Trong xu hướng phát triển rộng rãi việc dạy và học ngoại ngữ, nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ của các quốc gia khác nhau đang trở thành một vấn đề cần thiết.Trong khi các công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -TRẦN THỊ HẢI YẾN
SO SÁNH CẤU TRÚC ĐỘNG NGỮ TIẾNG BỒ ĐÀO NHA
VÀ ĐỘNG NGỮ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2016
Trang 2VÀ ĐỘNG NGỮ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
Hà Nội - 2016
Trang 3Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức quý báu và vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Thị Hải Yến, học viên cao học lớp K58, chuyên ngành Ngôn ngữ học, khoá 2013-2015 Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “So sánh cấu
trúc động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt hiện đại” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào
Tác giả luận văn
Trần Thị Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 9
2 Mục đích, ý nghĩa của luận văn……….……… ……… 6
3 Nhiệm vụ của luận văn 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Ngữ liệu nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 Bố cục của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14
1.1.Khái niệm đoản ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha và trong tiếng Việt 14
1.2 Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha và trong tiếng Việt 16
1.2.1 Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha 16
1.2.2 Khái niệm động ngữ trong tiếng Việt 18
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC CỦA ĐỘNG NGỮ TIẾNG BỒ ĐÀO NHA HIỆN ĐẠI 23
2.1.Vài nét về động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha 23
2.2 Thành tố trung tâm 23
2.2.1 Phân loại thành tố trung tâm theo hình thức tổ chức 25
2.2.2 Phân loại thành tố trung tâm theo nghĩa biểu hiện của động từ 27
2.3 Thành tố phụ trước trung tâm 29
2.3.1 Thành tố phụ trước trung tâm là các trợ động từ 29
2.3.2 Thành tố phụ trước trung tâm là phó từ 33
2.4 Thành tố phụ sau trung tâm 36
2.4.1 Phân loại theo hình thức tổ chức 36
2.4.2 Phân loại theo chức vụ cú pháp 39
2.4.2.1 Thành tố phụ sau là thực từ 39
2.4.2.2 Thành tố phụ sau là hư từ 43
2.5 Nhận xét về động ngữ tiếng Bồ Đào Nha 49
CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC CỦA ĐỘNG NGỮ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 53
3.1 Vài nét về động ngữ trong tiếng Việt 53
Trang 63.2 Thành tố trung tâm 56
3.2.1 Phân loại thành tố trung tâm theo hình thức tổ chức 56
3.2.2 Phân loại thành tố trung tâm theo nghĩa biểu hiện 59
3.3 Thành tố phụ trước trung tâm 61
3.3.1 Thành tố phụ trước trung tâm là hư từ 61
3.3.2 Thành tố phụ trước trung tâm là thực từ 63
3.4 Thành tố phụ sau trung tâm 64
3.4.1 Phân loại theo hình thức tổ chức 64
3.4.2 Phân loại theo chức vụ cú pháp 65
3.5 Nhận xét về động ngữ tiếng Việt 68
CHƯƠNG 4: SO SÁNH ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC ĐỘNG NGỮ TIẾNG BỒ ĐÀO NHA VÀ ĐỘNG NGỮ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI 71
4.1 So sánh đối chiếu mô hình cấu trúc chung của động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt 71
4.1.1 Điểm tương đồng 71
4.1.2 Điểm khác biệt 72
4.2 So sánh đối chiếu thành tố trung tâm của động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt 73
4.2.1 Điểm tương đồng 73
4.2.1.1 Cấu trúc của thành tố trung tâm 73
Về mặt cấu trúc, thành tố trung tâm của động ngữ trong cả hai ngôn ngữ đều có thể là: một động từ, một chuỗi động từ hoặc một thành ngữ 73
4.2.2 Điểm khác biệt 74
4.2.2.1 Phó từ chỉ mức độ có thể khác nhau về vị trí phân bố so với động từ trung tâm 74
4.2.2.2 Phó từ chỉ thời gian 74
4.3 So sánh đối chiếu thành tố phụ trước trung tâm của động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt 75
4.3.1 Điểm tương đồng 75
4.3.1.1 Trật tự của phó từ biểu thị ý nghĩa tiếp diễn, đồng nhất 75
4.3.1.2 Phó từ phủ định 76
4.3.2 Điểm khác biệt 76
Trang 74.3.2.1 Trật tự của các thành tố phụ trước 76
4.3.2.2 Ý nghĩa về thời gian 77
4.3.2.3 Ý nghĩa tiếp thụ-bị động 79
4.3.2.4.Phó từ chỉ thời gian 79
4.4 So sánh đối chiếu thành tố phụ saucủa động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt 80
4.4.1 Điểm tương đồng 80
4.4.1.1 Trật tự của các thực từ làm bổ ngữ 80
4.4.1.2 Biểu thị ý nghĩa mệnh lệnh 81
4.4.2 Điểm khác biệt 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT TTPT: thành tố phụ trước
TTTT: thành tố trung tâm
TTPS: thành tố phụ sau
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tàinghiên cứu
Ngày nay, do xu hướng giao lưu và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, việc học ngoại ngữ trở nên vô cùng cần thiết, vì ngoại ngữ là một phương tiệnvô cùng quan trọng để kết nối các mối quan hệ của tất cả các mối quan hệ, giao lưu và hợp tác đó Cùng với xu hướng toàn cầu hóa và giao lưu quốc tế, các quốc gia trênthế giới trong
đó có Việt Nam và các nước nói tiếng Bồ Đào Nha đã, đang và sẽ mở rộng mối quanhệ giao lưu hợp tác lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hộitrong
đó có cả ngôn ngữ
Tiếng Bồ Đào Nha là thứ tiếng được nói ở 8 nước và một số vùng lãnh thổ trên thế giới.Với hơn 200 triệu người bản ngữ, tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ 6 trên thế giới Tiếng Bồ Đào Nha đã được giảng dạy tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội) từ năm 1997 như một ngoại ngữ hai.Và đến năm 2004, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội chính thức mở ngành tiếng Bồ Đào Nha
Trong xu hướng phát triển rộng rãi việc dạy và học ngoại ngữ, nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ của các quốc gia khác nhau đang trở thành một vấn đề cần thiết.Trong khi các công trình nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt với các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp đã đạt được những thành tựu đáng kể với rất nhiều công trình ở các cấp độ và khía cạnh khác nhau trong ngôn ngữ thì việc nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt và tiếng Bồ Đào Nha hiện có rất ít, nếu không muốn nói là không có
Đối với những người học tập, nghiên cứu về Việt Nam và các nước nói tiếng Bồ Đào Nha thì việc hiểu được một số điểm giống, khác nhau cơ bản giữa động ngữtiếng Bồ Đào Nha - tiếng Việt sẽ rất hữu ích vì phần lớn những đối tượng này không phải là chuyên về ngoại ngữ, việc mắc phải những lỗi giao thoa ngôn ngữ do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ là rất phổ biến, việc tiếp cận với các tài liệu mang tính chất đối chiếu, so sánh sẽ rất hữu ích cho việc làm quen và tiến tới sử dụng thành
Trang 10thục ngôn ngữ nước bạn, phục vụ cho công việc và cho đời sống hàng ngày trong suốt thời gian công tác ở nước ngoài
Việc làm chủ một ngoại ngữ là hành trang quan trọng và cần thiết chotất cả những
