Thực trạng ở trường phổ thông cho thấy việc sử dụng bài tập vật lý nhìn từ góc độ lý luận và phương pháp dạy học vật lí còn nhiều bất cập vì thế hiệuquả học tập của học sinh chưa cao.Đa
Trang 1
PHAN ĐĂNG PHỤNG
BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN QUANG HÌNH VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TẬP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè, người thân Với nhữngtình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớithầy giáo PGS.TS Hà Văn Hùng đã tận tình đóng góp những ý kiến quý báugiúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô khoa Vật lí, khoa Sau Đại họctrường Đại học Vinh, đã tận tình giảng dạy, góp nhiều ý kiến quý báu cho tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo của cáctrường THPT trên địa bàn Tỉnh Đồng Tháp đã tạo điều kiện,giúp đỡ cho tôihoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ,khuyến khích tôi trong học tập và hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếusót Tôi rất mong muốn nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp
ý kiến của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn
Tháng 10 năm 2012
Tác giả
Phan Đăng Phụng
Trang 3Học sinhSách bài tậpSách giáo viênSách giáo khoa
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những đóng góp của đề tài 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ THÔNG QUA BÀI TẬP SÁNG TẠO 5
1.1 Tư duy và phát triển tư duy 5
1.1.1 Khái niệm tư duy 5
1.1.2 Khái niệm phát triển tư duy 6
1.2 Năng lực sáng tạo và bồi dưỡng tư duy sáng tạo 6
1.2.1 Khái niệm năng lực 6
1.2.2 Năng lực sáng tạo 9
1.2.3 Bồi dưỡng tư duy sáng tạo .10
1.3 Dạy học vật lí với việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh 20
1.3.1 Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới 20
1.3.2 Luyện tập phỏng đoán, dự đoán 21
1.4 Bài tập sáng tạo trong dạy học vật lí 24
1.4.1 Cơ sở lí thyết của BTST 24
1.4.2 Phân biệt BTLT và BTST 25
1.4.3 Vai trò của BTST trong dạy học vật lí 27
Trang 51.5 Bồi dưỡng tư duy sáng tạo thông qua bài tập sáng tạo 34
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2: BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN QUANG HÌNH QUA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP SÁNG TẠO 39
2.1 Nội dung phần Quang hình 39
2.1.1 Vai trò và vị trí phần Quang hình học lớp 11 39
2.1.2 Mục tiêu dạy học phần Quang hình học lớp 11 Cơ bản 39
2.1.3 Grap nội dung phần Quang hình học lớp 11 Cơ bản 42
2.2 Thực trạng dạy học phần Quang hình 43
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn của HS và GV khi dạy học phần Quang hình học lớp 11 Cơ bản 43
2.2.2 Thực trạng việc sử dụng bài tập phần Quang hình học lớp 11 của GV trong dạy học hiện nay 44
2.3 Xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo phần Quang hình 46
2.3.1 Yêu cầu lựa chọn BTST 46
2.3.2 Phân loại BTST 47
2.3.3 Cơ sở xây dựng BTST 49
2.3.4 Câu hỏi của GV trong quá trình hướng dẫn HS giải bài tập nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS 50
2.4 Hệ thống bài tập sáng tạo phần quang hình học lớp 11 và tiến trình sử dụng chúng trong dạy học 51
2.4.1 Bài tập có nhiều cách giải 51
2.4.2 Bài tập có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi 52
2.4.3 Bài tập thí nghiệm 52
2.4.4 Bài tập cho thiếu, thừa hoặc sai dữ kiện 54
2.4.5 Bài tập nghịch lý và ngụy biện 55
Trang 62.5 Xây dựng câu hỏi định hướng tư duy trong bài tập sáng tạo nhằm bồi
dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần Quang hình … 57
2.5.1 Bài tập có nhiều cách giải 57
2.5.2 Bài tập có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi 62
2.5.3 Bài tập thí nghiệm 66
2.5.4 Bài tập cho thiếu, thừa hoặc sai dữ kiện 77
2.5.5 Bài tập nghịch lý và ngụy biện 81
2.5.6 Bài toán “hộp đen” 85
Kết luận chương 2 89
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 90
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 90
3.3 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 91
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm 91
3.5 Nội dung thực nghiệm sư phạm 92
3.5.1 Lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 92
3.5.2 Tiến hành thực nghiệm 93
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 93
3.6.1 Kết quả điểm số các bài kiểm tra 93
3.6.2 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 94
3.6.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 96
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 Phụ lục 27 trang
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một trong những mục tiêu giáo dục của nước ta trong giai đoạn hiện nay
là phải đào tạo thế hệ trẻ có ý thức cộng đồng, phát huy tính tích cực của cánhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại Người lao động cần có
tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ hàng đầu vàcấp bách hiện nay của ngành giáo dục Định hướng đổi mới phương pháp dạyhọc theo tinh thần tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Thực trạng ở trường phổ thông cho thấy việc sử dụng bài tập vật lý nhìn
từ góc độ lý luận và phương pháp dạy học vật lí còn nhiều bất cập vì thế hiệuquả học tập của học sinh chưa cao.Đa số học sinh chưa phát huy được vai tròcủa việc rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo
Các nhà sư phạm trong nước và ngoài nước đã xây dựng và khai thác cácbài tập sáng tạo về vật lí theo các phương pháp khác nhau có tác dụng rất lớntrong việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh
Bài tập sáng tạo yêu cầu học sinh phải vận dụng phối hợp các kiến thức,
kỹ năng đã học để giải quyết vấn đề theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, mộtphương pháp mới
Trong quá trình dạy học ngoài việc giảng dạy nội dung lý thuyết thì việchướng dẫn học sinh vận dụng các kiến thức và rèn luyện phát triển tư duy chohọc sinh là một vấn đề hết sức quan trọng Việc vận dụng các kiến thức giúp họcsinh nhớ kỹ và nhớ lâu các kiến thức đã học, tìm các mối liên hệ giữa các kiếnthức mà các em đã được học với thực tiễn, vận dụng các kiến thức các em đượchọc vào cuộc sống và kỹ thuật, rèn luyện cho các em các kỹ năng, kỹ xảo về thínghiệm thực hành
Trang 8Bài tập sáng tạo Vật lí có tác dụng phát triển tư duy cho học sinh.Vì vậy sửdụng bài tập sáng tạo vào dạy học Vật lý là một yêu cầu tất yếu của việc đổi mớiphương pháp giảng dạy Bài tập sáng tạo đóng một vai trò hết sức quan trọngtrong việc luyện tập cho các em vận dụng các kiến thức và rèn luyện các kỹnăng Bài tập sáng tạo còn có thể đưa vào quá trình dạy học dưới nhiều hìnhthức khác nhau như đặt vấn đề dạy một bài mới, củng cố kiến thức sau khi họcxong một bài học, có thể đưa vào các tiết học tự chọn, các buổi ngoại khóa haybồi dưỡng học sinh giỏi
Vì các lý do nói trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần quang hình vật lí 11 Trung Học Phổ Thông qua sử dụng bài tập sáng tạo’’
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo phần Quang hình và sử dụng dạy học,góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài tập sáng tạo và bồi dưỡng tư duy sáng tạo trong dạy học bài tập
vật lí
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng các câu hỏi định hướng trong các cách giải bài tập nhằm bồi dưỡng
tư duy sáng tạo trong dạy học phần Quang hình Vật lí 11Trung Học Phổ Thông
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập sáng tạo phần Quang hình và sử dụngvào dạy học một cách hợp lý thì sẽ góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạocho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy học Vật lí lớp 11 ở Trường TrungHọc Phổ Thông
Trang 95 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo
cho học sinh
5.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học vật lí nói chung và
phần Quang hình ở trường trung học phổ thông nói riêng
5.3 Nghiên cứu cơ sở lí luận về bài tập sáng tạo Vật lí.
5.4 Nghiên cứu mục tiêu nội dung kiến thức, kỹ năng phần Quang hình
5.5 Xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo phần Quang hình Vật lí 11
Trung Học Phổ Thông
5.6 Xây dựng các phương án dạy học với hệ thống bài tập sáng tạo đã được
xây dựng
5.7 Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết của đề tài.
