Mặt khác, trong môn Tiếng Việtthì phân môn Tập làm văn có một vị trí rất quan trọng, đó chính là sự kết hợp,tổng hoà kiến thức của các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kểchuy
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 5 18
Bảng 2: Mức độ nhận thức của giáo viên về bồi dưỡng năng lực CTVH 33
Bảng 3: Mức độ tổ chức bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh của giáo viên 34
Bảng 4: Mức độ hứng thú của học sinh khi học nội dung CTVH 35
Bảng 5: Mức độ nhận thức của giáo viên về mối liên hệ giữa dạy học Tập làm văn miêu tả và bồi dưỡng năng lực CTVH 44
Bảng 6: Mức độ bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh của giáo viên thông qua dạy học Tập làm văn miêu tả 45
Bảng 7: Bảng văn liệu từ gợi tả trong văn tả người 57
Bảng 8: Kết quả học tập của lớp thử nghiệm và lớp đối chứng 73
Biểu đồ 1: Kết quả học lực của 2 lớp thử nghiệm và đối chứng 74
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đất nước chúng ta đang bước vào một thời kỳ mới, một giai đoạnquan trọng của quá trình hội nhập và phát triển Hiện nay khoa học công nghệđang phát triển như vũ bão, việc cập nhật, đón nhận, khai thác thông tin nhằmtạo nền tảng và là cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội của đất nướcđang được đặt lên hàng đầu Đất nước chúng ta đang ngày càng vươn xa, hộinhập chung với sự phát triển của thế giới, công cuộc đổi mới và phát triểnkinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp mọi miền của đấtnước Để đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đó, chúng ta cần phải cónhững nguồn nhân lực mới Vì vậy, đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạonhững con người có đủ phẩm chất, phù hợp với cuộc sống hiện đại, toàn diện
về tri thức, có bản lĩnh, năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm…
Và để đạt được mục tiêu đó, nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nóichung và nhà trường tiểu học nói riêng phải có những đổi mới phù hợp Đó làđiều chỉnh về mục tiêu đào tạo, đổi mới về nội dung, phương pháp và hìnhthức tổ chức dạy học nhằm phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục và pháttriển đất nước Đảng và nhà nước ta đã rất quan tâm và chú trong về sự pháttriển giáo dục và đào tạo, với chủ trương “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, làđộng lực để phát triển kinh tế xã hội của đất nước” Vì vậy, để đáp ứng đượcnhu cầu cấp thiết đó chúng ta cần phải đổi mới mạnh mẽ nội dung và phươngpháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duysáng tạo của người học, áp dụng các phương pháp tiêu biểu và phương tiệnhiện đại, phát triển và bồi dưỡng các năng lực phẩm chất vốn có của học sinh.1.2 Cùng hoà chung vào sự đổi mới của tất cả các môn học thì việc đổimới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở môn Tiếng Việt
Trang 4cũng đang diễn ra một cách sôi động Vấn đề phát triển và gìn dữ sự trongsáng của Tiếng Việt luôn được các cấp, các ngành quản lý giáo dục hết sứcquan tâm, việc phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh tiểu học luôn đicùng với nội dung dạy học môn Tiếng Việt Mặt khác, trong môn Tiếng Việtthì phân môn Tập làm văn có một vị trí rất quan trọng, đó chính là sự kết hợp,tổng hoà kiến thức của các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kểchuyện…Để từ đó, học sinh có thể hoàn thành được các văn bản nghệ thuật.Văn học có khả năng tác động kỳ diệu đến đời sống tâm hồn của conngười, việc hướng dẫn học sinh, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học(CTVH) cho học sinh nhằm chiếm lĩnh các giá trị nghệ thuật của tác phