Vì vậy, bớc đầu nghiên cứu địa danh Hoằng Hóa không chỉ góp phần vào việc tìm hiểu đặc điểm trong cách đặt tên của một vùng địa lý dân c mà còn làm phong phú thêm nguồn t liệu về Hoằng H
Trang 1
LờI NóI ĐầU
Gắn bó máu thịt với Xứ Thanh, với Tổ quốc Việt Nam trong suốt mấy nghìn năm lịch sử, huyện Hoằng Hoá mang trong mình một truyền thống văn hoá lâu đời, phong phú, tơi đẹp của dân tộc, đồng thời cũng biểu hiện rõ sắc thái văn hoá riêng một vùng quê của Xứ Thanh Bớc đầu tìm hiểu địa danh Hoằng Hoá, chúng tôi nh bớc vào cuộc hành trình trở về nguồn cội của mảnh
đất quê hơng “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống yêu nớc, hiếu học này
Chúng tôi xin đợc chân thành cảm ơn GS TS Nguyễn Nhã Bản, ngời trực tiếp hớng dẫn đề tài; Cảm ơn các thầy cô giáo chuyên ngành Ngôn ngữ Trờng Đại học Vinh; Các đồng chí lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện Hoằng Hoá; Các đồng nghiệp, bạn bè đã hớng dẫn, góp ý, động viên khích lệ và giúp
đỡ chúng tôi nhiều t liệu quý để hoàn thành luận văn này
Một lần nữa xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc
Tác giả
Trang 2MụC LụC
Trang
Chơng 1: Những vấn đề về Lý thuyết địa danh
1.2 Vài nét về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ
Chơng 2: Đặc điểm về cấu trúc địa danh Hoằng Hoá 44
2.2 Quan hệ ngữ pháp trong cấu tạo địa danh 62
Chơng 3: Đặc điểm về ngữ nghĩa và sự biến đổi
3.1 Đặc điểm nội dung ý nghĩa đợc phản ánh 77trong địa danh Hoằng Hoá
3.2 Địa danh Hoằng Hoá - nguồn gốc và sự biến đổi 95
Trang 3Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài.
1.1 Địa danh hay tên địa lý (toponym, geographical name) là tên vùng, tên
sông, tên núi, là tên các đối tợng địa hình khác nhau, tên nơi c trú, tên hành chính đ… ợc con ngời đặt ra Địa danh chứa những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị Qua những thông tin đó, có thể nhận ra đợc những đặc trng về thiên nhiên, xã hội trong quá khứ và hiện tại của những vùng có ngời c trú và cả những hoang mạc, biển khơi cha có dấu chân ngời
1.2 Với những đặc điểm trên, địa danh là đối tợng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học, xong xét về bản chất cấu tạo, địa danh là một đơn vị từ ngữ có chức năng định danh sự vật, do đó trớc hết đây là đối tợng nghiên cứu của ngôn ngữ học Dới góc độ ngôn ngữ, việc nghiên cứu địa danh vừa góp phần tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển ngôn ngữ một dân tộc đồng thời vừa khôi phục lại diện mạo lịch sử, địa lý, bề dày văn hóa của vùng đất đợc quan tâm tìm hiểu
Trang 41.3 Nằm trong khu vực nền văn minh sông Mã, Hoằng Hóa là vùng đất
Việt cổ có truyền thống văn hóa lâu đời và giữ một vai trò quan trọng của Xứ Thanh Đồng hành cùng lịch sử dân tộc, trải qua hàng ngàn năm xây dựng, khai phá và phát triển, trên mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng hiếu học này, mỗi ngọn núi, khúc sông, đám ruộng, thửa vờn, tên đất, tên làng nơi nào cũng hằn…sâu vết lịch sử và văn hóa, chỗ nào cũng lung linh những kỳ tích xây dựng và đấu tranh hào hùng của cha ông Đó là một gia tài văn hóa to lớn mà nhân dân Hoằng Hóa đã sáng tạo, giữ gìn, không ngừng bổ sung, rèn rũa trong lịch sử phát triển của mình, để đến bây giờ trở thành một kho vô giá, một truyền thống đặc sắc, tốt
đẹp mà mọi ngời dân Hoằng Hóa đều có quyền tự hào, xứng với lời nhận xét “Non sông đúc nên khí thiêng, sinh nhiều nhân tài anh tuấn, rõ ràng là địa linh nhân kiệt cho nên kẻ sỹ nhiều ngời đỗ đạt, tiếng thơm lừng lẫy, không chỉ đứng hàng đầu Châu ái mà sánh hàng chung cả nớc” (Văn chỉ huyện) Vì vậy, bớc đầu nghiên cứu địa danh Hoằng Hóa không chỉ góp phần vào việc tìm hiểu đặc điểm trong cách đặt tên của một vùng địa lý dân c mà còn làm phong phú thêm nguồn t liệu
về Hoằng Hóa, một vùng đất mang đậm dấu ấn lịch sử văn hóa của Xứ Thanh
2 Lợc sử nghiên cứu.
2.1 Trên thế giới.
Việc nghiên cứu địa danh đợc tiến hành từ rất sớm ở cả Phơng Đông và
Ph-ơng Tây Tuy nhiên chỉ đến thế kỷ XIX, ở Tây Âu, địa danh học mới đợc nghiên cứu với t cách là một bộ môn khoa học độc lập với hệ thống các đối tợng, phơng pháp, nguyên tắc và lý thuyết riêng
ở Trung Quốc, nhiều sách lịch sử, địa chí thời cổ đã ghi chép về địa danh, trong đó có không ít địa danh đợc lý giải cụ thể, nh Ban Cố thời Đông Hán (25-220) đã chép hơn 4000 địa danh trong Hán th Thời Bắc Ngụy (446?-527), Lệ Đạo
Nguyên ghi chép trên 2 vạn địa danh trong Thuỷ kinh chú, trong đó số địa danh
đ-ợc giải thích là trên 2000
ở Phơng Tây, từ điển địa danh đầu tiên xuất hiện ở ý vào thế kỷ XVII (Poyares Dicionario de nomes proprios, Rome, 1667) nhng phải sang thế kỷ XIX mới xuất hiện các công trình nghiên cứu có tính chất lý luận cao nh: Địa danh
Trang 5học (1872) của J.J Egli ngời Thuỵ Sỹ; Địa danh học (1903) của J.W.Nagl ngời
áo; Từ địa điểm hay sự minh hoạ có tính nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và
địa lý học (1864) của Isac Taylor…
Sang thế kỷ XX, việc nghiên cứu về địa danh tiếp tục đạt đợc nhiều thành tựu mới trong đó các nhà nghiên cứu đã cố gắng xây dựng một hệ thống lý thuyết
về địa danh Có thể kể đến Atlat ngôn ngữ Pháp của J.Gilénon tìm hiểu địa danh
dới góc độ địa lý học hay Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh của A.Dauzat
đề xuất phơng pháp văn hóa - địa lý học để nghiên cứu các lớp niên đại của địa danh…
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc nghiên cứu địa danh, năm 1890, Uỷ ban địa danh nớc Mỹ (BNG) đợc thành lập; Năm 1902, Uỷ ban địa danh Thuỵ
Điển ra đời và năm 1919 đến lợt Uỷ ban địa danh nớc Anh (PCGN) đợc hình thành
Đi đầu trong việc xây dựng hệ thống lý thuyết về địa danh phải kể tới các nhà khoa học Liên Xô (cũ), trong đó đáng kể nhất là những công trình: Các khuynh h- ớng nghiên cứu địa danh (1964) của N.I.Niconov; Những khuynh hớng nghiên cứu
địa danh học (1964) của E.M.Muraev; đặc biệt là tác phẩm Địa danh là gì của
A.V.Superanskaja đã đi sâu vào vấn đề nhận diện và phân tích địa danh
Từ đó cho đến nay, địa danh học ngày càng đợc các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau quan tâm nghiên cứu Đi cùng với đó, đối tợng, tính chất, phơng pháp nghiên cứu địa danh học cũng ngày càng đợc mở rộng, hoàn thiện cả
về lý luận và thực tiễn
2.2 ở trong nớc.
Tại Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan đến địa danh cũng xuất hiện khá sớm Từ xa các nhà Nho đã để công ghi chép các địa danh theo hớng địa danh địa chí học, nghĩa là thống kê, ghi chép, miêu tả các đặc điểm, thuộc tính của địa danh Một số tác phẩm tiêu biểu nh: D địa chí của Nguyễn Trãi (1380-1442); Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sỹ Liên (Thế kỷ15); Ô cận châu lục của Dơng Văn An
(Thế kỷ 16); Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (Thế kỷ 18); Lịch triều hiến
ch-ơng loại chí của Phan Huy Chú (Thế kỷ 19); Gia Định thành thông chí của Trịnh
Trang 6Hoài Đức (1765-1825); Đại Nam nhất thống chí (Cuối thế kỷ 19); Đồng Khánh
địa d chí (Cuối thế kỷ 19); Phơng Đình d địa chí (1900) của Nguyễn Văn Siêu…
Việc nghiên cứu địa danh dới góc độ ngôn ngữ học xuất hiện muộn hơn (khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ 20) Có thể kể đến bài viết Mối liên hệ ngôn ngữ
cổ đại ở Đông Nam á qua một vài tên sông (1964) của Hoàng Thị Châu; Tiếp
theo là bài Thử bàn về địa danh Việt Nam (1976) của Trần Thanh Tâm Trong…thập niên cuối của thế kỷ XX, địa danh học Việt Nam đạt đợc nhiều thành tựu với
2 luận án PTS: Những đặc điểm chính của địa danh Thành phố Hồ Chí Minh
(1990) của Lê Trung Hoa và Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng
(1996) của Nguyễn Kiên Trờng Tiếp đó là các luận án TS: Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2003) của Từ Thu Mai; Những đặc điểm chính của địa danh Đak Lak
(2005) của Trần Văn Dũng và Khảo sát các địa danh ở Nghệ An (2005) của Phan
Xuân Đạm Trong các công trình trên, các tác giả đã lựa chọn cách phân loại địa danh khác nhau và trên cơ sở đó không chỉ giải thích cấu tạo, ý nghĩa của một số
địa danh mà còn tìm hiểu về nguồn gốc cũng nh sự biến đổi của chúng, đem lại cho ngời đọc những hiểu biết về địa danh mang tính khoa học và lý thú Bên cạnh những luận án trên, các tác phẩm nh Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam
(2000) của Nguyễn Văn Âu, Địa danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa…
cũng là những công trình có giá trị đã nghiên cứu, lý giải khái quát một số đặc
điểm chính của địa danh Việt Nam Một số tác giả nh Đinh Xuân Vịnh, Bùi Thiết, Nguyễn Văn Tân cũng đã lần l… ợt cho ra đời các cuốn từ điển và sổ tay địa danh,
địa danh lịch sử văn hoá Ngoài ra phải kể đến hàng loạt các luận văn Thạc sỹ…của học viên các trờng Đại học tìm hiểu địa danh ở cấp huyện, thị xã, thành phố
2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở huyện Hoằng Hoá.