ai muốn tồn tại và phát triển trong môi trường hội nhập và cạnhtranh Tiếng Bồ Đào Nha là một ngôn ngữ mà xã hội đang rất cần vì hiện tại nguồncung cấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu.Tình hình đó đòihỏi phải có những nghiên cứu toàn diện và nghiên cứu so sánh hai ngôn ngữ Bồ Đào Nha- Việt nhằm chỉ ranhững tương đồng và khác biệt đểkhắc phục những lỗi chuyển di tiêu cực chongười sử dụng, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Nhìn nhận những điểm giống và khác giữa hai ngôn ngữ một cách có hệ thống sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện hơn Theo
đó, việc sử dụng tiếng nước ngoài cũng sẽ dễ dàng hơn
Vìsự cần thiết nêu trên, việc nghiên cứu so sánh đối chiếu tiếng Bồ Đào Nha với tiếng Việt sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu tiếng
Bồ Đào Nha của người bản ngữ Việt và đối với việcgiảng dạy, học tập và nghiên cứu tiếng Việt của người bản ngữ Bồ Đào Nha Tuy nhiên, việc nghiên cứu tiếng
Bồ Đào Nha, nghiên cứu đối chiếu tiếng Bồ Đào Nha - Việt ở Việt Nam còn quá ít
ỏi, thậm chí có thể nói là chưa có gì đáng nói
2 Mục đích, ý nghĩa của luận văn
2.1 Mục đích của luận văn
Luận văn nghiên cứu, so sánh động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt với mục đích phát hiện những tương đồng và khác biệt của động ngữ trong hai ngôn ngữ này, nhằmđóng góp vào việc nghiên cứu, đối chiếu hai ngôn ngữ cũng như nâng cao chấtlượng giảng dạy, nghiên cứuvà học tậptiếng Bồ Đào Nhacho người Việt, tiếng Việt cho người bản xứ nói tiếng Bồ Đào Nha và cho tất cả những ai quan tâm
2.2 Ý nghĩa của luận văn
2.2.1 Về mặt lý luận
Trước hết, việc phân tích, miêu tả động ngữ của hai ngôn ngữ sẽ làm rõ được các đặc điểm về mặt cấu trúc và các thành tố cấu tạocủa động ngữ trong tiếng Bồ Đào
Trang 11Nha và tiếng Việt Từ đó sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa đặc trưng loại hình của tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt trong phạm vi đơn vị động ngữ
Bên cạnh đó, thông qua việc việc so sánh, đối chiếu mô hình động ngữ giữa hai ngôn ngữ, chúng ta sẽphát hiện được các điểm đồng nhất và khác biệt về mặt cấu trúc, thành tố cấu tạo, sự phân bố của các thành tố, quan hệ giữa các thành tố… gắn liền với các đặc điểm của động từ trung tâm - đỉnh của động ngữ và đỉnh của câu trong cấu tạo câu
2.2.2 Về mặt thực tiễn
Thông qua việc đối chiếu hai ngôn ngữ về các thành tố trongđộng ngữ, luận văn sẽ góp phần vào việc giúp người học hai ngôn ngữ trên tránh những lỗi chuyển di tiêu cực trong khi học ngoại ngữ, giúpnâng cao hiệu quả dạy và học tiếng của người có bản ngữ Bồ Đào Nha,Việt vì đây là hai ngôn ngữ rất khác nhau về mặt loại hình Qua đó, chúng tôimong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy và học tậptiếng Bồ Đào Nha cho người Việt như một ngoại ngữ tại trường Đại học Hà Nội nói riêng và tại Việt Nam nói chung cũng như cho người nói tiếng Bồ Đào Nha bản
xứ học tiếng Việt tại Việt Nam
3 Nhiệm vụ của luận văn
Với mục đích như trên, luận văn có nhiệm vụ thu thập và nhận diện được những đơn vị ngữ pháp được coi là động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha theo các quan niệm hiện thời và từ đó xây dựng nên một mô hình động ngữ phù hợp và có tính khái quát.Miêu tả, phân loại cácđộng ngữ tiếng Bồ Đào Nha về hai mặt cấu trúc và chức năng So sánh, đối chiếu động ngữ tiếng Bồ Đào Nha với động ngữ tiếng Việt để tìm ra những tương đồng và dị biệtcủa hai loại động ngữ, qua đó nêu lên những kiến giải cơ bản về những đặc trưng loại hình của động ngữ trong hai ngôn ngữ này Thông qua việc đưa ra những điểm giống và khác nhau giữa động ngữ trong hai ngôn ngữ, luận văn cũng sẽ đưa ra những giải pháp giúp người học tiếng Bồ Đào Nha tránh được những lỗi chuyển di tiêu cực trong khi học ngoại ngữ này
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha hiện đại và động ngữtrong tiếng Việt hiện đại nhưng sẽ tập trung vào động ngữ tiếng Bồ Đào Nha.Động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nhalà đối tượng chính được so sánh còn động ngữ trong tiếng Việt là đối tượng để so sánh.Việc đối chiếu động ngữ tiếng Bồ Đào Nha với động ngữ tiếng Việt chỉ được tiến hành trên cơ sở nhận diện và phân tích đầy đủ các bình diện cơ bản về cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của động ngữ tiếng Bồ Đào Nha
Trong phạm vi yêu cầu của luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu, so sánh, đối chiếu các động ngữ trongtiếng Bồ Đào Nha hiện đại và động ngữ trong tiếng Việt hiện đại chứ không đi vào nghiên cứu động ngữ trong hai ngôn ngữ ở tất cả các thời kỳ
5 Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu trong luận văn nàysẽ được thu thập từ các nguồn văn bản thành văn như các tài liệu dạy và học tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Việt, tàiliệu nghiên cứu, từ điển tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Việt.v.v và những ngữ liệu trong khẩu ngữ thường dùng của tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt hiện đại
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, trong luận văn nàychúng tôi sẽ sử dụng phương pháp quy nạp thông qua con đường thu thập các ngữ liệu từ các nguồn đáng tin cậy để xây dựng nên mô hình động ngữ Trong khi phân tích cấu trúc các động ngữ chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích thành tố thông thường trong phân tích ngôn ngữ học Ở chương cuối, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu các động ngữ của hai ngôn ngữ theo cấu trúc chung và theo từng thành tố trong cấu trúc của chúng
Trong khi miêu tả, các thao tác đối lập, thủ pháp phân tích thành tố, phân tích quan
hệ giữa các thành tố, phân tích các vị trí phân bố, thủ pháp mô hình hoásẽ được sử dụng
Trang 137 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm bốn chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Cấu trúc của động ngữ tiếng Bồ Đào Nha hiện đại
Chương 3: Cấu trúc của động ngữ tiếng Việt hiện đại
Chương 4: So sánh đối chiếu động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt hiện đại
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái niệm đoản ngữtrong tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt
Trước khi đi vào vấn đề động ngữ (verb phrasetrong tiếng Anh, sintagma verbal
trong tiếng Bồ Đào Nha), một kiểu loại cụ thể của đoản ngữ, chúng tôi thấy cần
nhắc lại một số điểm lý luận về đoản ngữ nói chung.“Đoản ngữ” (Phrase/ sintagma)
là một trong những đơn vị cú pháp có cấu trúc phức tạp,tần số sử dụng cao, kết cấu nội tại của chúng cótính cân xứng Nguyễn Tài Cẩn (1975: 148) cho rằngđoản ngữ
là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồmmột trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ
Ví dụ: hoa vàng Đây là trường hợp có một trung tâm đứng làm nòng cốt và bên
cạnh ghép thêm một hay một vài thành tố có vai trò thứ yếu, dùng để bổ sung cho trung tâm
Ở trong hệ thống các tổ hợp tự do, đoản ngữ chiếm một vị trí riêng biệt,có các đặc điểm sau:
- Gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa
Ví dụ: + hoa vàng + bông hoa vàng đó + tất cả những bông hoa vàngđó-
Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ
- Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm:
+ Trung tâm thuộc vào từ loại nào thì toàn đoản ngữ cũng vẫn giữ các đặc trưng của
từ loại đó Vì vậy có thể căn cứ vào trung tâm để phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (danh ngữ), đoản ngữ của động từ (động ngữ), đoản ngữ của tính từ (tính ngữ) v.v
+ Trung tâm có thể giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ thường thường cũng có thể đảm nhiệm được các chức vụ đó Nói cách khác, đoản ngữ chưa gắn liền với một chức vụ nào cho sẵn, nhất định Vì vậy có thể tách riêng đoản ngữ ra mà nghiên cứu một cách độc lập với chức năng cú pháp
Trang 15TheoDiệp Quang Ban (2005) vàcác tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
(2003) thì, mặc dù phát biểu cáchnào, điều cốt lõi về đoản ngữ cũng đều là “Một nhóm những từ có liên hệ trực tiếp với nhau trong một câu gọi là tổ hợp từ Xét theo mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành tổ hợp từ, người ta phân biệt tổ hợp từ có quan hệ chủ vị, tổ hợp từ có quan hệ bình đẳng, tổ hợp từ có quan hệ chính phụ Loại tổ hợp từ thứ ba này gọi là đoản ngữ.” “Tổ chức chung của đoản ngữ có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau” Quan điểm này thực chất cũng trùng với quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn đã trình bày ở trên
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ của Bồ Đào Nha như Álvaro Gomes (2007: 28) thì đoản ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha cũng là những nhân tố quan trọng để hình thành nên các câu Mỗi đoản ngữ có một hạt nhân và từ loại của thành tố nhân là yếu tố quyết định từ loại của đoản ngữ
Khi xem xét từ loại trong tiếng Bồ Đào Nhavà các đoản ngữ có chúng làm trung tâm,các nhà nghiên cứu đã phân loại đoản ngữ tiếng Bồ Đào Nha thành các loại danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, giới ngữ với các từ trung tâm tương ứng là danh từ, động từ, tính từ, giới từ (Maria Helena Mira Mateus, 2003:328)
Tiếng Bồ Đào Nha là một ngôn ngữ biến hình Trong đoản ngữ nói riêng, trong câu nói chung, từ có biến đổi hình thái Như vậy, những so sánh sơ lược trên có thể cho thấy thành tố trung tâm của danh ngữ, động ngữ, tính ngữ trong cả tiếng Việt và tiếng Bồ Đào Nhađều đứng ở giữa đoản ngữ và do danh từ, động từ, tính từ đảm nhiệm, nhưng có điều trật tự của một số thành phần phụ trong đoản ngữ của haingôn ngữnày có những điểmkhác nhau Có thể tóm tắt sơ lược bằng sơ đồ sau: Đoản ngữ tiếng Bồ Đào Nha:
Danh ngữ esta (này) mesa (cái bàn)
Động ngữ ainda (vẫn) come (ăn)
Trang 16Đoản ngữ tiếng Việt:
Các nhà ngôn ngữ học cũng thống nhất về hai đặc điểm của đoản ngữ:
+ Có thể căn cứ vào trung tâm để phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (gọi làdanh ngữ), đoản ngữ của động từ (gọi làđộng ngữ), đoản ngữ của tính từ (gọi làtính ngữ)…
+ Trung tâm có thể giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ thường thường cũng có thể đảm nhiệm được các chức vụ đó
1.2 Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nhavà trong tiếng Việt
Động ngữ là một trong những đơn vị phân tích ngữ pháp cơ bản trong mọi ngôn ngữ và cũng là đơn vịphức tạp nhất, được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngôn ngữ Đặc biệt với tiếng Bồ Đào Nha, động từ được chia theo từng ngôi, từng thời, thể rất
rõ ràng, cụ thể, vì vậy, các câu trong tiếng Bồ Đào Nha được phép bỏ chủ ngữ Để khảo sát các thành tố trong cấu trúc của động ngữtiếng Bồ Đào Nha và so sánh nó với các thành tố trong cấu trúc của động ngữ tiếng Việt thì điều trước tiên là phải xác lập một cách hiểu chung về khái niệm “động ngữ”
1.2.1 Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha
Khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Bồ Đào Nha, Álvaro Gomes (2007: 29) cho rằng
“Động ngữ là một trong những cấu trúc cơ bản của câu, trong đó có hạt nhân là động từ Động từ là những từ có thay đổi nhiều nhất trong tiếng Bồ Đào Nha vì nó biến đổi theo ngôi (thứ nhất, thứ hai, thứ ba), theo số (ít, nhiều), theo thời (quá khứ,
Trang 17hiện tại, tương lai), theo dạng (chủ động, bị động) hoặc theo thức (chỉ định, giả định, điều kiện, nguyên thể, mệnh lệnh)”
Vânia Maria do Nascimento Duarte (2012) thì cho rằng động ngữ là cụm từ luôn có thành tố trung tâm là động từ, động từ này có thể đứng trước một danh ngữ, tính ngữ hoặc giới ngữ
Celso Cunha (2008:137) cũng nghiên cứu về động ngữ và quan điểm của ông là động ngữ làm nên vị ngữ của câu, hạt nhân của động ngữ là một động từ và xung quanh hạt nhân đó có các thành tố phụ
Theo quan điểm của các tác giả sách Ngữ pháp tiếng Bồ Đào Nha, trong tiếng Bồ
Đào Nha, động ngữ (tiếng Bồ Đào Nha: sintagma verbal) bao gồm hạt nhân là một
động từ và có các thành phần phụ đứng trước và sau động từ (Maria Helena, 2003:403) Động từ trong các ngôn ngữ biến hìnhđược nhận biết nhờ những phụ tố đặc trưng cho chúng và nhờ khả năng biến dạng theo ngôi, thời, dạng, thức, tiếng
Bồ Đào Nha cũng vậy Trong các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt thì “tiêu chí nhận diện động từ là khả năng làm trung tâm một loại cụm từ chính - phụ (động ngữ)” (Nguyễn Thiện Giáp, 1995: 245)
Ví dụ: Tôi muốn học tiếng Bồ Đào Nha
Trong ví dụ trên của tiếng Việt, muốn học tiếng Bồ Đào Nha là một động ngữ gồm động từ muốn là thành tố chính - thành tố trung tâm, còn học tiếng Bồ Đào Nha là
thành tố phụ Và trong bản thân thành tố phụ ấy cũng là một động ngữ với động từ
học là thành tố chính, tiếng Bồ Đào Nha là thành tố phụ
Xét trong tiếng Bồ Đào Nha chúng tôicũng nhận thấy cấu trúc tương tự như vậy
Ví dụ:
Ở động ngữ quero aprender português (muốn học tiếng Bồ Đào Nha) (Álvaro
Gomes, 2007: 30) quan hệ kết hợp các từ như sau:
Trang 18- quero (muốn- động từ nguyên thể là querer và hình thức quero là được chia cho ngôi eu (tôi) ở thì hiện tại)
- aprender (học- động từ nguyên thể do đứng sau động từ querer) português (tiếng
Bồ Đào Nha) (Muốn học tiếng Bồ Đào Nha)
Như vậy, động từ quero (muốn) là thành tố chính, aprender português (học tiếng Bồ Đào Nha) là thành tố phụ Và thành tố phụ đó cũng là một động ngữaprender (học)
là thành tố chính, còn português (tiếng Bồ Đào Nha) là thành tố phụ
Ta hãy xem thêm các ví dụ sau:
Tiếng Bồ Đào Nha
Tiếng Việt
1.2.2 Khái niệm động ngữ trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, động ngữ cũng là một đề tài được giới nghiên cứu rất chú ý từ trước đến nay Không có một sách ngữ pháp nào không đề cập đến vấn đề động ngữ
và danh ngữ “Động ngữ chính là đoản ngữ có động từ làm trung tâm.”(Nguyễn Tài Cẩn,1975: 247)
Theo Diệp Quang Ban (1992: 62) “Cụm động từ là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là động từ Cấu tạo chúng của động từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau”
Còn theo các tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Mai Ngọc Chừ, 2003: 280) “Động ngữ là nhóm từ chính phụ có động từ làm thành tố chính.”
