dục trong giai đoạn mới là: “ Một mặt phải đảm bảo cho thế hệ trẻ tiếp thu được những tinh hoa của nền văn hóa nhân loại, mặt khác phải phát huy tính năng độngcá nhân, bồi dưỡng năng lực
Trang 1dục trong giai đoạn mới là: “ Một mặt phải đảm bảo cho thế hệ trẻ tiếp thu được những tinh hoa của nền văn hóa nhân loại, mặt khác phải phát huy tính năng động
cá nhân, bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh bằng hoạt động tích cực, tự lực
mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, phát triển năng lức sáng tạo” [11].
Hiện nay Giáo dục nước ta vẫn còn tồn tại một thực trạng đáng buồn, đó làchuyện học sinh (HS) “học vẹt”, làm bài thì dựa vào những bài mẫu, sinh viên Đạihọc thì được mệnh danh là “HS cấp 4” – nghĩa là vào giảng đường chỉ mong thầyđọc để chép bài một cách thụ động…[26] Bên cạnh đó là tình trạng dạy thêm, họcthêm tràn lan gây nhiều bức xúc cho xã hội và khó khăn cho nhà quản lí Giáo dục
Đó là hậu quả của việc dạy một chiều, gây áp lực cả về kiến thức lẫn điểm số đốivới HS Nếu HS không được bồi dưỡng phương pháp tự học trong khi chương trìnhmới đòi hỏi các em phải phát huy tính tích cực, chủ động của mình thì chắc chắncác em sẽ gặp khó khăn Đối với những HS có động lực học tập thì các em sẽ cốgắng “chạy theo” chương trình, còn những HS không đủ sức với khả năng của chínhmình thì các em tìm đến với con đường học thêm như một phương cách cứu vãntình thế, do vậy cần đặt ra bài toán về năng lực tự học
Năng lực tự học (NLTH) của mỗi người cần được hình thành từ lứa tuổi cấptrung học cơ sở, mỗi lứa tuổi có vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em.Đây là giai đoạn chuyển từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành Bên cạnh những phát
Trang 2triển mạnh mẽ về thể chất, HS ở lứa tuổi này bắt đầu hình thành những phẩm chấtmới về trí tuệ, nhân cách phù hợp cho việc bồi dượng NLTH cho các em[26] Ở mỗilứa tuổi trung học phổ thông (THPT) NLTH của HS cần được bồi dưỡng nhiều hơn
vì HS ở giai đoạn này đang dần hoàn thiện về nhân cách và lối sống Hơn nữa đây
là giai đoạn quan trọng để mỗi người lựa chọn nghề nghiệp riêng cho mình sau này
Vì vậy, việc dạy học các môn học nói chung, môn sinh học nói riệng ở bậc THPTcần đề cao yêu cầu bồi dưỡng NLTH cho HS
Trong dạy học sinh học nói chung, đặc biệt trong dạy kiến thức Tính quy luậtcủa hiện tượng di truyền học nói riêng có lợi thế là hệ thống lý thuyết, bài tập đadạng và liên hệ với thực tế và hơn hết phần này là nội dung trọng tâm của Di truyềnhọc Kiến thức chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” có những kháiniệm, hiện tượng sinh học, ứng dụng khá quen thuộc và gần gũi với các em HS.Một số kiến thức của chương đã được trình bày ở sách giáo khoa (SGK) Sinh họclớp 9 Các thiết bị thí nghiệm,các mô hình tranh ảnh, phim tư liệu được trang bị kháđầy đủ ở các trường phổ thông nhưng do thói quen ngại sử dụng nên nhiều giáoviên vẫn dạy chay, lựa chọn phương pháp diễn giảng để truyền đạt kiến thức cho
HS HS chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, chấp nhận thỏa mãn với kiếnthức vừa nghe mà không quan sát tìm tòi thêm dẫn tới giờ học trở nên nhàm
chán[41] Albert Einstein đẫ từng nói: “Chức năng cao nhất của người thầy không phải là truyền đạt kiến thức mà là khuyến khích học sinh yêu kiến thức và mưu cầu kiến thức”[41] Do đó để giờ học trở nên sôi nổi, HS hứng thú cao trong học tập thì
GV cần tạo điều kiện để các em tự lực tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề, tự taytiến hành các thí nghiệm đơn giản, tự do trao đổi, đóng góp ý kiến với GV và cácbạn trong lớp, trong khi làm các câu hỏi và bài tập, do phải tự mình phân tích cácđiều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kếtluận mà bản thân rút ra được nên tư duy HS phát triển, năng lực làm việc tự lực của
họ được nâng cao [17] Vì thế trong quá trình hướng dẫn HS giải CH – BTSH…,
GV có thể tổ chức cho HS rèn luyên các kĩ năng tự học, qua đó bồi dưỡng NLTHcho các em, giúp giảm bớt sự phụ thuộc của các em vào GV Mặt khác, HS lớp 12
là HS cuối cấp trung học phổ thông (THPT), các em tiếp xúc với phương pháp họctập đòi hỏi phải hoạt động tích cực hơn, phải có năng lực tư duy độc lập cao hơn, cótính quyết đoán tốt hơn, có tính tự học cao nhất, giúp các em lựa chon nghề nghiệp
Trang 3một cách phù hợp với năng lực bản thân Với những lí do trên, chúng tôi thấy rằng
để tổ chức các hoạt động dạy học sinh học nói chung, dạy học chương “Tính quyluật của hiện tượng di truyền” nói riêng đạt hiệu quả cao thì người GV cần quan tâmđến việc xây dựng và đưa vào áp dụng các biện pháp phát triển NLTH cho HS
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “ Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Tính quy luật của hiện tượng di truyền, Sinh học 12”,
với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học sinhhọc ở trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề hướng dẫn HS cách tự học rất được các bậc hiền triết và các nhà giáodục bàn đến Gibbom- “ Mỗi người đều phải nhận hai thứ giáo dục, một thứ dongười khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn – do chính mình tạo lấy’ Bàn vềviệc học, Bác Hồ đã viết trong cuốn “Sử đổi lối làm việc” nhấn mạnh “cách học tập,phải lấy tự học làm cốt, phải biết tự động học tập…”[5] Nhà giáo dục Usinxki đãtừng lưu ý: “Ngay cả trường hợp giả thiết rằng HS hiểu được ý nghĩa mà giáo viêngiả thích cho họ thì ý này cũng không bao giờ thâm nhập vào đầu óc họ một cáchthật vững chắc và tự giác, không bao giờ trở thành vốn riêng biệt hoàn toàn của HSnhư khi họ tìm ra…” Mặt khác, không phải HS nào cũng có khả năng tự học tốt vàkhông phải kiến thức sinh học nào HS cũng có thể tự mình nắm bắt được Vì thế,
“trước hết phải dạy tự học đã, rồi sau đó mới giao cho họ làm việc một mình”[41]
Ngoài ra, còn có các tác giả khác quan tâm đến vấn đề tự học của HS, nhưmột số công trình:
- B.P.Exipop (1971), Hoạt động độc lập của HS trong quá trình dạy học
- I.F.Kharlamop (1978), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
- A.V.Muraviep (1978), Dạy thế nào cho học sinh tự nắm kiến thức
- M.P.Casin, Về công tác độc lập của HS trong giờ học
- M.P.Đôrôphêxencô, Giáo dục kĩ xảo làm việc tự lập cho học sinh…
Ở trong nước, cũng có một số tác giả quan tâm nhiều đến việc bồi dưỡngNLTH cho HS như Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành [22], Đinh Quang Báo [4], NguyễnCảnh Toàn [43], Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến [5]… đều đi đến khẳng định tự học
là một hình thức, một phương pháp học tập cơ bản và cố lõi đối với người học, học
thực chất là tự học Bên cạnh đó, PGS TS Nguyễn Đình Nhâm với bài báo “Dạy
Trang 4học các quy luật di truyền theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh” đăng trên Tạp chí Giáo dục - số 142 (kì 2-7/2006) cũng đã đề cặp tới vấn đề
tự học, tự nghiên cứu giúp HS tích cực chủ động lĩnh hội kiến thức
Gần đây cũng có một số luận văn thạc sĩ đề cặp tới vấn đề này Điển hìnhnhư:
- Phan Thị Lệ (2007) “Rèn luyện và phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 10 nâng cao trung học phổ thông thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học phần phi kim và phản ứng hóa học” Luận văn thạc sĩ giáo dục học [27] Tác
giả đã nêu được khái niệm tư duy, đưa ra các đặc điểm của tư duy, các hình thức
tư duy, tư duy hóa học và sự phát triển tư duy hóa học ở trường phổ thông, nêuđược vai trò của bài tập trong giảng dạy hóa học, xây dụng được một hệ thống câuhỏi, bài tập cơ bản, đa dạng phù hợp với từng mức độ phát triển tư duy của họcsinh
- Trần Kim Tú (2004), “Sử dụng câu hỏi bài tập để tổ chức học sinh học tập
tự lực trong dạy học chương biến dị, Sinh học 12 trung học phổ thông” Luận văn
thạc sĩ giáo dục học [41] Tác giả đã xây dựng được cơ sở lí luận về việc sử dụngcâu hỏi, bài tập để tổ chức cho HS học tập tự lực Các khái niệm tự lực, học tập tựlực của HS đã được làm rõ Đồng thời tác giả cũng đã đưa ra được các bước dạy HShọc tập tự lực
- Nguyễn Phú Đồng (2008), “Nghiên cứu sử dụng bài tập vật lí theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong dạy học phần Dòng điện không đổi Vật lí
11 trung học phổ thông” Luận văn thạc sĩ Giáo dục học [14] Tác giả đã xây dựng
được cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng NLTH của HS thông qua bài tập vật lý, đềxuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập vật lí và tiến trình dạyhọc theo hướng tăng cường sử dụng bài tập để bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạyhọc vật lí
Tuy nhiên do xuất phát từ các mục đích khác nhau nên các công trình nghiêncứu về tự học của HS THPT đã đi sâu vào các khía cạnh khác nhau Trong đề tàicủa mình, chúng tôi sẽ kế thừa những cơ sở lí luận của các công trình nghiên cứutrước đây, nhưng chú trọng hơn vào việc sử dụng và hướng dẫn HS kỹ năng giảiBTSH, kỹ năng đọc sách, kỹ năng khai thác kênh hình, theo hướng bồi dưỡngNLTH, góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS
Trang 53 Mục tiêu của đề tài
Với hướng nghiên cứu mà đề tài đặt ra thì đề tài cần phải đạt các mục tiêusau:
- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận của việc phát triển NLTH cho HS trongdạy học sinh học
- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS phù hợp với thực tiễn
và mang lại hiệu quả cao trong dạy học Sinh học nói chung và dạy học chương
“Tính quy luật của hiện tượng di truyền” sinh học 12 nói riêng
- Xây dựng được một số tiết học trong chương “Tính qui luật của hiện tượng
di truyền” theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
4 Giả thuyết khoa học.
Nếu bồi dưỡng được các biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học phù hợp trongdạy học thì sẽ nâng cao được NLTH cho HS khi học về “Tính quy luật của hiệntượng di truyền”, Sinh học 12 – THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, chúng tôi đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứusau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động tự học của HS
- Nghiên cứu khả năng tự học của HS và việc tổ chức các hoạt động tự họctrong quá trình dạy học
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK Sinh học 12 Tìm hiểu nhữngthuận lợi, khó khăn trong việc tổ chức dạy học chương “Tính qui luật của hiệntượng di truyền” Sinh học 12
- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học chương
“Tính qui luật của hiện tượng di truyền” Sinh học 12
- Xây dựng tiến trình dạy học một số tiết trong chương “Tính qui luật củahiện tượng di truyền” Sinh học 12 theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của việc bồi dưỡng NLTHcho HS trong dạy học sinh học ở trường phổ thông
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực tự học của học sinh
Trang 6- Hoạt động dạy học sinh học lớp 12 theo hướng bồi dưỡng NLTH cho họcsinh.
6.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh THPT lớp 12
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, chính sách của nhà nước, các chỉ thịcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học để nâng caochất lượng dạy học ở trường THPT, nâng cao NLTH, tự nghiên cứu của HS
- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, các bài báo, tạp chíchuyên ngành, các luận văn, luận án liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy họcsinh học
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, tài liệu tham khảo chương “Tínhqui luật của hiện tượng di truyền” Sinh học 12 THPT
7.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra thực trạng về việc sử dụng một số biện pháp dạy học theo hướngbồi dưỡng NLTH cho HS THPT trên địa bàn Huyên Nga Sơn – Thanh Hóa thôngqua phỏng vấn, trao đổi và phiếu điều tra
- Điều tra những thuận lợi, khó khăn khi sử dụng Câu hỏi-Bài tập, Sách,Hình ảnh….để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
- Tiến hành tìm hiểu tình hình giảng dạy về phần “Tính quy luật của hiệntượng di truyền” thông qua việc dự giờ, rút kinh nghiệm sau khi giảng, có ghi biênbản chi tiết để tiện cho việc phân tích Chúng tôi đi sâu vào mấy khía cạnh cơ bản
có liên quan tới nội dung nghiên cứu, kiến thức trọng tâm, phương pháp giảng dạy,khả năng vận dụng vào các khâu trong quá trình dạy học, khả năng huy động tíchcực tự giành lấy kiến thức của HS trên lớp
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng để kiểm tra hiệu quả sư phạmcủa đề tài
Trang 77.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được trong thực nghiệm khảo sát và thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng các tham số thống kê toán học trên phần mềm Microsoft Exel Sau đó phân tích kết quả định lượng bằng thống kê toán học để phân loại trình
độ học sinh và đánh giá mức độ lĩnh hội của từng học sinh Các số liệu thu được của lớp TN và lớp ĐC được chấm theo thang điểm 10 và được xử lí bằng thống
kê toán học theo các bảng và các tham số sau:
Trong đó: - n số học sinh TN (hoặc ĐC) hay tổng số bài kiểm tra
- ni số bài kiểm tra có điểm số là xi
- xi điểm số theo thang điểm 10
-X điểm trung bình của một tập hợp
i n x n
X
1
1
(Công thức 4.1) Trong đó: - xi : giá trị của từng điểm số nhất định
- ni: số bài có điểm số đạt xi
- n: tổng số bài làm
+ Độ lệch chuẩn (s): Khi có hai giá trị trung bình như nhau nhưng chưa đủ để
kết luận 2 kết quả trên là giống nhau mà còn phụ thuộc vào các giá trị của các đạilượng phân tán ít hay nhiều xung quanh hai giá trị trung bình cộng, sự phân tán đóđược mô tả bởi độ lệch chuẩn theo công thức sau:
s
1
2 ) (
1
(Công thức 4.2)
+ Sai số trung bình cộng (m):
Trang 8100
X s
d
DC TN
Cv: 30-100%, Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ
+ Hiệu trung bình (dTN-ĐC): So sánh điểm trung bình cộng ( X ) của nhómlớp TN và ĐC trong các lần kiểm tra
: là các điểm số trung bình cộng của các bài làm theo phương án
TN và ĐC n1, n2 là số bài làm trong mỗi phương án
Giá trị tới hạn của T là Ttìm được trong bảng phân phối Student = 0,05,bậc tự do là f = n1 + n2 - 2
* Phương pháp đánh giá: Để đánh giá kết quả kiểm tra của lớp TN, lớp ĐCthông qua việc đánh giá định lượng và đánh giá định tính
phối Student):
2
2 2 1
2 1
n
s n s
Trang 9+ Nếu Td < Tα thì sự sai khác giữa X vµ TN X DC là không có nghĩa hay X TN
không sai khác với X ĐC
+ Nếu Td > Tα thì sự sai khác giữa X vµ TN X DC là có nghĩa hay X TN sai khácvới X ĐC
- Đánh giá định tính:
+ Mức độ lĩnh hội kiến thức đã học
+ Năng lực tư duy của học sinh
+ Kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thưc tiễn của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho
học sinh trong dạy học Sinh học
Chương 2: Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương
“Tính qui luật của hiện tương di truyền” Sinh học 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 10NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Tự học
1.1.1.1 Các quan niệm về tự học
* Trên thế giới vấn đề nghiên cứu tự học đã được đề cặp khá lâu, TheoBolhuis và Garison thì tự học phải là người chủ có trách nhiệm và tự quản lí việchọc của mình Tự học tích hợp việc tự quản lí với tự kiểm soát, đó chính là quá trình
mà người học tự theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chiến lược nhận thức của mình
Từ năm 1958, trong cuốn “Hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học”.B.P.Exipop đã lưu ý GV nên sử dụng các phương pháp để phát huy tính tích cực, tựlực, hoạt động độc lập của HS
Về sau các nhà lí luận DH đã đi sâu hơn về năng lực tự học T.A Ilina (1979)trong cuốn Giáo dục học đã cho rằng “Để việc học tập có hiệu quả học sinh phảinắm vững các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng” và đưa ra một số phương pháp và cáchlàm việc phương pháp độc, lập dàn ý, trả lời câu hỏi, nói lại, làm, tóm tắt, làm đềcương và nêu lên những qui tắc làm việc chủ yếu của HS với SGK, tài li ệu Theoông: “khi làm việc với bất kì một tài liệu nào cũng phải bắt đầu từ sự tìm hiểu vềcấu trúc và những đặc điểm của nó HS cần nắm vững là các em phải dùng tài liệu ởnhà để hiểu rõ hơn điều mà giáo viên sẽ giải thích trong giờ học, cũng như là để tựmình phân tích một phần nào đó của bài mới”
Kharlamov (1979) đề cập đến việc nâng cao NLTH cho giờ lên lớp và xem
đó là cách thức tốt nhất để phát huy tính tích cực của HS trong học tập: “ Bản chấtcủa hoạt động độc lập nghiên cứu là ở chỗ nắm vững kiến thức mới được thực hiệnđộc lập với từng học sinh thông qua đọc sách có suy nghĩ kỹ tài liệu nghiên cứu,thông qua hiểu biết các sự kiện các ví dụ nêu ra trong sách và các kết luận khái quáthóa từ các sự kiện đó, ví dụ đó”
Bolhuis (1996); Cormo (1992); Leal (1993) đề cặp trong tự học, GV chỉnâng đỡ HS bằng cách làm cho việc học trở nên “rõ ràng” GV đưa ra mô hình củachiến lược học tập và làm việc với HS, vì thế HS phát triển được khả năng làm việcmột mình
Trang 11Guithrie Alao & Rinechart (1997); Temple & Rodeto (1995) lại đề cặp tựhọc có tính cộng tác cao Trong tự học, HS thường cộng tác chặt chẽ với GV và vớibạn cùng lớp.