Cho tới nay, ở nớc ta cha có công trình thật sự chuyên sâu nào nghiên cứu
địa danh trên địa bàn huyện Có một số địa danh chủ yếu đợc thống kê, tập hợp
d-ới góc nhìn địa lý, lịch sử, thể hiện rải rác trong một số công trình: Địa chí Thanh Hóa (2000); Địa chí văn hóa Hoằng Hóa (2000); Danh nhân Văn hóa Hoằng Hóa (2009); Tên làng xã Thanh Hóa (2001) nh… ng cha có tác giả nào đề cập đến các cơ sở lý thuyết của sự hình thành, phát triển, biến đổi địa danh Hoằng Hóa
Trang 7một cách có hệ thống Vì vậy bớc đầu nghiên cứu địa danh huyện Hoằng Hóa dới góc độ ngôn ngữ rõ ràng là một hớng tiếp cận mới mẻ Dù năng lực của ngời viết còn có nhiều hạn chế, nội dung vấn đề lớn, địa bàn nghiên cứu rộng song chúng tôi muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong tiến trình tìm hiểu, nhận diện những giá trị truyền thống của quê hơng mà ở đây là những đặc sắc về văn hóa, địa lý, lịch sử của địa phơng dới góc nhìn địa danh học.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh trên địa bàn huyện Hoằng Hóa trong diễn trình lịch sử Trên cơ sở đó bớc đầu rút ra những nét tiêu biểu liên quan đến tiến trình lịch sử tiếng Việt qua sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa và ngôn ngữ trên địa bàn, đồng thời tìm hiểu, phân tích đặc điểm sinh hoạt dân c, tín ngỡng văn hóa, lịch sử truyền thống của ngời Hoằng Hóa, từ đó xác định
đặc trng văn hóa địa phơng
Do khả năng và thời gian có hạn, luận văn cha thể giải quyết hết (về mặt ý nghĩa) toàn bộ địa danh đã thống kê khảo sát đợc ở Hoằng Hóa mà chỉ giới hạn ở một bộ phận tiêu biểu đã đợc điều tra, tìm hiểu kỹ
4 Mục đích nghiên cứu.
Bớc đầu nghiên cứu địa danh huyện Hoằng Hóa (gồm cả những địa danh
đang sử dụng hoặc còn đợc lu giữ), chúng tôi hớng đến những mục đích sau:
- Cung cấp một cái nhìn tổng quát về địa danh Hoằng Hóa (tìm ra các đặc
điểm, quy luật về mặt cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh ở
địa phơng);
- Hệ thống hóa các địa danh trên địa bàn;
- Trong những giới hạn cho phép, góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ gắn bó giữa địa danh với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học và các ngành khoa học khác nh địa lý học, lịch sử học, khảo cổ học, văn hóa học trong việc nghiên cứu…
địa danh
- Từ góc nhìn ngôn ngữ, qua các lớp địa danh, góp phần tìm hiểu thêm về các mặt phơng ngữ, văn hóa, lịch sử, địa lý của Hoằng Hóa, từ đó làm phong phú thêm những đặc trng ngôn ngữ, văn hóa của xứ Thanh - một khu vực còn nhiều ý kiến nhìn nhận của các nhà ngôn ngữ học
Trang 8- Góp phần nhỏ bé trong việc từng bớc hớng đến khảo sát toàn bộ địa danh trên lãnh thổ Việt Nam.
5 Phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Thu thập t liệu.
Để dựng lại bức tranh tổng quát về hệ thống địa danh Hoằng Hóa một cách
t-ơng đối trọn vẹn và đầy đủ, chúng tôi đã cố gắng hết sức trong khả năng có thể khảo sát và tập hợp các địa danh đợc phân bố trên địa bàn qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Cứ liệu chúng tôi thu thập đợc xuất phát từ những nguồn sau:
- T liệu điều tra điền giã ở 49/49 xã, thị trấn trên địa bàn huyện (thông qua việc gặp gỡ, trao đổi với các cụ cao tuổi, có học, am hiểu lịch sử, văn hóa địa ph-
ơng và các cán bộ văn hóa, địa chính xã );…
- T liệu qua sách, báo, tạp chí và những ấn phẩm về Hoằng Hóa liên quan
đến đề tài đợc tìm hiểu tại Th viện Đại học Vinh, Đại học Hồng Đức; Văn phòng Tỉnh uỷ, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, Th viện tỉnh Thanh Hoá; Cơ quan Huyện uỷ, UBND huyện Hoằng Hóa, Th viện huyện Hoằng Hóa và các bạn bè, đồng nghiệp;
- Phiếu thăm dò địa danh Hoằng Hóa đối với học sinh các trờng THPT Hoằng Hóa III, trờng THPT Hoằng Hóa IV, trờng THPT Lơng Đắc Bằng và trờng THPT Lu Đình Chất;
- Sắc chỉ, gia phả, văn bia (đã đợc dịch ra tiếng Việt);
- Danh bạ điện thoại, bản đồ, tranh ảnh các loại có liên quan đến đề tài nghiên cứu…
Các t liệu trên đây là nguồn chính để chúng tôi tập hợp và xử lý thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình
5.2 Xử lý t liệu.
Dựa trên tất cả các nguồn t liệu thu thập, tập hợp theo các phơng thức đã trình bày ở trên, sau khi khảo sát, đối chiếu chúng tôi tiến hành sắp xếp, phân loại, thống kê địa danh Hoằng Hóa theo từng đề mục để thực hiện nhiệm vụ của đề tài (cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc, biến đổi)
5.3 Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 9Để có thể dựng lại bức tranh tổng quát về hệ thống địa danh trên địa bàn huyện một cách minh xác và trung thực, trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phơng pháp nghiên cứu tổng hợp, lấy phơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ học là chủ đạo có kết hợp với việc vận dụng các kiến thức liên ngành về
địa lý, lịch sử, văn hoá để phân tích, đánh giá, từ đó rút ra kết luận cuối cùng.…
Do đặc thù của địa danh Hoằng Hóa về nguồn gốc ngữ nguyên và sự biến
đổi, trong luận văn của mình, khi tập hợp hệ thống địa danh trên địa bàn huyện, chúng tôi chọn cách phân loại và trình bày theo hớng đồng đại là chủ yếu, đồng thời theo hớng lịch đại đối với một số địa danh cổ, cũ còn có thể xác định đợc nhằm mục đích khai thác t liệu và trình bày có hiệu quả ở mức cao nhất trong khả năng có thể
6 Đóng góp của đề tài
- Là công trình khoa học đầu tiên đi sâu nghiên cứu về địa danh Hoằng Hóa
ở cả phơng diện lý thuyết lẫn thực tế, luận văn của chúng tôi bớc đầu sẽ trình bày, thống kê tạo dựng bức tranh tổng quát về hệ thống địa danh trên địa bàn huyện;
- Tìm ra các phơng pháp nghiên cứu phù hợp cho các đối tợng địa danh ở Hoằng Hóa, đặc biệt cố gắng tìm ra những địa danh gắn với các sự kiện lịch sử, văn hóa của địa phơng;
- Cung cấp một cái nhìn mới mẻ dới góc độ ngôn ngữ học về địa danh Hoằng Hóa, từ đó góp nguồn t liệu quý cho việc nghiên cứu tìm hiểu các mặt văn hóa, lịch sử, địa lý ở địa phơng
7 Bố cục của luận văn.
Ngoài mở đầu, kết luận, một số chú thích về địa danh Hoằng Hóa, phụ lục
và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết địa danh và địa danh Hoằng Hoá
Chơng 2: Đặc điểm cấu trúc địa danh Hoằng Hoá
Chơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và sự biến đổi của địa danh Hoằng Hoá
Trang 10NộI DUNG Chơng 1: NHữNG VấN Đề Lý THUYếT ĐịA DANH
Và ĐịA DANH HOằNG HóA.
1.1 Những vấn đề lý thuyết về địa danh.
1.1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học.
Nh chúng ta đã biết, thế giới quanh ta vô cùng phong phú và phức tạp nhng mọi đối tợng trong thực tại khách quan một khi đã đợc con ngời nhận thức đều đ-
ợc gọi tên theo một quy ớc, mục đích nhất định nào đó Cũng nh bất cứ một ngôn ngữ nào trên thế giới, vốn từ vựng tiếng Việt có một hệ thống hay lớp tên riêng gồm tên ngời - đối tợng của môn nhân danh học (Anthrôpnymic) và tên đất - đối t-ợng của môn Địa danh học (Toponymic) thuộc bộ môn khoa học gọi là danh xng học (Onoma silologie) Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh đã hiểu một cách rất đơn giản: “Địa danh là tên các miền đất (Nom de tere)”[1] Cho đến ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu địa danh đã lần lợt đa ra các quan điểm, kiến giải của mình nhng
đều cha đạt đợc sự đồng thuận cao
- Nguyễn Văn Âu cho rằng [5]: “Địa danh là tên đất gồm nhiều sông núi, làng mạc hay là tên đất của các địa phơng, các dân tộc”
- Lê Trung Hoa định nghĩa [40]: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định
đ-ợc dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ”
Trang 11- Theo Nguyễn Kiên Trờng [78]: “Địa danh là tên chỉ các đối tợng địa lý tự nhiên và nhân văn, có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”.
Phan Xuân Đạm xem [29]: “Địa danh là lớp từ đặc biệt đợc sinh ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi đối tợng địa lý và nhân văn”
Các quan điểm trên đều đã nêu đợc tính chất cơ bản của địa danh “là tên
đất ” (Nguyễn Văn Âu), “là tên riêng ” (Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trờng) Song nhìn chung đều có chỗ cha thật thỏa đáng, mỗi định nghĩa đều có những vấn
đề cần thảo luận thêm Định nghĩa của Nguyễn Văn Âu còn chung chung, cha đề cập đến những đối tợng do con ngời kiến tạo nh đền, chùa, miếu, lăng, tẩm, cầu, cống Định nghĩa của Lê Trung Hoa cho rằng: “Địa danh là những từ hoặc ngữ
cố định ” Trong thực tế, sự cố định của địa danh không thể khẳng định chắc chắn, chỉ mang tính tơng đối, có rất nhiều địa danh đã biến đổi do những nguyên nhân trong và ngoài ngôn ngữ, ngoài cả ý muốn của chủ thể đặt tên Định nghĩa của Nguyễn Kiên Trờng thì đòi hỏi các đối tợng địa lý của địa danh phải “có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” Cách định nghĩa này rõ ràng gò bó và hơi áp đặt bởi
địa danh tuy là tên đất nhng còn hàm nghĩa nơi chốn (Place- name) Bản thân nét nghĩa nơi chốn đây cũng không thể xác định một cách rõ ràng vì trong thực tế nhiều nơi trên trái đất thậm chí trong cùng một lãnh thổ hẹp cũng có thể có cùng một địa danh Và nơi chốn ấy không phải chỉ đợc xác định trên bề mặt trái đất, mà còn có thể đợc xác định ở một nơi khác trên vũ trụ nh mặt Trăng, sao Hỏa, dải Ngân Hà ở tơng lai
Thực chất, một số sự khác biệt trong các ý kiến trên chủ yếu là xuất phát từ phơng diện, góc nhìn không giống nhau
Theo quan niệm của chúng tôi: Địa danh là những từ hoặc cụm từ đ“ ợc dùng làm tên riêng có chức năng khu biệt, định vị những đối tợng địa lý tự nhiên hoặc xã hội nhân văn (do con ngời kiến tạo) ”
Địa danh là tên gọi của một đối tợng địa lý (tự nhiên hoặc nhân văn), một mặt, cũng nh mọi danh từ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật Mặt khác vì là tên gọi nên địa danh còn mang chức năng của danh từ riêng là cá thể hóa đối tợng Nhờ vào các chức năng này, địa danh giúp con ngời khu biệt đối t-ợng để thực hiện tốt chức năng giao tiếp của mình, do đó địa danh đã trở thành
Trang 12một bộ phận ngôn ngữ quan trọng, gắn bó mật thiết với đời sống xã hội của chúng ta.