Trang 19Diệp Quang Ban(2005:447)cho rằng của “Xét theo khả năng xuất hiện của các yếu
tố trong cụm từ, cấu tạo chung của cụm động từ gồm có ba phần: phần đầu tố và các phó từ đứng trước đầu tố, các phó từ đứng sau đầu tố.”
cơ bản, phần phụ trước của động ngữlà các hư từ, có tác dụng định tính mối quan hệ
về thời gian, trạng thái của hành động nêu ở động từ thành tố chính Phần phụ sau
có tác dụng mở rộng nội dung từ vựng (các thực từ làm bổ ngữ)của động từ - thành
tố chính
Cũng cần lưu ý thêm rằng:
“Đối với động ngữ không có khả năng tạo thành những đoản ngữ dạng lý tưởng, bao gồm hầu hết thành tố phụ như ở danh ngữ Ở động ngữ cũng không có khả năng quy thành tố phụ vào những vị trí rõ ràng, dứt khoát như khi quy vị trí cho thành tố phụ của danh từ.” (Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 249)
Động từ gồm rất nhiều kiểu khác nhau, thường thường mỗi kiểu lại có những loại thành tố phụriêng của mình Trên thực tế không thể nào tìm được trường hợp có một động từ tập trung được đầy đủ tất cả mọi khả năng kết hợp với các thành tố phụcó ở các kiểu động từ khác Hơn nữa số lượng thành tố phụ ở động ngữ cũng rất lớn.Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôisẽ không cố gắng tìm ra một động ngữ có dạng lý tưởng hay gần lý tưởng mà sẽ trình bày, miêu tả lần lượt từng thành phần của động ngữ dựa theo những ngữ liệu thu thập được
Trang 20Trong số các nghiên cứu miêu tả và phân tích cấu trúc động ngữ tiếng Việt (Diệp Quang Ban (2005), Nguyễn Kim Thản (1969), Nguyễn Tài Cẩn (1975) mà chúng tôi đã tìm hiểu thì nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn trong Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ (1975) có thể coi là một miêu tả về phương diện tổ chức, cấu trúc thuộc loại chi tiết nhất Nguyễn Tài Cẩn(1975:276-278) miêu tả động ngữ với thành tố phụ sau bao gồm cả bổ tố và trạng tốcủa động từ trung tâm đã miêu tả rất kỹ về các thành tố phụ sau, trong đó có 10 trường hợp thành tố phụ là do danh từ, danh ngữ đảm nhiệm, 5 trường hợp thành tố phụ là do động ngữ, động từ đảm nhiệm, 1 trường hợp thành tố phụ là do tính từ, tính ngữ đảm nhiệm và 7 trường hợp là do từ hoặc đoản ngữ hoặc mệnh đề diễn đạt) Trong khi đó Diệp Quang Ban lại chỉ quan tâm đến những yếu tố mang ý nghĩa ngữ pháp vì ông cho rằng theo quan điểm ngữ pháp cụm từ, việc nghiên cứu động từ có sự đồng hình với việc nghiên cứu cụm danh từ, theo kiểu động từ là thành tố chính, các từ đi kèm đều
là yếu tố phụ, trong đó có thể phân biệt yếu tố phụ là thực từ (như danh từ làm bổ ngữ) và yếu tố phụ là hư từ
“Nếu tính đến những thực từ đứng sau (như bổ ngữ) thì không thể loại trừ thực từ đứng trước (như chủ ngữ) Nhưng ngữ pháp truyền thống coi câu gồm có chủ ngữ
và vị ngữ là hai thành phần chính làm nên mệnh đề của câu, cho nên mặc nhiên chủ ngữ không dự phần vào cụm động từ.” (Diệp Quang Ban, 2005: 446)
“Ngữ pháp hiện đại, nhất là ngữ pháp chức năng, ý thức được rằng vai trò của bổ ngữ không hoàn toàn khác vai trò của chủ ngữ, vì vậy trong câu động từ ở “vị ngữ”
là đỉnh duy nhất của câu;theo đó động ngữ chỉ được xem xét trong phạm vi tổ hợp gồm động từ làm đầu tố (thành tố trung tâm) và các yếu tố là hư từ mở rộng nó mà thôi (không tính các yếu tố thuộc bậc câu) Các yếu tố hư từ đi kèm động từ là các yếu tố mang tính tình thái và về mặt từ loại chúng được xếp vào số các phó từ Các
phó từ này có tác dụng tình thái hóa (modalization) động từ về các sắc thái nghĩa khác nhau (như đã, rồi thuộc nghĩa kinh nghiệm…) Cũng như ở danh ngữ, khi bàn
đến động ngữ thì không tính đến quan hệ từ đưa động ngữ vào câu.” (Diệp Quang Ban, 2005: 447)
Trang 21Xét theo khả năng xuất hiện của các yếu tố trong đoản ngữ, cấu tạo chung của động ngữ gồm có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước trung tâm và phần phụ sau trung tâm Số lượng các hư từ tình thái chung quanh động từ không nhiều nhưng vị trí của chúng rất khó xác định theo một trật tự ổn định như ở danh ngữ
Việc phân tích cấu trúc động ngữ trong tiếng Việt được chia thành hai khuynh
hướng như vậy đặt ra cho chúng tôi câu hỏi: Nên đi theo khuynh hướng mô tả, phân tích động ngữ nào?