Bolhuis (1996); Temple & Rodeto (1995) khẳng định tự học phát triển nhữngkiến thức nhất định cũng như khả năng chuyển kiến thức sang hoàn cảnh mới Tựhọc là cầu nối giữa kiến thức ở nhà trường với các vấn đề thực tế của xã hội bằngcách xem xét người khác học thế nào trong cuộc sống thường ngày
* Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất quan tâm đến vấn
đề tự học - tự đào tạo Người đã chỉ ra rằng: “Tự học chính là sự nỗ lực của bảnthân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinhthần tự động học tập, lại còn cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và sựquản lý chỉ đạo giúp vào” [1] Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” Bác đã nhấn mạnh
“Cách học tập, phải lấy tự học làm cốt, phải biết tự động học tập” [5]
Một số nhà giáo dục đã đưa ra một số quan niệm về tự học như sau: Theo GSNguyễn Cảnh Toàn trong cuốn sách (Quá trình Dạy - Tự hoc 2001) thì “Tự học là
tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng vớicác phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết mới nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đóthành sở hữu cá nhân của mình” [43]
Theo Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) thì tự học cónghĩa là người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tựthể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học
là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lí các tìnhhuống, giải quyết các vấn đề dặt ra cho mình để nhận biết vấn đế, thu thập xử líthông tin cũ, xây dựng các biện pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…
Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa [25]
Theo Thái Duy Tuyên trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổimới 2007” thì Tự học là nói về mức độ hoạt động độc lập của HS trong quá trìnhhọc tập và mức độ điều khiển hoạt động này của GV Khi HS học tập mà không có
sự điều khiển trực tiếp của GV thì gọi là tự học Phương pháp làm việc của HS lúcnày gọi là phương pháp làm việc độc tập hay phương pháp tự học [42]
Trang 12GS.TS Đinh Quang Báo và PGS.TS Nguyễn Đức Thành đã đưa ra lí luận cơbản về phương pháp làm việc độc lập, tự tìm hiểu, tự xử lí thông tin với sự hướngdẫn của GV để chiếm lính tri thức Các tác giả cũng nhận định “Từ trước tới nay,
GV chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều Rất ít giáo viên bồi dưỡng NLTH, tổchức công tác độc lập nghiên cứu cho học sinh” Từ đó đề xuất các yêu cầu chi tiếtkhi rèn luyện một số kỹ năng làm việc độc lập cho HS [4]
Trong luận án Phó tiến sĩ “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nângcao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trìnhSinh học Phổ thông trung học” GS.TS Lê Đình Trung (1994) đã nghiên cứu và đềxuất biện pháp sử dụng bài toán nhận thức kết hợp với bài tập tự lực làm việc để tổchức hoạt động của học sinh [40]
Phạm Thị Hằng (2002), “ Sử dụng bài toán nhận thức kết hợp câu hỏi tự lực
tổ chức dạy học các qui luật di truyền lớp 11- THPT” [18]
Hà Khánh Quỳnh (2007), “Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh qua dạyhọc phần sinh học tế bào Sinh học 10-THPT”
Hoàng Nguyên Văn (2007), “Các biện pháp hướng dẫn nghiên cứu SGKtrong dạy học Sinh học 10 phân ban để rèn luyện một số kỹ năng đọc sách cho họcsinh” [35]
Võ Thị Bích Thủy (2007), “Các biện pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năngdiễn đạt nội dung trong quá trình tổ chức hoạt động tự học sách giáo khoa Sinh học11” [37]
Hồ Anh Việt (2009), ”Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS thông qua giải bàitập phần động học và động học chất điểm Vật lí 10” [46]
Như vậy, tự học là hoạt động độc lập của bản thân người học tự chiếm lĩnhcác kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, chủ động, tự lực và tích cực Đặctrưng cơ bản của tự học là : người học tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra tiến trìnhhọc tập với ý thức trách nhiệm; tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu, nộidung, phuơng pháp học tập
1.1.1.2 Các hình thức tự học
Tự học có nhiều hình thức khác nhau, bao gồm:
- Tự học có sự hướng dẫn của GV
Trang 13Những hoạt động như nghe giảng, ghi chép bài, thảo luận nhóm, làm việc vớisách, làm bài tập, làm thí nghiệm, quan sát… của HS, được HS thực hiện một cáchchủ động, tích cực thì đều được gọi là hoạt động tự học Hoạt động này diễn ra ngaytrong quá trình dạy học với sự điều khiển trực tiếp của GV đứng lớp nên còn đượcgọi là tự học giáp mặt.
- Tự học không có sự hướng dẫn của GV
Đó là sự tự học không có sự điều khiển trực tiếp của GV mà do HS tự mìnhđộc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập để tự mình đạt được cácmục đích, nhiệm vụ học tập (có thể do bản thân HS đặt ra hoặc nhiệm vụ từ trênlớp) và tự mình chiếm lĩnh tri thức [44]
1.1.1.3 Các cấp độ tự học
Xét về tâm lí học, có thể phân hoạt động tự học theo hai cấp độ [10]:
- Cấp độ thấp: Viện sĩ Pavlop đã cho răng: “bản chất thiên tài” mà tổ tiên bancho con người một khả năng qui giá đó là phản xạ hướng về đích Phảm xạ hướng
về đích là mong muốn mang tính chất bản năng của con người, là biểu hiện nănglượng sống của mỗi cá nhân, là mong muốn phải làm sao để thuộc về mình nhữnghiểu biết mới, những thông tin mới để thích nghi với cuộc sống Ở cấp độ này tựhọc thể hiện ở cơ chế học có cấu trúc hai phần: kích thích ↔ phản ứng Một số nhàtâm lý học cũng cho rằng hoạt động sáng tạo của một nhà bác học bắt nguồn từ nhucầu bẩm sinh và sinh lý của con người, nhu cầu thúc đẩy bản năng mạnh mẽ tựnhiên, bản năng sáng tạo hoa nhập với phản xạ hướng về đích
- Cấp độ cao: cấp độ cao của hoạt động tự học là hoạt động nhận thức thểhiện trong cơ chế học: học kết hợp giữa học cá nhân với học hợp tác Tự học cấp độcao gắn liền với vốn kinh nghiệm của người học, gắn liền với phát triển sâu sắcngôn ngư khoa học của người học Tự học ở cấp độ cao là cốt lõi của hoạt độnghọc, là quá trình phát triển nội tại, quá trình kết hợp học cá nhân với học hợp tác,trong đó chủ thể tự biến đổi mình từ trình độ phát triển hiện tại đến trình độ tiềmtàng
Ngoài ra, cũng có thể chia tự học thành nhiều cấp độ như: tự học ở cấp độngười học làm quen với cách học; tự học hình thành và rèn luyện kỹ năng tự học;cấp độ tiếp theo là ý thức được việc học, biết chủ động tự học; cuối cùng là đam mê
tự học
Trang 14Hoạt động tự học của HS hết sức đa dạng, có thể diễn ra ở bất cứ nơi đâu vàbất cứ lúc nào Tuy nhiên cho dù tự học theo dạng nào thì cũng không thể phủ nhận
sự ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các nhân tố tác động sư phạm là GV Dùhữu hình hay vô hình thì đằng sau quá trình tự học bao giờ cũng có bóng dáng củangười thầy Một người thầy giỏi là một người thầy dạy cho HS biết cách tự học.Một quá trình dạy học có hiệu quả là một quá trình dẫn đến tự học
1.1.2 Năng lực tự học của học sinh
1.1.2.1 Khái niệm năng lực tự học
NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức, vận dụng kiến thức vào tìnhhuống mới với chất lượng cao [27]
Theo từ điển tiếng việt thì NLTH có thể được hiểu: “là phẩm chất sinh lý vàtâm lý tạo cho con người khả năng hoàn thành hoạt động học tập với chất lượngcao”
1.1.2.2 Các năng lực tự học, tự nghiên cứu cần bồi dưỡng cho học sinh
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánhcác sự vật hiện tượng được tiếp xúc, phát hiện các khó khăn, mâu thuẫn, xung đột,các điểm chưa hoản chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phảikhơi thông, khám phá, làm sáng tỏ….Đây là bước khởi đầu của sự nhận thức có tínhphê phán, đòi hỏi nỗ lực cao của trí tuệ Việc thường xuyên rèn luyện năng lực nàytạo cho HS thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọinơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau
- Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết, xác địnhcách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, khảo sát các khía cạnh thuthập và xử lý thông tin, đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận
- Năng lực xác định những kết luận đúng từ quá trình giải quyết vấn đề
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ các giả thuyết,hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết)
- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trongthực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học đề nhận thức, cải tạo
Trang 15thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phhá,thu thập thêm kiến thức mới
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao năng lực tự chủ của HS (hay dạy học tập trung vào ngườihọc) đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HSđánh giá và tự đánh giá mình Người học phải biết chính xác mặt mạnh, mặt yếu,cái đúng, cái sai của mình, của việc mình làm, mới có thể tiếp tục vững buớc tiếptrên con đường học tập chủ động Không có khả năng đánh giá, người học khó cóthể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học
Các năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau tạo nên NLTH ở HS.Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy,rèn luyện được các năng lực đó, chính là HS đã đặt mình vào vị trí của ngườinghiên cứu khoa học, hay nói cách khác đó là sự rèn luyện NLTH
1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng tự học
1.1.3.1 Kỹ năng (KN)
Theo GS.Trần Bá Hoành “Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thunhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn Kỹ năng đạt tới mức hết sứcthành thạo, khéo léo thì trở thành kỹ xảo” [22]
Theo Nguyễn Duân (2010) thì dấu hiệu cơ bản của KN là khả năng của conngười thực hiện một cách có hiệu quả một hành động nào đó bằng cách lựa chọn và
áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phươngtiện nhất định để đạt mục tiêu đã đề ra [7]
Từ những quan niệm trên và một số quan niệm khác nhau của nhiều tác giảkhác đã xem xét KN ở hai khía cạnh:
Quan niệm thứ nhất: xem xét KN nghiêng về mặt KN của hành động, cáctác giả coi KN là cách thức thực hiện hành động mà con người nắm vững
Quan niệm thứ hai: xem xét KN nghiêng về góc độ năng lực của con người
Kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả với chất lượng cần thiết và với thời giantương ứng không những trong điều kiện quen thuộc nhất định mà còn trong nhữngđiều kiện mới Như vậy quan niệm thứ hai không chỉ coi KN là kỹ thuật hành động
mà còn là biểu hiện của năng lực, đòi hỏi con người phải luyện tập theo một quytrình xác định mới hình thành được kỹ năng đó [4]
Trang 16Khi nói về khoa sư phạm tích hợp, Xavier đã đưa ra kết luận khái quát:
Mục tiêu = Kỹ năng x nội dungNăng lực = Mục tiêu x tình huống mớiQua công thức trên ta thấy KN học tập là thành tố cấu tạo nên mục tiêu DH
và cũng là thành tố tạo nên năng lực của người học Kỹ năng là sự vận dụng kiếnthức nhờ đó mà kiến thức trở nên có giá trị Kiến thức và KN tuy là hai thành tốnhưng chúng lại thống nhất với nhau và tác động lẫn nhau Do vậy, nắm vững kiếnthức là điều kiện hình thành kỹ năng
Rèn luyện KN học tập là rèn luyện cho HS một hệ thống thao tác nhằm làmbiến đổi đối tượng và làm sáng tỏ những thông tin trong nhiệm vụ học tập, đối chiếuchúng với hành động cụ thể Vì vậy, rèn luyện kỹ năng học tập cho HS cần:
- Tổ chức HS biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố cấu thành đối tượng nhậnthức và mối quan hệ giữa chúng
- Tổ chức HS khái quát hóa dấu hiệu bản chất của các đối tượng cùng loại.Trong cuốn “Dạy học ngày nay” Geoffrey Petty (1998) , đã đề xuất một quytrình chung về rèn luyện KN gồm 8 bước [34]:
Hình 1.1 Quy trình rèn luyện kỹ năng của Geoffrey Petty
Bước 1: Giải thíchBước 2: Làm chi tiếtBước 3: Sử dụng kinh nghiệm mới họcBước 4: Kiểm tra và hiệu chỉnh
Bước 5: Hỗ trợ trí nhớBước 6: Ôn tập và sử dụng lạiBước 7: Đánh giáBước 8: Thắc mắc
Trang 171.1.3.2 Kỹ năng tự học:
Kỹ năng tự học là các khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức vào giải quyếtcác vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống [17]
Hệ thống các kỹ năng tự học bao gồm:
- Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học
Việc xây dựng kế hoạch tự học bao gồm việc lênh danh mục các nội dungcần tự học, khối lượng và yêu cầu cần đạt, các hoạt động cần phải tiến hành, sảnphẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạt động
Kế hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính khả thi
- Kỹ năng lựa chọn tài liệu
Hiện nay lượng thông tin rất đa dạng, phong phú car về thể loại lẫn chủngloại và được thể hiện dưới nhiều dạng như : viết, nghe, nhìn, internet…, tài liệutrong nước, tài liệu nước ngoài Để tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn luyệncho mình kỹ năng lựa chọn các tài liệu thích hợp sao cho đúng, đủ, hợp lí để nângcao chất lượng tự học, tự nghiên cứu của bản thân mình
- Kỹ năng lựa chọn hình thức tự học
Không phải lúc nào việc tự học cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuậnlợi Những khó khăn gặp phải trong tự học đòi hỏi người học cần phải có sự hỗ trợcủa bạn bè, thầy cô hoặc các chương trình trên ti vi, máy tính… Vì thế kỹ năng lựachọn hình thức tự học cũng rất cần thiết, nó giúp người học “gỡ rối” những vấn đề
mà tự mình có thể không vượt qua được
- Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin
Trước sự đa dạng và phong phú thông tin như hiện nay thì việc chọn lọcthông tin tự học là hết sức quan trọng vì quá trình tự học được bắt đầu từ đây.Thông tin này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: quan sát thực tiễnxung quanh, quan sát thí nghiệm, hình vẽ, đọc sách, ghe GV giảng ghi chép và ginhớ, ghe và thu thập thông tin từ bạn học, từ mọi người xung quanh, từ các phươngtiện nghe nhìn, truy cặp trên mạng internet….Với lượng kiến thức sinh học đồ sộ vàthuộc nhiều lĩnh vực chuyên sâu khác nhau, vì vậy để người học lựa chọn đúng, đủ,chọn cái thực sự cần thiết để phục vụ cho việc tự học có hiệu quả thì đòi hỏi ngườihọc phải có một kỹ năng thu thập thông tin Thông qua các hoạt động thu thậpthông tin đó thì các kỹ năng thu thập thông tin tương ứng sẽ được hình thành
Trang 18Ví dụ: HS quan sát những người bị bệnh bạch tạng và người bình thường cóthể biết rằng da bị bệnh bạnh tạng là do gen lặn gây ra Quan sát một số con ruồigiấm có thể nhận biết có rất nhiều cặp tính trạng tương phản nhau… Nhờ nhựng kỹnăng quan sát như vậy, HS sẽ nhanh chóng nắm bắt cacsquy luật, nhanh chóng nắmbắt và phát hiện vấn đề.
Kỹ năng xử lý thông tin bao gồm hai KN kế tiếp nhau là KN hệ thống hóa và
KN phân tích, tổng hợp, khái quát hóa
Khi kiến thức được sắp xếp trong vỏ não một cách có hệ thống, có cấu trúc
sẽ giúp người học dễ nhớ, dễ sử dụng khi cần thiết Muốn vậy, người học phải thựchiện một loạt các thao tác khác nhau như tóm tắt, phân loại, xác lập các mối liên hệ,biểu diễn bằng sơ đồ logic…
Điều quan trong trong tự học là cần biến tri thức chung của nhân loại thànhtri thức riêng của bản thân người học Quá trình này đòi hỏi nguời học phải biếtphân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa….Như vậy, KN xử lýthông tin trong tự học liên quan mật thiết với KN tư duy
Tóm lại KN thu thập và xử lý thông tin là hai hoạt động diễn ra đan xennhau, tiếp nối nhau và có thể tạo thành một chuỗi các sự đan xen nhau, nối tiếpnhau Qua nhiều thao tác thu thập và sử lý thông tin đó, người học sẽ nhận ra đượccác dấu hiệu bản chất của vấn đề, từ đó tìm ra những quy luật của hiện tượng và sẽgiải quyết được vấn đề
- Kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có đểgiải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễnsản xuất trong đơi sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài tập, bài thực hành, làmthí nghiệm, viết báo cáô, xử lí tình huống, chăn nuôi, trồng trọt, giải thích các hiệntượng tự nhiên, các vấn đề sinh học trong nông nghiệp, lắp đặt, sửa chữa, giải quyếtcác vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống
- Kỹ năng trao đổi và phổ biến thông tin
Các vấn đề kiến thức mà người học có được nếu trao đổi với bạn học hoặccác đối tượng có nhu cầu sẽ có tác dụng tích cực đối với việc lĩnh hội tri thức củabản thân Có thể nói mỗi lần trao đổi, phổ biến những kiến thức mà mình có được làmỗi lần người học rèn luyện thêm KN truyền đạt (nói) và KN viết văn bản khoa
Trang 19học Do vậy, việc rèn luyện KN trao đổi và phổ biến thông tin liên quan đến việcrèn kuyện KN trình bày thông tin khoa học.
- Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá
Tự kiêm tra, đánh giá là một KN quan trọng trong tự học Chỉ khi qua tựkiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt đếnmức độ nào Từ đó, đề ra biện pháp điều chỉnh phương pháp tự học để đạt hiệu quảcao hơn Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình tự họcbăng nhiều hình thức khác nhau qua hệ thống các câu hoi và bài tập nhận thức cụthể KN này đòi hỏi người học phải tự giác cao độ và phải biết xây dựng các tiêuchí, lựa chọn công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp
1.1.3.3 Hệ thống các kỹ năng bồi dưỡng năng lực tự học cần rèn luyện cho HS trung học phổ thông.
Hoạt động tự học rất đa dạng Dạng phổ biến nhất là làm việc với sách giáokhoa và các tài liệu khác
Hiện nay có nhiều tác giả phân loại KN làm việc với SGK dựa trên nhữngtiêu chí và quan điểm khác nhau GS.TS Đinh Quang Báo và PGS.TS Nguyễn ĐứcThành (1996) trong tài liệu vì phương pháp giảng dạy sinh học đã nêu ra một số KN
cơ bản cần rèn luyện cho HS khi làm việc với SGK bao gồm [4]:
- KN tách ra nội dung bản chất từ tài liệu đọc được
- KN phân loại tài liệu đọc được
- KN trả lời câu hỏi dựa trên tài liệu đọc được
- KN lập dàn bài khi đọc SGK
- KN soạn đề cương
- KN làm tóm tắt tài liệu đọc được
- KN đọc và phân tích bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị, hình vẽ trong sách
Tác giả Nguyễn Duân (2010) đã xác định các KN làm việc với SGK baogồm các KN cơ bản [8]:
- Nhóm KN làm việc với kênh chữ: KN tìm ý chính, KN tóm tắt, KN lập dàn
ý, KN lập bảng, KN lập sơ đồ
- Nhóm KN làm việc với kênh hình trong SGK: KN khai thác thông tin từtranh ảnh trong SGK, KN khai thác thông tin sơ đồ trong SGK, KN khai thác thôngtin từ đồ thị trong SGK
Trang 20- KN khai thác thông tin từ bảng trong SGK.
- KN vận dụng thông tin đọc được từ SGK
Mỗi cách phân loại trên đây đều dựa trên các tiêu chí khác nhau Tiếp thu từcác tác giả, và dựa trên đặc trưng của SGK chương trình mới, chúng tôi xác địnhcác KN cơ bản cần rèn luyện cho HS bao gồm:
- Nhóm KN làm việc với kênh chữ: KN đọc hiểu nội dung SGK; KN tách ra
nội dung chính, bản chất từ SGK; KN diễn đạt nội dung SGK (KN lập dàn ý, soạn
đề cương; KN tóm tắt tài liệu đọc được từ SGK, KN lập sơ đồ, KN lập bảng, KNthực hiện các lệnh ở SGK; KN trả lời câu hỏi và bài tập dựa vào SGK, KN khai thácthông tin từ bảng trong SGK)
- Nhóm KN làm việc với kênh hình: KN khai thác thông tin từ tranh, ảnh
trong SGK; KN khai thác thông tin từ sơ đồ trong SGK; KN khai thác thông tin từ
đồ thị trong SGK
- Nhóm kỹ năng giải bài tập sinh học Khi giải bài tập thì HS lại một lần nữa
nắm vững kiến thức về lý thuyết, hai yếu tố lý thuyết và bài tập móc xích lẫn nhau
Ngoài KN làm việc với SGK còn nhiều KN khác như [42]:
* KN nghe và ghi khi nghe giảng theo tinh thần tự học: Từ thực tiễn có thểnhận thấy rằng, để nghe và ghi tốt người ta thường sử dụng một số biện pháp :
- Tập trung tư tưởng khi nghe giảng.
- Tăng cường tốc độ ghi.
- Tăng cường tốc độ viết tắt.