Không nh tên ngời (đợc đặt trớc), tên đất (đợc đặt sau), địa danh thờng thể hiện chức năng phản ánh hiện thực rất cao Nh các địa danh: đồng Hóa Vè (H Ph-ợng), đồng Cống Đá (H Phợng), đồng Bái Ao (H Khánh), đồng Chân Đờng (H Khánh), đồng Bản Xã (H Quý), đồng Lọng Kênh (H Quý), đồng Ao Sen (H Kim), đồng Cửa Hào (H Kim) dày đặc ở Hoằng Hóa giúp ta nhận biết đợc địa hình đồng bằng bằng phẳng, đồng ruộng phì nhiêu nhng nhỏ hẹp, manh mún là
đặc điểm địa lý tiêu biểu dễ nhận thấy ở địa phơng này
Đợc ra đời trong những điều kiện hoàn cảnh xã hội lịch sử nhất định, do đó mỗi địa danh hoặc mỗi lớp địa danh còn thể hiện chức năng phản ánh lịch sử địa phơng Trong thực tế nhiều địa danh đã trở thành những tấm bia hóa thạch ghi lại những biến cố, sự kiện lịch sử đã xảy ra trong quá khứ nh cồn Mã Nhón - nơi khởi nguồn của khởi nghĩa ngày 24 tháng 7 năm 1945 giành chính quyền của huyện Hoằng Hóa, đợc Tổng Bí th Trờng Chinh đánh giá “là lá cờ đầu của công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của tỉnh Thanh Hóa”; Hay nh cầu Hàm Rồng - biểu tợng kiên cờng của quân dân Thanh Hóa những năm chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của quân dân Hoằng Hóa
Bên cạnh đó, địa danh còn có chức năng phản ánh đặc điểm văn hóa của một vùng dân c Những tên gọi nh: đền thờ Triệu Việt Vơng (H Trung), đền thờ
Lê Phụng Hiểu (H Sơn), đền Hà Lộ (H Tiến), đền thờ Lê Hoằng Công (H Hợp), phủ Bà (H Khánh), chùa Gia (H Phợng), nhà thờ Xứ đạo Trinh Hà (H Trung) cho thấy một đời sống tôn giáo, tín ngỡng khá phong phú của nhân dân trong huyện
Là một đối tợng đã đợc tìm hiểu từ rất sớm nhng trớc đây các nhà nghiên cứu địa danh hầu nh chỉ làm công việc miêu tả đối tợng địa lý và giải đoán ý nghĩa
từ vựng Trong nhiều công trình nghiên cứu, vấn đề tìm hiểu, lý giải ý nghĩa của
địa danh thờng đợc xem nh là mục đích lớn nhất Do cha có đầy đủ về cơ sở lý thuyết cũng nh cha có một phơng pháp nghiên cứu thích hợp nên việc tìm hiểu địa
Trang 13danh đôi khi sa vào lối phân tích từ nguyên dẫn đến sự sai lạc về ý nghĩa của địa danh.
Mãi tới thế kỷ XIX, trên cơ sở ra đời của địa danh học, ngời ta mới chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ và xem ngôn ngữ là phơng tiện chủ yếu để nghiên cứu
đối tợng này
Địa danh học là một chuyên ngành của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh Địa danh học bao gồm nhiều ngành hẹp:
+ Thủy danh học (Hydronimie): Chuyên nghiên cứu tên sông nớc, các dòng
chảy
+ Sơn danh học (Oronimie): Chuyên nghiên cứu tên núi.
+ Phơng danh học (Urbanomika): Chuyên nghiên cứu tên các đờng phố và
quảng trờng trong thành phố
Trang 14Bởi đặc thù của mình, địa danh học là ngành học đòi hỏi phải đợc nghiên cứu tìm hiểu bằng sự kết hợp của nhiều phơng pháp khác nhau Theo những nhà địa danh học Xô viết nh E.M.Mu r zaev, A.V Su pe ran skây và các nhà địa danh học ngời Pháp nh A Dau zat trong La Tôpny mie Fran Cai se, Ch.Ros Tning trong Les nóm dé lins thì: “Cần phải nghiên cứu địa danh bằng phơng pháp tổng hợp, trong đó
phơng pháp ngôn ngữ học là chính, đồng thời kết hợp chặt chẽ sự hỗ trợ của các ngành: lịch sử học, địa lý học, khảo cổ học, dân tộc học ”
Vì vậy, để xác định đợc chính xác cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến
đổi của địa danh ở một địa phơng hay một vùng, miền cần phải vận dụng các kiến thức ngôn ngữ nh: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp để khảo sát, phân loại; Đồng thời kết hợp các kiến thức tổng hợp về địa lý, lịch sử, văn hóa có liên quan đến địa bàn nghiên cứu để phân tích, so sánh, đối chiếu, từ đó rút ra kết luận cuối cùng
1.1.2 Chức năng của địa danh.
Khi xác định địa danh là tên gọi đối tợng địa lý (tự nhiên hay nhân văn), thì cũng nh các danh từ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật Tuy nhiên, bên cạnh đó địa danh lại đối lập, khu biệt với danh từ chung ở chỗ, địa danh còn mang chức năng của danh từ riêng nghĩa là chúng có nhiệm vụ phân biệt và cá thể hóa đối tợng Nói cách khác, địa danh là tên riêng và nó có tác dụng đánh dấu, cá thể hóa đối tợng tơng ứng với những cái xung quanh và tơng tự nó Ví dụ: Ao, hồ
đều có đặc điểm là bề mặt lõm hơn so với mặt đất, có nớc và có thể nuôi cá, thả bèo Ngọn núi, quả đồi có đặc điểm chung là có một khu đất, đá nhô cao khỏi mặt
đất Nhng lại đợc đặt tên bởi ao này, hồ nọ, quả đồi kia, ngọn núi này vì chúng mang hai đặc trng: Một là đặc trng chung, phổ quát, lặp lại ở nhiều đối tợng trong một loại hình; Hai là đặc trng khu biệt không lặp lại các đối tợng trong cùng một loại hình Do vậy chức năng định danh và cá thể hóa đối tợng là một chức năng quan trọng và thờng trực của địa danh Nó là kết quả của quá trình khám phá, nhận thức của con ngời về thế giới thực tại khách quan và đợc con ngời đặt tên cho chúng Với đặc trng nh vậy, địa danh cũng đồng thời giúp cho con ngời thực hiện tốt quá trình giao tiếp, t duy Ngoài ra, mỗi địa danh hay một lớp địa danh còn gắn với nét văn hóa của từng cộng đồng, từng khu vực địa lý cụ thể Vì thế bên cạnh
Trang 15chức năng định danh đối tợng, địa danh còn có một chức năng quan trọng nữa đó
là phản ánh đặc điểm văn hóa
1.1.3 Phân loại địa danh.
Đến nay, do cha có sự thống nhất cao trong cách hiểu về thuật ngữ địa danh nên đã dẫn tới cách phân loại cũng trở nên phức tạp và thực tế cho tới hiện tại vẫn cha có một mô hình phân loại khái quát tối u nào có thể áp dụng phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu Vì vậy tùy từng đối tợng, tùy từng cách tiếp cận, tùy từng mục đích mà ngời nghiên cứu đa ra cách phân loại địa danh sao cho phù hợp Sau
đây là một số cách phân loại tiêu biểu ở phơng Tây và Việt Nam
- Vấn đề những cơ sở tiền ấn Âu
- Các danh từ tiền La tin về nớc trong thủy danh học
- Các từ nguyên Gô loa - La mã
- Địa danh học Gô loa - La mã của vùng Auvergne và Velay
* Ch.Rostaing trong Les noms de lieux vừa dựa vào ngữ nguyên vừa dựa
vào đối tợng phẩn ánh trình bày địa danh nớc Pháp thành 11 loại khác nhau:
- Những cơ sở tiền ấn Âu
- Các lớp tiền Xên - tích
- Lớp Gô loa
- Những phạm vi Gô loa - La mã
- Các sự hình thành La mã
- Những đóng góp của tiếng Giéc - manh
- Các hình thức của thời phong kiến
- Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo
- Những hình thái hiện đại
- Các địa danh và tên đờng phố
- Tên sông và núi
Trang 16Cách phân loại này quá phức tạp và thiếu tính hệ thống làm cho sự tìm hiểu
về địa danh trở nên phức tạp hơn
+ Khác với các đồng nghiệp ngời Pháp, các nhà địa danh học Xô viết phân loại địa danh theo nội dung biểu thị:
* G.P Smolicnaza và M.V Gorbanevskij trong Toponymija Moskvy chia địa
danh Matxcơ va ra 4 loại:
- Phơng danh (tên các địa phơng)
- Sơn danh (tên núi, đồi, gò )
- Thủy danh (tên các dòng chảy, hồ, vũng )
- Phố danh (tên các đối tợng trong thành phố)
* A.V Superanskara, trong Chto takoe toponimika? chia địa danh làm 7 loại:
Hai cách phân loại trên tơng đối đầy đủ, chi tiết nhng hầu nh không chú ý
đến những công trình xây dựng mang tính công ích nh cầu, cống, đập
Cách phân loại ở Việt Nam:
* Tác giả Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo, phần: Địa lý khảo, hạ“ ”
đã trình bày địa danh theo duyên cách (sự biến đổi) cũ - mới Cách trình bày này giúp chúng ta tìm hiểu đợc nguồn gốc của một số địa danh
* Tác giả Lê Trung Hoa trong Nguyên tắc và phơng pháp nghiên cứu địa danh đã phân loại địa danh Thành phố Hồ Chí Minh theo 2 tiêu chí khác nhau.