Cả hai hướng phân tích, nghiên cứu động ngữ đềucó những mặt mạnh của nó Nguyễn Tài Cẩn đã khảo sát và phân loại rất chi tiết tuyệt đối các thành tố trong động ngữ, Diệp Quang Ban có hệ thống phân loại các thành tố của động ngữ rất ngắn gọn, súc tích Tuy nhiên, mỗi khuynh hướng mô tả lại có những khó khăn riêng Vì Nguyễn Tài Cẩn phân tích thành tố phụ sau bao gồm cả bổ ngữ, trạng ngữ, đây là những thành phần hết sức phức tạp, mà theo ngữ pháp chức năng thì động từ
ở “vị ngữ” là đỉnh duy nhất của câu, vì vậy, động ngữ chỉ được xem xét trong phạm
vi tổ hợp gồm động từ làm đầu tố (thành tố trung tâm) và các yếu tố là hư từ mở rộng nó mà thôi (không tính các yếu tố thuộc bậc câu) Đó là cái khó khi phân tích theo hướng của Nguyễn Tài Cẩn Hướng nghiên cứu của Diệp Quang Ban cũng có những bất lợi khi lấy phó từ đứng sau động từ trung tâm để làm ranh giới tận cùng
của động ngữ thì trên thực tế vẫn có yếu tố chen giữa Ví dụ: sinh mày ra và sinh ra mày (trong đó yếu tố mày lúc thì đứng trước phụ từ lúc đứng sau phụ từ ra)
Trong luận văn này, chúng tôi chọn giải pháp phân tích động ngữ thiên vềkhuynh hướng nghiên cứu và trình bày động ngữ của Nguyễn Tài Cẩn vìnhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu, so sánh đối chiếu động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha với động ngữ tiếng Việt với cơ sở so sánh là tiếng Bồ Đào Nha, cách miêu tả này cũng phù hợp và tiện dụng cho việc dạy tiếng Bồ Đào Nha cho người Việt Hơn nữa, việc
so sánh, đối chiếu giữa động ngữ của hai ngôn ngữ cũng sẽ thuận tiện hơn vì cách tiếp cận và mô tả của Nguyễn Tài Cẩn phù hợp với quan điểm về động ngữ của các nhà nghiên cứu tiếng Bồ Đào Nha (Các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu tiếng Bồ Đào
Trang 22Nha trình bày về động ngữ với thành phần phụ bao gồm cả hư từ và thực từ là các
bổ tố, trạng tố của động từ.)
Tiểu kết
Qua tập hợp và nghiên cứu, phân tích các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Bồ Đào Nha và Việt Nam về đoản ngữ và về động ngữ, chúng tôi đã tìm được những nét tương đồng cơ bản trong những quan điểm này Các nhà ngôn ngữ học có thể dùng các ngôn ngữ khác nhau, các cách khác nhau để diễn đạt nhưng quan điểm của
họ thì đều có những điểm chung khi miêu tả về đoản ngữ và động ngữ
Động ngữ là đơn vị cú pháp có tính phổ quát trong mọi ngôn ngữ Chính vì vậy mà
về nguyên tắc tổ chức cơ bản thì động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha và trong tiếng Việt đều giống nhau: đều bao gồm thành tố chính, đi kèm với nó là thành tố phụ trước và thành tố phụ sau Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất của hai ngôn ngữ là khác nhau (tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ biến hình và tiếng Việt không biến hình) nên động ngữ trong tiếng Việt và tiếng Bồ Đào Nha có thể khác nhau về số lượng hoặc vị trí của các yếu tố đóng vai trò làm thành tố phụ trước và thành tố phụ sau trung tâm
Chúng tôi đã lựa chọn giải pháp phân tích cấu trúc động ngữ của hai ngôn ngữ theo quan điểm phân tích cấu trúc động ngữ với thành tố trung tâm, thành tố phụ trước là các phó từ và thành tố phụ sau bao gồm cả bổ tố và trạng tố của động từ trung tâm
để thuận lợi cho việc so sánh cấu trúc động ngữ của hai ngôn ngữ Điều này rất thuận tiện và hữu ích cho cả người dạy và người học tiếng Bồ Đào Nha cũng như người bản xứ Bồ Đào Nha học tiếng Việt Đây chính là những cơ sở để chúng tôi đi vào các phân tích, miêu tả động ngữ trong hai ngôn ngữ và so sánh, đối chiếu chúng
ở các chương sau
Trong chương 2 và 3, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát rõ hơn về động ngữtiếng Bồ Đào Nhavà động ngữ tiếng Việt về mặt cấu trúc, hình thức và các thành phần cấu tạo nên chúng để làm cơ sở cho việc so sánh động ngữ của cả hai ngôn ngữ trong chương 4
Trang 23CHƯƠNG 2:CẤU TRÚC CỦA ĐỘNG NGỮTIẾNG BỒ ĐÀO NHA HIỆN ĐẠI
Trong chương này chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu từng thành tố và trật tự của chúng trong cấu trúc động ngữtiếng Bồ Đào Nhahiện đại để làm cơ sở cho việc so sánh, đối chiếu cấu trúc động ngữtiếng Bồ Đào Nhavới cấu trúcđộng ngữ tiếng Việt hiện đại
2.1.Vài nét về động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha
Như đã trình bày ở chương 1,động ngữtiếng Bồ Đào Nha là tổ hợp từ tự do có thành
tố chính là động từ và các thành tố phụ có quan hệ chính phụ với thành tố chính Động ngữ không có kết từ đứng đầu.Cấu trúc của động ngữtiếng Bồ Đào Nha gồm
3 phần: thành tố phụđứng trước thành tố trung tâm, thành tố trung tâm và thành tố phụ đứng sau thành tố trung tâm Thành tố phụ do các hư từ, thực từ (danh từ, động
từ, tính từ, số từ, đại từ) đảm nhiệm Thành tố trung tâm do động từ đảm nhiệm.Cấu trúc chung củađộng ngữtiếng Bồ Đào Nha có trật tự như sau:
Thành tố phụ trước Thành tố trung tâm Thành tố phụ sau
Ví dụ: Ele semprefazginástica aqui todos os dias (Carla Oliveira, 2011: 44)
Trang 24A Ana comeu um bolo (Ana đã ăn một cái bánh.)
Ví dụ 2: (Maria Helena Mira Mateus, 2003: 344)
A Diana tem visto muitos filmes (Gần đây Diana xem nhiều phim.)
* tem là trợ động từ ter được chia ở ngôi thứ 3, số ít, thì hiện tại, diễn tả một hành
động thường xuyên xảy ra vào thời gian gần đây (bắt đầu xảy ra trong quá khứ và vẫn còn kéo dài đến hiện tại)
Ví dụ 3: (Maria Helena Mira Mateus, 2003: 344)
O Paulo está a fumar um cigarro (Paulo đang hút thuốc.)
Ví dụ 4:(Maria Helena Mira Mateus, 2003: 344)
Os contos foram lidos pela avó (Truyện được bà đọc.)