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học để làm sáng tỏ về mặt lý luận cácvấn đề liên quan đến bài tập sáng tạo về vật lí
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập, cáctài liệu khác để phân tích cấu trúc lôgic, nội dung của các kiến thức thuộc phầnQuang hình vật lí 11
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Điều tra thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học phần Quang hình vật lí 11
- Xây dựng phương án giảng dạy với bài tập sáng tạo cho phần Quang hìnhvật lí 11
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài
- Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng thống kê toán học
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ khả năng bồi dưỡng năng lực sáng
Trang 10tạo cho học sinh trong dạy học bài tập vật lí ở trường phổ thông.
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng được một hệ thống bài tập sáng tạo phần
Quang hình Vật lí 11 phục vụ cho việc dạy học ở trường Trung Học Phổ Thông
- Vận dụng hệ thống các bài tập sáng tạo đã xây dựng trong dạy học và bồi
dưỡng cho học sinh giỏi vật lí đồng thời làm tài liệu tham khảo cho công
tác dạy học vật lí ở trường phổ thông
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu ,kết luận và tài liệu tham khảo ,luận văn được chia
thành 3 chương :
Chương 1 :Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí thông qua bài tập sáng tạo
Chương 2:Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần
Quang hình qua việc xây dựng và việc xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo Chương 3:Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ THÔNG QUA BÀI TẬP SÁNG TẠO
1.1 Tư duy và phát triển tư duy
1.1.3 Khái niệm tư duy
Tư duy là sự phản ánh trong bộ não con người về những sự vật và hiệntượng những mối liên hệ và mối quan hệ có tính quy luật của chúng Trong quátrình tư duy con người dùng các khái niệm Nếu cảm giác, tri giác, hiện tượng
là những sự phản ánh các sự vật và hiện tượng cụ thể, riêng rẽ, thì khái niệm là
sự phản ánh những đặc điểm chung bản chất của một loại sự vật và hiện tượnggiống nhau
Khái niệm là một hình thức của tư duy trong đó phản ánh các dấu hiệu cơbản khác biệt của sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật hiện tượng nhất định Kháiniệm phản ánh bản chất của sự vật hiện tượng hay lớp các sự vật hiện tượngthông qua những dấu hiệu cơ bản khác biệt [13] Như vậy, tư duy đó là sự phảnánh thực tế một cách khách quan, gián tiếp
Tư duy phản ánh thực tế một cách khái quát vì nó phản ánh những thuộctính của hiện thực thông qua các khái niệm mà các khái niệm lại tách khỏinhững sự vật cụ thể, những cái chứa đựng những thuộc tính đó Tư duy phảnánh hiện thực một cách gián tiếp vì nó thay thế những hành động thực tế vớichính các sự vật bằng các hành động tinh thần với những hình ảnh của chúng
nó cho phép giải quyết những nhiệm vụ thực tế thông qua hoạt động tinh thần(lí luận) bằng cách dựa trên những tri thức về các thuộc tính và các mối quan hệcủa các sự vật được củng cố trong các khái niệm
Tư duy không chỉ phản ánh thế giới khánh quan mà còn giúp cho conngười tìm ra chân lí mới tổng quát có thể vận dụng để cải biến thế giới kháchquan [13]
Trang 12Có nhiều cách để phân loại tư duy Nếu dựa vào các dấu hiệu đặc thù củađối tượng tư duy thì ta có thể phân loại: Tư duy toán học, tư duy vật lí, tư duyngôn ngữ,…
Tư duy vật lí là sự quan sát các hiện tượng vật lí, phân tích một hiện tượngphức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan
hệ định tính và định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lí, dự đoáncác hệ quả mới từ các thuyết và vận dụng sáng tạo những kiến thức khái quátthu được vào thực tiễn [14], [16]
1.1.4 Khái niệm phát triển tư duy
Phát triển tư duy vừa là điều kiện đảm bảo HS nắm vững kiến thức ,vừatạo điều kiện cho học sinh có khả năng tự học tập ,nghiên cứu tìm tòi và giảiquyết vấn đề ,đáp ứng những đòi hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn sau khi rờighế nhà trường
Trong dạy học vật lí sự phát triển tư duy của HS được thực hiện trong quátrình HS chiếm lĩnh và vận dụng tri thức Sự phát triển tư duy của HS thể hiện ở
sự phát triển ngôn ngữ, sự phát triển óc quan sát, sự phát triển khả năng nhận rađược cái bản chất trong các hiện tượng tình huống vật lí, sự phát triển tư duylogic, tư duy biện chứng và phát triển khả năng áp dụng các phương pháp nhậnthức tổng quát (phương pháp thực nghiệm,phương pháp toán học, phương phápqui nạp – suy diễn, phương pháp mô hình [16]
1.2 Năng lực sáng tạo và bồi dưỡng tư duy sáng tạo.
1.2.1 Khái niệm năng lực
1.2.1.1 Khái niệm
Trong khoa học tâm lý, người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lýriêng của cá nhân; nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹpmột loạt hoạt động nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kếtquả cao[3]
Trang 13Người có năng lực về một hoạt động thuộc lĩnh vực nào đó thường bắt tayvào thực hiện một hoạt động trong lĩnh vực đó dễ dàng hơn, sự tiến bộ tronghoạt động đó rất nhanh về cường độ và chất lượng hơn người không có nănglực Người có năng lực ở mức độ cao bao giờ cũng thể hiện được tính độc lập
và sáng tạo trong hoạt động
Năng lực gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động tươngứng Song kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành độnghẹp, chuyên biệt đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc Còn năng lựcchứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hoạt động, có thể giải quyết nhiệm vụthành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực hoạt độngrộng hơn [2]
Thí dụ: Người có kỹ năng, kỹ xảo thì khi thực hiện các phép đo một đạilượng vật lí nào đó thì có thể thực hiện nhanh chóng, chính xác, khéo léo lắprắp các thiết bị Còn với người có năng lực thực nghiệm thì ngoài việc thựchiện các phép đo còn đề xuất được giả thuyết, nêu được phương án thí nghiệmkiểm tra, xử lý các số liệu đo lường để rút ra kết quả, giải thích, đánh giá kếtquả đo được, rút ra kết luận khái quát
1.2.1.2 Sự hình thành và phát triển năng lực
Theo [2]: Sự hình thành và phát triển năng lực của con người chịu tácđộng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố sinh học, yếu tố hoạt động của chủ thể
và yếu tố giao lưu xã hội
Yếu tố sinh học: Vai trò của di truyền trong sự hình thành năng lực Di
truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con người có thể hoạt động có kết quảtrong lĩnh vực nhất định Tuy nhiên, di truyền không thể quy định những giớihạn tiến bộ của xã hội loài người nói chung và của từng người nói riêng Nhữngđặc điểm sinh học mặc dầu có ảnh hưởng đến quá trình hình thành tài năng,cảm xúc, sức khỏe, thể chất của con người, nhưng nó chỉ tạo nên tiền đề của sựphát triển năng lực Mặt khác, những tư chất được di truyền chỉ đặc trưngnhững lĩnh vực hoạt động hay sáng tạo cụ thể, do trình độ phát triển của những
Trang 14loại hình sản suất, khoa học, nghệ thuật…và như là hoạt động sáng tạo của cánhân quyết định Những tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quancảm giác, các cơ quan vận động và ngôn ngữ… là điều kiện để thực hiện có kếtquả một hoạt động cụ thể Tuy nhiên sự thành công trong một lĩnh vực phần lớnphụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao động học tập, rèn luyện cũng nhưvào tích lũy kinh nghiệm của cá nhân.
Yếu tố hoạt động chủ thể: Như đã nói ở trên , năng lực không có sẵn
trong người Con người bằng hoạt động của chính mình mà chiếm lĩnh nhữngkinh nghiệm hoạt động của các thế hệ đi trước, biến thành năng lực của chínhmình
Yếu tố môi trường xã hội: Mỗi con người đều hoạt động trong một môi
trường xã hội nhất định Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích,phương tiện, hành động và đặc biệt cho hoạt động giao lưu, của mỗi cá nhânvới xã hội mà nhờ đó, cá nhân thu được kinh nghiệm xã hội loài người, biến nóthành của mình Cũng chính sự giao lưu với môi trường xã hội, con người mớibiết được hoạt động của mình có ý nghĩa như thế nào, có lợi ích như thế nào, cóphù hợp với thực tế không…Từ đó điều chỉnh hoạt động của mình để mang lạihiệu quả ngày càng cao, năng lực ngày càng được phát triển
Vai trò của giáo dục, dạy học trong việc hình thành năng lực:
Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành vàphát triển nhân cách của con người (trong đó có năng lực) theo những yêu cầucủa xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Sự hình thành và phát triển năng lực của HS phải thông qua chính hoạtđộng của HS trong mối quan hệ với cộng đồng Chỉ có dạy học trong nhàtrường mới có khả năng tạo ra những hoạt động đa dạng, phong phú, cần thiết,tạo điều kiện phát triển những năng lực khác nhau ở trẻ em, phù hợp với năngkhiếu bẩm sinh và yêu cầu của xã hội
Trang 15Chính trong dạy học có thể lựa chọn kỹ lưỡng những hình thức hoạt động.