Dựa vào thuộc tính của đối tợng, ông chia địa danh làm 2 nhóm:
- Địa danh chỉ các đối tợng tự nhiên gồm: các đối tợng địa lý tự nhiên nh núi, đồi, sông, rạch
- Địa danh chỉ các đối tợng nhân tạo gồm 3 nhóm nhỏ:
Trang 17Địa danh chỉ công trình xây dựng: chùa, cầu, bến
Địa danh hành chính: ấp, xã, phờng
Địa danh vùng: khu, xóm
Dựa vào ngữ nguyên, ông chia địa danh ra 2 nhóm:
- Địa danh thuần Việt
- Địa danh không thuần Việt: gồm 3 nhóm nhỏ hơn:
Địa danh Hán Việt
Địa danh gốc Khơ Me
Địa danh gốc Pháp
* Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh Việt Nam [63] đã chia ra 6
loại địa danh khác nhau:
- Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
- Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian
- Loại đặt theo tín ngỡng, tôn giáo, lịch sử
- Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu
- Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
- Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Cách phân loại này tơng đối khái quát nhng cha thể hiện đầy đủ các mặt hiện thực đợc phản ánh trong địa danh của một địa phơng
* Dựa vào tiêu chí địa lý - lịch sử, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh làm 3 tầng bậc:
- Loại địa danh
- Kiểu địa danh
- Dạng địa danh
Theo đó, có 2 loại địa danh:
- Địa danh tự nhiên (bao gồm các đối tợng địa lý tự nhiên): Côn Đảo
- Địa danh kinh tế xã hội (bao gồm các đối tợng hoạt động của con ngời): làng Thợng Cát, huyện Sa Pa, thành phố Hải Phòng
Trong 2 loại địa danh này lại có 7 kiểu:
- Thủy danh (tên gọi các đối tợng nớc trong tự nhiên): sông Hồng, ngàn Sâu, hồ Tây
Trang 18- Sơn danh (tên gọi của dạng địa hình dơng khác nhau): Hoàng Liên Sơn,
- Quốc gia (là cấp cao tuyệt đối) Tên gọi nớc ta hiện nay là Việt Nam
7 kiểu này lại đợc chia ra 11 dạng nhỏ hơn là sông ngòi, hồ đầm, hải đảo,
đồi núi, rừng rú, truông trảng, làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh, thành phố và quốc gia
* Sau tác giả Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trờng trong Đặc điểm địa danh Thành phố Hải Phòng đã đa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh:
Dựa vào thuộc tính đối tợng, ông chia địa danh Hải Phòng ra 2 nhóm:
- Địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên: gồm 2 nhóm nhỏ:
Nhóm đất liền
Nhóm vùng biển giáp ranh
- Địa danh chỉ đối tợng địa lý nhân văn: gồm 2 nhóm:
Địa danh c trú hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con ngời,
do con ngời tạo nên: ấp, bộ, châu, di chỉ, di tích, khu tập thể, trại, trang, trấn, xã, xóm, vạn, xứ đạo
Địa danh đờng phố và địa danh chỉ công trình xây dựng
Địa danh đờng phố: đờng, ngã t, ngõ
Địa danh chỉ công trình xây dựng: bể bơi, bến cảng, chợ, chùa, nhà thờ, khách sạn, khu du lịch, khu kinh tế mới, kinh đô, xí nghiệp
Dựa vào ngữ nguyên, ông chia địa danh Hải Phòng ra các loại:
- Địa danh có nguồn gốc Hán Việt
- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
Trang 19- Địa danh có nguồn gốc Pháp.
- Địa danh có nguồn gốc Tày - Thái, Việt - Mờng, Môn - Khơ Me, Chàm, Mã Lai
- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
- Địa danh cha xác định đợc nguồn gốc
Dựa vào chức năng giao tiếp, ông chia ra:
đều là những khu vực c trú hành chính của ngời dân
Tóm lại có thể nói, các cách phân loại của mỗi tác giả đều có thế mạnh riêng Nếu nh cách phân loại của Nguyễn Kiên Trờng chi tiết, cụ thể, bao quát địa danh ở nhiều khía cạnh, nhất là chú ý đến chức năng giao tiếp, qua đó có thể chỉ ra các địa danh theo tên gọi chính thức, tên dân gian, tên cổ, tên cũ và tên khác thì cách phân loại của Lê Trung Hoa giúp dễ dàng xác định đợc những ảnh hởng qua lại giữa ngôn ngữ (địa danh) với lịch sử, địa lý, văn hóa Không những thế, với h-ớng tiếp cận này, chúng ta còn thấy đợc cấu tạo của từng địa danh, cũng nh sự thay đổi, chuyển hóa của các địa danh và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh
Đối với địa danh Hoằng Hóa gồm nhiều lớp khác nhau, có sự chồng xếp lên nhau nên việc phục lại nguyên dạng cổ của chúng là rất khó khăn Mặt khác mảnh
đất Hoằng Hóa lại là nơi có nhiều biến cố về lịch sử vì thế luôn có sự vận động biến đổi không ngừng, nhiều địa danh cổ đã bị lãng quên và vùi lấp bởi thời gian
Trang 20Muốn xác định đợc nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh này phải dựa vào tổng thể nhiều phơng pháp với sự tham gia của các lĩnh vực: sử học, dân tộc học, xã hội học Trong đó phơng pháp ngữ âm học so sánh lịch sử và phơng pháp nghiên cứu
từ nguyên là quan trọng nhất
Chúng tôi cũng đồng ý với tác giả Nguyễn Kiên Trờng cho rằng: “Muốn nghiên cứu từ nguyên cần phải hiểu biết về quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ, các quy luật biến đổi ngữ âm và từ ngữ hoạt động trong các ngôn ngữ xa xa, đồng thời từ nguyên học cũng thờng xuyên đụng chạm đến các vấn đề lịch sử ngôn ngữ,
đời sống của dân tộc trong quá trình lịch sử Vì thế thao tác ngữ âm lịch sử có vai trò hết sức quan trọng, thậm chí có vai trò quyết định trong việc đa ra các giải thích về nguồn gốc ý nghĩa của địa danh ”
Trong quá trình phân tích chúng tôi dùng phơng pháp thao tác ngữ âm lịch
sử - phơng pháp này có vai trò quan trọng trong việc đa ra giải thích và có thể chấp nhận đợc về nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh Và mặc dù mang nhiều nét đặc thù
về địa lý, lịch sử, ngôn ngữ các thao tác tiếp cận cũng có những nét kiến thức riêng Nhng việc xác định nguồn gốc, ý nghĩa của một địa danh cụ thể cơ bản cũng đợc vận dụng trên cơ sở những giải pháp chung, đó là:
- Căn cứ vào ngữ nghĩa của từ nhng có chú ý đến sự biến đổi của chúng theo thời gian
- Dùng phơng pháp so sánh để xác lập mối quan hệ ngữ âm của các đơn vị
có liên quan (giữa địa danh và từ chung), từ đó phục nguyên lại dạng cổ của tên gọi trong những trờng hợp có thể và cần thiết
- Bám chắc vào địa bàn đang khảo sát, vận dụng những tri thức có trong địa
lý, lịch sử, dân tộc, khảo cổ, văn hóa dân gian
Phơng pháp tổng hợp trên đợc chúng tôi tiếp tục vận dụng để xác định nguồn gốc và ý nghĩa của hệ thống địa danh Hoằng Hóa trong các chơng tiếp theo của luận văn
1.2 Vài nét về địa lý, văn hóa, dân c, ngôn ngữ và địa danh Hoằng Hóa.
1.2.1 Đặc điểm về địa lý, hành chính.
Hoằng Hóa là một huyện lớn của vùng đồng bằng và ven biển Thanh Hóa, nằm ở vĩ tuyến 19o50’30” (ở Lạch Trào) đến 19o30’30” vĩ độ bắc (ở núi Sơn
Trang 21Trang) và từ kinh độ 105o59’50” (ở Ngã Ba Bông) đến 105o59’30” kinh độ Đông (ở Lạch Trờng) Phía bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía tây giáp huyện Thiệu Hóa, phía tây nam giáp Thành phố Thanh Hóa, phía tây bắc giáp các huyện Yên Định, Vĩnh Lộc, Hà Trung, phía nam giáp huyện Quảng Xơng, phía đông nam giáp Thị xã Sầm Sơn và phía đông là biển Diện tích tự nhiên là 224,7 km2 gồm 47 xã và 2 thị trấn với dân số hơn 25 vạn ngời.
Đồng hành cùng lịch sử dân tộc, trải mấy nghìn năm dựng và giữ nớc, khi nớc ta mang tên là Văn Lang, Hoằng Hóa là đất của bộ Cửu Chân Đời Âu Lạc vẫn thế Thời thuộc Hán, Hoằng Hóa là đất thuộc phía đông huyện T Phố và phía nam huyện D Phát Đời Tam Quốc, Lỡng Tấn và Nam Bắc triều là đất của huyện Kiến Sơ và Cao An Đời Tùy (581- 618) thuộc vùng đất của huyện Long An Đời Đờng,
là đất của huyện Sùng An rồi Sùng Bình
Năm 939, nớc ta giành đợc quyền tự chủ Trải qua các triều đại Ngô (939 - 967), Đinh (967 - 980), Tiền Lê (980 - 1010), đất Hoằng Hóa thời đó đợc gọi là
giáp Cổ Hoằng Năm 1010, Nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn chia cả
n-ớc là 24 lộ và châu thì Thanh Hóa là một lộ, Hoằng Hóa là giáp Cổ Hoằng trong lộ Thanh Hóa Năm 1225, nhà Trần thay nhà Lý, đời Trần Anh Tông hiệu Hng Long (1293 - 1314) đổi giáp Cổ Hoằng thành huyện Cổ Đằng Năm Quang Thái thứ 10
(1397), Lê Quý Ly làm Phụ chính Thái s, thì huyện Cổ Đằng đổi làm huyện Cổ Linh Thời thuộc Minh vẫn gọi là huyện Cổ Đằng Đời Lê, năm Quang Thuận thứ thứ 10 (1469), huyện Cổ Đằng đổi làm huyện Hoằng Hóa (cái tên Hoằng Hóa cũng có từ đây) thuộc phủ Hà Trung Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 19, trích tổng Đại Lý (huyện Hậu Lộc) và 2 tổng Dơng Sơn, Lỗ Minh cùng 3 xã Bái Xuyên,
Hà Thủy, Trung Tiết (thuộc huyện Hoằng Hóa) đặt làm huyện Mỹ Hóa Năm Tự
Đức thứ 3 lại nhập huyện Mỹ Hóa vào Hoằng Hóa kiêm nhiếp Năm Khải định thứ 9 (1924) bỏ huyện Mỹ Hóa, trả tổng Đại Lý trở về Hậu Lộc và nhập các tổng Dơng Sơn, Lỗ Hơng cùng các xã Bái Xuyên, Hà Thủy, Trung Tiết về Hoằng Hóa
nh cũ Địa giới huyện Hoằng Hóa ổn định từ đây
Về ý nghĩa của tên gọi Hoằng Hóa, mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau
song phần đông đều cho rằng chữ “Hoằng Hóa” ( ) chứa đựng nội dung:
dốc sức truyền bá rộng rãi việc dùng đức để giáo hóa
Trang 22Theo “Hồng Đức bản đồ” vẽ năm 1490 thì Hoằng Hóa gồm 72 xã, 2 trang,
1 sở Trong tác phẩm “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX”, huyện Hoằng Hóa
có 7 tổng, 161 xã, thôn, trang, sở Trong nội giới huyện có dòng sông Cung (còn gọi là sông Lạch Trờng) cắt ngang gần nh chia đôi huyện với ba tổng ở phía bắc sông và bốn tổng ở phía nam sông
Về huyện lỵ, trớc thời tự chủ (938) đất Hoằng Hóa lệ thuộc vào các huyện lớn, lúc là đất của huyện T Phố, huyện Kiến Sơ, Cao An, Sùng Bình Huyện lỵ lúc này ít có khả năng đóng trên đất Hoằng Hóa ngày nay Thời Ngô, Đinh, Tiền
Lê, Lý mới đặt giáp Cổ Đằng, Cổ Hoằng nên cha có lỵ sở Thời Trần, lỵ sở lúc này
có nhiều khả năng là ở thôn Đằng Xá (xã Hoằng Đạo) Thời Lê Sơ cho đến đầu thế
kỷ XX, huyện lỵ chuyển về làng Quan Nội (xã Hoằng Anh) Dấu vết hiện nay còn
có chợ Huyện ở đây Từ năm Khải Định thứ 9 (1924) huyện lỵ chuyển xuống làng Bút Cơng (nay là xã Hoằng Phúc) Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, huyện
lỵ Hoằng Hóa vẫn đóng ở Bút Sơn (Bút Cơng, xã Hoằng Phúc), mở rộng đến Phố Gòng trên đờng đi vào chợ Quăng (Hoằng Lộc) thuộc xã Hoằng Vinh và nay trở thành Thị trấn Bút Sơn
Về mặt địa hình, huyện Hoằng Hóa trừ phía đông là biển còn ba bề đều có sông Mã bao bọc Do điều kiện sông ngòi và phù sa bồi đắp nên có thể chia mảnh
đất Hoằng Hóa thành 2 vùng: ven biển và đồng bằng, đợc phân cách bởi dòng sông Cung
Vùng ven biển Hoằng Hóa nằm ở phía Đông sông Cung đến giáp biển gồm
8 xã thuộc tổng Ngọc Chuế cũ, hình thành bởi dòng hải lu xuôi ngợc dọc bờ biển,
sự bào mòn của nền đất cũ, của hiện tợng biển lùi và sự bồi đắp của phù sa sông Mã Đợc các dãy cồn cát che chắn và sự phát triển của các dải cồn cát đã tạo nên những cánh đồng ven biển Cồn cát phát triển đến đâu, dân c đến sinh sống lập làng đến đó, nên giờ đây vẫn còn các tên làng nh Cồn Tiền, Cồn Tán, Cồn Hậu, Cồn Định
Vùng đồng bằng nằm ở phía Tây sông Cung bao gồm 39 xã và 2 thị trấn Sông Cung chảy xuyên suốt và gần nh chia tách đồng bằng Hoằng Hóa thành hai nửa bằng nhau
Trang 23Nửa phía Hữu ngạn bao gồm 22 xã và 2 thị trấn, phần lớn là đất cát pha Mé trên các xã này, khi dòng sông Mã chảy thẳng về Lạch Trờng rồi Lạch Trào, để lại một cánh đồng trũng thuộc địa phận ba tổng Từ Minh, Hành Vĩ, Bút Sơn thờng gọi
là cánh đồng tam tổng lớn nhất huyện, đây là trung tâm đồng bằng, là vựa lúa của huyện Hoằng Hóa
Nửa phía Tả ngạn bao gồm 17 xã (thuộc 3 tổng Ba tổng Lỗ Hơng, Dơng Sơn
và Dơng Thủy cũ) gần sông Mã, sông Ngu Thuở xa xa, khi cha có đê che chắn, hễ
ma là nớc sông Mã đổ về kéo bao nhiêu là phù sa, nên đi vào các làng mạc trớc
đây đờng thờng lầy lội Tuy giờ đây là đồng bằng, nhng xa xa dân đến khai khẩn,
đều ở trên các mô đất cao gọi là cồn Bởi thế mặc dù hiện tại đa phần đều là làng mạc sầm uất, nhng vẫn còn nhiều địa danh mang tên “cồn” nh cồn ổi, cồn Cò, cồn Móng Khỉ, cồn Bãi Săng, cồn Đồng Cáo, cồn Hỏa, cồn Mã Lự, cồn Mả Voi, cồn
Đồng Bái, cồn Kẻ
Vùng đất cao của huyện Hoằng Hóa không đáng kể, chỉ có một số làng ở ven núi Sơn Trang nh Trà La, Trà Mỹ ở xã Hoằng Khánh; Xa Vệ, Tự Nhiên ở xã Hoằng Trung
Tóm lại, điểm qua địa hình Hoằng Hóa với hình sông thế núi, trớc mặt là biển cả, sau lng là sông sâu, bên trái là núi cao, bên phải là lạch rộng, một vùng
đất mở, bằng phẳng phì nhiêu, giao thông thuận lợi, cảnh sắc thiên nhiên đa dạng, tơi đẹp nhng cũng đầy thách thức với nghị lực con ngời Phần lớn những cánh
đồng bát ngát, sự sầm uất, trù phú của xóm làng, sự phong phú của sản vật, sự đa dạng của ngành nghề ở địa bàn khá đông dân c này đều mang dấu vết bàn tay, công sức của lớp lớp ngời Hoằng Hóa, ròng rã bao thế hệ chống chọi với thiên nhiên, khai phá, cải tạo từ những bãi sú vẹt hoang vu, rậm rạp, những hón, ngòi n-
ớc mặn chằng chịt, những bãi sình lầy vùng cửa sông, cửa biển, những rừng rậm, cồn hoang để tạo nên một quê hơng tơi đẹp và rất đỗi tự hào
1.2.2 Đặc điểm về lịch sử, văn hóa.
Xứ Thanh - mảnh đất “thang mộc”, đất quý hơng, nơi phát tích của “tam vơng, nhị chúa” cùng hàng ngàn nhân tài kiệt xuất từ xa xa cũng nh hiện nay, đ-
ợc ví nh hình ảnh của đất nớc Việt Nam thu nhỏ, luôn luôn giữ một vai trò, vị trí
đặc biệt quan trọng trên tất cả các lĩnh vực ở mọi giai đoạn lịch sử của đất nớc
Trang 24Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nhận xét về Thanh Hóa đã nói:
Tỉnh Thanh biển bạc, rừng vàng Ruộng đồng bát ngát, xóm làng liên miên.
Trong tác phẩm Lịch triều hiến chơng loại chí, Phan Huy Chú viết:
“Thanh Hóa mạch núi cao chót vót, sông lớn lợn ven biển núi sông rất đẹp, là một chỗ đất có cảnh đẹp nơi xung yếu, các triều trớc vẫn coi là một trấn rất quan trọng, đời Lê lại là đất căn bản Vẻ non sông tơi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho, đến những sản vật quý cũng khác mọi nơi Bởi vì đất thiêng thì ngời tài giỏi, nên nảy ra những bậc phi thờng Vợng khí chung đúc, nên xứng đáng đứng đầu cả nớc”
Tác giả Đại Nam nhất thống chí nhận xét về Thanh Hóa: “Sĩ tử thích văn
học, giữ khí tiết, nông dân chăm cày cấy Hàng năm về tuần tiết vui mừng, viếng thăm nhất thiết theo Chu Văn Công, gia lễ về việc cầu phúc tế thần đại khái cũng
nh các tỉnh”
Còn H Le Breton trong Tỉnh Thanh Hóa (La province de Thanh Hóa) thì
viết “Thanh Hóa là nơi căn bản của nớc Nam, muốn học sử Nam, phải học sử tỉnh Thanh Hóa trớc Phong cảnh tỉnh Thanh đẹp có tiếng, nhiều tay sử bút Tàu đã đề tả mà khen Lại nhiều cổ tích danh kỳ, nên những bậc văn nhân, ai đã đến ở đó một ít lâu, sau dẫu đi đâu, lòng vẫn nhớ đó mãi ” Nớc có nguồn, cây có cội “ng-
ời Nam phải quý đất Thanh”
Giáo s Trần Quốc Vợng đánh giá: “Xứ Thanh là vị trí địa - chiến lợc, địa - chính trị, địa - văn hóa quan trọng của Việt Nam”
Những đánh giá, nhận định trên có lẽ không cần phải bàn gì thêm bởi trong Thanh Hóa đã có huyện Hoằng Hóa - một phần hữu cơ gắn bó chặt chẽ của Xứ Thanh rồi
Với Hoằng Hóa, tác giả Hoằng Hóa phong vật nhận xét: “Giới tiếp đến
biển, mặt đất bằng phẳng, non sông đẹp, là ấp nổi tiếng ở châu Thang Mộc ở đây
có những dòng họ nổi tiếng Từ xa đã suy tôn là đất văn nhã ở đời, hun đúc lên những con ngời, khí tiết lạ kỳ” Khí thiêng, tinh túy của núi sông Hoằng Hóa đã
“sinh văn võ công hầu giỏi”, “cháu giống, con Rồng nối tiếp xa”
Trang 25Ngời Hoằng Hóa trong suốt hàng ngàn năm lịch sử của mình, trên cơ tầng văn hóa lúa nớc đã kiên cờng chế ngự và lợi dụng thiên nhiên, cần cù chịu khó khai khẩn đất đai để làm nên những cánh đồng màu mỡ, những xóm làng sầm uất, trù mật Bao thế hệ ngời dân đã năng động, sáng tạo trong việc khai thác tiềm năng thiên nhiên ở quê hơng, tiềm năng trí tuệ của con ngời, làm cho Hoằng Hóa không hoàn toàn bị động bởi tự nhiên cùng những biến cố trong xã hội Với
vị trí địa lý thuận lợi: giáp với tỉnh lỵ Thanh Hóa, có bờ biển dài với hai cửa lớn
là Lạch Trờng và Lạch Trào, có đờng thiên lý Bắc - Nam đi qua, có sông Mã là tuyến giao thơng đờng thủy quan trọng lên các huyện miền tây Thanh Hóa và đi
ra các tỉnh bạn, không quá cách xa kinh thành Thăng Long, chỉ cần vợt khỏi dãy núi răng ca Tam Điệp là có thể tiếp cận với văn minh sông Hồng phồn thịnh, lại
là đất khoa bảng, có nhiều ngời đi đó đây, thời kỳ nào, thế hệ nào, ngời Hoằng Hóa cũng biết phát huy những thuận lợi của mình Trí óc và cánh tay của họ đã vợt lên trên cuộc sống nông nghiệp thuần túy, tiếp cận với nền văn hóa các địa phơng khác, với thành thị; với học hành, buôn bán, làm ăn đa Hoằng Hóa vợt
ra khỏi phần nào cái vòng khép kín, vốn là cố hữu của làng xã Việt Nam Họ không để cho những khó khăn của thiên nhiên, của xã hội áp chế mình mà kiên nhẫn, năng động để đối phó, khắc phục Điều đó phần nào lý giải tại sao dân Hoằng Hóa ít phiêu tán, chết đói trong những năm mất mùa, dịch tễ, thiên tai tr-
ớc đây Họ có đi đó đi đây nhiều nơi trong Nam ngoài Bắc, nhng là đi để làm thợ, làm thầy, để kiếm tiền bằng chính đôi bàn tay khéo léo và trí tuệ của bản thân Ngày xa đã vậy mà hiện tại bây giờ đây cũng thế
Tuy nhiên, thuận lợi của vị trí địa lý đồng thời cũng đan xen thử thách khắc nghiệt Sông ngòi, biển cả thờng xuyên gây nên những trận đại hồng thủy, bão gió, sóng thần, lụt lội, rồi giặc giã xâm lấn thờng xuyên, nhu cầu đắp đê trị thủy, khai phá đất đai, phòng chống thú dữ khiến con ngời phải chung lng đấu cật, kề vai sát cánh sử dụng tối đa sức lực và ý chí của mình để đối phó Từ đó tính gắn kết cộng đồng càng chặt chẽ, làm nên sức mạnh sáng tạo và kiên cờng diệu kỳ đợc thể hiện rõ nét, hòa chung vào bản sắc xứ Thanh và văn hóa Việt Nam, tạo nên tính cách của ngời Hoằng Hóa Đó là những con ngời biết tôn trọng tổ tiên và những ngời có công với đất nớc, với làng xã Yêu quý quê hơng, kính yêu cha mẹ, sống