* KN làm việc độc lập với thí nghiệm
* KN hình thành hứng thú nhận thức; Kích thích nghĩa vụ và trách nhiệmhọc tập
Tuy nhiên trong luận văn này tôi tập trung nghiên cứu một số KN như sau:
KN khai thác kênh chữ; KN khai thác kênh hình.; KN giải bài tập
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Phương pháp xác định thực trạng.
Để tìm hiểu nhận thức của GV và HS về vai trò của tự học, việc sử dụng các
KN đọc sách; KN khai thác kênh chữ; KN khai thác kênh hình; KN giải bài tập đểbồi dưỡng năng lực tự học cho HS ở các trường THPT hiện nay Chúng tôi đã tiếnhành điều tra thông qua phỏng vấn và phiếu điều tra như sau:
Trang 21- Sử dụng phiếu phỏng vấn để khảo sát với 310 HS lớp 12 đang học chương
“Tính quy luật của hiện tượng di truyền” tại trường THPT Mai Anh Tuấn, THPT BaĐình, THPT Trần Phú – Nga sơn- Thanh Hóa (Xem phụ lục 1)
- Sử dụng phiếu phỏng vấn để khảo sát với 16 giáo viên đang trực tiếp giảngdạy SH thuộc 3 trường THPT Huyện Nga Sơn – Thanh Hóa năm học 2010 –2011(THPT Ba Đình; THPT Mai Anh Tuấn; THPT Trần Phú)
Phiếu số 2: Khảo sát về phương pháp dạy học của GV (Xem phụ lục 2a).Phiếu số 3: Khảo sát tình hình bồi dưỡng các KN tự học cho HS của GVtrong dạy học SH ở trường THPT nói chung và trong chương “ Tính quy luật củahiện tượng di truyền” Sinh học 12 nói riêng (Xem phụ lục 2b)
- Dự giờ dạy: Chúng tôi đã tham gia dự giờ của GV dạy sinh học ở trường,tổng số giờ dự là 10 giờ
Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành trao đổi, tham khảo bài soạn của GV bộmôn
1.2.2 Nhận thức về tự học của học sinh hiện nay.
Để đánh giá về KN làm việc độc lập của HS trong bộ môn Sinh học nóichung và trong chương Tính quy luật của hiện tượng di truyền nói riêng, chúng tôitiến hành làm các bài kiểm tra như trong phần thực nghiệm sư phạm đối với HS lớp
12 đang học tại trường THPT Mai Anh Tuấn – Nga Sơn -Thanh hóa (310 HS)
Bảng 1.1 Kết quả điều tra đối với HS về một số KN năng cao năng lực
tự học trong bộ môn sinh học nói chung
Câu 1: Trong quá trình học tập sinh học, các KN sau đã được các em sử dụng ở mức
2 Đặt câu hỏi trong khi học 76 24,5 137 44,2 97 31,3
3 Phát biểu ý kiến trên lớp 235 75,8 75 24,2 0 0
4 Trao đổi ý kiến với bạn
7 Tham khảo tài liệu khác 115 31,7 53 17,1 142 45,8
Trang 228 Tìm và giải bài toán khó 94 30,32 38 12,26 178 57,42
Câu 2: Theo các em, trong quá trình học tập môn sinh học hoạt động sau là cần thiết
hay không cần thiết ?
1 GV trình bày đầy đủ lý
thuyết như SGK, giao bài tập
và HS thực hiện theo yêu cầu
Dựa vào số liệu thu được ở (Bảng 1.1), chúng tôi rút ra được một số nhận xétsau:
- Đa số các em quen với phong các học cũ: phát biểu ý kiến trên lớp (75,8%)hay làm bài tập ngay sau giờ học (82,6%) HS chư có thói quen tự học, tự nghiêncứu, cụ thể: chỉ có 37,1% HS tham khảo tài liệu khác; 30,32% HS tìm và giải cácbài toán khó…Những con số này cho thấy đa số HS còn thụ động, chưa phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập
- Bảng số liệu cho thấy mong muốn của các em HS là được tự học, tự nghiêncứu, tự làm các thí nghiệm minh họa, tự tìm kiếm bài tập dưới sự hướng dẫn củaGV…từ đó các em sẽ mạnh dạn đóng góp ý kiến, lắng nghe và bổ sung ý kiến, đặt
ra những câu hỏi đối với GV…Qua hoạt động đó các em phát huy được tính tíchcực, tự lực sáng tạo và tinh thần tự học, NLTH sẽ được nâng cao
Khi điều tra về rèn luyên một số KN giúp nâng cao NLTH trong chươngTính quy luật của hiện tượng di truyền, Sinh học 12 chúng tôi tiến hành điều tra một
số KN là:
(1) KN khai thác kênh chữ: KN đọc sách, KN tìm ý chính; KN tóm tắt tàiliệu; KN thực hiện các lệnh trong SGK, KN tìm ý trả lời câu hỏi dựa vào SGK, KNlập sơ đồ, phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, KN giải quyết cácnhiệm vụ học tập
(2) KN khai thác thông tin từ kênh hình: Tranh ảnh, biểu đồ, bảng biểu…
Trang 23(4) KN giải bài tập sinh học.
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về một số KN làm việc độc lập nâng cao NLTH của
Kết quả trong bảng 1.2 cho thấy:
- Số lượng HS có kết quả cao nhất về rèn luyện KN làm việc độc lập đạt mức
độ cao là: KN khai thác kênh chữ (58,06%); KN khai thác kênh hình (45,16%); các
KN còn đạt ở mức độ thấp là KN đọc sách ( KN tóm tắt, tìm ý chính, KN lập sơ đồ,phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, KN giải quyết các nhiệm vụhọc tập – 22,58%); KN giải bài tập (32,26%)
- Qua việc phân tích từng bài kiểm tra và dự giờ thăm lớp, chúng tôi thấyrằng các KN làm việc độc lập của HS còn rất yếu Như vậy cần phải thường xuyênrèn luyện các KN này để từng bước nâng cao hiệu quả dạy học
1.2.3 Thực trạng về bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh ở trường THPT
1.2.2.1 Vấn đề 1: Tình hình sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên
Qua điều tra phỏng vấn 16 giáo viên Sinh học ở các trường THPT trên địa bàncác huyện Nga Sơn – Thanh Hóa Tình hình sử dụng phương pháp dạy học của giáoviên phổ thông được thể hiện qua bảng 1.3:
Bảng 1.3 K t qu i u tra vi c s d ng ph ết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ệc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ử dụng phương pháp dạy học của giáo ụng phương pháp dạy học của giáo ương pháp dạy học của giáo ng pháp d y h c c a giáo ạy học của giáo ọc của giáo ủa giáo
viên
Trang 24tài liệu tham
khảo nâng cao
là trong các giờ thao giảng, các tiết thi GV dạy giỏi
Trang 251.2.2.2 Vấn đề 2: Tình hình rèn luyện kỹ năng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 16 giáo viên sinh học ở cáctrường THPT trên địa bàn huyện Nga Sơn – Thanh Hóa Kết quả như sau
B ng 1.4 K t qu i u tra ả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáoối với giáo viên về bồi dưỡng NLTH cho ới giáo viên về bồi dưỡng NLTH cho i v i giáo viên v b i d ều tra việc sử dụng phương pháp dạy học của giáo ồi dưỡng NLTH cho ưỡng NLTH cho ng NLTH cho
HS
Câu 1: Quí thầy cô có nghe nói đến các
khái niệm NLTH, kỹ năng tự học
không?
Câu 2: Quí thầy cô đã từng tham gia
khóa học nào về rèn luyện năng lực tự
học cho HS trong dạy học chưa
Dẫ từng tham gia 13 81,25Chưa từng tham gia 3 19,75
Câu 3: Theo thây cô việc phát triển
NLTH cho HS trong dạy học sinh học là
Câu 4: Quí thầy cô có tổ chức các hoạt
động theo hướng bồi dưỡng NLTH cho
HS không?