Có sự định hướng chính xác sẽ giúp HS sớm nhận thức được những yêu cầucủa xã hội với hoạt động của mỗi người trong những lĩnh vực khác nhau
Như vậy, giáo dục, dạy học có thể mang lại những hiệu quả, những tiến
bộ của mỗi HS mà các yếu tố khác không thể có được Đặc biệt là dạy học cóthể đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển
1.2.2 Năng lực sáng tạo
1.2.2.1 Khái niệm sáng tạo
Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các
ý tưởng, dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai - ba các yếu tố nêu ra Kết hợp này gồm hoặc được tạo ra từ những cái gì là điều không quan trọng [21]
Theo [12]: “Sáng tạo, đó là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặc duynhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích”
Cái chính yếu của sáng tạo là sự mới mẽ của nó, và bởi vì thế chúng takhông có tiêu chuẩn qua đó có thể xét đoán nó (Carl Roger)
Theo từ điển triết học, sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo
ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất Các loại hình sáng tạo đượcxác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học, kỹ thuật, văn học nghệ thuật,
tổ chức, quân sự,… có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giớivật chất và tinh thần [3]
Tính sáng tạo thường liên quan đến tính tự giác, tích cực, chủ động, độclập, tự tin Sự sáng tạo là hình thức cao nhất của tính tích cực, độc lập của conngười Người có tư duy sáng tạo không chịu suy nghĩ theo lề thói chung, không
bị ràng buộc bởi những quy tắc hành động cứng nhắc đã được học
1.2.2.2 Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vậtchất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thànhcông những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới [3]
Trang 16Trong nghiên cứu vật lí, quá trình sáng tạo diễn ra theo chu trình gồm 4giai đoạn như ta đã biết (chu trình sáng tạo khoa học theo Razumôpxki) Trong
đó khó khăn nhất, đòi hỏi sự sáng tạo cao nhất là giai đoạn từ những sự kiệnthực nghiệm khởi đầu đề xuất mô hình giả thuyết và giai đoạn đưa ra phương
án thực nghiệm để kiểm tra hệ quả suy ra từ lý thuyết Trong hai giai đoạn này,không có con đường suy luận logic mà phải chủ yếu dựa vào trực giác
Vấn đề bản chất tâm lý học của trực giác là vấn đề cơ chế giải quyết cácnhiệm vụ nhận thức mà không thể thực hiện được bằng con đường suy luậnlogic Đó là trường hợp mà chủ thể nhận thức không có đủ tri thức cần thiết choviệc biến cải tình huống dần dần, để cuối cùng đi đến giải quyết được nhiệm
vụ Ở đây, bắt buộc phải đưa ra một phỏng đoán mới, một giải pháp mới chưa
hề có, một hoạt động sáng tạo thật sự
Năng lực sáng tạo gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo và vốn hiểu biết của chủthể trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâurộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương
án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, không thểrèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với học tập kiến thức về một lĩnhvực nào đó
1.2.3 Bồi dưỡng tư duy sáng tạo.
1.2.3.1 Khái niệm về tư duy sáng tạo
Năng lực tư duy của con người có ý nghĩa quyết định ,ảnh hưởng đến đờisống vật chất và tinh thần và đến sự phát triển của cá nhân cộng đồng và của cả
xã hội loài người
Tư duy để sáng tạo, để đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề, nhữngquyết định cần thực hiện Vì thế năng lực tư duy sáng tạo của mỗi con người làtiêu chí để đánh giá trình độ và hiệu quả công việc của mỗi người lao động trong
xã hội hiện đại
Trang 17
a)Khái niệm về sáng tạo
Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kì cái gì có đồng thời tính mới và tính lợiích [3]
“Tính mới “là bất kì sự khác biệt nào của đối tượng cho trước so với đối
tượng tiền thân Để suy được sự sáng tạo ,tính mới phải đem lại lợi ích như tăngnăng suất, hiệu quả, giảm giá thành, có thêm chức năng mới, sử dụng thuận tiệnhơn ,
Trong bất kì hoạt động nào của con người cũng cần có tính sáng tạo, vìsáng tạo đem lại lợi ích trong lĩnh vực hoạt động ấy Sáng tạo có nhiều cấp độ từthấp đến cao, ở cấp độ cao sản phẩm của sáng tạo là các sáng chế và phát minh Dựa vào tính mới và tính lợi ích để đánh giá một sản phẩm có phải là sảnphẩm sáng tạo hay không Chương trình đánh giá sản phẩm có phải là sáng tạohay không, gồm năm bước sau :
Bước 1 : Chọn đối tượng tiền thân
Bước 2 :So sánh sản phẩm với đối tượng tiền thân của nó
Bước 3: Tìm “tính mới”của sản phẩm.
Bước 4: Trả lời câu hỏi :Tính mới đó đem lại lợi ích gì ?
Bước 5: Kết luận về tính sáng tạo của sản phẩm
Để tạo ra đước sản phẩm sáng tạo thì điều kiện cần có ở người giải quyếtvấn đề phải có tư duy sáng tạo Vậy ,tư duy sáng tạo là gì ?