Trang 26với anh em, họ hàng, bạn bè, làng nớc chí nghĩa chí tình, đoàn kết, tận tâm và có ý thức về nơi “chôn rau cắt rốn” rất sâu đậm Họ còn là những ngời mang trong mình tinh thần hiếu học, cần học, khổ học rất đáng tự hào, biết thởng thức cái đẹp trong cuộc sống, trong xã hội, trong văn chơng Không dễ gì mà Xứ Thanh có những câu: “Mẹo mực “Quảng Xơng, văn chơng Hoằng Hóa”, “Giấy làng Mơ, thơ Hoằng Hóa” Sĩ tử Hoằng Hóa từ lâu đã đợc ca ngợi là chăm chỉ, thông minh, trí tuệ trong sáng, có nghĩa khí, trọng nghĩa, cầu hiền, cơng trực, không ham giàu sang, không sợ kẻ có quyền thế, sống tiết tháo, làm quan thanh liêm
Có thể khái quát về những phẩm chất tốt đẹp của ngời Hoằng Hóa:
Một là, đoàn kết gắn bó chống thiên tai, địch họa, dũng cảm kiên cờng trong đấu tranh, cần cù sáng tạo trong lao động;
Hai là, thông minh trong học hành, năng động trong công việc, hoạt bát trong ứng xử;
Ba là, nhân hậu, độ lợng trong cuộc sống, trọng danh dự, trọng khí tiết, trọng tài năng
Điều đó hẳn không chỉ là do vợng khí núi sông mà do quá trình lao động, quá trình đấu tranh, do biết tận dụng và phát huy tối đa u thế thuận lợi của vị trí
địa lý đã đa ngời Hoằng Hóa vơn ra, đi tới biết bao vùng miền của đất nớc Sự tỏa rộng theo nhiều hớng của những con đờng thủy, bộ mà ngời Hoằng Hóa sử dụng trong lịch sử cũng chính là những dòng truyền tải văn hóa qua lại giữa Hoằng Hóa
và các vùng miền, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thu nhập tinh hoa dân tộc để bồi
đắp, phát triển văn hóa của địa bàn này Con ngời Hoằng Hóa hết thế hệ này đến thế hệ khác luôn tự rèn luyện mình vơn lên bằng lao động, học hỏi, giao lu và tích lũy trong suốt quá trình lịch sử để tạo cho mình một tính cách nh vậy
Tính đến hết năm 2009, Hoằng Hóa có 87 di tích lịch sử văn hóa đợc xếp hạng, gồm 17 di tích cấp Quốc gia, 70 di tích cấp tỉnh Trong đó có nhiều công trình có giá trị nh Đình Bảng Môn, Nhà thờ Nguyễn Quỳnh, Đình Phú Khê, Đền thờ Triệu Việt Vơng, Nghè Nguyệt Viên Suốt chế độ thi cử thời trung đại, chỉ tính từ thời Trần trở đi, huyện Hoằng Hóa có 48 ngời đỗ đại khoa (có 36 ngời đợc ghi tên trong bia tiến sỹ tại Văn miếu Quốc Tử Giám ở Thăng Long); Tính từ thời Hậu Lê (năm 1700 trở đi) có 154 ngời đỗ Trung Khoa (cử nhân) Hoằng Hóa là
Trang 27nơi sản sinh ra nhiều ngời nổi tiếng, có đức, có tài, lập đợc nhiều công tích cho dân, cho nớc, đợc dòng họ, xã hội và quốc gia tôn vinh nh: Đông các Đại học sĩ L-
u Diễm, Đô thống thợng tớng quân Lê Phụng Hiểu, Bảng nhãn Lơng Đắc Bằng, ớng quân Đỗ Hành, Đệ nhất giáp Tiến sỹ Nguyễn S Lộ, Hoàng giáp Lu Đình Chất,
T-Cử nhân Nguyễn Viên, T-Cử nhân Hà Duy Phiên, T-Cử nhân Nhữ Bá Sỹ, Phó bảng Nguyễn Đôn Tiết, Bang tá Lê Viết Trạc, Đề đốc Cao Bá Điển Trong đó có không ít gia đình anh trớc em sau, cha trớc con sau kế thế đăng khoa Đó là cha kể
đến còn bao ngời khác học lực uyên thâm, t duy sáng láng nhng không đi thi, hoặc thi không đỗ, bởi họ đã vợt ra ngoài phép tắc thi cử (do thời thế) nhng đợc nhân dân mến phục, ngợi ca (Lê Bặt Triệu, Trạng Quỳnh, Xiển Bột ) Sự hiện diện dày
đặc của các công trình kiến trúc, tôn giáo, các danh nhân tên tuổi, những trí thức tài năng, các văn thần, võ tớng mãi mãi là niềm tự hào to lớn, là những bông hoa tiêu biểu của mảnh đất địa linh nhân kiệt có bề dày truyền thống văn hóa, khoa
bảng rất đỗi tự hào này
1.2.3 Đặc điểm về dân c, ngôn ngữ.
H Le Breton trong Tỉnh Thanh Hóa (La province de Thanh Hóa) cho rằng:
“Xét về các phơng diện (địa d, khí hậu hay là sử ký) thì tỉnh Thanh Hóa thuộc về Bắc Kỳ là hơn, nhng nhà Nguyễn phát tích ở Thanh Hóa, nên tỉnh ấy thuộc về Trung Kỳ là rất phải” Ông còn nói thêm: “Tỉnh Thanh Hóa không phải là một hạt cai trị mà thôi, thật là một xứ”, nó là “cái hình ảnh thu nhỏ lại của xứ Bắc Kỳ vậy”
Về nguồn gốc dân c: Cơ bản Hoằng Hóa là vùng đất c dân đợc hình thành
từ hai nguồn: ngời Việt bản địa và ngời Việt từ nơi khác di c đến Cho tới nay, căn
cứ kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho phép xác định cộng đồng c dân có mặt sớm nhất ở địa bàn Hoằng Hóa cho đến bây giờ vẫn là Quỳ Chử và các làng xung quanh Họ sinh sống ở Hoằng Hóa cách ngày nay khoảng trên dới 4000 năm Điều
đó cho phép khẳng định rằng, trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc, con ngời
đã có mặt ở Hoằng Hóa Suốt thiên niên kỷ thứ nhất trớc công nguyên và thiên niên kỷ sau công nguyên, c dân trên địa bàn huyện từng bớc lan dần từ hai bên bờ sông Tuần Ngu đến các nơi khác Đến đời Lý, tuy còn tha thớt nhng trên khắp địa bàn huyện đều có c dân sinh sống Dấu vết vua Lý Thái Tổ trong những lần hành
Trang 28binh đi đánh Chiêm Thành ở phơng Nam còn lu lại nhiều nơi ở Hoằng Hóa Từ đời
Lý về sau, c dân trên địa bàn huyện, dù ở nơi khác đến hay từ các làng cũ san ra cũng chỉ là chen kẽ vào các vùng c dân mà thôi Trong dân c ở Hoằng Hóa, ngoài ngời bản địa, căn cứ thần tích, gia phả, sắc phong còn có bộ phận ngời Việt di c
có nguồn gốc từ đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung bộ lần lợt đến tụ c qua nhiều thời
kỳ lịch sử khác nhau (chủ yếu là ngời Thăng Long, Thái Nguyên, Hng Yên, Hải Phòng, Nghệ An ) Ngoài ra, còn có ngời Trung Hoa nh họ Hắc ở Hoằng Ngọc, một số họ ở Tào Xuyên và Phú Khê Việc nhiều làng thờ Tứ Vị cho phép chúng ta nghĩ rằng gốc gác xa xa của một số họ là ngời Tống Cũng có ngời ở huyện khác trong tỉnh tới sinh cơ lập nghiệp, cùng nhau chung sức đấu tranh với thiên nhiên và xây dựng xóm làng Nh vậy, trong những thời kỳ khác nhau, nhiều luồng dân c đã
đến và hòa mình vào lớp dân c bản địa Các luồng c dân vào Hoằng Hóa mang theo trong hành trang của mình những yếu tố văn hóa tinh túy nhất của mỗi vùng miền, đã làm phong phú, đa dạng thêm sắc thái văn hóa của quê hơng Hoằng Hóa, tạo nên một chỉnh thể gồm nhiều dòng tộc trên mảnh đất này Trải qua hàng mấy trăm năm chung sống, nhiều ngời không nhớ đến gốc gác xa xa của mình nữa, ở
đâu họ cũng xem mình là ngời Hoằng Hóa trong tỉnh Thanh Hóa của Tổ quốc Việt Nam
Trên lĩnh vực ngôn ngữ: Giáo s Trần Quốc Vợng nhận xét: “Ngời Xứ
Thanh có một cách phát âm tiếng Việt khó lẫn, không nhẹ lớt nh tiếng Hà Nội -
Xứ Bắc, không nặng - lặng trầm nh tiếng Nghệ - Xứ Trung Xứ Thanh là sự mở
đầu của “mô - tê - răng - rứa” của miền Trung, dân Hà Nội phải nghe lâu và phải học thì mới biết đợc” Về tiếng nói, ngời Thanh Hóa và ngời Bắc Kỳ có nhiều
Trang 29- S và x đều là x: song, xông đều là xông; sao, xao đều là xao; sa, xa đều là xa
Nhìn chung các âm uốn lỡi không có hay hầu nh không có
Về mặt phụ âm cuối: Cũng có một số âm phát âm nh vậy:
- iu và u nhập thành iu: cấp cứu/ cấp cíu, cây lựu/ cây lịu, về hu/ về hiu; u
- ây thành i: con chấy/ con chí; mày/mi; bữa nay/ bữa ni
- ơ thành iê: rợu/ riệu; con hơu/ con hiêu
Tóm lại là một số từ có nguyên âm đôi, khi phát âm thờng đợc bỏ đi một số phụ âm Song không phải tất cả các từ có nguyên âm đôi đều đợc phát âm nh vậy
Trên địa bàn huyện, ở vùng Đông Nam (tiêu biểu là hai xã Hoằng Thịnh và Hoằng Thái và các làng, xã thuộc các tổng Bái Trạch, Từ Quang cũ) có hiện tợng một số từ thêm nguyên âm nh:
Nhuần nhị/ nhuần nhuậy, quị/ quậy, đi tìm/ đi tiềm, nói/ nuối, ngói
Hoặc lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã: cũng/củng, cũn cỡn/ củn cởn và
ng-ợc lại: chữa bệnh/ chửa bệnh, lần lữa/ lần lửa
Ngoài ra khi phát âm có những từ, đáng lẽ là âm mở thành âm khép: nguồn nớc/ ngùn nớc, khuyên/khuyn, nhũng nhiễu/nhũng nhĩu
Một số từ có nguyên âm đôi, một nguyên âm hơi tụt xuống: thuốc/ thuốc, muống/ muống, đuốc/ đuốc (ô tụt xuống và nặng thêm một tí)
Đi xuống một số xã thuộc khu vực miền biển nh Hoằng Trờng, Hoằng Hải thì lại có hiện tợng:
- Thêm phụ âm g những từ có phụ âm n đàng sau: mần/ mầng; quan/ quang;
ý kiến/ ý kiếng; gian nan/giang nang
- Biến những từ có phụ âm cuối là t thành c: dắt/ dắc; cụt/ cục; mụt/mục
- Thêm nguyên âm vào một số từ có một nguyên âm thành nguyên âm đôi nh: có/cuớ, đó/đuớ, ngó/nguớ
Trang 30Hai cửa biển Hoằng Hóa không có ngời Bồ-lô c trú Nhng nghe phát âm những từ trên, ta thấy na ná nh phơng ngữ Bình Trị Thiên Phải chăng có sự trôi dạt về ngôn ngữ và nguồn gốc lịch sử là có một số ngời miền Trung đã c trú ở đây
từ xa xa?
