này.

Nội dung của chủ đề và tiểu chủ đề thảo luận nhóm được thể hiện ở phụ lục 3

Một số công cụ sử dụng trong thảo luận nhóm gồm: SWOT, so sánh cặp đôi

3.3.3 Phương pháp xử lí thông tin

Các số liệu thu thập được tổng hợp mã hoá và xử lý bằng phần mềm EXCEL, SPSS 16.0 for Window để tính các tham số thống kê.

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ PHI HẢI – HUYỆN QUẢNG UYÊN – TỈNH CAO BẰNG

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã phi hải

Phi Hải là một trong 16 xã thuộc huyện Quảng Uyên, nằm ở phía bắc huyện này Xã cách trung tâm huyện khoảng 6 km và cách thành phố Cao Bằng khoảng 43 km về phía Tây Nam Địa giới hành chính của xã Phi Hải được xác định rõ ràng.

- Phía bắc giáp: xã Xuân Hội huyện Trà Lĩnh

- Phía nam giáp: xã Quốc Dân và Xã Quốc Phong

- Phía đông giáp: xã Quảng Hưng

- Phía tây giáp: xã Quốc Toản huyện Trà Lĩnh

Xã Phi Hải có địa hình đặc trưng với sự phân chia thành ba vùng rõ rệt: vùng núi đá, vùng núi đất và vùng thung lũng bằng phẳng, với độ cao giảm dần từ tây bắc xuống đông nam.

4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, ẩm ướt và có gió mùa đông nam, và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, với gió mùa đông bắc, khô hanh và rét đậm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,4°C, với nhiệt độ cao nhất đạt 39°C và nhiệt độ thấp nhất thường xuyên xuống dưới mức lạnh.

2 0 c, lượng mưa trung bình năm khoảng 1400 - 1600mm

4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất ở xã Phi Hải

STT Chỉ tiêu Đơn vị tính Diện tích

Tổng diện tích đất tự nhiên ha 5057.54

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp ha 642.01

1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản ha 5.82

1.4 Đất nông nghiệp khác ha

2 Đất phi nông nghiệp ha 156.74

2.1.2 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp ha 0.37

2.1.5 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp ha 0.12

2.2 Đất tôn giáo, tín ngưỡng ha

2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa ha 10.87

2.4 Đất mặt nước chuyên dùng ha 18.42

3 Đất chưa sử dụng ha 157.9

(Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng đất xã Phi Hải, 2018)

Trong những năm qua, kinh tế sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi, cũng như tăng năng suất và sản lượng Tuy nhiên, tiềm năng của vùng vẫn chưa được khai thác triệt để.

Mạng lưới truyền thanh đã được chú trọng đầu tư, nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác tuyên truyền và thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

Hệ thống giáo dục tại xã được tổ chức đồng bộ với một trường mầm non, ba trường tiểu học và một trường trung học cơ sở, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng.

 Y tế: Trên địa bàn xã có 1 trạm y tế được trang bị hiện đại, hệ thống y tế cơ sở được quan tâm đầu tư

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh trật tự được thực hiện hiệu quả, đảm bảo không có tình huống bị động hay bất ngờ, đồng thời không xảy ra điểm nóng nào trên địa bàn xã.

Xã Phi Hải gồm 24 xóm trong đó :

Bảng 4.2 Dân số và lao động của xã Phi Hải

STT Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2018

2 Tổng số nhân khẩu Người 3457

3 Tổng số lao động Người 1936

4 Bình quân nhân khẩu/hộ Người/hộ 4

5 Bình quân lao động/hộ Người/hộ 2

(Nguồn:Phòng thống kê xã Phi Hải, năm 2015)

- Xã Phi Hải là một xã thuần nông, do đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn ( chiếm 56% ) Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 10%

- Xã Phi hải có 3 dân tộc anh em gồm :

Vai trò và chức năng của các bên liên quan tại địa phương

Cấp ủy và chính quyền có vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đồng thời động viên tinh thần người dân để họ phát huy vai trò chủ thể trong quá trình này.

 Các ban ngành, tổ chức, đoàn thể

Đoàn thanh niên đóng vai trò xung kích quan trọng, với các đoàn viên và thanh niên tham gia tích cực vào nhiều hoạt động thiết thực như tổ chức tình nguyện xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, thi đua sản xuất, bảo vệ môi trường và vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới (NTM).

Hội nông dân tích cực vận động hội viên và nông dân đóng góp tiền, ngày công lao động và hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Đồng thời, hội cũng khuyến khích người dân tham gia vào việc làm mới và sửa chữa đường giao thông nông thôn, cũng như sửa chữa và kiên cố hóa kênh mương thủy lợi nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.