b)Tư duy sáng tạo
* Khái niệm về tư duy sáng tạo
Theo Rubinski “tư duy bắt đầu từ tình huống có vấn đề “hay “vấn đề “ là
điều kiện cần để khởi động tư duy Vấn đề (bài toán ) là đối tượng của tư duy
* Vấn đề (bài toán ) là tình huống ,ở đó người giải quyết mục đích cần
đạt nhưng không biết cách đạt đến mục đích hoặc không cần biết đến tối ưu đạtđến mục đích trong một số cách đã biết Trong trường hợp thứ hai, chính là quá
Trang 18trình ra quyết định :thực hiện việc xem xét, đánh giá, cân nhắc lựa chọn trong sốcác phương án đã biết ra phương án tối ưu để dùng trong thực tế [3]
Các nghiên cứu cho thấy ,chỉ khi có vấn đề, bộ óc của chúng ta mới thực
sự suy nghĩ “vấn đề “ tạo ra “tính ì “ trong suy nghĩ Do vậy vấn đề là đối tượngcủa tư duy
Trong sáng tạo học [3] (Dựa theo tính thực tế của nội dung bàitoán ),người ta phân biệt hai loại :
- Bài toán đúng hay bài toán giáo khoa :là những bài toán bao gồm haiphần giả thuyết và kết luận; phần giả thuyết trình bày những yếu tố cho trước đủ
để giải bài toán ,phần kết luận chỉ ra đúng mục đích cần đạt Các bài toán nàythường gặp trong các sách giáo khoa ,sách bài tập và sử dụng phổ biến trong dạyhọc; nội dung mang tính sách vỡ xa rời thực tế
- Tình huống có vấn đề xuất phát: đây là bài toán mà người giải phải tựphát biểu bài toán, phần giả thuyết có thể thiếu hoặc thừa hoặc vừa thừa vừathiếu ;phần kết luận nêu mục đích chung chung, không rõ ràng ,không chỉ cụthể phải tìm ra cái gì.Trong quá trình giải bài toán, người giải phải trãi qua giaiđoạn biến bài toán tình huống xuất phát thành bài toán đúng, bao gồm các bướcsau :
+ Phát hiện các tình huống vấn đề xuất phát có thể có
+ Lựa chọn các tình huống vấn đề xuất phát ưu tiên để giải quyết
+ Phát hiện và phát biểu phổ các bài toán cụ thể có thể có tình huống vấn
đề xuất phát ưu tiên
+ Phân tích đánh giá và lựa chọn trong số các bài toán cụ thể kể trên rabài toán cụ thể đúng cần giải
Loại bài toán thứ hai này là có tác dụng to lớn trong việc bồi dưỡng tưduy linh hoạt sáng tạo và đầu óc thực tiễn có thể vận dụng trong dạy học và gọi
là bài tập sáng tạo Loại bài này ít dược đề cập trong trường học
Trang 19* Tư duy sáng tạo là quá trình suy nghĩ đưa người giải :
- Từ không biết cách đạt đến mục đích đến biết cách đạt đến mục đích
- Từ không biết cách tối ưu đạt đến mục đích đến biết cách tối ưu đạt đếnmực đích trong một số cách đã biết [3]
“ Quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định “và “Tư duy sáng tạo “ là tương đương nhau [3] Bởi vì khái niệm sáng tạo ở đây có đồng thời
tính mới và tính lợi ích ,nên suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định là tưduy sáng tạo
Nhờ tư duy sáng tạo, loài người từ chổ có khả năng sinh học rất hạn chếđến chỗ chiếm ưu thế tuyệt đối trong tự nhiên để có nền văn minh rực rỡ nhưngày nay Trong mỗi con người đều tiềm ẩn năng lực tư duy sáng tạo ở mức độkhác nhau Vì thế ,trong dạy học GV cần phải biết khơi dậy, bồi bưỡng và rènluyện năng lực tư duy sáng tạo của HS một cách thường xuyên và hợp lí thìnăng lực tư duy sáng tạo của HS sẽ được bộc lộ và phát triển ,ngược lại thì tiềmnăng sáng tạo sẽ mai một và tạo ra tính ì tâm lí cản trở việc phát triển tư duysáng tạo, Hs sẽ tư duy theo lối mòn dẫn đến sản phẩm tạo ra sẽ không đáp ứngđược mục tiêu đào tạo không đáp ứng được mục tiêu đào tạo trong thế kỉmới Để bồi dưỡng rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho HS một cách hiệuquả ,GV cần phải nắm vững qui luật hình thành và phát triển tư duy sáng tạo sau
đây c) Quá trình hình thành và phát triển tư duy sáng tạo [18]
Tư duy sáng tạo được hình thành và phát triển theo các quy luật sau :
* Khi thực tiển nảy sinh vấn đề ,tư duy sáng tạo mới được huy động đểgiải quyết vấn đề Do đó, tư duy sáng tạo hình thành và phát triển trên cơ sởthực tiễn rồi trở lại làm phong phú thực tiễn Trong dạy học giải quyết vấn đề
GV phải tạo ra các tình huống có vấn đề làm xuất hiện nhu cầu nhận thức của
HS để giải quyết vấn đề, nghĩa là đã góp phần phát triển tư duy sáng tạo cho HS
Trang 20* Tư duy sáng tạo phát triển từ tư duy độc lập, tư duy phê phán Độc lậpsuy nghĩ, tôn trọng ý kiến cá nhân đánh giá đúng sự việc là điều kiện cần thiết
để phát triển tư duy sáng tạo
* Chủ thể của tư duy sáng tạo cần được cung cấp đầy đủ tư liệu, đó là trithức, thông tin, kinh nghiệm, các phương pháp, các sự kiện trong tự nhiên, xãhội.Trong dạy học ,để phát triển tư duy sáng tạo phải kết hợp giữa dạy kiến thức
và phương pháp tư duy Phải coi trọng bồi dưỡng phương pháp tự học Tự họcgiúp hình thành thói quen cập nhật thông tin khoa học, hình thành nhu cầu tiếpnhận và xử lí thông tin một cách độc lập, góp phần phát triển tư duy sáng tạo
* Tạo môi trường thông thoáng, cởi mở tự do để giải phóng tư duy là điềukiện rất quan trọng trong hoạt động dạy học
* Tư duy sáng tạo hình thành và phát triển dần theo quy luật từ tiệm cậnđến nhảy vọt
Phát triển tư duy sáng tạo phải có quá trình tích lũy thông tin, xử lí vàbiến đổi thông tin thành tri thức theo mô hình sau
d) Mô hình biến đổi thông tin thành tri thức của tư duy sáng tạo
Theo lí thuyết thông tin, quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyếtđịnh chính là quá trình biến đổi thông tin thành tri thức hoặc biến tri thức đã cóthành tri thức mới, vì lời giải bài toán chính là thông tin đem lại ích lợi chongười giải (đạt được mục đích )
Sơ đồ mô hình hóa các giai đoạn của quá trình tư duy để giải bài toán theophương pháp thử và sai theo quan điểm lí thuyết thông tin [3]
Trang 21Tiếp thu thông tin (hiểu BT)
Bài toán cụ thể đúng cần giải
Phát ý tưởng giải BT
Xử lý thông tinTRÍ NHỚ
Tìm thêm thông tin từ môi trường bên ngoài
Trang 22Như vậy, quá trình biến đổi thông tin có sự tham gia của các hiện tượngtâm lí
e) Các hiện tượng tâm lí tham gia vào quá trình biến đổi thông tin thành tư duy sáng tạo
Các kết quả nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo [3] cho rằng, quá trình sử lí thôngtin có sự tham gia của các thành tố tâm lí như: trí nhớ, tính nhạy bén của tư duy,liên tưởng, trí tưởng tượng, trực giác (linh tính )
Dựa vào quy luật hoạt động của trí nhớ ,trong dạy học, để tang cường trínhớ cho học sinh cần dạy kiến thức một cách có hệ thống từ dễ đến khó, quátrình truyền thụ kiến thức phải theo các giai đoạn : nhận biết ->thông hiểu ->vậndụng các kiến thức đã học cần được hệ thống hóa để lưu giữ trong bộ nhớ cótính hệ thống
*Liên tưởng
Liên tưởng là hoạt động liên kết các ý nghĩ về những sự kiện, ý tưởng nàyvới các sự kiện, ý tưởng khác Tính liên tưởng đóng vai trò rất quan trọng trongsáng tạo và đổi mới
Trong dạy học ,để giải quyết vấn đề của bài học GV phải rèn luyện cho
HS luôn biết cách tìm các mối liên hệ giữa kiến thức đã có với nội dung cần giảiquyết nhằm phát huy tính chủ động trong tư duy để góp phần hình thành và pháttriển năng lực liên tưởng ở HS
Trang 23kỹ thuật cũng cho thấy trí tưởng tượng là một trong các yếu tố quan trọng nhất
đối với sáng tạo J Dewey cho rằng :”Mỗi thành công vĩ đại trong khoa học đều bắt nguồn từ trí tưởng tượng hết sức táo bạo “.
* Linh tính (trực giác )
Theo tâm lí học sáng tạo, linh tính là ý nghĩ mang tính kết luận nảy sinhtrong óc chủ thể, trong khi các điều kiện và cách thức dẫn đến ý nghĩ đó khôngđược chủ thể nhận biết Trực giác của con người là các ý tưởng ở vùng tiềm thức,nên trong dạy học để phát triển trực giác cho HS, GV phải nắm bắt được cáchoạt động tâm lí tự phát như những phản xạ không điều kiện của HS
Giáo dục – đào tạo ngày nay cần có phải là nền giáo dục – đào tạo nhắm
đến đích :Đào tạo những con người tạo ra những giá trị của tương lai Do vậy,
dạy học ngày nay khác với dạy học truyền thống đó là chiến lược dạy học sángtạo để đáp ứng đòi hỏi cấp bách của xã hội hiện đại
1.2.3.2.Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo của HS trong dạy học
Tư duy sáng tạo cần cho mọi lĩnh vực và cho mọi người để đạt được chấtlượng và hiệu quả cao trong hoạt động của mình Theo tâm lí học sáng tạo thì
có thể bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo Giáo dục phục vụ cho phát triểnkinh tế và văn hóa của đất nước trong thế kỉ mới, nhiệm vụ cấp bách của sựnghiệp trồng người là cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có phẩm chất, trình
độ cao và có tư duy sáng tạo để đi tắt đón đầu những tiến bộ khoa học và côngnghệ của loài người Vì thế, dạy học ở trường phổ thông ngày nay, song songvới dạy tri thức là bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho HS
Trang 24Theo tâm lí học sáng tạo thì người nào cũng có năng lực sáng tạo ở mức
độ thấp hoặc cao và tính sáng tạo của con người thường bộc lộ rất sớm Do đó,nếu không phát hiện và bồi dưỡng kịp thời thì tiềm năng sáng tạo ở mỗi người
và năng khiếu sáng tạo bẩm sinh (ở một số người )sẽ mai một theo thời gian
Trong lịch sử sáng tạo học, đã tồn tại các quan điểm khác nhau về sáng tạo:
* Sáng tạo là bẩm sinh , sáng tạo không có con đường logic, không dạy được
* Sáng tạo = bẩm sinh + rèn luyện (tích lũy)->nhảy vọt về chất (Lí thuyếtvùng phát triển gần của Vưgôtxki ) Theo quan điểm thứ hai thì có thể dạy đượcbồi dưỡng được tư duy sáng tạo
Người khởi xướng khoa học sáng tạo là Altshuller(Nga), ông đã nung nấu
lí thuyết để giúp bất kì người bình thường nào cũng có thể sáng tạo được Cùngvới các cộng sự, dựa trên cơ sở kiên thức tổng hợp của nhiều môn khoa học và
kĩ thuật đã phân tích các hồ sơ sáng chế kĩ thuật để xây dựng nên lí thuyết giảicác bài toán sáng chế (TRIZ), hình thành phương pháp luận sang tạo đã đượcđua vào dạy ở nhiều trường, tổ chức và công ty
Dạy học sáng tạo được thực hiện trên cơ sở khoa học và thực tiển sau :
a) Cơ sở tâm lí học
Dạy học sáng tạo lấy lí thuyết thích nghi của Piaget và lí thuyết về vùngphát triển gần của Vưgôtxki làm cơ sở
Lí thuyết thích nghi của Piaget [19]
Những phẩm chất mới của con người được phát triển thông qua các giai đoạn:Mất cân bằng – điều ứng – đồng hóa – thích nghi – lập lại cân bằng ởtrình độ cao hơn
Như vậy, bằng hoạt động tích cực, tự lực ,con người sáng tạo ra chính bảnthân mình, những phẩm chất mới của mình
- Lí thuyết về vùng phát triển gần của Vưgốtsxki :
Chỗ tốt nhất để phát triển những phẩm chất tâm lí là vùng phát triển gần
Đó là vùng nằm giữa khả năng đang có và nhiệm vụ mới phải thực hiện mà ta
Trang 25chưa biết cách làm ,nhung nếu có sự cố gắng cá nhân và có sự giúp đở củanhững người cùng trình độ hoặc có trình độ cao hơn thì có thể thực hiện được
b)Cơ sở lí luận dạy học
Dạy học sáng tạo biểu hiện sự thống nhất giữa các chức năng giáodục ,giáo dưỡng và phát triển Điều này thể hiện ở chỗ trong dạy học sáng tạo,
HS chiếm lĩnh được tri thức theo phương pháp nghiên cứu của các nhà khoahọc
c)Cơ sở phương pháp luận sáng tạo
Dạy học sáng tạo lấy TRIZ và các phương pháp tích cực hóa tư duy củaphương pháp luận sáng tạo làm cơ sở
*Theo TRIZ có 40 thủ thuật (nguyên tắc )sáng tạo cơ bản [3]
* Các phương pháp tích cực hóa tư duy
Tích cực hóa tư duy được hiểu là làm tăng số lượng các ý tưởng phát ratrong một đơn vị thời gian, tăng năng suất phát ý tưởng, khắc phục tính ì tâm lí.Các phương pháp tích cự hóa tư duy đang được đánh giá cao và sử dụng trongdạy học hiện nay
d) Cơ sở thực tiễn
Con người trong lịch sử phát triển của mình đã có ý thức tìm các quy luậtchi phối quá trình tư duy sáng tạo, ”khoa học hóa tư duy sáng tạo “ Cùng với sựphát triển của khoa học công nghệ ngày càng tăng tốc, tính cạnh tranh ngày cànggay gắt, tính đa dạng, liên ngành ngày càng tăng là đến lúc cần sự dẫn đườngcủa khoa học sáng tạo, nữa thế kỉ 20 khoa học” sáng tạo học “ ra đời
Trang 26Sáng tạo học, cụ thể là TRIZ hình thành và phát triển ở Nga sau đó lan ranhiều nước khác Đặc biệt ở Mỹ những năm từ 1991 TRIZ,phát triển mạnh mẽ
và nhanh chóng
Ở nước ta,Phan Dũng là người đầu tiên đưa sáng tạo học một cách bài bảnvào Việt Nam “ Trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật: do Phan Dũng lập ra đãhoạt động có hiệu quả Hàng ngàn bản thu hoạch của học viên đều nói lên bảnthống nhất rằng,môn học mới mẽ hấp dẫn, bổ ích cho mọi ngành nghề, mọi lĩnhvực của cuôc sống, cho nhiều lứa tuổi, cho cá nhân và gia đình Đa số người họckiến nghi đưa vào dạy học ở các trường phổ thông, đại học, cộng đồng bằng cáchình thức và phương pháp thích hợp
Dạy học sáng tạo lá chiến lược giáo dục quan trọng vận dụng sáng tạo học
và các khoa học về tâm lí, giáo dục vào quá trình dạy học nhằm phát triển tư duysáng tạo cho học sinh, đáp ứng yêu cầu nhân lực trong thời đại mới Dạy họcsáng tạo là vấn đề đang được quan tâm, nghiên cứu và triển khai vận dụng vàothực tiển
1.3 Dạy học vật lí với việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh
Nhiệm vụ của quá trình dạy học không phải chỉ giới hạn ở sự hình thànhcác kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo có tính chất tái tạo đơn thuần Cần phải làm saocho trong khi dạy học phát triển được ở HS năng lực áp dụng kiến thức trongtình huống mới, giải những bài toán không phải là chỉ theo khuôn mẫu đã có,thực hiện những bài làm có tính chất nghiên cứu và thiết kế, vạch ra các angôrithợp lí mà trước kia chưa biết để giải các bài toán thuộc loại mới, cũng như nắmđược những kỹ năng, kỹ xảo mới hợp với yêu cầu của thực tiễn
1.3.1 Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loàingười khẳng định; tuy vậy, chúng luôn là mới mẻ đối với HS Việc nghiên cứu
Trang 27kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi HS phải đưa racác kiến thức mới,giải pháp mới đối với chính bản thân họ.
Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho HStrên con đường hoạt động nhận thức biết được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trênhiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới,giải pháp mới Việc tập trungsức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả,rèn luyệncho tư duy trực giác biện chứng nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường hợp,
GV có thể giới thiệu cho HS kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học Bất kì
ở đâu và bất kì lúc nào,sự sáng tạo chỉ có thể xảy ra trong khi giải quyết vấn đề,nghĩa là trong khi giải quyết những trở ngại, vướng mắc trên con đường nhậnthức
Theo quan điểm hoạt động, quá trình vật lí được xây dựng đi từ dễ đếnkhó, phù hợp với trình độ HS, tận dụng những kinh nghiệm sống hàng ngày của
họ, tạo điều kiện cho họ có cơ hội đề xuất ra những ý kiến mới mẽ có ý nghĩa,làm cho họ cảm nhận được hoạt động sáng tạo là hoạt động thường xuyên cóthể thực hiện được với sự cố gắng nhất định Sự tự tin trong hoạt động sáng tạo
là một yếu tố tâm lý rất quan trọng làm cho chủ thể nhận thức thoát khỏi nhữngràng buộc, hạn chế của những hiểu biết cũ hay những ý kiến của người khác,nhất là của những nhà bác học Như vậy, kiểu dạy học “thông báo - minh họa”
về nguyên tắc không thể rèn luyện cho HS năng lực sáng tạo.Cần phải tổ chứcquá trình dạy học theo kiểu nêu và giải quyết vấn đề một cách kiên trì thì mới
có thể rèn luyện cho HS năng lực sáng tạo được
1.3.2 Luyện tập phỏng đoán,dự đoán
Như đã biết, dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạokhoa học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phongphú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Các nhà khoa học nói rằng: việc xâydựng giả thuyết dựa trên sự khái quát hoá những sự kiện thực nghiệm, nhữngkinh nghiệm cảm tính Tuy nhiên, sự khái quát hoá đó không phải là một phép
Trang 28quy nạp đơn giản hình thức mà chứa đựng một yếu tố mới, không có sẵn trongcác sự kiện dùng làm cơ sở Dự đoán khoa học không phải là tuỳ tiện mà luônluôn có cơ sở nào đó, tuy chưa thật là chắc chắn Có thể có các cách dự đoánsau đây trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của HS.
- Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
- Dựa trên sự tương tự:
Có thể dựa trên một số dấu hiệu bên ngoài giống nhau mà dự đoán sự giốngnhau về bản chất, hoặc từ sự tương tự về cấu tạo suy ra sự tương tự về tính chất
- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữachúng có quan hệ nhân quả
- Dựa trên nhận xét thấy hai hiện tượng luôn biến đổi đồng thời mà dựđoán về quan hệ nhân quả giữa chúng
- Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình
- Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sangmột lĩnh vực khác
- Dự đoán về mối quan hệ định lượng:
Những hiện tượng vật lí xảy ra rất phức tạp, nhưng một điều đáng ngạcnhiên là các định luật chi phối chúng lại rất đơn giản và có thể biểu diễn bằngnhững công thức toán học đơn giản Mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lí trongchương trình phổ thông thường được biểu diễn bằng các hàm số sau đây:
Bằng nhau
Tỷ lệ thuận hay tỷ lệ nghịch
Hàm số bậc nhất
Tỷ lệ bậc hai
Tỷ lệ theo hàm số lượng giác
Sự bảo toàn của một đại lượng
Muốn dự đoán được mối quan hệ định lượng, cần phải thực hiện cácphép đo.Thực hiện các phép đo với số các giá trị khác nhau càng nhiều thì
Trang 29càng dự đoán được chính xác Tuy nhiên, ở trường phổ thông không có thờigian để làm việc đó nên ít nhất cũng phải làm ba lần với ba giá trị khác nhaucủa một đại lượng.
Trong nhiều trường hợp, nếu biểu diễn các cặp số đo trên một đồ thị thìviệc dự đoán về mối quan hệ định lượng bao giờ cũng phải chú ý đến sai số
có thể sai phạm phải
1.3.3 Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán
Trong nghiêm cứu vật lí, một dự đoán, một giả thuyết thường là một sựkhái quát hoá các sự kiện thực nghiệm; cho nên nó có tính chất trừu tượng,tính chất chung,không thể kiểm tra trực tiếp được Muốn kiểm tra xem dựđoán,giả thuyết có phù hợp với thực tế không, ta phải xem điều dự đoán đóbiểu hiện trong thực tế như thế nào,có dấu hiệu nào có thể quan sát được.Điều đó có nghĩa là: từ một dự đoán, giả thuyết,ta phải suy ra được một hệquả có thể quan sát được trong thực tế,sau đó tiến hành thí nghiệm để xemkết quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không
Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ
sở cho sự dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp với thực tế càngnhiều thì dự đoán càng trở thành chắc chắn,sát với chân lý hơn
Quá trình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận lôgic hay suy luậntoán học Sự suy luận này phải đảm bảo là đúng quy tắc,quy luật,khôngphạm sai lầm.Những quy tắc, quy luật đó điều đều đã biết;cho nên,vềnguyên tắc sự suy luận đó không đòi hỏi một sự sáng tạo và thực tế có thểkiểm soát được
Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm tra
hệ quả đã rút ra được.Để có thể đề ra được một phương án thí nghiệmkiểm tra, HS không những phải huy động những kiến thức vật lí đã có màcòn cả những kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày,hay từ những mônhọc khác nữa
Trang 30Việc bố trí một phương án thí nghiệm để quan sát hiện tượng,hay đolường các đại lượng cụ thể đã dự đoán, có khi tương đối đơn giản, nhưng cũng
có khi rất phức tạp
1.3.4 Bài tập sáng tạo
Ở trên, ta đã xem xét việc rèn luyện năng lực sáng tạo của HS trong quátrình xây dựng kiến thức mới Ngoài ra, trong dạy học vật lí,người ta còn xâydựng những loại bài tập riêng vì mục đích này gọi là BTST Trong loại bài tậpnày, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học,HS bắt buộc phải cónhững kiến thức độc lập mới mẽ, không thể suy ra một cách lôgic từ nhữngkiến thức đã học,không theo angôrit của SGK đã biết.Thực chất của loại bài tậpnày là ở chỗ cái mới xuất hiện trong tiến trình giải Trong BTST các yêu cầucủa bài tập sẽ được giải quyết trên cơ sở những kiến thức về các hiện tượng,cácđịnh luật vật lí nhưng trong đó không cho một cách tường minh hiện tượng,định luật vật lí nào cần phải sử dụng để giải
1.4 Bài tập sáng tạo trong dạy học vật lí
1.4.1 Cơ sở lí thyết của BTST
Cơ sở lí thyết của BTST trong dạy học vật lí là sự giống nhau về bảnchất của nhận thức khoa học vật lí và hoạt động học tập vật lí,bản chất đóthể hiện tính mới mẻ trong nhận thức Nhà vật lí học “cái mới” ông tìm ra
là phát minh khoa học mà nhân loại chưa ai biết, còn HS khám phá “cáimới” đối với bản thân mình và “cái mới” là bản chất của sự sáng tạo.Trongvật lí học,quá trình sáng tạo khoa học được V.G Razumôpxki trình bàydưới dạng chu trình như sau:
Trang 31Sơ đồ b) Chu trình nhận thức sáng tạo của Razumôpxki
Quá trình sáng tạo diễn ra theo chu trình gồm bốn giai đoạn như trên,trong đó khó khăn nhất, đòi hỏi sự sáng tạo cao nhất là giai đoạn từ những sựkiện khởi đầu đề xuất mô hình giả định và giai đoạn đưa ra phương án thựcnghiệm để kiểm tra hệ quả suy ra từ mô hình giả định Trong hai giai đoạn nàykhông có suy luận logic mà chủ yếu dựa vào trực giác Ở đây tư duy trực giácgiữ vai trò quan trọng bắt buộc phải đưa ra một phỏng đoán mới, một giải phápmới chưa hề có, một hoạt động sáng tạo thực sự
Dựa vào chu trình sáng tạo khoa học trong vật lí học,sự tương tự về bảnchất của quá trình nhận thức của HS khi học tập vật lí và của nhà vật lí học khinghiên cứu vật lí để có thể xây dựng những BTST về vật lí.Đây là một kháiniệm khá mới của lí luận dạy học vật lí nước ta,còn ít được đề cập hoặc nếu cócòn sơ sài chưa thành hệ thống và khó vận dụng
1.4.2 Phân biệt BTLT và BTST
Bài tập vật lí rất đa dạng, phong phú các cách phân loại chỉ có tính chấttương đối Nếu căn cứ vào tính chất của quá trình tư duy khi giải bài tập là tínhchất tái hiện hay tính chất sáng tạo thì có thể chia thành 2 loại:
4 Thí nghiệmkiểm tra
Trang 32Dùng rèn luyện kỹ năng áp
dụng những kiến thức xác định giải
các bài tập theo một khuôn mẫu đã
có Tính chất tái hiện của tư duy thể
hiện ở chỗ: HS so sánh bài tập cần
giải với các dạng bài tập đã biết và
huy động cách thức giải đã biết;
trong đề bài các dữ kiện đã hàm
chứa angôrit giải
Dùng cho việc bồi dưỡng cácphẩm chất của tư duy sáng tạo nhưtính linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo,nhạy cảm Tính chất sáng tạo thể hiện
ở chỗ không có angôrit cho việc giảibài tập, đề bài che dấu dữ kiện khiếnngười giải liên hệ tới angôrit đã có.Với BTST, người giải phải vận dụngkến thức linh hoạt trong những tìnhhuống mới (chưa biết), phát hiện điềumới (về kiến thức, kỹ năng hoạt độnghoặc thái độ ứng xử mới)
Việc phân chia như trên có tính chất tương đối vì “cái mới” có tính tươngđối phụ thuộc vào đối tượng giải bài tập và phụ thuộc vào thời điểm sử dụng:
“mới” tại thời điểm này (khi đó là BTST) nhưng khi đã biết thì lại trở thànhBTLT cho từng HS
BTLT: Bằng cách vẽ đường đi của các tia sáng, hãy xác định ảnh của vật
sáng S qua thấu kính hội tụ, phân kỳ trong các trường hợp: vật ở trong tiêu cự,vật ở ngoài tiêu cự
Với bài tập này HS chỉ cần nhớ lại đường đi của các tia sáng đặc biệt quathấu kính từ đó sẽ xác định được ảnh của S
Tư duy sẽ thay đổi nếu ta thay bài toán trên thành bài toán sau:
BTST: Cho vật sáng A và ảnh A’, xy là trục chính của thấu kính (như hình
vẽ) xác định loại thấu kính và vị trí của nó?
