Thực chất hiện giờ lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa ở Việt Nam tồn tại nội dung sau: Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia làm bốn loại căn cứ vào các loại ý nghĩa của từ bao gồm: Tr
Trang 1Trờng đại học vinh
nguyễn thị thu phơng
Bớc đầu khảo sát trờng từ vựng - ngữ nghĩa
về quê hơng và thời cuộc trong Tuyển tập mời năm
của nhà báo Phan Quang
Trang 2Vinh - 2011
Trang 3MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu 11
4 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 11
5 Bố cục 12
NỘI DUNG 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO LUẬN VĂN 13
1.1 Từ, nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa 13
1.1.1 Từ 13
1.1.2 Nghĩa của từ 17
1.1.2.1 Quan điểm về nghĩa của từ 17
1.1.2.2 Các thành phần nghĩa 21
1.1.3 Trường từ vựng ngữ nghĩa 24
1.2 Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa 26
1.2.1 Tính hệ thống của trường từ vựng - ngữ nghĩa 26
1.2.2 Các loại trường từ vựng - ngữ nghĩa 27
1.2.2.1 Trường nghĩa biểu vật 28
1.2.2.2 Trường nghĩa biểu niệm 29
1.2.2.3 Trường nghĩa tuyến tính 30
1.2.2.4 Trường liên tưởng 31
1.3 Giá trị biểu đạt của trường từ vựng - ngữ nghĩa 31
1.3.1 Giá trị biểu đạt hiện thực khách quan 31
1.3.2 Giá trị biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo 34
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ QUÊ HƯƠNG 37
2.1 Ngữ liệu của trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương 37
2.1.1 Tổng quan về tài liệu khảo sát 37
2.1.2 Phân loại các từ 37
2.1.3 Nhận xét 39
2.2 Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề quê hương 40
2.2.1 Tiêu chí phân lập các tiểu trường 40
2.2.2 Các tiểu trường nói về chủ đề quê hương 40
2.3 Giá trị biểu đạt của các trường về quê hương 41
2.3.1 Trường từ về địa danh quê hương - đất nước 41
2.3.2 Trường từ về quan hệ thân tộc 43
2.3.3 Trường từ về sinh hoạt truyền thống, tâm linh 45
2.3.4.Trường từ về cảnh vật quê hương gắn với kỷ niệm tuổi thơ 47
2.3.5 Nhận xét chung 52
2.3.5.1 Nỗi lòng của người con xa quê hương 52
Trang 42.3.5.2 Từ ngữ thân thuộc, bình dị 56
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ THỜI CUỘC 62
3.1 Ngữ liệu của các trường từ vựng - ngữ nghĩa về thời cuộc 62
3.1.1 Tổng quan về tài liệu khảo sát 62
3.1.2 Phân loại các từ 62
3.1.3 Nhận xét 65
3.2 Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề thời cuộc 65
3.2.1 Tiêu chí phân lập các tiểu trường 66
3.2.2 Các tiểu trường về chủ đề thời cuộc 66
3.3 Giá trị biểu đạt của các trường về thời cuộc 67
3.3.1 Trường từ về thiên tai dịch bệnh 67
3.3.2 Trường từ về tệ nạn xã hội 69
3.3.3 Trường từ về mục tiêu phát triển đất nước 71
3.3.4 Trường từ về hướng phát triển của đất nước 73
3.3.5 Nhận xét chung 76
3.3.5.1 Cập nhập thời sự nóng hổi 76
3.3.5.2 “Quyền năng và trách nhiệm” của một nhà báo 77
3.3.5.3 Tầm nhìn của một chính khách 82
Tiểu kết chương 3 84
PHẦN KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93
Trang 5TTMN : Tuyển tập mười năm
QH&TC : Quê hương và thời cuộc
QH : Quê hương
TC : Thời cuộc
TTV-NN : Trường từ vựng - ngữ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhà báo Phan Quang là nhà báo lớn của nền báo chí Việt Nam
Tên thật của ông là Phan Quang Diêu, sinh năm 1928 tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Ông bắt đầu viết báo từ năm 1948 Ông từng
làm việc tại báo Cứu quốc liên khu IV, báo Nhân Dân, là tổng biên tập của tạp chí Người làm báo, chủ nhiệm Tuần báo Nhà báo và Công luận, ban Tuyên
huấn Trung ương Ông thường được gọi với cái tên đầy trân trọng là “ông quan làm báo” vì đã nắm giữ rất nhiều các chức vụ quan trọng như: Thành viên Ban lãnh đạo Liên đoàn báo chí các nước ASEAN, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa 8, 9 và 10, Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Tổng giám đốc đài tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội Nhà báo Việt Nam
1.2 Bên cạnh sự nghiệp báo chí vô cùng lớn lao, độc giả còn biết đến
ông với vai trò là một nhà văn có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau Nhà báo lớn mang “nghề báo nghiệp văn” này đã dịch và giới thiệu các
tác phẩm Nghìn lẻ một ngày, Nghìn lẻ một đêm, Những ngôi sao ban ngày, 12
sử thi huyền thoại, Sử thi huyền thoại Đông Tây, ông còn cho ra mắt độc giả 6 tập ký (Quê hương, Thơ thẩn Paris, Bên mộ vua Tần, Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Trung ngày ấy chưa xa, Du ký), 2 tập tiểu luận (Về diện mạo báo chí Việt Nam, Nghề báo nghiệp văn), 2 tập truyện thiếu nhi (Một mình giữa đại dương, Chinh phục Hymalaya), 1 cuốn tuyển tập (Phan Quang tuyển tập)
và 3 tập chân dung trong nước và nước ngoài (Những người tôi quý mến, Phác họa chân dung) Các tác phẩm này không phải là “cuộc dạo chơi” sang làng
văn chương của một nhà báo bởi chúng đã chứng minh được sức sống bền bỉ
của mình trong lòng độc giả, cụ thể cuốn Nghìn lẻ một ngày đã được in lần thứ sáu, Nghìn lẻ một đêm tái bản lần thứ hai mươi lăm…
Trang 71.3 Năm 2008 cuốn Phan Quang tuyển tập mười năm ra mắt độc giả
Có thể nói đây là “cái nhìn toàn cảnh” về sự nghiệp cầm bút của ông trong giai đoạn mười năm gần đây Tuyển tập này chọn lọc một số bài viết của ông trong giai đoạn từ 1998 - 2008, tất cả đều đã được đăng trên các báo, tạp chí
hoặc đã được in thành sách Tuyển tập mười năm được chia làm năm phần, trong đó có một phần quan trọng là Quê hương và thời cuộc Qua các bài viết
nhà báo đã giành những tình cảm sâu đậm để nói về quê hương Bình Trị Thiên và đất nước Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những vấn đề lớn của thời cuộc bằng cái nhìn của một chính khách
1.4 Ở Việt nam việc vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học vào nghiên cứu
tác phẩm báo chí đã có những tiền lệ, các công trình đó thường là nghiên cứu
về mặt hành chức của các tác phẩm báo Lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa rất ít khi được áp dụng vào nghiên cứu tác phẩm báo chí, có chăng như ông Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra việc nghiên cứu trường liên tưởng trong tác phẩm văn học mà thôi Vậy nên, chúng tôi sẽ tiến hành thử nghiệm việc nghiên cứu tác phẩm báo chí áp dụng lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa Do dung lượng của cuốn ttmn quá dài, nên chúng tôi đã khoanh vùng phạm vi nghiên cứu trong phần 5 - Quê hương và thời cuộc
1.5 Với những lý do đó chúng tôi đã chọn đề tài “Bước đầu khảo sát
trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương và thời cuộc trong Tuyển tập mười năm của nhà báo Phan Quang” để nghiên cứu về tác phẩm của ông bằng cách
tiếp cận ngôn ngữ học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa được đưa ra bởi hai nhà
ngôn ngữ người Đức J.Trier và L.Weisgerber Trước đó thì đã có những lý thuyết khẳng định về quan hệ giữa các từ trong một ngôn ngữ
Trang 8Ở Việt Nam giáo sư Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lý thuyết trường Định nghĩa trường của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa.
- Năm 1973, ông có công trình “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa”
- Năm 1975, Giáo sư Đỗ Hữu Châu tiếp tục trình bày cụ thể về trường
và việc nghiên cứu từ vựng
Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu đã cung cấp một hệ thống
lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa Thực chất hiện giờ lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa ở Việt Nam tồn tại nội dung sau:
Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia làm bốn loại căn cứ vào các loại ý nghĩa của từ bao gồm: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng
Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt Đặc biệt, trường nghĩa liên tưởng được áp dụng nhiều khi nghiên cứu tác phẩm văn học Ví dụ một số công trình tiêu biểu như:
- Năm 1988, Nguyễn Đức Tồn có luận án PTS “Trường từ vựng bộ phận cơ thể người”
- Năm 1996, Nguyễn Thúy Khanh có luận án PTS “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật”
- Năm 1999, Đinh Thị Oanh bảo vệ luận văn Thạc sĩ “Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường “thực vật”
- Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt” Ở chương thứ 8 đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của trường gọi thực vật
Trang 9- Năm 2007, GS TS Đỗ Thị Kim Liên có bài báo “Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt” (Đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 (140) - 2007).
- Năm 2007, Phan Thị Thúy Hằng bảo vệ luận văn Thạc sĩ “Trường từ vựng tên gọi các loại cây trong ca dao của người Việt”
- Năm 2008, Lê Thị Thanh Nga bảo vệ luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm lớp
từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ vật dụng - biểu tượng tình yêu trong ca dao tình yêu lứa đôi”
- Năm 2009, TS Hoàng Anh, Nguyễn Thị Yến có bài báo “Trường nghĩa ẩm thực trong các bài báo viết về bóng đá” (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 7 (165) - 2009)
- Năm 2010, Trần Thị Mai có bài báo “Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận” (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2 (171+172) - 2010)
…
Ở các công trình trên lý thuyết trường được vận dụng vào nghiên cứu với vai trò là cơ sở tập hợp từ để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu khác nhau Như các công trình của tác giả Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thúy Khanh, Phan Thị Thúy Hằng, Đỗ Thị Kim Liên tập hợp các trường từ để nghiên cứu
về đặc trưng văn hóa Tác giả Đinh Thị Oanh nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa nhưng chỉ gói gọn trong phạm vi các vị từ Tác giả Lê Thị Thanh Nga thì nghiên cứu về mặt đặc điểm của từ ngữ Tiến sĩ Hoàng Anh và Lê Thị Yến nghiên cứu trường nghĩa ẩm thực trong các bài viết về bóng đá để chỉ ra sự sinh động trong cách sử dụng từ ngữ Bài viết của tác giả Trần Thị Mai áp dụng lý thuyết trường từ vựng ngữ nghĩa để nghiên cứu về ngôn ngữ thơ
Có thể nhận thấy rằng việc áp dụng lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa vào việc nghiên cứu tác phẩm báo chí của một tác giả cụ thể chưa từng
Trang 10có tiền lệ, có chăng chỉ là nghiên cứu về cách sử dụng từ ngữ trong tập hợp các bài báo Và hầu hết là áp dụng lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa để nghiên cứu các tác phẩm văn học.
2.2 Tuyển tập mười năm của nhà báo Phan Quang là tập hợp các bài
viết của tác giả trong giai đoạn 1998 - 2008 Tác phẩm xuất bản vào năm
2008 này chia làm 5 phần: Đất nước phương trời, thương nhớ vẫn còn, trên đường tìm học và suy ngẫm, dịch và giới thiệu, quê hương và thời cuộc
Tác giả của cuốn sách là một tên tuổi lớn trong làng báo chí Việt Nam Các tác phẩm của ông thể hiện một tư duy sâu sắc, một lối viết sắc sảo, kết hợp nhịp nhàng giữa báo chí và văn chương
Khi Tuyển tập mười năm xuất bản đã tạo một cơn dư chấn trong nền
báo chí Có rất nhiều bài báo giới thiệu và bình luận về cuốn sách đáng đọc này thí dụ, bài của cố Giáo sư Viện sĩ Hoàng Trinh (báo Nhân dân), Giáo sư
Hà Minh Đức (báo Người lao động), Giáo sư Viện sĩ Hồ Sĩ Vịnh (báo Văn nghệ), Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng (tạp chí Kiến thức Ngày nay), nhà thơ Vân Long (báo Sài Gòn Giải phóng), nhà văn Nguyễn Khắc Phê (tạp chí Người làm báo), các nhà báo Quế Trinh (Hà Nội mới), Nguyễn Lương Phán, (VietnamNet), Trương Cộng Hòa (VOVNEWS), vv (xem phần phụ lục)
Tuy nhiên, những tác phẩm báo chí thường có số phận ngắn ngủi hơn văn chương, vì nó được viết ra với mục đích chính là thông tin, vì vậy thường không được quan tâm nghiên cứu thỏa đáng Trong những năm gần đây, một
số tác phẩm dịch của tác giả Phan Quang như Nghìn lẻ một đêm đang được
tiến hành nghiên cứu
Đọc cuốn Tuyển tập mười năm, chúng tôi thấy những đặc sắc trong việc
sử dụng ngôn ngữ của tác giả Phan Quang, đồng thời những tâm tư, tình cảm của ông khiến nhiều người phải suy ngẫm về một tài năng lớn, một nhân cách lớn Vậy nên, chúng tôi quyết định lấy cuốn sách này làm tư liệu nghiên cứu
Trang 11theo hướng ngôn ngữ học, bằng cách áp dụng lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa Và luận văn của chúng tôi cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu
về Tuyển tập mười năm.
2.3 Với những trình bày trên, có thể khẳng định luận văn của chúng tôi
là công trình đầu tiên áp dụng lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa vào việc nghiên cứu tác phẩm báo chí của một tác giả cụ thể, và là công trình đầu tiên nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học cuốn “Tuyển tập mười năm” của nhà báo Phan Quang Vậy nên, đây là một công trình nghiên cứu hoàn toàn mới, không trùng lặp và sao chép với bất kỳ công trình nghiên cứu ngôn ngữ học nào khác
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Sử dụng lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa để khảo sát giá trị nội dung tư tưởng của tác giả và tác phẩm theo hai phạm vi chủ đề là quê hương
và thời cuộc
3.2 Nội dung nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục đích nghiên cứu của luận văn thì nội dung nghiên cứu cần phải tiến hành là:
- Nghiên cứu giới thiệu lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa làm cơ sở
lý luận cho luận văn
- Áp dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa để làm rõ hai chủ đề là quê hương và thời cuộc
4 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Ngữ liệu của đề tài
Ngữ liệu của đề tài là phần 5 (Quê hương và thời cuộc) trong Tuyển tập mười năm của nhà báo Phan Quang Gồm 52 bài, 161 trang.
Trang 124.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Xử lý ranh giới từ trên văn bản
- Thống kê để nhặt ra các từ thuộc hai chủ đề quê hương và thời cuộc (gồm từ nào? Xuất hiện bao nhiêu lần?)
- Phân loại các từ đã được định lượng theo các chủ đề nhỏ hơn
- Phân tích định tính về độ đậm đặc của các trường cũng như nội dung biểu đạt của các trường, thông qua đó để thấy tư tưởng, tình cảm và độ bao quát của tác giả
5 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận cho luận văn
1.1 Từ, nghĩa của từ, trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.2 Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.3 Giá trị biểu đạt của trường từ vựng - ngữ nghĩa
Chương 2: Trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương
2.1 Ngữ liệu các trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương
2.2 Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề quê hương
2.3 Giá trị biểu đạt của các trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương
Chương 3: Trường từ vựng - ngữ nghĩa về thời cuộc
3.1 Ngữ liệu các trường từ vựng - ngữ nghĩa về thời cuộc
3.2 Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề thời cuộc
3.3 Giá trị biểu đạt của các trường từ vựng - ngữ nghĩa về thời cuộc Cuối cùng là phần Tài liệu tham khảo
Trang 13NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO LUẬN VĂN 1.1 Từ, nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa
1.1.1 Từ
F de Saussure đã viết: “vì từ, mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn
vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” (dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [10;195]) Chính bởi “địa vị trung tâm” của từ nên dù khó cũng có rất nhiều các định nghĩa về nó Hiện nay có trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Phải thấy ngay rằng, không thể nào có sự trùng lặp giữa ít nhất hai khái niệm từ vì mỗi tác giả dựa trên một tiêu chí khác nhau để miêu tả, định nghĩa
K.Buhler: “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường.”
E.Sapir: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân có thể làm thành một câu tối giản”
V.Brondal: “Từ bao giờ và ở đâu cũng phải là một yếu tố của thông báo”.F.F.Fortunatov: “Từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm cũng là từ khác”
W.Schmidt: “Từ không phải là tổng số có tính số học của vật chất âm thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính vật chất âm thanh và ý nghĩa”
Ở các định nghĩa trên, mỗi định nghĩa đều mang nhược điểm riêng Định nghĩa của K.Buhler thiên về ngữ âm, định nghĩa của E.Sapir thiên về ngữ nghĩa, của V.Brondal thiên về chức năng giao tiếp của từ, của F.F.Fortunatov và W.Schmidt mang tính chất chung chung không cụ thể,
Trang 14không bao quát Từ những nhược điểm này đưa đến một đòi hỏi phải có một định nghĩa mang tính khái quát, một số nhà ngôn ngữ đã định nghĩa theo hướng này
S.E.Jakhontov cho rằng có ít nhất năm quan niệm khác nhau về cái gọi
là từ: từ chính tả, từ từ điển học, từ ngữ âm, từ biến tố, từ hoàn chỉnh
O.P.Xunik cho rằng nên có những định nghĩa bộ phận: từ ngữ âm, từ từ vựng, từ ngữ pháp
Giáo sư Đỗ Hữu Châu, khi nghiên cứu từ đã trình bày quan niệm của ông ở tất cả các bình diện trừu tượng của từ, cho ta cái nhìn tổng thể nhất Đó
là thành phần chức năng (từ - chức năng), thành phần ngữ nghĩa (từ - ngữ nghĩa), thành phần cấu tạo (từ - cấu tạo), thành phần ngữ pháp (từ - ngữ pháp)
và hiện thực hóa các bình diện trừu tượng thành bình diện cụ thể, biểu hiện
Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ có tính loại hình khác nhau nên: “Có lẽ những lời phàn nàn về sự vắng mặt một định nghĩa từ phù hợp với tất cả các ngôn ngữ vị tất đã có cơ sở Sự khác nhau giữa các ngôn ngữ về mặt loại hình khiến cho không thể có một định nghĩa từ cụ thể thỏa mãn tất cả các ngôn ngữ Đồng thời, tự nhiên là trong mỗi nhóm ngôn ngữ và có thể cả trong những ngôn ngữ riêng biệt, từ phải có một định nghĩa nào đó của mình” (I.P.Ivanova)
Trong khuôn khổ luận văn này xin trích dẫn định nghĩa về từ tiếng Việt của giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.” [5;336]
Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được phân loại thành từ đơn, từ láy, từ ghép Sự phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện ra cơ chế ngữ nghĩa thống nhất trong những từ cùng thuộc một kiểu loại
Trang 15- Từ đơn: là những từ do một hình vị tạo nên Đặc điểm về mặt ngữ pháp của chúng là có thể dùng độc lập (độc lập về vị trí và độc lập về ngữ pháp) Từ đơn có hai loại là từ đơn nguyên gốc và từ đơn suy phỏng Xét về mặt ý nghĩa, các từ đơn đại bộ phận đều có ý nghĩa hết sức khái quát “Không
kể các trường hợp đồng âm, tính khái quát của các từ đơn thể hiện ở hai phương diện: thứ nhất, ở ý nghĩa loại lớn (génerique), ngoại diên (extension) của mỗi từ bao quát rất nhiều sự vật, hiện tượng thường thì đồng tính, nhưng cũng có khi không đồng tính; thứ hai, ở khả năng tương ứng với một số cấu trúc biểu niệm khác nhau, sự phức hóa sẽ có tác dụng cố định hóa từng cấu trúc biểu niệm đó” [5;359]
- Từ láy: Phương thức láy là phương thức tác động vào một hình vị rời
tự thân có nghĩa (hoặc một đơn vị phức hợp có nghĩa) làm xuất hiện một hình
vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó Hình vị có nghĩa sẽ được gọi là hình vị cơ sở Phương thức láy có thể tạo ra hình thái của từ, biểu thị các ý nghĩa tình thái và quan hệ ngữ pháp hoặc tạo ra từ mới, tức là tạo ra những từ có cấu trúc nghĩa mới, khác so với cấu trúc của đơn vị cơ sở
Phân loại từ láy dựa vào mật độ láy ta có từ láy hoàn toàn và láy bộ phận, dựa vào số lần tác động của phương thức láy ta có từ láy đôi, láy ba, láy tư
Ví dụ: Xanh xanh, xinh xinh… → Láy hoàn toàn
Lúng túng, lông bông, ríu rít … → Láy bộ phận Nằng nặng, thâm thẫm, khe khẽ… → Láy đôiSạch sành sanh, xốp xồm xộp, cỏn còn con … → Láy baThậm thà thậm thụt, cảu nhảu càu nhàu … → Láy tưGiảm nhẹ, tăng cường, tính cảm giác, tính hình tượng là những sắc thái
mà phương thức láy thêm vào cho ý nghĩa của hình vị
Phân loại từ láy kết hợp âm và nghĩa, căn cứ vào mức độ biểu trưng hóa có thể chia làm ba loại:
Trang 16Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn: Ví dụ như lách cách, lộp bộp là
từ tượng thanh mô phỏng trực tiếp âm thanh tự nhiên
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: Ví dụ như lác đác, bâng khuâng, bồn chồn, rạo rực, náo nức… Thường yếu tố gốc mờ nghĩa nhưng giá
trị biểu cảm và sức gợi của từ rất cao vì biểu thị tính chất của sự vật thường nhuốm màu tâm trạng của con người
Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa: Đó là những từ mà ta có thể giải thích được không chỉ dựa vào yếu tố gốc mà còn
dựa vào nghĩa của khuôn vần hay âm đầu Ví dụ như tròn trặn, đỏ đắn, vuông vắn… khuôn vần “ăn” tạo cảm giác đạt đến sự viên mãn.
Nói tóm lại, “tác dụng đầu tiên về ngữ nghĩa của phương thức láy do sự lặp lại, tăng thêm một số lần có biến đổi ý nghĩa của hình vị cơ sở là tác dụng trạng thái hóa, tình trạng hóa với những sắc thái đi kèm: cảm giác hóa, hình tượng hóa, và ‘cảm thụ hóa’ cái mà hình vị cơ sở biểu thị” [5;395]
- Từ ghép: Phương thức ghép tác động cùng một lúc vào hai vị trí rời tự thân có nghĩa (hoặc đơn vị), kết hợp chúng với nhau, sản sinh ra một từ mới
Sự tác động này được tiến hành theo một trong ba quy tắc sau
Sử dụng hình tố vị trí để tạo từ: Quy tắc một là các yếu tố đánh dấu
đứng trước, không đánh dấu đứng sau Ví dụ như núi non, xe cộ, ruộng nương, chó má… Các yếu tố đứng trước có nghĩa chung, bao quát còn các yếu
tố đứng sau bị mờ nghĩa; Quy tắc hai là yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ
đứng sau (từ ghép thuần Việt, một phần Hán Việt) như cửa sổ, bàn ăn, xe máy, bàn gỗ…
Quy tắc đồng nhất và dị biệt về nghĩa còn gọi là quy tắc tuyển chọn
AB: A và B cùng nghĩa hoặc gần nghĩa như đợi chờ, thương yêu, ruộng vườn… ; CD: C và D dị biệt về nghĩa như xe đạp, xe lam, xe ủi…
Trang 17Quy tắc tổ hợp và chuyển di ngữ nghĩa: Đây là quy tắc cơ bản để tạo ra nghĩa phái sinh trong từ ghép.
a + b = AB
Ví dụ:
áo + quần = áo quần
đồ mặc che phần trên đồ mặc che phần dưới trang phục - đồ mặc
Sự tổ chức này được tiến hành theo nguyên tắc: Bước một là tổ hợp ngữ nghĩa, đó là hợp nhất nét đồng nhất lược bỏ nét dị biệt trong cơ cấu nghĩa của các thành tố Bước hai, chuyển di ngữ nghĩa theo hướng biểu trưng hóa, khái quát hóa
Trên đây là những khái quát về từ và từ tiếng Việt Phải nói rằng lý thuyết về từ rất phong phú đây chỉ là những hiểu biết sơ bộ để phục vụ cho luận văn này
1.1.2 Nghĩa của từ
1.1.2.1 Quan điểm về nghĩa của từ
Nghĩa của từ là một khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học Giống như từ, nghĩa của từ cũng được giải thích theo nhiều cách khác nhau
A.A.Reformatskiy cho rằng: Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ
P.A.Budagov lại viết: …có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tượng, sự phản ánh đó nảy sinh trong nhận thức của chúng ta và được biểu hiện trong bản thân từ
B.N.Golovin cũng phát biểu tương tự P.A.Budagov: … Sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật chất của từ và sự vật tương ứng chúng tôi sẽ gọi là nghĩa
Trang 18Theo Ju.D.Aprecjan thì “nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái
gì tự thân Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với các từ khác cùng thuộc trường ấy”
Trên đây là một số định nghĩa về nghĩa của từ Nhìn vào những định nghĩa đó ta thấy hiện lên những vấn đề chính sau: định nghĩa của A.A.Reformatskiy nhấn mạnh vai trò của sự vật, hiện tượng trong việc quyết định nghĩa của từ, bởi ngôn ngữ không phải là “một bảng tên gọi, nghĩa là một cái bảng có bao nhiêu từ ngữ thì tương ứng với bấy nhiêu sự vật” (F.de Saussure) Định nghĩa của Ju.D.Aprecjan lại gạt đi sự vật ra khỏi lĩnh vực ý nghĩa của từ
Từ hiện thực của các định nghĩa về từ, Ogden và Richard đã đi tới mối quan hệ giữa ba nhân tố: sự vật, khái niệm về sự vật và từ trong sự hình thành nên ý nghĩa Tiếp nhận quan điểm đó, Stern đã vẽ ra tam giác nghĩa nổi tiếng, cho đến nay nó vẫn được nhắc lại khi thảo luận về ý nghĩa của từ, dưới đây là tam giác nghĩa đó đã được Ju.X.Xtepanov dẫn lại:
Từ tam giác nghĩa này, có nhiều tác giả cho rằng ý nghĩa của từ được tạo thành từ ba nhân tố giống quan niệm của Ogden, Richard và Stern Tuy
Trang 19nhiên, sau đó nhiều thiếu sót của tam giác nghĩa này đã bị chỉ ra Cụ thể là ba nhân tố nghĩa tác giả đưa vào chưa thực sự cụ thể và đúng trong mọi trường
hợp Như ở nhân tố từ ngữ âm, chỉ đưa mỗi nemyx, trong khi ở một số ngôn
ngữ mỗi từ có thể có rất nhiều hình thức ngữ âm Thiếu sót thứ hai ở chỗ tác giả chỉ đưa từ - ngữ âm mà không đưa các hình thức khác cũng liên hệ trực tiếp đến nghĩa như từ - ngữ pháp, từ - cấu tạo Cuối cùng, tam giác nghĩa này không thể giải thích được tất cả các kiểu loại từ, nó chỉ có thể giải thích được thực từ mà không thể giải thích các tiểu từ, quan hệ từ Mạt khác, có thể nhận thấy Stern đã trình bày từ như là những sự kiện riêng rẽ Zveginxhev đã chỉ ra thiếu sót này và sửa đổi tam giác nghĩa như sau:
Nhưng sự thay đổi này cũng không đem lại nhiều kết quả, bởi dù thay đổi hay không thì tam giác nghĩa đó cũng tồn tại một nhược điểm nữa là không chỉ ra được quan hệ giữa những thực thể đặt ở mỗi đỉnh với nhau và quan hệ giữa mỗi thực thể đó với những nhân tố bên ngoài
Khắc phục hầu hết những hạn chế đó, Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đưa ra hình tháp nghĩa hình học không gian dưới đây Với những ưu điểm của nó có thể nói đây là cách hiểu khá hoàn hảo cho thuật ngữ “nghĩa của từ”
Trang 20Ở đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần hình thức và ý nghĩa Ở mỗi đỉnh của đáy là những nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, lần lượt là sự vật, hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái niệm), nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), các chức năng tín hiệu học, cấu trúc của ngôn ngữ.
Ưu điểm của hình tháp nhọn này là một mặt tách được những thực thể đang xem xét (từ, các nhân tố) ra khỏi nhau, đồng thời vạch ra được những quan hệ giữa chúng Từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ với khái niệm hình thành nghĩa biểu niệm, từ nhân tố người dùng hình thành ý nghĩa phong cách, liên hội, mối quan hệ với chức năng hình thành giá trị chức năng, mối quan hệ với cấu trúc (với từ khác) sẽ tạo thành ý nghĩa cấu trúc, và từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp
Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và
Trang 21những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ.
1.1.2.2 Các thành phần nghĩa
* Ý nghĩa biểu vật:
Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được gọi là ý nghĩa biểu vật của từ Hay nói cách khác, ý nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ
Có một điều cần chú ý là ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh trong tự nhiên ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc Ta
có thể chứng minh điều này dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong một ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ
- Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế, sự vật luôn luôn tồn tại trong dạng cá thể và cụ thể, còn ý nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt, khái quát
- Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thực khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ
* Ý nghĩa biểu niệm:
Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm Hay nói cách khác, khái niệm là một phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế Ðấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng
Các thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa Tập hợp của các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành ý nghĩa biểu niệm Như
Trang 22vậy, ý nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm
mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ
Các nét nghĩa bắt nguồn từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế, tuy nhiên ngôn ngữ của mỗi dân tộc chỉ chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập ý nghĩa của từ trong hệ thống
Phân loại các nét nghĩa:
- Nét nghĩa phạm trù (phạm trù vị): Là nét nghĩa lớn nhất, không thuộc một loại nét nghĩa nào lớn hơn
- Nét nghĩa loại (loại vị): Sự phân hóa tiếp theo của phạm trù vị là loại
vị Ðây là nét nghĩa cũng có ở nhiều từ nhưng nhỏ hơn phạm trù vị Hay nói cách khác, loại vị là sự cụ thể hóa của phạm trù vị
- Biệt vị: Tương tự sự phân hóa ở loại vị, biệt vị là sự biệt loại hóa của loại vị Có 2 loại biệt vị:
+ Biệt vị tận cùng: Kết quả của sự phân hóa một loại vị nào đó ở mức thấp nhất
+ Biệt vị đặc hữu: Những nét nghĩa thấp nhất chỉ xuất hiện ở 1 từ, không phải là sự phân hóa của loại vị
Vậy, ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ Chính vì ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm
Phân biệt ý nghĩa biểu niệm và khái niệm: Có thể chỉ ra sự khác nhau giữa ý nghĩa biểu niệm như sau:
- Khái niệm là sản phẩm của tư duy, do đó chung cho mọi dân tộc còn ý nghĩa của từ là riêng cho từng ngôn ngữ Chính vì vậy, có những ý nghĩa biểu
Trang 23niệm chỉ có trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ kia Ví dụ, ý nghĩa của các từ ghép đẳng lập phi cá thể (chợ búa, con cái, gà qué, ) hay ý nghĩa của các từ ghép chính phụ sắc thái hóa (xanh lè, đỏ au, ) có trong tiếng Việt mà không có trong tiếng Nga, tiếng Pháp
- Khái niệm có chức năng nhận thức nên tiêu chuẩn đánh giá nó là tính chân lí, chính vì vậy cho nên những dấu hiệu trong khái niệm là những dấu hiệu phản ánh các thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, đồng thời mỗi khái niệm chỉ ứng với một và chỉ một loại sự vật, hiện tượng trong thực tế mà thôi Còn ngôn ngữ có chức năng giao tiếp và tư duy nên tiêu chuẩn đánh giá nó là sự phù hợp hay không phù với hệ thống ngôn ngữ của từng dân tộc Nghĩa biểu niệm chỉ tiếp nhận những nét nghĩa nào cần thiết để lập nên cấu trúc nghĩa của từ trong mối quan hệ với toàn bộ
từ vựng, do đó nó chấp nhận cả hiện tượng nhiều nghĩa, đồng nghĩa Ví dụ, cắt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ với các từ chặt, chém, cưa, thái, hái, xẻ, ; đồng thời cắt không những chỉ có thể diễn đạt được những hoạt động có tính chất vật lí mà còn có thể diễn đạt được những hoạt động xã hội mang tính chất trừu tượng (trong cắt hộ khẩu, cắt quan hệ, )
Song những điều vừa nói chỉ đúng với ý nghĩa biểu niệm của những từ thông thường Trường hợp thuật ngữ khoa học và kĩ thuật, ý nghĩa biểu niệm trùng với khái niệm
Tóm lại, ý nghĩa biểu niệm và khái niệm vừa giống nhưng cũng vừa khác nhau Cả hai cùng sử dụng những vật liệu tinh thần mà tư duy con người đạt được Song nếu khái niệm bị chi phối bởi các quy luật của nhận thức thì ý nghĩa biểu niệm lại bị chi phối bởi quy luật của giao tiếp và tư duy Có thể nói khái niệm quan hệ với ý nghĩa biểu niệm ở chỗ nó cung cấp những (vật liệu (tinh thần để ngôn ngữ xây dựng nên ý nghĩa biểu niệm theo những quy tắc cấu trúc của mình Do đó, dù mọi dân tộc đều biết tư duy, nhưng hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của các dân tộc khác nhau
Trang 24* Ý nghĩa biểu thái:
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá như to, nhỏ, mạnh, yếu, nhân tố cảm xúc như: dễ chịu, khó chịu, sợ hãi, nhân tố thái độ như: trọng, khinh, yêu, ghét, mà từ gợi ra cho người nói và người nghe
1.1.3 Trường từ vựng ngữ nghĩa
Trước khi các lý thuyết về trường ra đời, thì tư tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa của các từ trong ngôn ngữ đã được phát biểu Có thể đây là những gợi ý bước đầu để hoàn thiện lý thuyết về trường
Năm 1896, M.M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [5;873])
Năm 1900, H.Osthoff viết: “Có những hệ thống nhất định ý nghĩa phụ thuộc lẫn nhau và vị trí ngữ nghĩa của từng yếu tố chỉ có thể được hiểu rõ nhờ vào cấu trúc của từng hệ thống đó” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [5;873])
Nhưng nguyên lý của F.de.Saussure mới là bước quyết định hình thành nên lý thuyết về các trường: “giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu
tố ở xung quanh quy định” và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [5;873])
Lý thuyết trường chính thức được đưa ra là nhờ công lao của hai nhà ngôn ngữ người Đức J.Trier và L.Weisgerber
Trang 25Trier cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ trong trường quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, trường quan
hệ với toàn bộ từ vựng cũng như từ quan hệ với trường của mình
L.Weisgerber thì cho rằng cần phải phân tích đến các góc nhìn khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống Ví dụ, khi nghiên cứu các trường từ chỉ các “tội lỗi”,
“khuyết tật”, L.Weigerber nêu ra hai góc nhìn, thứ nhất là mức độ trách nhiệm của người gây ra và thứ hai là các chuẩn mực bị xâm phạm
Nếu lý thuyết của Trier chỉ dừng ở mức gợi ý vì không phân biệt ý nghĩa với khái niệm, các lớp ý nghĩa, từ với khái niệm và quan niệm quá dứt khoát về ranh giới giữa các trường khái niệm và các vùng khái niệm của từ… thì L.Weisgerber dường như đã căn cứ vào những sự đồng nhất ngữ nghĩa rút
ra từ bên ngoài ngôn ngữ để thành lập trường rồi mới đưa ra các từ trọn vẹn, không phân hóa vào từng trường một
Sau này có Roget, Hallig và Warburg nghiên cứu trường qua cách liệt
kê các danh mục từ Nhưng có thể thấy rằng lý thuyết trường ở buổi đầu này
có tham vọng quá lớn khi chia hết các từ vào các trường, vạch được ranh giới triệt để giữa các trường, không chấp nhận tình trạng một từ “đi” vào một số trường, trong khi từ và nghĩa chưa được sơ bộ “xử lí” một cách thích đáng, đủ
để rút ra những căn cứ nhất quán cho việc phân lập các trường
Ở Việt Nam, giáo sư Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lý thuyết trường Định nghĩa trường của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa
Trên đây là những giới thiệu sơ lược về các định nghĩa trường, dưới đây chúng tôi sẽ đề cập đến những đặc điểm của trường
Trang 261.2 Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.2.1 Tính hệ thống của trường từ vựng - ngữ nghĩa
Hệ thống là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau và giá trị của mỗi yếu tố là do quan hệ giữa nó với các yếu tố khác trong
hệ thống quyết định Mỗi hệ thống có một chức năng nhất định và có những điều kiện vật chất nhất định, biểu hiện trong điều kiện vật chất của các yếu tố Chức năng là tính mục đích của hệ thống và điều kiện vật chất là để đảm bảo cho hệ thống có thể hành chức được Toàn bộ những quan hệ và “quan hệ” giữa các quan hệ trong hệ thống lập thành cấu trúc của hệ thống
Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa và chúng mang tính hệ thống
Giáo sư Đỗ Hữu Châu viết: “Quan điểm hệ thống về các sự kiện ngôn ngữ buộc chúng ta phải thừa nhận rằng, một mặt các đơn vị từ vựng (từ, cụm
cố định) là những hệ thống nhỏ nhất - những tế bào của ngôn ngữ - có cấu trúc nội bộ riêng của mình Đó là cấu trúc hình thức, cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc toàn vẹn hình thức - ngữ nghĩa của từng đơn vị một Mặt khác, từ vựng của mỗi ngôn ngữ cũng là một hệ thống - hệ thống lớn Có cấu trúc riêng Vì từ vựng là một hệ thống rất lớn, rất phức tạp và không kín cho nên yếu tố của nó
sẽ không phải trực tiếp là từng đơn vị từ vựng nữa mà là từng hệ thống con, và quan hệ trong hệ thống từ vựng biểu hiện qua quan hệ giữa các hệ thống con
đó Mỗi hệ thống con là một trường từ vựng Khái niệm trường cũng là một khái niệm có tính thứ bậc (hierarchique), có nghĩa là một trường có thể chia rằng nhiều trường nhỏ hơn Trong một trường, các đơn vị sẽ bộc lộ ràng các quan hệ với nhau và giá trị của chúng” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [5;34])
Khi phân loại từ ngữ thành các trường mặc nhiên chúng ta thừa nhận tính hệ thống của nó Bởi mỗi trường đều tồn tại một số từ (các yếu tố) và có chung một nét nghĩa (quan hệ giữa các yếu tố)
Trang 27Ví dụ: Ta khẳng định trường nghĩa “màn, mùng, chăn, khăn, chiếu…”
là một hệ thống, bởi giữa các từ trên có quan hệ với nhau bằng một nét nghĩa chung là “dụng cụ để che phủ” Giá trị của mỗi từ nằm ở chỗ nếu thay chúng bằng một từ khác với nét nghĩa không đồng nhất thì tập hợp trên sẽ không được gọi là trường, ví như thay từ “màn” bằng từ “gà”
Tính hệ thống của trường có vai trò rất lớn trong việc nghiên cứu từ vựng Như ta đã biết từ vựng của một ngôn ngữ là vô tận, luôn biến đổi theo thời gian, nếu nghiên cứu từng từ trong hệ thống ngôn ngữ để chỉ ra đặc điểm
về vốn từ vựng thì e rằng không có công trình nào có thể thực hiện được Nhưng khi phân loại từ vào các trường, nhờ tính hệ thống của nó mà việc nghiên cứu từ vựng trở nên gọn ghẽ hơn, việc khái quát cái chung từ những cái chung nhỏ hơn sẽ dẽ dàng hơn khái quát từ những chi tiết vụn Mặt khác,
“nắm được quan hệ và giá trị của đơn vị trong nội bộ hệ thống sẽ định được hướng xác lập trường; ngược lại, xây dựng được trường lại có thể phát hiện ra những giá trị và quan hệ trong từng đơn vị mà sự nghiên cứu cô lập hóa chúng không thấy được
1.2.2 Các loại trường từ vựng - ngữ nghĩa
Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu, có bốn loại trường nghĩa dựa vào quan
hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường và giữa các trường với nhau Dạng quan
hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) thì
có trường nghĩa ngang với hai loại là trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng Dạng quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) thì có trường nghĩa dọc với hai loại là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
Sau đây là sự trình bày bốn loại trường từ vựng - ngữ nghĩa lần lượt là trường biểu vật, trường biểu niệm, trường tuyến tính và trường liên tưởng
Trang 281.2.2.1 Trường nghĩa biểu vật
Một trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các
từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm gốc Các danh
từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật
như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu,… Các danh từ này cũng là
tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Như vậy, chúng ta sẽ đưa một
từ về một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên
Ví dụ với từ “tóc” ta có trường:
- Bộ phận của tóc: ngọn tóc, chân tóc, sợi tóc, mái tóc, đuôi tóc,…
- Đặc điểm của tóc:
+ Đặc điểm ngoại hình: bồng bềnh, ngắn, dài, xoăn, thẳng, dễ tre, tóc
tơ, vàng, đen, bạc, trắng, nâu, xanh, đỏ,…
+ Tình trạng của tóc: chẻ ngọn, khỏe, mượt, rối, gãy, đứt, khô, sâu,… + Tạo hình của tóc: xoăn, thẳng, cẩm vân, tóc bằng, tóc tém, đuôi ngựa, tóc búi, tóc tết,…
Cần chú ý những điểm sau về các trường biểu vật:
So sánh các trường lớn với nhau cũng như so sánh các trường nhỏ trong cùng một trường lớn, chúng ta sẽ thấy chúng rất khác nhau về số lượng từ ngữ
và về tổ chức Nếu lại so sánh các trường cùng một tên gọi (tức cùng danh từ) trong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác nhau trên còn rõ hơn nữa
Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ)
là một “miền” của trường, thì có thể thấy, các miền trong các trường thuộc các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống, tức không có từ ngữ, ở ngôn ngữ này nhưng lại không trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao ở
Trang 29ngôn ngữ này nhưng lại thấp ở ngôn ngữ kia Điều này khẳng định tính ngôn ngữ và tính dân tộc của các trường biểu vật.
Cần chú ý rằng khi phân lập các trường, chúng ta chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến từ Nói rõ hơn phân lập trường không phải là phân loại từ Không phải một từ đã có ở trường này thì không thể có ở trường kia được nữa vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy tùy theo
số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó
Do chỗ có các từ đi vào nhiều trường, cho nên các trường biểu vật có thể “thấm thấu”, “giao thoa” với nhau Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia
1.2.2.2 Trường nghĩa biểu niệm
Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những “miền” với mật độ khác nhau
Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể “giao thoa”,
“thẩm thấu” vào nhau
Dưới đây là ví dụ về trường biểu niệm dẫn theo ví dụ của Đỗ Hữu Châu.Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động) (cầm tay):
- Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, phảng, rìu, liềm, hái,
- Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, khoan,…
- Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ, dùi đục, dùi cui,…
- Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm, đó, đăng, câu, vó, bẫy,
Trang 30- Dụng cụ để mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp,…
- Dụng cụ để kìm giữ: kìm, kẹp, néo, móc,…
- Dụng cụ để chém giết (vũ khí): dao, gươm, kiếm, kích, giáo, đòng, phủ, việt, qua, nỏ, cung, tên, súng,…
- Dụng cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, mai, xẻng, bừa, cào,…
- Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, giuộc, gáo,…
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm như đã nói dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường dọc này
có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng khi cần phân một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm
Trái lại, khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật
Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường Nhưng cũng chính nhờ các trường, nhờ sự định vị của từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc them ý nghĩa của từ
1.2.2.3 Trường nghĩa tuyến tính
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Ví dụ trường nghĩa tuyến tính của từ ăn là cơm, cháo, bún,… ít, nhiều, nhanh, chậm…, lười, tham,… Trường nghĩa tuyến tính của từ học là chăm, lười,… giỏi, dốt, kém, tốt, yếu,…toán, văn, sinh, hóa,…
Trang 31Cùng với các trường nghĩa dọc, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ.
1.2.2.4 Trường liên tưởng
Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra liên tưởng: 1 Bò cái,
bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ,… 2 Sự cày bừa, cái cày, cái ách,… 3 Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh trong các thành ngữ Pháp v.v…
Dễ dàng nhận thấy rằng các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định từ bằng các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm
Các trường liên tưởng thường không ổn định nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Nhưng nó có tác dụng trong sự giải thích sự dùng từ của các tác giả
Trên đây là các kiểu trường theo phân loại của Đỗ Hữu Châu Trong luận văn này chúng tôi chỉ xác lập và nghiên cứu các trường biểu vật, biểu niệm, trường liên tưởng để hiểu rõ vốn từ của tác giả chứ không xác lập trường tuyến tính
1.3 Giá trị biểu đạt của trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.3.1 Giá trị biểu đạt hiện thực khách quan
Theo quan điểm của Triết học, hiện thực khách quan là thế giới tự nhiên, thế giới vật chất tồn tại độc lập ở bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của con người Theo đó ta có thể thấy hiện thực khách quan vô cùng rộng lớn và có tác động không nhỏ đến đời sống con người
Đối với các ngôn ngữ tự nhiên, thực tế khách quan của nó là tất cả những cái gì ở bên ngoài nó, không kể là các thực tế tồn tại một cách khách
Trang 32quan đối với con người hay là những cái trong thế giới tinh thần của con người “Tư tưởng”, “tình yêu” cũng là những thực tế khách quan ngoài ngôn ngữ.
Nhiều tác giả cho rằng thực tế khách quan ngoài ngôn ngữ là một dải liên tục, khi đi vào ngôn ngữ được chia cắt thành những phân đoạn (mỗi phân đoạn là một ý nghĩa biểu vật)
Cùng với sự chia cắt thực tế khách quan một cách khác nhau theo từng ngôn ngữ, cùng với sự quy loại có tính chất đặc ngữ của từng ngôn ngữ, cùng với sự có mặt của một ý nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ này mà không có mặt trong ngôn ngữ kia, sự đối lập biện chứng giữa những đặc tính bản thể của sự vật, thuộc tính, vận động ngoài ngôn ngữ với những đặc tính bản thể của các
ý nghĩa biểu vật, ta có thể khẳng định một lần nữa: “ý nghĩa biểu vật của các
từ là các ánh xạ của sự vật, thuộc tính, vận động ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ, ánh xạ là không hoàn toàn đồng nhất, là có sự cải tạo lại, sự sáng tạo lại, nói tổng quát là có sự ngôn ngữ hóa, sự cấu trúc hóa bởi ngôn ngữ đối với những cái có trong thực tế ngoài ngôn ngữ” [5;777]
J Trier là tác giả đầu tiên đưa khái niệm trường vào ngôn ngữ học
Nhưng Trier dùng khái niệm trường khái niệm và trường từ Mỗi trường khái
niệm là một tập hợp những khái niệm tương ứng với một lĩnh vực của thực tế
và là kết quả của sự chia cắt thực tế theo cách riêng của từng ngôn ngữ: “Mỗi ngôn ngữ phân chia thực tế theo cách của mình, do đó mà tạo ra cách nhìn của mình đối với thực tế và thiết lập nên những khái niệm riêng của mình” (dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [5;779] Mỗi một trường khái niệm là một cấu trúc trong
đó mỗi khái niệm không độc lập mà theo tinh thần của F de Sausure, bị quy định bởi những quan hệ với các khái niệm khác nằm trong cùng trường Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ ứng với một khái niệm, các
từ phủ lên trên một trường khái niệm được gọi là trường từ Theo Trier, giồng
Trang 33như một tác phẩm khảm ghép, trường từ phủ kín lên trường khái niệm không một chỗ trống.
Quay lại với trường từ vựng - ngữ nghĩa, nghĩa của nó là nét nghĩa chung của các từ trong trường, mỗi từ trong trường đều có nét nghĩa chung đó
Một trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Thế nên, nhờ các nét nghĩa biểu vật chung đấy mà hiện thực khách quan được thể hiện rõ nhất Ví dụ khi xác lập trường nghĩa biểu vật “bộ phận
cơ thể người” trong tư duy của ta sẽ phân tách các từ có khả năng vào trường thành các nét nghĩa nhỏ
Tay: bộ phận cơ thể người/ở phần thân trên/có tác dụng cầm, nắm, ném…Chân: bộ phận cơ thể người/ở phần thân dưới/có tác dụng giúp cơ thể đứng thẳng, di chuyển
Miệng: bộ phận cơ thể người/ở phần mặt/có tác dụng ăn, nói…
Mắt: bộ phận cơ thể người/ở phần mặt/có tác dụng nhìn
…
Ta thấy các từ trên có chung một ý nghĩa biểu vật là bộ phận cơ thể người, chính vì vậy chúng được tập hợp vào trường biểu vật là “bộ phận cơ thể người”
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là các trường biểu niệm không phản ánh hiện thực khách quan Nó cũng phản ánh hiện thực khách quan một cách sâu sắc Ví dụ: trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt)
- Dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản, đi văng…
- Dụng cụ để đặt: bàn, giá, gác, xích đông,…
- Dụng cụ để chứa, đựng: tủ, rương, hòm, vali, chạn…
- Dụng cụ để mặc, che thân: áo, quần, sơmi, khăn, khố…
- Dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, khăn, chăn, chiếu…
Trang 34Từ các ví dụ trên một lần nữa khẳng định trường từ vựng - ngữ nghĩa
có chức năng biểu đạt hiện thực khách quan, thông qua sự biểu đạt của các từ trong trường
Các trường từ là những tập hợp mở, nó phong phú và đa dạng như sự phong phú, đa dạng của từ ngữ Chính vì thế hiện thực khách quan mà nó phản ánh không thua kém gì từ, từ bộ phận cơ thể người, các hiện tượng thiên nhiên cho đến tính chất, trạng thái của sự vật…
1.3.2 Giá trị biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo
Chủ thể sáng tạo trong ngôn ngữ học là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, bài tiểu luận, báo cáo khoa học… hay đơn thuần chỉ là một văn bản nói trong giao tiếp hàng ngày
Tuy nhiên khi nghiên cứu tác phẩm văn học theo hướng ngôn ngữ học,
ta cũng cần phải hiểu thêm rằng, chủ thể sáng tạo hay còn gọi là tác giả văn học, ngoài việc tạo ra văn bản ngôn từ còn là “người có ý kiến riêng về đời sống và thời cuộc Đó là người phát biểu một tư tưởng mới, quan niệm mới, một cách hiểu mới về các hiện tượng đời sống, bày tỏ một lập trường xã hội
và công dân nhất định Xét về đặc trưng, tác giả văn học là người xây dựng thành công các hình tượng nghệ thuật độc đáo, sống động, có khả năng tồn tại được trong sự cảm thụ thích thú của người đọc Về mặt nghề nghiệp, tác giả văn học là người xây dựng được một ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tượng đặc trưng riêng” [12;289]
Có thể hiểu rằng, không một chủ thể sáng tạo nào sáng tạo ra văn bản ngôn từ mà không hướng đến một mục đích nào đó, có thể là giao tiếp, báo cáo, tư duy, trình bày quan điểm, đối với các nhà văn, nhà báo thì nhu cầu thể hiện tâm tư tình cảm của họ cao hơn hẳn người làm các ngành nghề khác nên việc tạo ra văn bản ngôn từ phần lớn là để phục vụ nhu cầu này
Trang 35Từ vựng là một trong những phương tiện đắc lực giúp nhà văn thể hiện
rõ ý đồ của mình Hệ thống từ vựng trong tác phẩm, hay nhiều tác phẩm của một tác giả giúp ta thấy được phong cách và tình cảm của nhà văn Chúng ta
sẽ thấy rõ điều này thông qua việc xác lập và giải nghĩa các trường từ vựng - ngữ nghĩa trong tác phẩm
Ví dụ trong tác phẩm Bác ơi của nhà thơ Tố Hữu, ta sẽ thấy trường từ nói về những sự vật quen thuộc gắn liền với Bác: vườn cau, gốc dừa, lối sỏi, thang gác, chuông nhỏ, phòng lặng, rèm buông, trái bưởi, hoa nhài… từ
trường từ đó nói lên sự nhớ thương, đau xót của nhà thơ trước sự ra đi của Bác Cảnh vật vẫn còn đó mà Bác đã không còn, mặt khác từ những sự vật đơn sơ, gần gũi đó nhà thơ ngầm thể hiện sự cảm phục, tiếc thương sâu sắc đến Bác - một nhân cách lớn, một lối sống giản dị quên mình vì mọi người
Hay trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, để thể hiện sự tha
hóa của Chí Phèo sau khi đi tù về, tác giả đã sử dụng những từ ngữ, mà chúng
ta có thể tập hợp thành một trường từ tả ngoại hình của Chí Phèo: (đầu) trọc lốc, (răng) trắng hớn, (mặt) đen, câng câng, (mắt) gườm gườm…
Sở dĩ trường từ có chức năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo là do trong quá trình sáng tác, tác giả đã rất cân nhắc trong việc sử dụng từ ngữ để phục vụ cho ý đồ của mình Các từ này, tập hợp với nhau bởi các nét nghĩa chung thành một trường nên cũng biểu hiện ý đồ đó Tuy nhiên, khi xếp từ thành các trường ta sẽ thấy rõ hơn, tập trung hơn điều tác giả muốn gửi gắm bằng việc sử dụng các từ ngữ đó
Từ giá trị biểu đạt tư tưởng tình cảm của chủ thể sáng tạo của các trường từ vựng - ngữ nghĩa, ta càng thấy rõ hơn vai trò của việc nghiên cứu từ vựng theo hệ thống, tức là xếp chúng thành các trường
Trang 36Tiểu kết chương 1
Từ những trình bày trên, ta có cái nhìn tổng quát về từ, nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa Từ vựng của mỗi ngôn ngữ đều có tính hệ thống, vậy nên khi nghiên cứu từ vựng chúng ta cũng phải nghiên cứu có hệ thống, bằng cách xác lập các trường và giải nghĩa chúng Việc xác lập trường ta dựa vào việc xác định những nét nghĩa chung của các từ trong trường
Trong ngôn ngữ, từ và ngữ luôn tập trung với nhau theo một phạm vi chủ đề nào đó Điều này phụ thuộc nhiều vào hiện thực khách quan, hay nói cách khác là hiện thực khách quan quy định chủ đề cho sự tập trung của các
từ, ngữ Ví dụ khi nói về màu sắc ta sẽ có các từ như vàng, xanh, trắng, đỏ… khi nói đến mặt người ta sẽ có các từ mặt, mũi, mắt, môi, xinh, xấu… Giữa các từ này có quan hệ với nhau và tạo thành trường Cần phải nhấn mạnh rằng, cái kết gắn các từ trong một trường không phải là nó mà chính là nghĩa của nó
Tùy theo hiện thực phản ánh ta nhận thấy rằng trong trường từ có những từ có vị trí quan trọng Khi áp dụng vào nghiên cứu tác phẩm thì các từ
có vị trí quan trọng sẽ là các từ được lặp đi lặp lại nhiều lần với tần số xuất hiện cao Các từ này gọi là các từ trung tâm, từ khóa còn các từ còn lại ta gọi
là các từ biên Khi giải nghĩa trường từ vựng - ngữ nghĩa ta cần đặc biệt lưu ý đến những từ khóa này, bởi nó nắm bắt “linh hồn” của cả trường mà ta đang giải nghĩa
Dựa vào nét nghĩa của các từ ta còn có thể phân ra các loại trường như trường biểu vật, trường biểu niệm hay trường tuyến tính, trường liên tưởng Việc giải nghĩa các trường ta sẽ dựa vào đặc tính thể hiện hiện thực khách quan và thể hiện tâm tư tình cảm của trường để giải nghĩa
Trang 37Chương 2 TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ QUÊ HƯƠNG
2.1 Ngữ liệu của trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương
2.1.1 Tổng quan về tài liệu khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát phần 5 Quê hương và thời cuộc trong Tuyển tập mười năm của nhà báo Phan Quang Toàn phần gồm 52 bài và 161
trang
Sau khi xử lý ranh giới từ, xác định ý nghĩa của các từ chúng tôi thống
kê được 79 từ nói về chủ đề quê hương
2.1.2 Phân loại các từ
Dựa vào đặc điểm của 81 từ đã thống kê được, chúng tôi tiến hành phân loại theo cấu tạo và tần số xuất hiện Sự phân loại được biểu hiện theo bảng biểu sau:
Từ, cụm từ Số lần xuất hiện
Từ đơn
cháuchaônghòcậuchùalúa
8322111
= 18 từ
Từ ghép
mai vàngcháu concâu hòtiếng hò
7444
Trang 38Từ ghép
ông ngoại
bà concháu ngoạiphá Tam Giangông bà
Ba Lòng
bà côbác họ
bó lúachén trà hươngchiếc chumcon cáicon gáicon trâucon suốiđền làng
em họgáo dừagia phảgiếng lànggió Làogiọng hò
họ hàng
họ mạclàng Thượngnhịp hòngã ba Ngô xáông bác
4322211111111111111111111111
Trang 39ông nộirặng núirơm rạtruông nhà Hồsông Nhùngsông Thạch Hãn
111111
= 61 từ
2.1.3 Nhận xét
Sau khi thống kê và phân loại các từ ngữ nói về chủ đề quê hương
trong phần 5 quê hương và thời cuộc chúng tôi có một vài nhận xét như sau:
- Về số lượng: Số lượng từ khảo sát được tương đối nhiều với 79 từ bởi trong 52 bài của phần 5 Quê hương và thời cuộc chỉ có 2 bài viết về chủ đề quê hương
- Trong số các từ chúng tôi đã thống kê có một số từ lặp đi lặp lại nhiều
lần như từ cháu xuất hiện 8 lần; tiếng hò, câu hò, ông ngoại, cháu con xuất hiện 4 lần; cha, bà con xuất hiện 3 lần…
- Liên quan đến từ “hò” xuất hiện nhiều cách gọi khác nhau như nhịp
hò, câu hò, tiếng hò, giọng hò.
- Các từ đã khảo sát đều là những từ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, không có từ mang ý nghĩa trừu tượng, khó hiểu
- Lớp từ chúng tôi khảo sát được chủ yếu là từ toàn dân, không có từ địa phương hay biệt ngữ
- Các từ ngữ trên chủ yếu là danh từ chỉ địa danh, chỉ cảnh vật, chỉ quan
hệ thân tộc, chứ không có các tính từ trực tiếp gọi tên tình cảm của ông đối với quê hương
Trang 402.2 Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề quê hương
2.2.1 Tiêu chí phân lập các tiểu trường
Dựa vào lý thuyết của ttv-nn, các tiểu trường được tập hợp bởi những
từ có nét nghĩa đồng nhất
Các từ đã thống kê được đều có nét nghĩa chung chỉ quê hương Khi phân lập chúng thành những tiểu trường thì phải dựa vào những nét nghĩa khác, nếu chúng đồng nhất với nhau thì tập hợp thành các tiểu trường Tức là ngoài nét nghĩa chung, lớn nhất chỉ quê hương chúng ta dựa vào sự đồng nhất của những nét nghĩa nhỏ hơn để phân lập thành các tiểu trường
2.2.2 Các tiểu trường nói về chủ đề quê hương
Từ lớp từ khảo sát được chúng tôi dựa vào những nét nghĩa chung chia chúng thành bốn trường: trường từ về địa danh quê hương - đất nước, trường
từ về quan hệ thân tộc, trường từ về sinh hoạt truyền thống tâm linh, trường từ
về cảnh vật quê hương gắn với kỷ niệm tuổi thơ
2.2.2.1 Trường từ về địa danh quê hương - đất nước: Ba Lòng, làng Thượng, ngã ba Ngô xá, phá Tam Giang (2), sông Nhùng, sông Thạch Hãn, truông Nhà Hồ
2.2.2.2 Trường từ về quan hệ thân tộc: bà con (3), bà cô, bác họ, cậu, cha (3), cháu (8), cháu ngoại (2), cháu con (4), con cái, con gái, em họ, họ hàng, họ mạc, ông (2), ông bà (2), ông bác, ông ngoại (4), ông nội, tiên tổ (5).
2.2.2.3 Trường từ về sinh hoạt truyền thống, tâm linh: bàn thờ (4), chùa, đền làng, giỗ (3), kỵ, nén hương, tết (5).
2.2.2.4 Trường từ về cảnh vật quê hương gắn với kỷ niệm tuổi thơ: bó lúa, câu hò (4), con suối, con trâu, chiếc chum, chén trà hương, gáo dừa, giếng làng, gió Lào, giọng hò, hò, lúa, mai vàng (7), nhịp hò, rặng núi, rơm rạ, tiếng
hò (4).