- Hội phụ nữ: tham gia vận động, tổ chức tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm theo định kỳ, đóng góp tiền mặt và giờ công lao động

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đã tích cực vận động và tuyên truyền cho người dân về chương trình phát triển nông thôn mới (NTM) Đồng thời, ủy ban cũng lắng nghe ý kiến và kiến nghị của cộng đồng trong việc thực hiện chương trình xây dựng NTM tại các xã.

Trưởng xóm đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền mục tiêu xây dựng NTM, đồng thời là người đại diện cho cộng đồng, tổng hợp những khó khăn và thắc mắc của người dân liên quan đến quá trình này.

- Các ban ngành và đoàn thể khác cũng tích cực trong việc tham gia, vận động người dân thực hiện chương trình xây dựng NTM

Trong các cuộc họp xóm, các thành viên sẽ cùng nhau thảo luận và xác định nhu cầu xây dựng, sửa chữa hoặc nâng cấp các tuyến đường trong xóm và nội đồng Họ sẽ quyết định thứ tự ưu tiên cho từng tuyến đường, ước tính chiều dài và chi phí xây dựng, nhằm đảm bảo sự phát triển hạ tầng giao thông hiệu quả cho cộng đồng.

Chương trình xây dựng NTM cần sự tham gia tích cực của người dân, không chỉ dừng lại ở việc đưa ra ý kiến mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện Vai trò của người dân trong việc xây dựng đường GTNT là minh chứng rõ ràng nhất cho sự cần thiết của sự cộng tác này.

Người dân có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát và quản lý chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), vì các công trình được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của họ Do đó, họ có trách nhiệm tham gia vào quá trình này, đặc biệt là trong việc giám sát các dự án giao thông nông thôn (GTNT).

Cách thức tiển khai xây dựng nông thôn mới của xã Phi Hải

Ủy ban nhân dân xã Phi Hải đã ban hành Quyết định số 24/QĐ-UBND vào ngày 25 tháng 6 năm 2011, nhằm thành lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2011.

2020 gồm có 08 đồng chí do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban

- xây dựng Kế hoạch số 03/KH-UBND về việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020

Vào ngày 06 tháng 4 năm 2012, Hội đồng Nhân dân xã Phi Hải đã tổ chức kỳ họp bất thường nhằm thông qua Nghị quyết số 08/NQ - HĐND, liên quan đến đề án xây dựng nông thôn mới (NTM) cho giai đoạn 2011 – 2020.

Đánh giá nguồn lực cho thực hiện NTM tại xã

- Có sự chỉ đạo của Đảng, sự thống nhất của các cơ quan tổ chức

Do xã có mức xuất phát điểm thấp và chưa thu hút được doanh nghiệp đầu tư, ngân sách cho quá trình xây dựng nông thôn mới chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn từ nhà nước.

Vào năm 2011, tổng số 898 mét đường tại các xóm Bản Quản I, Sộc Phạ, Bản Chang, Bó Lạ, Đoỏng Chang và Bản Thiết đã được bê tông hóa, với tổng kinh phí 79.677.571 đồng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước.

Vào năm 2012, tổng cộng 987 mét đường tại các xóm Bản Thiết, Bản Chang, Bó Lạ, Lũng Búng, Sộc Phạ, Bản Cải, Lũng Diễn và Bản Rẳng đã được bê tông hóa với kinh phí 60.000.000 đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước.

Năm 2013, bê tông hóa được 950 m đường các xóm Lũng Diễn, Bản thiết, Sộc huỳnh, Bó lạ, Cốc Phia với tổng kinh phí 109.700.000đ

Năm 2014, dự án bê tông hóa 470 m đường tại các xóm Bó Lạ, Sộc Huỳnh, Nà Lái đã hoàn thành với tổng kinh phí 59 triệu đồng, vượt 117,5% chỉ tiêu năm 2013 Công trình đã được nghiệm thu và đưa vào sử dụng đúng chất lượng Ngoài ra, tuyến đường mới xóm Khuổi Sàm, Khuổi Sỏm dài 7 km cũng được mở mới với tổng kinh phí gần 600 triệu đồng.

Tính đến hết tháng 10/2015, đã bê tông hóa 222 mét đường tại các xóm Lũng Diến, Cốc Phia, Nà Lái với tổng kinh phí 30 triệu đồng Đồng thời, mở rộng mặt bằng tuyến đường từ xóm Nà Giáng lên xóm Lũng Rượi dài khoảng 1,8 km với tổng kinh phí 1,5 tỷ đồng từ nguồn vốn nông thôn mới.

Nguồn lực của địa phương

- Có sự quan tâm và thống nhất trong chính quyền, ban, ngành trong địa phương Chính quyền địa phương luôn quan tâm đến chương trình xây dựng NTM

- Có sự đoàn kết, đồng lòng thống nhất cao của người dân

Người dân ở địa phương đã hiến đất, giờ lao động

- Có sự tham gia, đóng góp ý kiến của người dân trong chương trình xây dựng NTM tại xã

4.5 Hiện trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Phi Hải

Hải đã hoàn thành các tiêu chí : 1,

4, 5, 8, 13, 14, 18, 19 Đây là sự nỗ lực của chính quyền xã và người dân xã Phi Hải

Bước sang giai đoạn 2016 – 2020 người dân và chính quyền xã Phi Hải đặt ra mục tiêu hoàn thành một số tiêu chí : 2, 3, 16

4.6 kết quả thực hiện từng tiêu chí NTM ở xã Phi Hải

Bảng 4.3 Đánh giá kết quả thực hiện 19 tiêu chí NTM ở xã Phi Hải

STT Tiêu chí Đạt Chưa đạt

6 Cơ sở vật chất văn hoá x

13 Hình thức tổ chức sản xuất x

(Nguồn: Phòng thống kê xã)

Trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới (NTM), người dân xã đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này đối với sự phát triển của thôn, xã văn minh và sạch đẹp Nhờ đó, công tác quy hoạch trở nên thuận lợi hơn, cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội phát triển, góp phần thay đổi diện mạo của xã.

Trên địa bàn xã, nhiều con đường chưa được bê tông hóa, gây khó khăn trong việc di chuyển và sản xuất, làm tiêu tốn thời gian và công sức của người dân.

Việc thoát nước trong mùa mưa gặp khó khăn do số lượng cầu cống hạn chế, dẫn đến tình trạng nước mưa tích tụ và ứ đọng, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường.

Do đó, so với bộ tiêu chí NTM là chưa đạt.

Hệ thống kênh mương nội đồng còn thiếu và một số kênh mương xuống cấp khiến người dân chỉ có thể sản xuất một vụ lúa hè - thu Trong khi đó, các xã khác có thể thực hiện thêm vụ hè thu và vụ xuân hè.

Do đó, so với bộ tiêu chí NTM là chưa đạt.

Xã Phi Hải có 100% hộ có điện sử dụng và phục vụ sản xuất xã có 03 trạm biến áp với tổng công suất 225 KVA.

Xã có 5 trường học đủ điều kiện phục vụ con em trong xã học tập

4.6.1 Tiêu chí chưa đạt và nguyên nhân

Dù đã nỗ lực trong thực hiện các tiêu chí nhưng xã Phi Hải vẫn có một số tiêu chí vẫn chưa đạt cụ thể:

Giao thông nông thôn gặp khó khăn do đặc thù của xã, nơi người dân sống không tập trung Điều này dẫn đến việc kinh phí xây dựng hạ tầng giao thông lớn, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách từ trung ương.

- Thủy lợi: Do tác động của thiên tai, nên các công trình thủy lợi đã xuống cấp Thiếu kinh phí cho sửa chữa

Do điều kiện kinh tế các gia đình khó khăn, giá vật liệu và vân chuyển vất liệu cao do đường đi lại khó khăn

Do xã Phi Hải là một xã thuần nông, thu nhập chủ yếu là từ nông nghiệp

Nhiều hộ nghèo tại xã Con Cao gặp khó khăn do nguồn lực hạn chế và thiếu việc làm Trình độ học vấn thấp, cùng với tâm lý trông chờ vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, khiến không ít hộ gia đình không có ý định thoát nghèo.

Người dân thường xây dựng nhà sàn và nuôi trâu bò dưới gầm để thuận tiện cho việc chăm sóc Tuy nhiên, việc tìm kiếm đất phù hợp để xây dựng chuồng trại cho trâu bò gặp nhiều khó khăn, đồng thời cũng gây ra những thách thức về an ninh.

Xã chưa có nghĩa trang, dẫn đến việc chôn cất người đã mất diễn ra tự do, phù hợp với phong tục tập quán của người dân, họ thường chọn chôn cất người thân ngay trên đất của gia đình.

Việc thu gom rác và xử lý rác thải chưa được thực hiện chủ yếu các hộ gia đình tự đốt chứ không gom và xử lý tập chung

Nước thải từ các hộ gia đình được trực tiếp xả thải ra môi trường

 Tiêu chí môi trường là tiêu chí khó thực hiện nhất vì người dân nhận thức về bảo vệ môi trường chưa cao

Cơ chế tài chính hiện tại còn nhiều bất cập, với các đơn vị có trách nhiệm chưa nghiên cứu và sáng tạo trong việc áp dụng để phù hợp với các hình thức khác nhau Điều này tạo ra khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch, ra quyết định và huy động nguồn lực kinh tế - xã hội ở cấp xóm, đồng thời hạn chế sự tham gia của người dân.

- Công tác đào tạo, tập huấn cho người dân nông thôn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí của người dân chưa cao.

Trình độ văn hóa và chuyên môn của cán bộ quản lý cấp cơ sở chưa đồng đều, với một số cán bộ có năng lực và trình độ thấp Sự thiếu nhiệt huyết trong công việc cùng với việc chưa huy động được sức mạnh của các đoàn thể đã dẫn đến hiệu quả thấp trong công tác vận động quần chúng tham gia vào các hoạt động của mô hình.

bài học rút ra

- Muốn xây dựng NTM phải đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp

- Hệ thống chính trị và các tổ chức quần chúng phải bàn bạc thống nhất chỉ đạo

- Các chỉ đạo của địa phương phải được sự đoàn kết thống nhất của người dân

Đảng và chính quyền các cấp, cùng với các tổ chức, cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và vận động người dân, đảm bảo gần gũi và sát sao với cộng đồng, tập trung vào việc giải quyết các vấn đề bức xúc của người dân.

Để đạt được thành công, cần phải chú trọng đến lợi ích của người dân và xây dựng sự đoàn kết trong cộng đồng Nếu không quan tâm đến nhu cầu và mong muốn của người dân, sẽ không thể thực hiện được bất kỳ mục tiêu nào.

4.7 Thực trạng điều kiện kinh tế, đời sống của hộ

Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động của hộ

Chỉ tiêu ĐVT Nghèo Trung bình Khá Chung

1 Số nhân khẩu/ hộ Khẩu/hộ 5 5 4

2 Số lao động/hộ Người/hộ 4 3 2

3 Số người ăn theo/hộ Người 3 2 2

4 Trình độ văn hoá chủ hộ

Bảng 4.5 tình hình sử dụng đất canh tác

Diện tích đất sản xuất đất nông nghiệp Nghèo Trung bình Khá

4.7.3 Hoạt động phi nông nghiệp

Bảng 4.6: Thu nhập từ làm thuê của hộ

Loại hộ Số hộ tham gia

4.7.4 Tài sản cơ bản phục vụ đời sống

Bảng 4.13 Tài sản của hộ

Loại tài sản Loại hộ

Số hộ có tài sản (N)

Số lượng trung bình (cái/hộ)

Tỷ lệ hộ có tài sản (%) 1.Ti vi

- Do chưa thực hiện tốt việc kế hoạch hóa gia đình

- Khả năng tiếp thu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất còn thấp

- trình độ dân trí thấp, việc làm không ổn định, thiếu việc làm

- Thiếu kinh nghiệm làm ăn

4.8 Thuận lợi, khó khăn, trong xây dựng NTM ở xã Phi Hải

- Đóng góp tiền của người dân còn hạn chế

- Người dân chưa quan tâm đến vai trò kiểm tra, giám sát, nghiệm thu và quyết toán các công trình

- Người dân chưa nhận thấy vai trò của mình

- Người dân chưa quen với việc làm chủ trong cộng đồng

- trình độ người dân còn hạn chế

- thiếu cán bộ nòng cốt trong xây dựng NTM

Thuận lợi, khó khăn, trong xây dựng NTM ở xã Phi Hải

- Đóng góp tiền của người dân còn hạn chế

- Người dân chưa quan tâm đến vai trò kiểm tra, giám sát, nghiệm thu và quyết toán các công trình

- Người dân chưa nhận thấy vai trò của mình

- Người dân chưa quen với việc làm chủ trong cộng đồng

- trình độ người dân còn hạn chế

- thiếu cán bộ nòng cốt trong xây dựng NTM

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

Ngày đăng: 14/07/2021, 13:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất ở xã Phi Hải - Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất ở xã Phi Hải (Trang 45)
Bảng 4.3. Đánh giá kết quả thực hiện 19 tiêu chí NT Mở xã Phi Hải - Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 4.3. Đánh giá kết quả thực hiện 19 tiêu chí NT Mở xã Phi Hải (Trang 50)
Bảng 4.5. tình hình sử dụng đất canh tác - Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 4.5. tình hình sử dụng đất canh tác (Trang 54)
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động của hộ - Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 4.4 Tình hình dân số và lao động của hộ (Trang 54)
Bảng 4.6: Thu nhập từ làm thuê của hộ - Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 4.6 Thu nhập từ làm thuê của hộ (Trang 55)
Bảng 4.13. Tài sản của hộ - Khoá luận thực trạng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở xã phi hải, huyện quảng uyên, tỉnh cao bằng
Bảng 4.13. Tài sản của hộ (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w