Trang 33Bài tập này rèn luyện được tính sáng tạo, kỹ năng vận dụng kiến thức vàonhững tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.
1.4.3 Vai trò của BTST trong dạy học vật lí
BTST là phương tiện hữu hiệu rèn luyện kỹ năng tư duy, hoạt động giảiBTST là một dạng hoạt động sáng tạo Thông qua sự phân biệt giữa BTLT vàBTST, chúng ta thấy hoạt động giải BTST giữ một vai trò to lớn trong việc bồidưỡng, phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong dạy học vật lí Bởi vì chínhBTST giúp cho HS trong việc khắc sâu nội dung kiến thức, giúp họ trong việcđào sâu và xây dựng các mối liên hệ giữa các bộ phận kiến thức với nhau Nhờ
đó mà kiến thức vật lí trở nên sống động, có ý nghĩa trong việc giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn đặt ra
Khi nghiên cứu tài liệu mới, BTST có vai trò bài toán nhận thức cần giảiquyết, đặt HS vào tình huống có vấn đề do đó tạo hứng thú kích thích động cơ
A’
Hình 1 cA
Trang 34suy nghĩ của HS Giải BTST, luyện tập cho HS tư duy đề xuất các dự đoán, xâydựng giả thuyết khoa học, tạo điều kiện cho tư duy trực giác phát triển.
Đối với nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức cho HS: Thông qua việcgiải BTST mà HS có được khả năng hình thành và phát triển các thao tác tưduy như phân tích, so sánh, tổng hợp và khái quát hóa, biết lập kế hoạch giảiquyết trọn vẹn một vấn đề BTST không những giúp cho HS luyện tập chomình khả năng dự đoán mà còn tự luyện tập được khả năng đề xuất các phương
án kiểm tra dự đoán, các phương án thực thi các mô hình trừu tượng đưa ra.Như thế có nghĩa là bồi dưỡng cho HS phương pháp thực nghiệm - phươngpháp đặc thù của vật lí học
Đối với nhiệm vụ giáo dục tư tưởng đạo đức và nhân cách cho HS: BTSTcũng là phương tiện giúp cho HS rèn luyện được những phẩm chất tâm lí quantrọng như sự kiên trì, nhẫn nại, có tính kế hoạch trong hoạt động nhận thức, tínhchính xác khoa học, kích thích hứng thú học tập bộ môn vật lí nói riêng và họctập nói chung
Đối với nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp: Những bàitập có nội dung kỹ thuật, bài tập gắn với thực tế và bài tập thí nghiệm có tácdụng giúp cho HS củng cố được kỹ năng thực hành, những hiểu biết cần thiếttheo nội dung của giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp
Đối với khâu kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá việc nắm vững trithức, kỹ năng, kỹ xảo của HS có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình dạyhọc Việc giải BTST là một trong những biện pháp để đánh giá kết quả của HS.Thông qua việc giải bài tập của HS GV còn biết được kết quả giảng dạy củamình, từ đó có phương pháp điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy của mìnhcũng như hoạt động học của HS, đặc biệt phát hiện được HS có năng khiếu vềvật lí
Trang 351.4.4 Các hình thức sử dụng BTST trong dạy học vật lí
BTST có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tư duy vật lí và năng lựcsáng tạo cho HS Ngoài việc lựa chọn cẩn thận, công phu hệ thống các bài tậpchặt chẽ về nội dung, bám sát mục đích, nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thôngthì nếu sử dụng hệ thống BTST một cách hợp lí sẽ góp phần rất rớn trong việcnâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông Căn cứ vào mụcđích ý nghĩa của việc soạn thảo hệ thống BTST vào chương trình giảng dạy vàvào khả năng nhận thức của HS trung học phổ thông hiện nay Chúng tôi đềxuất các hình thức sử dụng BTST theo các hướng sau:
- Hình thức sử dụng trên lớp học theo chương trình bắt buộc
- Tự lực giải bài tập ở nhà
- Hình thức sử dụng ngoại khóa
- Dạy học tự chọn
1.4.4.1 Sử dụng BTST trên lớp theo chương trình bắt buộc
a Xây dựng tình huống có vấn đề: BTST thực sự được HS giải sau khi
đã nắm vững tài liệu học của các đề tài, có được những kỹ năng cần thiết vềvận dụng kiến thức nhờ các BTLT Vì vậy BTST thường được sử dụng ở giaiđoạn sau của việc nghiên cứu tài liệu Tuy nhiên, nó cũng có thể dùng để nêuvấn đề nghiên cứu nhằm kích thích hứng thú học tập của HS, còn việc giải bàitập đó sẽ được quay trở lại sau khi HS đã có những kiến thức đủ cần thiết
Ví dụ: Xây dựng tình huống có vấn đề cho bài “Phản xạ toàn phần” (Vật lí
i
ta có:
a i = 00 sin r = 0 r = 0; tia khúc xạ trùng với pháp tuyến
Trang 36b i = 300 sin r = 43 r = 48,60.
c i = 450 sin r = 1,06 > 1 r = ?
HS không tính được góc khúc xạ cũng không vẽ được tia khúc xạ trongtrường hợp này (tình huống bế tắc) HS sẽ thảo luận, đưa ra các dự đoán củamình
Với bài toán này bản chất giữa các câu đã có sự thay đổi, đến câu c HS đãthực sự bế tắc GV sẽ làm trọng tài trong việc thảo luận các dự đoán của HSđưa ra (bác bỏ các dự đoán không hợp lý) Sau đó yêu cầu HS đưa ra phương
án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán còn lại GV cùng HS tiếp tục đi vào xâydựng kiến thức mới
Sau khi GV hợp thức hóa kiến thức phản xạ toàn phần thì HS sẽ giải đượccâu c của bài tập đưa ra lúc đầu một cách dễ dàng
Như vậy sử dụng BTST trong việc xây dựng tình huống có vấn đề chokiến thức mới sẽ kích thích được húng thú học tập, tư duy vật lí và năng lựcsáng tạo của HS
b Xây dựng kiến thức mới: Sử dụng BTST trong xây dựng kiến thức mới để
đưa tư duy HS vào tình huống mâu thuẫn nhận thức, từ đó nêu được vấn đề cần giảiquyết một cách tích cực Trong quá trình giải bài tập HS tự đi tới tri thức mới Do tínhtổng hợp kỹ thuật của BTST nên việc nghiên cứu tài liệu mới bằng giải BTST thườngđược áp dụng cho loại kiến thức về các ứng dụng vật lí
Ví dụ: Trong phần Quang hình học ta có thể sử dụng BTST để xây dựng kiếnthức về các dụng cụ quang (kính lúp, kính hiển vi, kính thiên văn)
c Kiểm tra đánh giá:Trong các giờ bài tập, giờ kiểm tra GV có thể sử dụng
BTST một cách hợp lí để đánh giá năng lực của HS,đồng thời cũng là cơ sở để điềuchỉnh phương pháp dạy học phù hợp
Trang 371.4.4.2 Sử dụng BTST trong ngoại khóa
Chúng ta biết rằng kho tàng tri thức vật lí nhân loại rất phong phú và đadạng Tri thức vật lí ngày càng nhiều, thời gian dạy học vật lí không được tănglên tương xứng, còn rất nhiều vấn đề đáng hiểu biết khác chưa có điều kiện đưavào chương trình.Để giải quyết mâu thuẫn này cần thông qua dạy tri thức vật lí,trong đó dạy HS cách tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách tự lực.Ngoài ra,yêu cầu vận dụng tri thức vào việc sáng tạo của HS phải được phát triển
Nhằm phát triển hứng thú học tập vật lí cho HS, rèn luyện óc thông minh,
mở rộng kiến thức và kỹ năng bằng việc nghiên cứu thêm các vấn đề khác vềvật lí, tận dụng thời gian rỗi một cách có ích, hợp lí và để có hiệu suất cao thì ta