Vùng Phú Khê tức Hoằng Phú, Hoằng Quý và các xã xung quanh, ngoài các hiện tợng ngôn ngữ nh trên, lại có thêm các hiện tợng:
+ Phát âm:
- ô thành o: đi đồng/ đi đòng; mồng gà/mòng gà; cái lồng/ cái lòng
- â thành a: gầy/ gày; lầy lội/ lày lội; đầy vơi/ đày vơi; cậu/ cạu; thầy giáo/ thày giáo
- ê thành a: mắc bệnh/ mắc bạnh; mệnh lệnh/ mạnh lạnh; khệnh khạng/ khạnh khạng hoặc ê thành i: bệnh/ bịnh; lệnh/lịnh
o thành ô: đóng/ đoóng; cọc/coọc; móng/ moóng
+ Một số từ gần tiếng Mờng, hay nói một cách khác, đó là tiếng Việt trớc thế kỷ X mà giờ đây ở một số huyện nh Thọ Xuân, Yên Định, Vĩnh Lộc còn
đậm nét hơn
- Con gà nói là con kha
- Thổi lửa nói là thủn lả
- Đau đầu nói là váng trốc
- Hái củi nói là hán củn
- Lúa gạo nói là lọ cấu
- Con trâu nói là con tru
Có thể xem câu sau đây là ví dụ cho hiện tợng đó: “Thằng cu hắn váng trốc, mẹ mi ra viền đoóng coọc mà buộc con tru, vô nhà xây lọ mới có cấu, rồi thủn lả nấu cho hắn bát cháo hoa” (thằng cu nó đau đầu, mẹ mi ra vờn đóng cọc
mà buộc con trâu, vào nhà xây lúa mới có gạo, rồi thổi lửa nấu cho hắn bát cháo hoa)
Cho đến ngày nay, nhiều ngời dân vẫn dùng từ địa phơng để giao tiếp với nhau trong làng xã:
- Đi đâu nói đi mô
- ở kia nói ở tê
Trang 31- Mày nói mi
- Tao nói tau
- Câu nói tiêu biểu cho tiếng địa phơng Thanh Hóa mà ở Hoằng Hóa một số vùng cũng có: “Bố em đi cấn, mẹ em đi cằn, chị em đi củn đến túi mới viền”
ở Hoằng Hóa còn có hiện tợng ngay trong một xã nhng tiếng nói của các làng cũng có sự khác nhau đôi chút Nh ở xã Hoằng Phong, dân làng Hội Triều phát âm nhanh, thanh độ cao; Dân làng Ngọc Long, Phong Mỹ phát âm nặng hơn; Dân làng Thụy Liên phát âm vừa nhng sai chính tả một số từ
Trở lên, chúng tôi đã nêu ra ba vùng ở Hoằng Hóa với một số nét tiểu dị trong cái tơng đồng chung của cả huyện, của cả các huyện miền xuôi của Xứ Thanh Rõ ràng trong một vùng nhỏ bé cũng có khá nhiều thổ ngữ Phần lớn các thổ ngữ đều có thể giải thích bằng quy luật diễn biến của ngữ âm Nh chúng ta đã biết phơng ngữ là một phạm trù lịch sử, song nhân tố giao tiếp mới là quyết định Tuy nằm trong ngữ hệ Việt Mờng song huyện Hoằng Hóa ở miền xuôi của tỉnh Thanh Hóa, lại là đất khoa bảng, có nhiều ngời đi đó đây, quá trình giao lu, tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ, liên tục nên tiếng Việt cổ, cách phát âm so với tiếng phổ thông tuy có một số âm cha thật chuẩn, nhng nhìn chung đã nhẹ nhàng thanh thoát hơn so với các nơi khác trong tỉnh (nh Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Nông Cống, Yên Định, Vĩnh Lộc ) và chịu ảnh hởng của âm điệu ngôn ngữ vùng đồng bằng sông Hồng, giảm đợc rất nhiều sự thô phác trong lời ăn tiếng nói
Tóm lại ở đây, dấu vết cổ xa của ngôn ngữ Việt vẫn còn lu giữ và tiếng nói của ngời Hoằng Hóa gần với phơng ngữ Bắc hơn là phơng ngữ Trung, nh đã trình bày
1.2.4 Địa danh Hoằng Hóa, kết quả thu thập và phân loại.
Dựa vào những tiêu chí đã đề ra trong phần mở đầu của luận văn, sau quá trình điền dã, tìm hiểu, khảo sát, từ các nguồn tài liệu, chúng tôi đã thu thập đợc
5228 địa danh bằng chữ và số ở trên địa bàn Hoằng Hóa Số địa danh này bao gồm
77 loại, đợc phân bố rộng khắp địa bàn nghiên cứu và xuất hiện trong nhiều thời
điểm khác nhau Ngoài ra để khôi phục lại tơng đối đầy đủ diện mạo của một vùng
đất qua các thời kỳ, chúng tôi thu thập cả những địa danh nay chỉ còn là tên gọi
Số lợng các địa danh mà chúng tôi thu thập đợc trên địa bàn huyện có thể cha thật
Trang 32hoàn toàn triệt để song về cơ bản đã cho ta cái nhìn tơng đối khái quát, đầy đủ về cảnh quan địa lý, chiều dày lịch sử của Hoằng Hóa, trong đó có những địa danh đã tồn tại rồi mất đi, có những địa danh có mặt từ thuở xa xa cho đến hôm nay và cũng có những địa danh mới đợc xuất hiện thời gian gần đây.
Để có thể khái quát các mặt của địa danh Hoằng Hóa, chúng tôi phân loại theo 3 hình thức:
- Phân loại theo thuộc tính của đối tợng địa lý;
- Phân loại theo ngữ nguyên;
- Phân loại theo chức năng giao tiếp
+ Phân loại theo thuộc tính của đối tợng địa lý:
Theo cách phân loại này, chúng tôi chia địa danh Hoằng Hóa thành hai nhóm lớn:
- Địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên (những địa danh do tác động của các yếu tố tự nhiên tạo nên rồi đợc con ngời đặt tên): hồ, ao, núi, đồi, đồng
- Địa danh chỉ đối tợng do con ngời kiến tạo (gọi là nhân văn), gồm 3 nhóm nhỏ hơn:
* Địa danh chỉ các công trình văn hóa (gọi tắt là địa danh văn hóa) gồm:
đình, chùa, miếu, nhà thờ, nhà văn hóa
* Địa danh c trú hành chính: bao gồm cả địa danh vùng nh tổng, xã, thị trấn, thôn, làng, xóm, tiểu khu
* Địa danh chỉ các công trình xây dựng (gọi tắt là địa danh xây dựng) gồm: cầu, cống đập, giếng, chợ, đờng, bến đò
Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ trình bày cách phân loại địa danh đã thu thập đợc qua bảng phân loại và thống kê số liệu cụ thể với những quy ớc nh sau:
* Số thứ tự: chỉ số lợng loại hình địa danh thu thập đợc
* Tần số: là số lần xuất hiện của loại địa danh này trong hệ thống địa danh
ở Hoằng Hóa Số lợng này sẽ không tơng đồng với số đối tợng địa lý tự nhiên hoặc nhân văn có trên địa bàn Hoằng Hóa do mỗi đối tợng có nhiều tên gọi
Trang 33* Cách sắp xếp: để dễ nhận biết đặc điểm loại hình của địa danh Hoằng Hóa (thiên về loại nào) chúng tôi sắp xếp theo nhóm, trong từng nhóm đợc sắp xếp theo thứ tự chữ cái.
* Đối với những địa danh đi cùng với khu vực hành chính, chúng tôi thống nhất viết tắt theo quy ớc sau:
H Hóa (Hoằng Hóa) H Lu (Hoằng Lu) H Trờng (Hoằng Trờng)
H Đức (Hoằng Đức) H Khê (Hoằng Khê) H Thịnh (Hoằng Thịnh)H.Xuân (Hoằng Xuân) H Cát (Hoằng Cát) H Trung (Hoằng Trung)
H Giang (Hoằng Giang) H Quỳ (Hoằng Quỳ) H Thanh (Hoằng Thanh)
H Đạt (Hoằng Đạt) H Phú (Hoằng Phú) H Thắng (Hoằng Thắng)
H Anh (Hoằng Anh) H Quý (Hoằng Quý) H Xuyên (Hoằng Xuyên)
H Phụ (Hoằng Phụ) H Lý (Hoằng Lý) H Phợng (Hoằng Phợng)
H Yến (Hoằng Yến) H Lộc (Hoằng Lộc) H Phong (Hoằng Phong)
H Đồng (Hoằng Đồng) H Phúc (Hoằng Phúc) H Châu (Hoằng Châu)
H Tân (Hoằng Tân) H Sơn (Hoằng Sơn) H Lơng (Hoằng Lơng)
H Hải (Hoằng Hải) H Hà (Hoằng Hà) H Trạch (Hoằng Trạch)
H Vinh (Hoằng Vinh) H Tiến (Hoằng Tiến) H Thành (Hoằng Thành)
H Trinh (Hoằng Trinh H Long (Hoằng Long) H Khánh (Hoằng Khánh)
H Ngọc (Hoằng Ngọc) H Đại (Hoằng Đại) T Xuyên (TT Tào Xuyên)
H Thái (Hoằng Thái) H Đạo (Hoằng Đạo) B Sơn (TT Bút Sơn)
H Kim (Hoằng Kim) H Minh (Hoằng Minh) H Quang (Hoằng Quang)
Trang 35Điều đó chứng tỏ trên địa bàn Hoằng Hóa, các hoạt động của con ngời là có bề dày về thời gian và để lại nhiều dấu ấn qua hệ thống các lớp địa danh dày đặc.
+ Phân loại theo ngữ nguyên:
Trong cách phân loại này, chúng tôi chia địa danh Hoằng Hóa ra các nhóm
nh sau:
- Địa danh có nguồn gốc Hán Việt:
Chiếm số lợng lớn trong loại địa danh c trú hành chính (đặc biệt là tên các làng, xã, thôn, xóm ) và một số địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh văn hóa Tuy nhiên ở các địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên, nhất là các xứ đồng, ao,
Trang 36bãi, nghĩa địa thì rất ít xuất hiện âm tiết gốc Hán Việt, trong khi đó loại đối tợng này chiếm tỷ lệ lớn trong địa danh ở Hoằng Hóa Đó là lý do giải thích tại sao địa danh nguồn gốc Hán Việt chỉ có tỉ lệ 21.50% trong địa danh Hoằng Hóa.