Chú ý:
Như đã trình bày ở trên, động từ trong tiếng Bồ Đào Nha được chia theo từng ngôi, thì, thể, cách nên đôi khi trong các câu, chủ ngữ thường bị ẩn đi Vì vậy trong các ví
Trang 25dụ chúng thôi thêm phần ngoặc đơn để đưa thêm chủ ngữ vào cho rõ nghĩa Phần chủ ngữ của các ví dụ (nếu có sẵn) được đưa vào ô đầu tiên trong bảng để làm rõ nghĩa cho ví dụ chứ không thuộc nội dung phân tích của động ngữ
Thành tố trung tâm đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong động ngữ Đôi khi nó còn chi phối cả các thành tố phụ đi kèm Ở động ngữ, việc xác định thành tố trung tâm là một vấn đề vô cùng khó khăn và phức tạp.Để phân loại những động từ làm trung tâm của động ngữ, ta có thể phân chia theo cơ cấu tổ chức hoặc chia theo nội dung:
2.2.1 Phân loại thành tố trung tâm theohình thức tổ chức
2.2.1.1.Thành tố trung tâm của động ngữ là một động từ
Đây là trường hợp động ngữ bao gồm một động từ duy nhất, động từ duy nhất đó chính là động từ trung tâm Động từ làm trung tâm của động ngữ có thể là một động
từ thực (động từ độc lập) hoặc cũng có thể là một động từ tình thái (động từ không độc lập)
a.Thành tố trung tâmlà động từ không độc lập
Động từ không độc lập là lớp động từ không thể tồn tại nếu không có các yếu tố đi kèm.Nhóm động từ không độc lập lớn nhất là những động từ tình thái Nhóm này được chia nhỏ hơn:
+ Động từ chỉ sự cần thiết và khả năng: precisar (cần), dever (nên), phải(ter de), poder( có thể,)
+ Động từ chỉ ý chí - ý muốn: esperar(mong),querer(muốn), desejar (cầu, chúc, mong muốn),
b.Thành tố trung tâm là động từ độc lập
Các động từ độc lập là các động từ tồn tại một mình, điển hình là các động từ chỉ
hoạt động vật lý, hoặc trạng thái tâm lý như: dormir (ngủ), ir (đi), respeitar (tôn trọng), bocejar (ngáp), correr (chạy),
Sự phân loại các động từ độc lập có khả năng một mình làm thành tố chính của
động ngữ, có thể căn cứ vào khả năng kết hợp của chúng với các yếu tố (các từ)
Trang 26khác có thể xuất hiện trong cụm từ chứa chúng
2.2.1.2.Thành tố trung tâmgồm hai hoặc hơn hai động từ
Chuỗi động từ làm thành tố chính của động ngữ này là một loạt các động từ có quan
hệ đẳng lập với nhau trong động ngữ
Ví dụ: (Olga Mata Coimbra, 2012: 62)
Ela cantou, dançando muito na festa (Anh ta hát, nhảy rất nhiều trong bữa tiệc.)
Ví dụ Ela cantou, dançando muito na festa
Nghĩa Cô ta (đã) hát, nhảy nhiều trong bữa tiệc
2.2.1.3 Thành tố trung tâmlà một thành ngữ
Thành tố chính của động ngữ có thể là một thành ngữ, trường hợp này tuy không xuất hiện nhiều nhưng chúng ta vẫn có thể bắt gặp những động ngữ có chứa thành ngữ làm thành tố chính như:
Ví dụ:
Vais dar uma mãozinha? (Bạn có sẽ giúp một tay chứ?)
Trang 272.2.2 Phân loại thành tố trung tâm theo nghĩa biểu hiện của động từ
Căn cứ vào nội dung (tức là theo nghĩa biểu hiện của các động từ), chúng tôi thấy
có thể phân loại và nhận diện các thành tố trung tâm động ngữ tiếng Bồ Đào Nha Theo đó, chúng có thể là:
2.2.2.1 Động từ [± chuyển tác]
- Động từ [+chuyển tác] (ngoại động từ) Ví dụ: comer (ăn), beber (uống), chỉ
những hoạt đông có chuyển đến, tác động đến một đối tượng nào đó Những động
từ này luôn đòi hỏi có các thành tố phụ chỉ đối tượng chịu sự tác động đi theo sau chúng
Ví dụ: Eu bebo água (Tôi uống nước.)
- Đối với động từ [-chuyển tác], tức là nội động từ, dùng để chỉ hoạt động, trạng thái
tự thân, không tác động đến một đối tượng nào khácthành tố phụ sau của chúng để hình thành nên động ngữ và đứng trong động ngữ chỉ có thể là các trạng tố thể hiện địa điểm, thời gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện và cách thức hành động chứ chúng không thể là thành tố phụ chỉ đối tượng chịu sự tác động
Ví dụ như nội động từmorrer (chết), bocejar (ngáp) trong các phát ngôn:
Ví dụ 1: A Ana morreu (Ana đã chết.) (Maria Helena Mira Mateus, 2003: 403)
Trang 28(Trong hai ví dụ trên: morreu và bocejoulà hai động từ chia ở ngôi thứ ba, số ít, ở
thì quá khứ.)
2.2.2.2.Động từ [± chủ ý]
- Động từ [+chủ ý] Ví dụ: vestir (mặc), cozinhar (nấu), fazer (làm),
Những động từ này có kết hợp với những từ chỉ mong muốn, cần thiết như querer, precisar (de)
Ví dụ: preciso de cozinhar(tôi cần nấu ăn), quero fazer (tôi muốn làm)
(động từ preciso và quero là hai động từ chia ở ngôi thứ nhất, số ít, thì hiện tại)
- Động từ [- chủ ý] Ví dụ: cair (rơi/ ngã), doer (đau)
Những động từ này thì không thể thêm những từ chỉ mong muốn, cần thiết như
querer (muốn), precisar(cần) vào trước chúng
2.2.2.3 Động từ [± hữu tận ]
-Động từ [± hữu tận (kết thúc)].Ví dụ: cortar(cắt), đặt (pôr), học (estudar),
Chúng ta có thể kiểm tra bằng cách kết hợp chúng với các từ biểu thị kết quả của
hành động, hoạt động như: já (xong, rồi)
Ví dụ: já estudou (cô ấy đã học rồi), já cortou (anh ấy đã cắt rồi)
(Trong hai ví dụ trên: estudou và cortou là hai động từ chia ở ngôi thứ ba, số ít, ở
thì quá khứ.)
-Các động từ [-hữu tận] như respeitar (tôn trọng),không thể kết hợp với já (xong, rồi)
2.2.2.4 Động từ [± có hướng]
Ví dụ: ir (đi), bay (voar), chạy (correr),
Đối với những động từ [+ có hướng], chúng ta có thể thêm các giới từ chỉ hướng của chuyển động vào sau chúng
Ví dụ: ir à praia (đi tới biển), voar para Angola (bay tới Ăng-gô-la)
2.2.2.5 Động từ [± thang độ]
Ví dụ: gostar (thích), amar (yêu), preocupar-se (lo),
Đối với những động từ chỉ thang độ, chúng ta có thể thêm các trạng từ như muito, tanto(rất, quá/ lắm)để xác nhận
Trang 29Ví dụ: gostar muito (rất thích), amar tanto (yêu lắm)
2.2.2.6 Động từ [tiếp thụ, bị động,cần thiết, mong muốn, ý chí,khả năng ….]