có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong nhà trường phổ thông
Với vai trò đặc điểm của BTST chúng ta có thể sử dụng BTST trong hoạtđộng ngoại khóa như: Học bồi dưỡng ở nhà, báo tường, báo bảng, tổ chức câulạc bộ vật lí, sử dụng BTST trong các buổi tham quan dã ngoại,…
a Hình thức học không chính khóa
Sử dụng BTST không chính khóa như trong buổi học thêm, học ở nhà,học bồi dưỡng, … Một trong những hình thức phổ biến nhất của công tác ngoạikhóa về vật lí là nhóm giải bài tập Việc tổ chức những nhóm giải bài tập nhưvậy có tác dụng trực tiếp đến kết quả học tập của HS
Bằng kinh nghiệm và sự sáng tạo của mình,GV có thể tổ chức được việcgiải bài tập theo nhóm với nội dung phong phú Trong các buổi bồi dưỡng, họcthêm GV có thể đưa ra các BTST và yêu cầu HS nhận dạng bài toán, khuyếnkhích HS nổ lực tìm hướng giải quyết HS đưa ra phương án giải bài toán củamình và có thể HS đứng ra chữa bài tập cho các bạn Nếu như bài tập đó mà HSchưa thể tìm ra được hướng giải quyết thì động viên HS suy nghĩ để đề xuấtđược phương án trả lời thông qua câu hỏi định hướng của GV
Trang 38b Hoạt động giải BTST ở nhà
Trong lúc học ở nhà, GV có thể cho HS những BTST có nội dung gần gũivới thực tế cuộc sống mà HS phải tự lực tìm kiếm thông tin để giải quyết
- Thời gian mềm dẻo: trong tuần,trong tháng
- GV giải bài tập, cho câu hỏi định hướng nếu cần
- HS tự giải và nạp lại cho GV
c Hình thức tuyển chọn HS giỏi
Các cuộc thi HS giỏi vật lí cũng là một trong những phương thức ngoạikhóa phổ biến nhất về giải BTST.Những cuộc thi này làm phát triển ở HS sựham hiểu biết và có thể giúp nhiều em HS tự tìm thấy chí hướng của mình,lựachọn được những HS có khả năng đặc biệt
Giải BTST không những đòi hỏi HS phải có kiến thức sâu rộng mà cònphải biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt,việc đề xuất ra các phương án
và các hình thức thức thực hiện các phương án phải có tính sáng tạo Đặc biệtđối với bài tập loại thiết kế và thực hiện thí nghiệm sẽ giúp phát hiện được các
HS thực sự có năng lực sáng tạo
Thông qua việc giải quyết các BTST là một trong những cách giúp chúng
ta phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi vật lí
d Hình thức sử dụng câu lạc bộ vật lí
Giải các BTST vật lí có thể đưa vào nội dung sinh hoạt các câu lạc bộ vật
lí Câu lạc bộ vật lí bao gồm những thành viên yêu thích môn vật lí Dưới sựhướng dẫn của tổ chuyên môn và sự lãnh đạo của nhóm trưởng, câu lạc bộ cóchương trình hoạt động cụ thể theo lịch trình đã định sẵn Cần phải tổ chức câulạc bộ sao cho phát huy được sự hứng thú tham gia của HS, thông qua hệ thốngBTST đưa ra trong sinh hoạt câu lạc bộ, làm sao cho HS bộc lộ được khả năngcủa mình.Sau khi giải quyết xong bài tập, phân tích cách giải hay, sự độc đáo,đưa ra những điều mà HS dễ mắc sai lầm, thông qua đó HS học hỏi được kinhnghiệm của các thành viên trong câu lạc bộ
Trang 39e Hình thức sử dụng báo tường, báo bảng
Thông qua báo tường, báo bảng các BTST được chọn lọc để đăng tải Tuytheo điều kiện cụ thể của từng trường học mà có thể ra các số báo theo tuầnhoặc theo tháng hoặc vào các đợt thi đua chào mừng các ngày lễ.Chúng ta cóthể sử dụng hình thức này như sau:
Chọn lọc các đề bài hay để đưa ra trên mặt báo, những bài đưa ra ở đâyphải có sức cuốn hút đổi với HS, kích thích trí tìm tòi, lòng ham hiểu biết của
HS Việc làm này do tổ bộ môn vật lí của trường thực hiện
Sau khi in lên báo tường hoặc báo bảng khuyến khích các HS tham gia,không hạn chế số lượng
Sau thời gian quy định nộp bài, tổ bộ môn vật lí tiếp nhận bài và chọn ranhững bài giải đúng, hay, độc đáo Danh sách HS đạt giải được đăng vào số báo
kì sau cùng với đáp án
Tổ bộ môn giao cho GV nhận xét đánh giá các bài giải có sự cổ vũ, khenthưởng kịp thời qua các buổi lễ trao giải sẽ có tác dụng giáo dục HS rất lớn,khuyến khích HS tham gia nhiệt tình, yêu thích môn học
1.4.4.3 Sử dụng BTST trong chương trình dạy học tự chọn
Những giờ học tự chọn là hình thức dạy học cá biệt hóa, phân hóa sâuđậm, đảm bảo được tất cả các ưu điểm của hệ thống thống nhất của nền giáodục phổ thông và còn cho phép phát triển tốt những hứng thú và năng lực cábiệt của HS Do nguyên tắc tổ chức mà các giờ học tự chọn có vị trí trung giangiữa các giờ học bắt buộc và các giờ học ngoại khóa
Chương trình dạy học tự chọn vật lí lớp 10, lớp 11 và lớp 12 ở nước tahiện nay chủ yếu là bài tập bám sát chương trình Đối với một số nước trên thếgiới thì hơn một nửa thời gian dạy học tự chọn môn vật lí ở trường trung họcphổ thông dành cho giờ thực hành giải bài tập và tiến hành các bài tập thínghiệm
Trang 40Chương trình dạy học tự chọn tạo ra những điều kiện thuận lợi cho viêc tổchức quá trình học tập, đặc biệt là đối với hoạt động tự lực sáng tạo có hiệu quảcủa HS Sử dụng BTST trong dạy học tự chọn là một chiến lược dạy học pháttriển tư duy và năng lực sáng tạo cho HS ở trường phổ thông
1.5 Bồi dưỡng tư duy sáng tạo thông qua bài tập sáng tạo
Bồi dưỡng tư duy sáng tạo được hiểu là tạo ra môi trường xung quanhthích hợp ,để các năng lực sáng tạo của cá nhân có thể phát triển đầy đủ ở mứccao nhất GV phải ý thức rằng phát triển tư duy vật lí được đặt ngang tầm vớinhiệm vụ trang bị tri thức
Do vậy ,trong dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng cần có cácbiện pháp dạy học phù hợp để phát triển tư duy sáng tạo cho HS Các nghiêncứu về dạy học sáng tạo [15]
Cho thấy rằng ,có thể dùng 6 biện pháp sau đây để phát huy năng lực sángtạo của học sinh
1.5.1 Tích cực sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở các mức độ khác nhau nhằm lôi cuốn học sinh tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập
Quy luật của tư duy là :”Tư duy phát triển trong hoàn cảnh có vấn đề “,vì
vậy dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học phát triển óc tư duy sáng tạocho HS cơ hiệu quả Tùy theo trình độ HS ,nội dung kiến thức ,điều kiện khônggian và thời gian để có thể vận dụng dạy học nêu vấn đề ở mức độ thấp như nêu
hệ thống câu hỏi đến mức độ cao là GV đặt ra đề tài nhỏ HS hoàn thành ở lớphay ở nhà rồi trình bày trước lớp và mức độ cao hơn nữa GV gợi ý cho HS tựđặt đề tài rồi nghiên cứu giải quyết
Vật lí học là môn học thực nghiệm ,do đó việc tạo ra tình huống có vấn đề(ở mức độ thấp của nêu vấn đề )hay nêu vấn đề học sinh giải quyết phải bắt đầu
từ các hiện tượng tự nhiên ,các thí nghiệm để tạo nhu cầu giải quyết vấn đề ở HS
và phù hợp với quy luật của nhận thức là “từ trực quan sinh động tới tư duy