Câu 5: Trong quá trình dạy học sinh
học, quí thầy cô chủ yếu sử dụng
phương pháp dạy học nào để bồi dưỡng
Câu 6: Quí thầy cô cho biết HS hứng
thú nhất với những giờ học sinh học:
Thầy đọc, trò chép 0 0
Có sử dụng thínghiệm
Có ứng dụng CNTT 8 50,0
Câu 7: Theo thầy cô việc dạy học theo
hướng bồi dưỡng NLTH cho HS có
những thuận lợi và khó khăn cơ bản:
Thuận lợi: Phù hợp với xu hướng phát
triển của thế giới; được sự quan tâm củacác ngành, các cấp; HS tích cực học tập
Trang 26Kháo khăn: Phải chuẩn bị giáo án kỹ nên
mất nhiều thời gian, vẫn quen với kiểu “thầy đọc trò chép” Cơ sở vật chất chưađáp ứng đủ điều kiện
Qua phỏng vấn một số GV, chúng tôi nhận thấy các GV bước đầu đã có sựđổi mới về PPDH Các PPDH truyền thống đã dần được thấy thế bằng các PPDHtích cực Tuy nhiên số lượng GV sử dụng các PPDH tích cực vẫn còn hạn chế, đặcbiệt là các phương pháp tạo điều kiện cho sự bồi dưỡng NLTH cho HS
Qua sự phân tích trên cũng cho thấy phần lớn GV chưa chú trọng rèn luyện
KN làm việc độc lập cho HS Mặc dù qua trao đổi dự giờ hầu hết các GV đều chorằng việc rèn luyện KN tự học cho HS là rất cần thiết nhằm phát huy tính tích cựccủa HS nhưng do các nguyên nhân chủ quan và khách quan mà chưa thực hiện đượchoặc thực hiện nhưng chưa có hiệu quả
Chúng tôi cũng đã điều tra, phỏng vấn các GV đang giảng dạy chương Tínhquy luật của hiện tượng di truyền Sinh học 12; có đến 80 % cho rằng chươngChuyển này rất thuận lợi để rèn luyện KN làm việc độc lập nâng cao NLTH cho HS
vì chương này rất phong phú về kênh chữ và kênh hình ( tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ
và đồ thị) Mặt khác nội dung chương mang tính thực tế rất gần gũi với đời sống,các lệnh hoạt động được tăng cường theo hướng phát huy tính tích cực của HS Tuynhiên, các GV chưa chú tâm rèn luyện các KN làm việc với SGK, tài liệu liên quancho HS trong chương này vì nội dung các bài học tương đối dài và KN làm việc độclập của HS còn yếu nên sợ mất thời gian Trong chương này, các GV mới chỉ rènluyện một số KN như KN khai thác thông tin từ tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị, KN tìm ýchính, KN tìm ý trả lời CH dựa vào SGK nhưng còn ở mức độ thấp; các KN đòi hỏimức độ tư duy nhiều hơn như KN lập bảng, KN lập sơ đồ, KN tóm tắt, KN phântích- tổng hợp KN so sánh, KN giải bài tập…vẫn chưa được chú ý rèn luyện
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng trên
1.2.4.1 Về phía giáo viên
- Đa số GV đều nhận thức được rằng vấn đề rèn luyện KN làm việc độc lậpnâng cao NLTH cho HS là rất quan trọng nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của HS, phù hợp với xu thế của thời đại nhưng GV chưa xác địnhđược hệ thống các KN tự học cũng như việc rèn luyên cho HS nhưng KN đó, do
Trang 27vậy GV cảm thấy khó thực hiện Trước hết phải đổi mới giáo án thay đổi các KN,
kỹ xảo DH đã thành thói quen ăn sâu vào tiềm thức và tốn ít đầu tư về công sức thờigian Sau đó lại phải tham khảo tài liệu, nghiên cứu xây và thử nghiệm phươngpháp mới Vì vậy các giáo viên ngại thay đổi
- Phần lớn GV khi lên lớp chỉ yêu câu HS dựa vào SGK để trả lời những câuhỏi mang tính chất thông báo tái hiện mà GV nêu ra trong quá trình giảng bài Đa sốcác GV chưa chú trọng rèn luyện các KN làm việc độc lập cho HS vì cho rằng trình
độ tự học của HS thấp, nếu triển khai theo hướng trên sẽ mất thời gian, không hoànthành được nội dung bài giảng trong một tiết học Điều này dẫn đến NLTH của các
em không được bồi dưỡng trong quá trình học tập, biểu hiện là các em chưa có kỹnăng thu thập, xử lý, vận dụng thông tin cũng như kỹ năng tự kiểm tra đánh giá và
tự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân mình
- Chế độ kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập chưa kích thích được khảnăng tư duy và ý thức tự học của các em vì một bộ phận không nhỏ các GV vẫn dạytheo quan niệm “thi gì, dạy nấy” GV ít dạy theo kiểu phát huy tính tự học của HS,
GV chỉ dạy những kiến thức cần cho kỳ thi mà không chú trọng đến việc đào sâu,phát triển tư duy sáng tạo cho HS Vấn còn nạn chạy đua theo thành tích, tuy khôngnhiều nhưng cũng tác động rất lớn đến việc tự học của các em
1.2.4.2 Về phía học sinh
- Không xác định đúng động cơ, thái độ học tập, không hứng thú học tập bộmôn sinh học Phần lớn HS cho rằng đây là môn học phụ nên chủ yếu là học đốiphó
- Phần đông HS nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học trong quátrình học tập của các em, tuy nhiên các em không biết và không có điều kiện để rènluyện được những KN tự học vì áp lực học tập và thi cử (học thêm tràn lan), nhiều
HS áp dụng rập khuôn thiếu sáng tạo dẽ sai sót theo hệ thống
- Cách học của HS nặng về thuộc lòng, tái hiện kiến thức nên hạn chế sự pháttriển về năng lực tư duy Mặt khác HS chưa có KN tự học, HS chủ yếu sử dụngSGK để theo dõi bài giảng của GV ở trên lớp, chưa có động cơ sử dụng SGK để tựhọc tìm tòi kiến thức mới Trên lớp, HS thường chú ý ghi chép bài đầy đủ vào vở đểkhi về nhà chỉ cần theo dõi vở ghi để hôm sau trả lời bài cũ Do đó SGK, tài liệuchưa phát huy được vai trò của nó trong việc rèn luyện khả năng tự học của HS
Trang 28trong khi học ở lớp và ôn tập bài ở nhà Qua dự giờ, chúng tôi thấy rằng số HS họctập thụ động khá nhiều, việc tham gia xây dựng bài và khám phá tri thức mới còn ít.
Kết luận chương 1
Trong chương này chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách
có hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan tự học và bồidưỡng nâng cao NLTH cho HS thông qua các KN đọc sách, khai thác kênh hình,khai thác kênh chữ và thông qua giải bài tập sinh học, chúng tôi có các kết luận sau:
- Làm rõ được các khái niệm tự học, năng lực tự học, KN tự học, hệ thốngcác KN tự học trong dạy học sinh học Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lậpchiếm lĩnh tri thức, hình thành KN, kỹ xảo của chính bản thân người học Trong quátrình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động cácchức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mực tiêu đã định
Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo học hôm nay và maisau
- Làm rõ một số KN giúp nâng cao NLTH cho HS mà cụ thể như: KN thuthập thông tin, xử lý thông tin, vận dụng tri thức thu thập vào thực tiễn, tự kiểm trađánh giá và tự điều chỉnh
- Qua khảo sát thực trạng dạy học ở các trường THPT cho thấy: việc sử dụngcác biện pháp nhằm phát triển NLTH cho HS trong dạy học sinh học vẫn còn hạnchế, việc rèn luyện các KN tự học vẫn chưa thực sự chú trọng
- Từ những vấn đề trên, chúng tôi nhận thấy việc nâng cao NLTH cho HStrong dạy học nói chung, dạy học sinh học nói riêng là việc làm rất cần thiết Trên
cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao NLTH cho HS trongdạy học sinh học, chúng tôi sẽ nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triểnNLTH cho HS
Trang 29CHƯƠNG 2: BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TÍNH QUY LUẬT CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN”
SINH HỌC 12 – THPT
2.1 Một số căn cứ để đưa ra các biện pháp bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” Sinh học 12 – THPT
2.1.1 Mục tiêu dạy học
Dạy học môn sinh học trong trường phổ thông nhằm giúp HS [39]:
- Đạt được một hệ thống kiến thức Sinh học phổ thông, cơ bản, hiện đại, thựctiễn, bao gồm:
+ Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng, quá trình và qui luật sinh họcthường gặp trong đời sống và sản xuất
+ Các qui luật, nguyên lí và định luật sinh học cơ bản
+ Những ứng dụng phổ biến của sinh học trong đời sống và sản xuất
+ Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương phápriêng đặc thù của sinh học như: phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình,phương pháp ứng dụng thực tế…
- Rèn luyện và phát triển các kỹ năng:
Trang 30+ KN quan sát, mô tả các hiện tượng sinh học trong tự nhiên, trong đời sốnghằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồnkhác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc tự học môn sinh học.
+ KN thực hành sinh học: KN sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, KN thựchành thí nghiệm
+ KN vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng, qui luật vàquá trình sinh học, KN giải bài tập và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống
và sản xuất ở mức độ phổ thông
+ KN học tập: HS thành thạo các KN học tập, đặc biệt là KN tự học (biết thuthập, xử lí thông tin, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, làm việc cá nhân hay làm việc theonhóm, làm báo cáo nhỏ…)
- Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm:
+ Có hứng thú học tập môn sinh học, yêu thích tìm tòi khoa học
+ Có thái độ khách quan, trung thực, có tác phong cẩn thận, chính xác và cótinh thần hợp tác trong học tập
+ Có ý thức vận dụng những hiểu biết sinh học vào đời sống nhằm cải thiệnđiều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên
2.1.2 Đặc điểm về chương trình và SGK Sinh học THPT hiện nay
2.1.2.1 Yêu cầu của chương trình, SGK và trình độ của học sinh.
Chương trình Sinh học hiện nay đã được đổi mới theo hướng chống quá tải,giảm tính hàn lâm, tăng tính thực tiễn, thực hành vận dụng, giảm số tiết học trênlớp, tăng thời gian tự học, mở rộng hoạt động ngoại khóa, tạo điều kiện thuận lợicho việc hòa nhập với xã hội, phát triển nhân cách, phát triển năng lực tự học tựhành động [1]
Hiện nay, một số vấn đề đang được quan tâm là chuyển dần từ việc xây dựngchương trình theo từng môn học truyền thống sang xây dựng chương trình tích hợpliên môn, theo từng chủ điểm gần gũi với những vấn đề đặt ra trong đời sống thực tếcủa HS [3]
SGK là tài liệu học tập chủ yếu dùng cho HS học tập đồng thời còn là tài liệu
để GV sử dụng trong việc chuẩn bị và tiến hành quá trình giảng dạy SGK sinh họchiện nay, đã chuyển cách trình bày truyền thống kiểu thông báo – giải thích – minhhọa sang cách tổ chức các hoạt động tìm tòi khám phá, với sự trợ giúp của giáo viên
Trang 31qua đó HS tự lực chiếm lĩnh nội dung bài học Nội dung và cách trình bày của SGKcũng góp phần giúp HS học tốt, yêu thích môn học Bằng những hoạt động học tập
đó, HS trưởng thành cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ và cả phương pháp khoa học,phương pháp học tập
Như vậy, để có thể đáp ứng được yêu cầu của chương trình và SGK hiệnhành thì người GV cần tìm các biện pháp nhằm nâng cao NLTH phù hợp với trình
độ của mỗi HS để các em có thể tự lực chiếm lĩnh lấy kiến thức, tích cực, chủ động,sáng tạo hơn nữa trong học tập
2.1.2.2 Cấu trúc chương trình Sinh học THPT hiện nay
Các kiến thức Sinh học trong chương trình THPT được trình bày theo cáccấp tổ chức sống, từ các hệ nhỏ đến các hệ lớn: tế bào→ cơ thể→ quần thể→ loài→quần xã→ hệ sinh thái - sinh quyển, cuối cùng tổng kết những đặc điểm chung củacác cấp tổ chức sống theo quan điểm tiến hóa – sinh thái
Cấu trúc chung của một bài học lý thuyết bao gồm: Nội dung bài học→Tómtắt nội dung bài học → Câu hỏi - bài tập → Mục “em có biết”
Các kiến thức trình bày trong chương trình THPT là những kiến thức Sinhhọc đại cương, chỉ ra những nguyên tắc tổ chức, những qui luật vận động chung chogiới sinh vật Quan điểm này được thể hiện theo các ngành nhỏ trong SH: Tế bàohọc, Di truyền học, Tiến hóa, Sinh thái học đề cập những qui luật chung, khôngphân biệt từng nhóm đối tượng Chương trình được thiết kế theo mạch kiến thức vàtheo kiểu đồng tâm, mở rộng qua các cấp học như chương trình THPT dựa trênchương trình Trung học cơ sở và được phát triển theo hướng đồng tâm, mở rộng
2.1.3 Phân tích cấu trúc và nội dung chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12-THPT
2.1.3.1 Mục tiêu của chương
a Về kiến thức
Sau khi học saong chương này HS càn phải:
- Nắm được các hiện tượng, nội dung, ý nghĩa của các quy luật di truyền: quyluật di truyền Menđen; Liên kết gen và hoán vị gen; Di truyền liên kết với tính, ditruyền tế bào chất
- Hiểu được mối quan hệ giữa gen và tính trạng; ảnh hưởng của môi trườngđến sự biểu hiện của gen
Trang 32- Nắm được các kiến thức khái niệm, quy luật, hiên tượng di truyền.
- Có hứng thú học tập , yêu thích tìm tòi khoa học
- Có thái độ khách quan, trung thực,có tinh thần hợp tác trong học tập
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết vào đời sống
2.1.3.2 Phân tích nội dung cấu trúc của chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 – THPT
Chương này gồm 9 bài từ bài 8 đến bài 15 Nội dung chương này có tính kêthừa các chương trước, có tính logic với các chương trước và sau chương trình
Chương này cho thấy sự di truyền các tính trạng qua các thế hệ của loài diễn
ra theo những xu thế tất yếu mà người ta đã phát hiện được bằng phương pháp thựcnghiệm Nhờ những kiến thức ở chương I về cơ sở vật chất, cơ chế của di truyền vàbiến dị mà ở chương này, học sinh cơ sở để hiểu những mối quan hệ nhân quả đãchi phối tính quy luật tất yếu của hiện tượng di truyền và biến dị Chính nhờ ADN
tự nhân đôi dẫn đến nhiễm sắc thể nhân đôi, phân li và tổ hợp theo những cơ chếxác định mà sự di truyền qua nhân diễn ra theo những quy luật chặt chẽ.[3] Cụ thểgồm:
Bài 8: Quy luật Menđen: Quy luật phân li
Bài 9: Quy luật Menđen: Quy luật phân ly độc lập
Bài 10: Tương tác gen và tác động đa hiệu của gen
Bài 11: Liên kết gen và hoán vị gen
Bài12: Di truyền liên kết với giới tính, di truyền ngoài nhân
Bài 13: Ảnh hưởng của môi trường lên sự biểu hiện của gen
Bài 14: Thực hành: Lai giống
Bài 15: Bài tập chương I và chương II
Trang 332.2 Môt số kỹ năng cần rèn luyện để nâng cao NLTH cho HS trong chương
“ Tính qui luật của hiện tượng di truyền” Sinh học 12 – THPT
2.2.1 Nhóm kỹ năng làm việc với kênh chữ
2.2.1.1 Kỹ năng đọc sách
* Tầm quan trọng
Kỹ năng đọc sách là một quá trình vận dụng những tri thức, những kinhnghiệm đã có để tiến hành một cách thành thạo các thao tác, các hành động trí tuệnhằm chiếm lĩnh nội dung tri thức, kinh nghiệm chứa đựng trong sách, biến nộidung tri thức đó thành kinh nghiệm của bản thân
Nếu có KN đọc sách, HS sẽ tiếp thu được nhiều tri thức nhất trong mộtkhoảng thời gian ngắn nhất và mang lại hiệu quả cao nhất Đọc sách thường xuyên
và có phương pháp khoa học sẽ giúp học sinh [45]:
- Mở rộng và đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được, tiếp cận được sự pháttriển của khoa học và nghề nghiệp tương lai
- Bồi dưỡng tư duy lôgic, phương pháp làm việc khoa học nhất là tư duysáng tạo trong hoạt động chuyên môn của mình
Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, hứng thú học tập, nghiên cứu, lòng yêu nghềnghiệp và thái độ đúng đắn với thế giới xung quanh cũng như với bản thân mình
* Yêu cầu của kỹ năng
- Phải có mục đích đọc sách rõ ràng và cụ thể vì mục đích đọc sách sẽ chiphối toàn bộ quá trình đọc sách
- Tích cực tư duy khi đọc: là luôn hình dung những ý tưởng trong sách thànhnhững biểu tượng, hình ảnh trong đầu; đối chiếu, so sánh chúng với nhau và vớinhững hiểu biết đã có
- Phải tập trung chú ý cao độ khi đọc sách nghĩa là định hướng, tư duy tíchcực và ghi nhớ nhanh những điều rút ra khi đọc
- Rèn luyện để có kỹ thuật đọc hợp lí từ khâu tổ chức, xác định phương phápđọc và các thao tác đọc
* Quy trình rèn luyện KN đọc sách
Bước 1: Xác định mục đích đọc sách
Xác định mục tiêu đọc sách là trả lời câu hỏi: “đọc để giải quyết vấn đề gì,đọc như thế nào và đọc đến mức độ nào? ” Từ mục tiêu học tập cụ thể, HS mới
Trang 34định hướng tìm kiếm thông tin khi làm việc với tài liệu: đọc chương, mục nào, cáigì? Nhờ định hướng đúng, HS nhanh chóng giải quyết được mục tiêu học tập vớichất lượng cao, tiết kiệm được thời gian
Bước 2: Khảo sát
Đọc lướt qua phần nội dung cần đọc, lưu ý đến tính hệ thống của nội dung.Đặc biệt đối với SGK hiện nay có phần tóm tắt cuối mỗi bài học, cần đọc lướt phầnnày để thấy rõ nội dung cô đọng nhất, những kết luận chính của bài
Bước 3: Đọc kỹ có phân tích, nhận xét, đánh giá
Để lĩnh hội được những tri thức cần thiết, đạt được mục đích đọc sách, cầnphải đi sâu nghiên cứu cuốn sách Khi làm việc với SGK cần có các kỹ thuật đọc cơbản như: đọc có trọng điểm (hay đọc từng phần, đọc nghiền ngẫm nội dung cuốnsách, đọc chủ động, đọc sâu)
Bước 4: Tổng kết lại
Cuối mỗi phần, mỗi chương, bài, mục và tiểu mục cần dừng lại và chốt cácđiểm chính bằng cách ghi chép
Bước 5: Kiểm tra – Đánh giá kết quả
Sau khi đọc xong toàn bộ nội dung cần đọc lại để kiểm tra, đánh giá xemmình đã thu được gì sau quá trình đọc, đặc biệt chú ý đến cách bố cục của nội dung
Ví dụ: GV hướng dẫn cho HS đọc nội dung mục I- bài 8: “quy luật Menđen– Quy luật phân li”
- Xác định mục đích đọc sách: Vì đây là bài đầu tiên của chương II mà nộidung bài học cũng đã được đề cặp ở sinh học 9 các em đã được học nên GV cầngiúp các em thấy được nội dung tính logic, hệ thống của chương trình GV đặt cáccâu hỏi giúp HS tự lực xác định mục đích của đọc nội dung bài học
+ Tóm tắt quy trình thí nghiệm của Menđen? (Quy trình thí nghiệm? Kết quảthí nghiệm?)
+ Tại sao chỉ bằng việc phân tích kết quả của các phép lai, Menđen lại có thểbiết được bên trong tế bào của cơ thể, mỗi cặp nhân tố di truyền quy định một tínhtrạng và trong mỗi giao tử lại chỉ có một nhân tố di truyền?
- Khảo sát: Đọc lướt nội dung bài để xác định các vấn đề chính bằng cáchđọc tên các mục của bài, sau đó dừng lại ở phần khung tóm tắt trang 36 (Menđen đãtuân theo một quy trình nghiên cứu rất khoa học như: bố trí thí nghiệm hợp lí dễ thu
Trang 35thập số liệu, lập lại thí nghiệm nhiều lần để tăng độ chính xác, tiến hành thí nghiệmlai thuân và lai nghịch để tìm hiểu vai trò của bố mẹ mang sự di truyền của tínhtrạng).
- Đọc kỹ có phân tích, nhận xét, đánh giá: Để thực hiện bước này cần đọc kỹnội dung, đặc biệt là trong quá trình đọc cần phải chú ý tới khung tóm tắt và hệthống câu hỏi, bài tập cuối bài để xác định nội dung trọng tâm Nội dung trọng tâmcủa mục I - bài 8 là phân tích đặc điểm của phương pháp nghiên cứu di truyền họccủa Menđen
- Tổng kết lại: HS ghi chép lại những ý chính trong mỗi mục (ghi theo cáchhiểu của bản thân)
- Kiểm tra – Đánh giá kết quả: Trong khâu này, GV có thể yêu cầu HS trìnhbày bằng lời nội dung các em đã đọc hoặc đưa ra hệ thống câu hỏi để kiểm tra mức
độ thu nhận kiến thức của HS hoặc HS tự đặt ra các câu hỏi và trả lời về các vấn đềmình còn thắc mắc
(1) Độc đáo trong thí nghiệm của Menđen là gì?
(2) Tóm tắt thí nghiệm của Menđen?
P t/c: cây hoa đỏ x cây hoa trắng
F1 x F1: Cây hoa đỏ x cây hoa đỏ
F2 x F2: 1/4 cây hoa đỏ 2/4 cây hoa đỏ tự thụ phấn
* Yêu cầu của kỹ năng
Trang 36- Xác định đúng các nội dung chính, bản chất từ nội dung đọc được
- Các nội dung chính, bản chất phải thể hiện đầy đủ ý của nội dung đã đọc
- Các nội dung chính, bản chất được tách ra phải ngắn gọn, súc tích và đượcsắp xếp logic phản ánh toàn bộ nội dung đã đọc
* Quy trình rèn luyện
Bước 1: Đọc nội dung của SGK cần tách ý chính, bản chất Nội dung có thể
là một bài, một đoạn hay một mục nào đó
Bước 2: Phân tích nội dung để tìm ý chính, bản chất
Bước 3: Tách các ý chính, bản chất của nội dung và sắp xếp chúng theo trình
tự logic
Ví dụ : Hãy tách ý chính, bản chất từ nội dung của bài 9 “Quy luật Menđen:quy luật phân li độc lập”
Học sinh cần thực hiện các thao tác:
- Đọc toàn bộ nội dung bài, xác định các mục, tiểu mục có trong bài
- Phân tích nội dung xác định được nội dung bài đề cập đến (thí nghiệm laihai và nhiều cặp tính trạng; nội dung quy luật; cơ sở tế bào học của quy luật; ýnghĩa của quy luật phân ly độc lập về lí thuyết và thực tiễn)
- Tách ra các nội dung chính, bản chất từ các mục và tiểu mục Sắp xếp các ýtheo logic của nội dung
→ Kết quả:
+ Thí nghiệm lai hai tính trạng:
Pt/c: Vàng,trơn x Xanh,nhăn →F1: 100% Vàng,trơn
F2: Về mầu sắc: vàng/xanh = 3/1;
Về hình dạng hạt: trơn/nhăn = 3/1
Tỷ lệ kiểu hình chung: 9:3:3:1 = (3:1) x (3:1)
+ Nội dung quy luật:
Các nhân tố di truyền quy định các tính trạng khác nhau phân li độc lập trongquá trình hình thành giao tử
Trang 37Xuất hiện nhiều biến dị tổ hợp có ý nghĩa cho tiến hóa và chọn giống
2.2.1.3 Nhóm kỹ năng diễn dạt nội dung khi đọc sách
- Diễn đạt nội dung học tập được hiểu một cách khái quát là sự thể hiện đốitượng học tập đã qua quá trình tiếp nhận, xử lí bởi các thao tác tư duy của chủ thểnhận thức Do đó những đối tượng học tập được chủ thể diễn đạt không còn
“nguyên bản” như ban đầu về hình thức nhưng nội dung cơ bản vẫn không thay đổi,
và đồng thời nó chứa đựng sản phẩm tư duy, khả năng ngôn ngữ của chủ thể nhậnthức
Theo quan điểm DH hiện đại diễn đạt nội dung học tập là chức năng của hoạtđộng học tập Đó là hoạt động mô hình hóa đối tượng học tập với vật liệu mới.Thực chất là cấu tạo lại đối tượng học bằng một vật liệu khác mà vẫn đảm bảo bảnchất của đối tượng đó, hoạt động này có 2 đặc điểm cơ bản [8]:
+ Dạng thông tin ban đầu được biến đổi sang hình thức khác theo mục tiêu
đã xác định
+ Hoạt động diễn đạt được thực hiện bởi các thao tác tư duy của người đọc
Từ thông tin ban đầu có thể được diễn đạt bằng nhiều hình thức khác nhautùy theo mục tiêu, đặc điểm nội dung và đối tượng HS Quá trình diễn đạt nội dunghọc tập từ SGK của HS có thể sơ đồ hóa như sau:
Hình 2.1 Quá trình diễn đạt nội dung học tập từ sách giáo khoa
- Vai trò của diễn đạt nội dung học tập đọc từ SGK đối với HS
+ Đối với quá trình nhận thức: Diễn đạt nội dung học tập là một nội dunghoạt động học tập, một khâu trong quá trình lĩnh hội tri thức của HS Đó còn là chứcnăng của hoạt động học - Chức năng mô hình hóa đối tượng học với các vật liệu
Thông tin ban đầu
đọc được
Hình thức diên đạt 1
Hình thức diên đạt 2
Hình thức diên đạt 3
Hình thức diên đạt n
Thao tác tư duy
Mục tiêu 1
Mục tiêu 2
Mục tiêu 3
Mục tiêu n
Trang 38mới, tạo động lực để HS lĩnh hội các kiến thức mới một cách nhanh chóng, hiểu vấn
đề có tính hệ thống
+ Đối với sự phát triển tư duy: rèn luyện cho HS các thao tác tư duy cơ bản,các biện pháp logic trong quá trình học tập như: phân tích, tổng hợp, so sánh, môhình hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa, trừu tượng hóa…
+ Đối với sự phát triển ngôn ngữ: rèn luyện cho HS các KN sử dụng ngônngữ trong quá trình tiếp nhận và xử lí thông tin
+ Tính giáo dục: Hình thành ý thức, thái độ nghiêm túc khi đọc sách, ghichép Rèn luyện các KN đọc sách Góp phần hình thành văn hóa đọc sách, giáo dụctính thẩm mỹ, năng lực tự học cho HS
- Hình thức diễn đạt nội dung học tập từ SGK: Trong DH Sinh học ở THPT,giáo viên yêu cầu HS diễn đạt nội dung học tập từ SGK Sinh học theo một số hìnhthức chủ yếu như sau:
+ Diễn đạt bằng văn bản: tóm tắt, lập dàn ý, phát biểu lại nội dung đã đọc(khái niệm, qui luật )
+ Diễn đạt bằng hình ảnh: thể hiện đối tượng học bằng hình ảnh minh họachi tiết hoặc phác thảo các nét chính, tùy thuộc đối tượng lĩnh hội
+ Diễn đạt bằng sơ đồ: sơ đồ dạng mạng lưới, sơ đồ hình cây,
+ Diễn đạt bằng bảng: là một ma trận, bao gồm các ô và các cột chứa đựngcác thông tin tương quan chiếu theo chiều ngang, dọc hoặc chéo
+ Diễn đạt bằng đồ thị: thể hiện tương quan giữa các đại lượng tác động lênhoạt động sống của sinh vật
Sau đây chúng tôi sẽ phân tích một số KN diễn đạt nội dung SGK cơ bản baogồm KN diễn đạt bằng văn bản (KN lập dàn ý, soạn đề cương; KN tóm tắt); KNdiễn đạt bằng sơ đồ (KN lập sơ đồ); KN diễn đạt bằng bảng (KN lập bảng)
a Kỹ năng lập dàn ý, soạn đề cương khi đọc sách giáo khoa
a 1 Kỹ năng lập dàn ý
* Tầm quan trọng
Lập dàn ý là một tổ hợp các đề mục chứa đựng những ý cơ bản có trong bàiđọc Dàn ý có thể ở dạng khái quát hoặc chi tiết Mỗi mục nhỏ có giới hạn tươngđối và chứa đựng một "liều lượng nội dung" hoàn chỉnh nào đó
Trang 39Lập dàn ý là sắp xếp các ý theo trình tự lôgic Lập dàn ý giúp người viết lựachọn sắp xếp ý thành một hệ thống chặt chẽ và bao quát được nội dung cơ bản.
Lập dàn ý nội dung đọc được từ SGK giúp HS lưu giữ thông tin dưới dạng
cô đọng nhưng vẫn đảm bảo bố cục, logic của nội dung Tuy nhiên để lập được dàn
ý, HS cần nhiều thời gian để suy nghĩ khi đưa thông tin vào vị trí đúng trong dàn ý
* Yêu cầu của kỹ năng
* Quy trình rèn luyện
- Đọc toàn bộ nội dung cần lập dàn ý
- Xác định luận điểm, luận cứ
- Sắp xếp các luận điểm luận cứ theo một trật tự logic, chặt chẽ Có thể sửdụng các kí hiệu bằng hệ thống các dấu hoặc hệ thống số, chữ trước mỗi đề mục đểchỉ thứ tự quan trọng của thông tin
* Ví dụ: Lập dàn ý khi đọc nội dung bài 10: Tương tác gen và tính đa hiệucủa gen (Sinh học 12 – trang 42)
a 2 Kỹ năng soạn đề cương
Đề cương là bản ghi ngắn gọn những luận điểm cơ bản của bài đọc Chúngthường cấu tạo từ những kết luận và những điều khái quát chủ yếu viết dưới dạngcác đoạn văn trích dẫn hoặc diễn đạt dưới hình thức ngắn gọn hơn do HS tự làm
* Ví dụ:
Trang 40Cũng với nội dung bài 10: Tương tác gen và tính đa hiệu của gen(Sinh học 12 – trang 42) nhưng khi soạn đề cương HS cần phải diễn đạt chi tiết hơn
về nội dung
I Tương tác gen
1 Khái niêm tương tác genTương tác gen là sự tác động qua lai giữa các gen không alen trong quá trìnhhình thành một kiểu hình
2 Tương tác bổ sungGồm các tỷ lệ: 9:7; 9:6:1; 9:3:3:1
Hai hay nhiều gen không alen bổ sung cho nhau thành một tính trạng mới
3 Tương tác cộng gộpCác gen không alen tương tác với nhau, trong đó mỗi alen trội đóng góp mộtphần như nhau vào sự biểu hiện của tính trạng
Thường có tỷ lệ: 1:4:6:4:1
II Tác động đa hiệu của gen
1 Khái niệmHiện tượng 1 gen tác động đến sự biểu hiện của nhiều tính trạng khác nhau
Tóm tắt là sự trình bày cô đọng tất cả những điều đọc được, trong đó có dẫn
ra những sự kiện quan trọng nhất, những con số, những luận điểm và cả những đoạntrích dẫn Bản tóm tắt là một loại ghi chép chi tiết hơn, gần như là bài học nhưngngắn gọn hơn
* Yêu cầu của kỹ năng
- Bảng tóm tắt phải trình bày ngắn gọn, súc tích, cô đọng phản ánh đầy đủnội dung đọc được từ sách giáo khoa
- Đảm bảo tính logic của nội dung
* Quy trình rèn luyện
- Đọc toàn bộ nội dung cần tóm tắt trong SGK