Ví dụ: poder (được) , ter de(phải), dever (nên), esperar (mong), querer (muốn),
Ele nunca quis estudar línguas.(Anh ta chưa bao giờ muốn học ngoại ngữ)
(Olga Mata Coimbra, 2012: 33)
Nghĩa Anh ta chưa bao giờ muốn học ngoại ngữ
Eu não posso ir com vocês (Tôi không thể đi với các bạn.)(Olga Mata Coimbra, 2012: 66)
2.3 Thành tố phụ trước trung tâm
Như trên đã nói, động ngữ tiếng Bồ Đào Nha bao gồm thành tố trung tâm đứng ở giữa, còn các thành tố phụ có hai tiểu loại: tiểu loạiđứng trướcthành tố trung tâmvà tiểu loại đứngsau thành tố trung tâm Trước hết chúng tôi xin trình bày về thành tố phụ trước trung tâm
Tiếng Bồ Đào Nha là một ngôn ngữ biến hình nên thành tố phụ trước trung tâm của động ngữ chủ yếu là các trợ động từ thể hiện thời, thể, thức và các phó từ chỉ thời gian, tần suất, kết quả,…
2.3.1 Thành tố phụ trướctrung tâm là các trợ động từ
Một số động từ ở hình thức đã chia hay nguyên thể có thể đứng sau các động từ khác, còn gọi là các trợ động từ Các trợ động từ trong tiếng Bồ Đào Nha không phong phú như trong tiếng Anh- cũng là một ngôn ngữ biến hình Trợ động từ trong tiếng Bồ Đào Nha chủ yếu dùng trong các thì phức hợp Chúng tôi đã nghiên cứu và tập hợp được một số trợ động từ có tần suất xuất hiện thường xuyên như sau:
2.3.1.1.Trợ động từ ter (có)
Trang 30Động từ ter khi là động từ thường là một động từ chỉ sở hữu(mang nghĩa là có)
Nhưng ngoài ra nó còn có chức năng của một trợ động từ Cụ thể là:
a.Trợ động từ ter chia theo thì hiện tại kết hợp với quá khứ phân từ của động từ
chính diễn tả hành động xảy ra trong thời gian gần đây (Olga Mata Coimbra, 2012:48)
Ví dụ: A Camila tem ido ao cinema (Gần đây)Camila thường đitới rạp chiếu phim
b Trợ động từ ter chia theo thì quá khứ (P.I) kết hợp vớiquá khứ phân từ của động từ chính để diễn tả hành động xảy ra trước một hành động khác trong quá
khứ (Olga Mata Coimbra, 2012: 46)
Ví dụ:
Quando o Nuno chegou a casa, a Ana já tinha saído
(Khi Nuno về nhà,Ana đã đi rồi.)
Ví dụ Quando o Nuno chegou a casa a Ana já tinha saído
* tem và tinha là trợ động từ ter chia ở thì hiện tại và quá khứ chưa hoàn thành Khi dịch sang tiếng Việt thì trợ động từ ter (tem, tinha) không trực tiếp xuất hiện, chúng
ta phải dùng cách diễn đạt khác (bằng các phó từ chỉ thời gian hay tần suất) nhưng trong tiếng Bồ Đào Nha nó phải bắt buộc xuất hiện trước động từ chính
c.Tercũng được sử dụng ở dạng danh động từ (gerúndio) kết hợp với quá khứ phân từ của động từ chínhđể miêu tả một hành động đã hoàn thành trong quá khứ (sử dụng với mục đích giải thích nguyên nhân).(Olga Mata Coimbra, 2012: 62)
Ví dụ: (Olga Mata Coimbra, 2012: 62)
Tendo tido febre, tomei um antibiótico
Trang 31(Vì bị ốm nên tôi uống một viên kháng sinh)
Thành phần TTPT TTTT TTPS
Nghĩa * có sốt (tôi đã) uống một viên kháng sinh
* tendo là trợ động từ ter chia ở dạng danh động từ, khi dịch sang tiếng Việt nó tương đương với vì, dùng để chỉ nguyên nhân
2.3.1.2.Trợ động từ ser và estar
Động từ ser đứng trước quá khứ phân từ của động từ chỉ hành động trong cấu trúc
bị động
Cấu trúc bị động của tiếng Bồ Đào Nha bao gồm hai thành phần cốt yếu là estar/ser
(chia theo thì của động từ chính của câu chủ động) + quá khứ phân từ của động từ chính trong câu chủ động.(Olga Mata Coimbra, 2012:68-72)
Ví dụ 1:
O bolo foi feito pela mãe (Cái bánh (đã) được mẹ làm.)
Ví dụ 2:
A mesa está limpa (Cái bàn đã được lau.)
* foi và está lần lượt là động từ ser và estar được chia ở thì hiện tại cho hai chủ ngữ
là o bolo và a mesa Chúng được sử dụng như là các trợ động từ chỉ ý nghĩa bị
động, có vị trí đứng trước động từ chính chỉ hành động (được chia ở quá khứ phân từ) Khi dịch sang tiếng Việt, trong những câu có mang nghĩa tiếp thụ, bị động động
từ chính làm quá khứ phân từ sẽ đứng sau những từ như được, bị…
Trang 32Động từ ser dùng trong câu bị động với mục đích nhấn mạnh vào quá trình thực hiện hành động còn động từ estar dùng với mục đích nhấn mạnh vào kết quả của
Ví dụ: Nósvamos sairhoje à noite
(Chúng tôi sẽ ra ngoài tối nay.)
(vamos là trợ động từ ir chia cho ngôi nós ở thì hiện tại và dùng trong cấu trúc của
thì tương lai gần, diễn tả một điều sẽ xảy ra trong tương lai)
b.Trợ động từ estar+ a + động từ nguyên thể chỉ hành động: diễn tảthì hiện tại tiếp diễn
Ví dụ:(Olga Mata Coimbra, 2012:24)
Eles estão a ouvir música (Họ đang nghe nhạc.)
(estão là trợ động từ estar chia cho ngôi eles ở thì hiện tại, dùng để diễn tả hành
động đang xảy ra tại thời điểm nói)
Nhận xét:
Quan các ví dụ tiêu biểu trên chúng tôi nhận thấy trong tiếng Bồ Đào Nha, các trợ động từ thể hiện ý nghĩa về thời, dạng thức luôn đứng trước động từ chính và luôn được chia theo chủ ngữ - chủ thể của hành động
Trang 332.3.2 Thành tố phụ trước trung tâm là phó từ
Trong động ngữ tiếng Bồ Đào Nha có thành tố phụ do phó từ đảm nhiệm và những phó từ này có vị trí đứng trước (đôi khi đứng sau) động từ làm thành tố chính của động ngữ
2.3.2.1 Phó từ chỉ sự đồng nhất
Phó từ trong tiếng Bồ Đào Nha có chức năng làm thành tố phụ biểu thị ý nghĩa về
sự đồng nhất của hoạt động là também(cũng)
Ví dụ:
Tambémaprende português (Anh ta cũng học tiếng Bồ Đào Nha.)
Ví dụ: (Olga Mata Coimbra, 2012:14)
Ele sempre vai à praia no verão (Anh ta luôn đi biển vào mùa hè.)
Raramente vou ao cinema (Tôi hiếm khi đi xem phim.)
Trang 342.3.2.3 Phó từ chỉ kết quả
Khi nghiên cứu các phó từ chỉ kết quả có chức năng làm thành tố phụ trước trong
tiếng Bồ Đào Nha, chúng tôi thấy có hai phó từ xuất hiện nhiều nhất, đó là já (đã)
và quase (gần như)(Leonel Melo Rosa, 2011: 127)
- Já sử dụng trong các câu có động từ chia ở quá khứ hoặc hiện tại, dùng để biểu thị kết quảđã/rồi nhưng thông thường không đi với động từ ở thì quá khứ mà chỉ sử dụng khi muốn nhấn mạnh hoặc trong câu hỏi có/không và trả lời
Játenho a ficha (Tôi đã có tài liệu rồi (đang có)
Ele quaseconseguiu o trabalho (Anh ta suýt kiếm được công việc đó)
Nghĩa Anh ta hầu như/ gần có thể (kiếm được) công việc
Chú ý:
Từ já còn mang nghĩa ngay, chỉ hành động được thực hiện trong tương lai rất gần đi
với các động từ chỉ hành động được chia ở thì hiện tại
Trong trường hợp này já có thể đứng cả ở trước và sau động từ Vì vậy, nó được coi
là thành tố phụ trước và sau của trung tâm
Ví dụ: Vou ao mercado e já volto/ volto já (Tôi đi chợ và tôi sẽ về ngay.)