VD: tổng Bút Sơn, thôn Minh Quang (H Thành), xóm Liêm (H Lơng), làng An Lạc (H Hải), đồng Thanh Lam (H Phụ), chùa Hồng Nhuệ (H Thắng), cầu Hoàng Long (T Xuyên)
- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt:
Chiếm tỷ lệ (74.40 %), xuất hiện nhiều trong loại địa danh chỉ đối tợng địa
lý tự nhiên và một số địa danh xây dựng
VD: núi Đẽn (H Khánh), đò Vót (H Đạt), thôn Lay (H Lộc), làng Bởi (H
Đức), đồng Cồn Tre (H Phúc), xóm Bến (H Phúc), hón Dừa (H Thắng)
- Địa danh có nguồn gốc Pháp:
Trong số 5228 địa danh đợc thu thập, có 3 trờng hợp địa danh có nguồn gốc Pháp, chiếm (0.03 %)
VD: cống Xiphông (H Vinh); bãi Táplô (H Giang), cầu ÔTô (H Phợng) Nguyên gốc tiếng Pháp: Chiffon nghĩa là cống ngầm thoát nớc; Tableau: cái bảng Auto: xe có động cơ tự chạy đợc; Ngoài ra còn có 1 địa danh gốc Anh: cầu Xi (H Ngọc) Ciment (xi măng): hỗn hợp đá vôi, đất sét đợc nung, trộn với nớc để làm vật liệu xây dựng
- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp (3.82%) (hỗn hợp nhiều ngôn ngữ khác nhau do kết hợp ngữ nguyên):
Hỗn hợp Việt - Hán Việt, xuất hiện ở chủ yếu ở tên các xứ đồng, bái trên
địa bàn huyện
VD: đồng Bãi Thanh Xuân (H Xuyên), đồng Hủng Nguyệt (H Trờng),
đồng Ruộng Binh (H Ngọc), đồng Sờn Long (H Thành)
Ngoài ra còn có ở một số địa danh khác: ngã ba Xóm Mỹ (H Đồng), chợ Mới Lam (H Trạch)
Hỗn hợp Việt - Pháp, chỉ có ở một số ít địa danh
VD: đồng Hố Bom (H Khê, H Yến, H Hợp); hủng Hố Bom (H Trạch);
Bombe (bom): trái phá, là loại vũ khí do máy bay ném xuống; ngã ba Cây Xăng
(H Quỳ); Essence (xăng): loại dầu chạy cho máy
Trang 37- Địa danh cha xác định nguồn gốc (0.25%).
VD: đồng Nguôn (H Ngọc), đồng Nhĩnh (H Khê), bái Ngơn (H Long), bái Hía (H Thắng)
Bảng phân loại địa danh theo ngữ nguyên:
Cha xác định nguồn gốc 0.25% đồng Nguôn (H Ngọc)
Khảo sát số liệu thống kê ở mỗi nhóm địa danh theo ngữ nguyên, trong tổng
số địa danh Hoằng Hóa đã thu thập đợc, tỷ lệ địa danh có nguồn gốc Hán Việt không nhiều Các địa danh thuần Việt, địa danh dân gian (chiếm tỷ lệ 74,4%) tồn tại song song với địa danh Hán Việt chứng tỏ sự trờng tồn của ngôn ngữ ngời bản
địa và đó chính là dấu ấn ngôn ngữ - văn hóa còn lại rất quan trọng cho nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc và những biến thiên của thời cuộc, nhân dân Hoằng Hóa vẫn lu giữ, bảo tồn, nâng niu những tên đất, tên sông, tên núi, tên gò, tên đồng, tên bãi vốn có từ rất xa xa, để các thế hệ con cháu có đợc những địa danh đậm đà bản sắc dân tộc và giàu giá trị ngôn ngữ, văn hóa nh ngày nay
+ Phân loại theo chức năng giao tiếp
Trong giao tiếp, cũng nh nhiều địa phơng khác trên cả nớc, do phong cách
sử dụng địa danh “quan phơng” và không “quan phơng” nên có hiện tợng nhiều
địa danh trên địa bàn huyện cùng lúc tồn tại song hành tên chính thức và tên gọi dân gian; tên cổ, tên cũ và tên gọi hiện nay Vì vậy việc phân biệt tên cổ - cũ của một đối tợng là hết sức khó khăn vì nhợc điểm lớn nhất của địa danh là không có niên đại rõ ràng Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chỉ phân ra ba nhóm sau:
- Tên chính thức: Do chính quyền đặt ra, đa số là từ Hán Việt, đợc dùng trong các văn bản hành chính và trong các tài liệu, th tịch Tên chính thức còn đợc dùng trong lễ bái, thờ cúng
Trang 38VD: chùa Thiên Nhiên (H Lộc), núi Băng Sơn (H Sơn), làng Thu Văn (H Ngọc), làng Quan Nội (H Anh)
- Tên dân gian: Là những tên do dân gian đặt và thờng là từ thuần Việt, gắn liền với những đặc điểm chính của đối tợng và đợc dùng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày ở Hoằng Hóa, loại tên này thông thờng đợc dùng để gọi các đối tợng
địa lý tự nhiên nh núi, sông, và địa danh c trú hành chính nh thôn, làng, xóm
VD: chùa Nhờn (H Lộc), sông Cung, núi Bng (H Sơn), làng Mờn (H Ngọc), làng Chợ Huyện (H Anh), đình Bảng (H Lộc), chợ Gòng (B Sơn), dốc Bà Lài (H Phúc)
- Tên gọi khác: Do việc xác định thời gian hoặc niên đại của một địa danh không dễ chút nào nên chúng tôi xếp tất cả các tên cũ, tên cổ vào cùng nhóm với tên khác Việc phân biệt tên dân gian với loại tên khác có thể dẫm đạp lên nhau do
đặc điểm riêng về mặt hình thức, thờng là từ thuần Việt ngắn gọn và có chức năng giao tiếp khác Tên khác có thể cũng là tên chính thức nhng chỉ khác về tính lịch sử
VD: dãy núi Kim Trà còn có tên gọi là Nghĩa Trang, Sơn Trang;
làng Đại Điền (H Khánh) còn có tên là Nhuệ Hoàng;
làng Đông Khê (H Quỳ) còn có tên gọi là Xuân Phủ
Chẳng hạn:
Dãy (núi) Linh Trờng Hà Giò Kim Chuế, Trờng Lệ, Lạch Trờng
Các cách phân loại trên có thể giúp chúng ta có một cái nhìn khái quát về hệ thống địa danh ở Hoằng Hóa:
Phân loại dựa vào thuộc tính đối tợng địa lý giúp chúng ta nhận ra đợc những đặc điểm địa lý văn hóa tiêu biểu của địa bàn này: Hoằng Hóa là một huyện
đồng bằng ven biển với phần lớn là diện tích bằng phẳng, phì nhiêu và trên mảnh
Trang 39đất này là những xóm làng sầm uất, trù mật và dày đặc các công trình văn hóa, xây dựng Tất cả đều mang dấu vết bàn tay, công sức của lớp lớp ngời Hoằng Hóa trong suốt hàng nghìn năm xây dựng nên Ngoài ra cũng nh các làng quê khác trên
đất nớc ta, Hoằng Hóa là địa phơng có đời sống tôn giáo, tín ngỡng khá đặc sắc Hầu hết các làng ở Hoằng Hóa đều thờ Thành Hoàng với mong muốn đợc che chở, phù hộ cho cuộc sống của nhân dân đợc may mắn tốt lành Bên cạnh đó, đây còn
là một vùng đất hội tụ các tôn giáo lớn nh nhiều vùng đất khác trên lãnh thổ Việt Nam: Phật giáo, Nho giáo và Thiên chúa giáo Tuy thời điểm xuất hiện có khác nhau, ảnh hởng đến đời sống xã hội không giống nhau nhng đã ra tạo một bộ mặt văn hóa hữu thể là quần thể kiến trúc tôn giáo đa dạng gồm đình, đền, chùa, nhà thờ rất phong phú
Phân loại dựa vào ngữ nguyên: giúp chúng ta nắm đợc lịch sử hình thành cộng đồng dân c ở Hoằng Hóa cũng nh sự giao thoa tiếp xúc ngôn ngữ, văn hóa trên địa bàn
Phân loại dựa vào chức năng giao tiếp giúp chúng ta thấy đợc sự phong phú
và đa dạng trong cách đặt tên ở một vùng phơng ngữ Ngoài những tên chính thức còn có những tên gọi dân gian và loại tên này nhiều khi còn đợc sử dụng rộng rãi hơn tên gọi chính thức Ngoài ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, địa danh Hoằng Hóa cũng có những thay đổi nhất định đa đến hiện tợng có nhiều tên gọi khác nhau chỉ cùng một đối tợng Sự đa dạng đó làm cho việc nghiên cứu địa danh Hoằng Hóa trở nên thú vị và hấp dẫn hơn
Tiểu kết.
Đối với việc nghiên cứu cứu địa danh, phải nhất quán trong việc hiểu khái niệm và cách phân loại, bởi với những nhìn nhận khác nhau, sẽ mang đến những kết quả không giống nhau Vì thế, sự nhất quán trong quan niệm ngay từ đầu là rất quan trọng vì nó ảnh hởng đến cách trình bày và nội dung của đề tài đang nghiên cứu, tìm hiểu
Hoằng Hóa là địa phơng không phức tạp về vùng địa lý, ngôn ngữ và dân c Hoằng Hóa chủ yếu là đồng bằng ven biển, diện tích đồi núi ít, giao thông thuận tiện, liền kề với tỉnh lỵ Thanh Hóa, có đờng thiên lý Bắc Nam đi qua, có sông Mã
đồng thời cũng là tuyến giao thông đờng thủy quan trọng, có hai cửa biển, thuận
Trang 40lợi cho giao lu, tiếp xúc văn hóa Do vậy ngời Hoằng Hóa phát âm tuy có một số
âm cha thật chuẩn so với tiếng phổ thông nhng nếu so sánh với một số nơi khác ở
Xứ Thanh thì đã phổ thông hóa hơn nhiều Bên cạnh đó dân c chủ yếu là ngời Kinh, không có các dân tộc khác và về cơ bản cũng không có sự giao thoa, tiếp xúc đáng chú ý nào về mặt dân tộc, ngôn ngữ trên địa bàn trong quá khứ mà để lại những dấu ấn lớn
Tuy nhiên, địa danh Việt Nam nói chung và địa danh Hoằng Hóa nói riêng lại có sự đa dạng và phong phú, nhất là về tầng sâu thời gian Bởi đây là địa phơng chịu tác động của nhiều biến cố lịch sử Trải qua bao biến động thăng trầm, do hoàn cảnh đặc điểm lịch sử, do chịu sự chi phối của các thiết chế xã hội nên các
địa danh thay đổi nhiều, nhất là ở bộ phận địa danh c trú - hành chính Do đó việc mô tả, phân tích tìm hiểu đặc điểm ý nghĩa của chúng sẽ rất khó khăn Bên cạnh
đó, với 5228 địa danh mà chúng tôi thu thập đợc thuộc nhiều loại hình, nguồn gốc khác nhau trên một địa bàn có bề dày lịch sử, văn hóa lớn, nên khi phân loại, sẽ không tránh khỏi hiện tợng có những địa danh đợc xếp ở loại hình này nhng cũng
có thể xuất hiện ở loại hình khác Một số địa danh là công trình xây dựng: giếng làng, cầu cũng có thể xếp vào địa danh văn hóa bởi các ý nghĩa lịch sử của nó (VD: cầu Hàm Rồng) Vì vậy trong quá trình phân loại chúng tôi thấy tính chất nào nổi trội hơn thì xếp địa danh vào nhóm có đặc điểm thuộc tính nổi trội đó Do
đó cách trình bày của chúng tôi đôi chỗ vẫn chỉ là tơng đối
Nh chúng ta đã biết, địa danh - thành tố của ngôn ngữ chịu sự chế định của các yếu tố văn hóa, lịch sử, địa lý, dân c Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, việc quan tâm đến những nhân tố trên cần phải đợc chú ý lu tâm một cách đặc biệt Chính điều này sẽ dẫn đến sự khác biệt trong việc nghiên cứu địa danh thuần túy lịch sử, địa lý so với việc nghiên cứu địa danh dới góc độ ngôn ngữ học Vì vậy hệ thống địa danh huyện Hoằng Hóa sẽ là một trong những cứ liệu để nghiên cứu vùng đất này trên nhiều mặt: chính trị, văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ của địa phơng