Trang 35Trong tiếng Bồ Đào Nha, để thể hiện ý nghĩa phủ định, ta sử dụng từ não (không)
đặt trước động từ mà không cần phải sử dụng thêm trợ động từ (Olga Mata Coimbra, 2012:6)
Ngoài ra còn sử dụng ainda não (chưa), nem (không), jamais (không bao giờ), nuncamais (không bao giờ nữa, mãi không) hay phó từ chỉ tần suất nunca (không/
chưa bao giờ), (Leonel Melo Rosa, 2011:127)
Ví dụ1:
Eles não jantam no restaurante (Họ không ăn tối ở nhà hàng.)
Trang 36Ví dụ 4: Ele ainda nãochegou (Anh ta chưa đến.)
2.3.2.5 Phó từ chỉ sự tồn tại, thực hữu
Các phó từ chỉ thực hữu trong tiếng Bồ Đào Nha gồm só, apenas, somente (chỉ/ chỉ
có) (Leonel Melo Rosa, 2011: 127)
Ví dụ:
Eu só tenho um dicionário (Tôi chỉ có một quyển từ điển)
Vocêapenas temque sorrir (Bạn chỉ cần cười)
Trong tiếng Bồ Đào Nha, các phó từ chỉ sự tồn tại, thực hữu có thể đứng sau động
từ trung tâm Khi đó, nó trở thành thành tố phụ sau trung tâm (xem phần thành tố phụ sau trung tâm)
2.4 Thành tố phụ sautrung tâm
Thành tố phụ sau trung tâm của động ngữ là một thành phần vô cùng phức tạp Chúng tôi đề ra hai tiêu chí để phân loại thành tố phụ sau trung tâm: phân loại theo hình thức tổ chức và phân loại theo vai ngữ pháp
2.4.1 Phân loại theo hình thức tổ chức
Khi phân loại theo hình thức tổ chức, chúng tôi chia thành tố phụ sau trung tâm ra làm ba loại: thành tố phụ là một từ, thành tố phụ là một ngữ và thành tố phụ là một mệnh đề Cụ thể như sau:
Trang 372.4.1.1 Thành tố phụ sau trung tâm là một từ
a Danh từ
Thành tố phụ đi sau động từ trung tâm có thể là một danh từ (hoặc một chuỗi danh
từ có quan hệ đẳng lập), có thể kèm hoặc không kèm giới từ
Ví dụ: Ele come doces, bolachas e frutas (Nó ăn bánh, kẹo, hoa quả.)
2.4.1.2 Thành tố phụ sau trung tâm là một ngữ
Khi thành tố phụ là một ngữ chúng ta có thể bắt gặp danh ngữ, động ngữ, tính ngữ trong đó danh ngữ và động ngữ chiếm tỉ lệ rất lớn, đặc biệt là các danh ngữ Chúng
ta có thể xem các ví dụ sau:
a Thành tố phụ là danh ngữ
Ví dụ: Ela comprou uma bicicleta azul (Cô ta mua một chiếc xe đạp xanh.)
Trang 38Thành phần TTTT TTPS
b.Thành tố phụ là động ngữ
Ví dụ:Eu queria comprar um selo (Tôi muốn mua tem.)(Carla Oliveira, 2011: 103)
c Thành tố phụ là tính ngữ
Ví dụ: Ele é forte como um búfalo (Anh ta khỏe như trâu.)
* é là hệ từ ser được chia ở thì hiện tại cho ngôi ele (anh ấy)
2.4.1.3 Thành tố phụ sau trung tâm là một mệnh đề
Thành tố phụ sau là một mệnh đề có thể xuất hiện sau những lớp con động từ như:
a Những động từ không độc lập chỉ sự cần thiết, chỉ ý muốn
Trong tiếng Bồ Đào Nha, nhóm này gồm những từ như precisar (cần), querer (muốn), necesitar (cần thiết), desejar (cầu, ước)
Ví dụ:
Ele quer que eu pense novamente (Anh ta muốn tôi suy nghĩ lại.)
(mệnh đềđóng vai trò làm thành tố phụ sau trong động ngữ là“eu pense novamente”)
Trang 39Trong ví dụ trên, mệnh đề làm thành tố phụ sau của động từ acho (động từ achar chia cho ngôi eu (tôi) là hoje faz muito calor)
Những loại động từ có thành tố phụ sau là các mệnh đề trong tiếng Bồ Đào Nha có
khá nhiều và nó yêu cầu phải có liên từ que (rằng) làm nhiệm vụ nối giữa thành tố
trung tâm là động từ và phần mệnh đề làm thành tố phụ sau
Nếu phân loại thành tố phụ sau trung tâm theo vai ngữ pháp chúng ta có thành tố phụ đảm nhiệm vai ngữ pháp (các thực từ làm bổ tố và trạng tố) và các thành tố phụ
bổ sung ngữ pháp cho động từ trung tâm (các hư từ làm các phó từ)
2.4.2 Phân loại theo chức vụ cú pháp
2.4.2.1 Thành tố phụ sau là thực từ
Trong động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt, các loại thực từ (danh
từ, động từ, tính từ) đều có thể làm thành tố phụ diễn đạt các ý biểu thị nơi chốn, thời gian, cách thức, phương tiện, phương hướng, mục đích, nguyên nhân, kết quả… của hoạt động
Ở phần này, để tiện theo dõi, và phân tích chúng tôi chỉ chọn các ví dụ là các động ngữ có thành tố trung tâm là các động từ nguyên thể và các thành tố phụ sau chứ không đưa ra cả câu hoặc cả động ngữ với đầy đủ các thành phần và động từ trung tâm đã chia như ở phần phân tích thành tố phụ trước và thành tố trung tâm
a Bổ tố
Động ngữ tiếng Bồ Đào Nha có loại thành tố phụ chỉ xuất hiện theo đòi hỏi riêng của từng tiểu loại động từ làm thành tố chính (Olga Mata Coimbra, 2012: 90)
- Bổ tố trực tiếp
Trang 40Khi thành tố chính và thành tố phụ chỉ đối tượng do danh từ đảm nhiệm không ngăn cách với nhau bởi bất kỳ một yếu tố nào ta có các bổ tố trực tiếp
Khi thành tố chính và thành tố phụ chỉ đối tượng do danh từ đảm nhiệmnối với nhau
bởi giới từ a ta có các bổ tố trực tiếp
Ví dụ: Perguntar ao Pedro (hỏi Pedro)
Chú ý:
Trong tiếng Việt giữa động từ hỏi và đối tượng được hỏi không có giới từ gì nối
nhưng trong tiếng Bồ Đào Nha bắt buộc phải có giới từ a
b Trạng tố
Các thành tố phụ là từ đứng làm trạng tố trong động ngữ tiếng Bồ Đào Nhacó thể đứng trước hoặc sau thành tố trung tâm, và diễn đạt ý nghĩa về nơi chốn, thời gian, cách thức, phương tiện, phương hướng Những thành tố phụ này thường do danh từ đảm nhiệm Ví dụ: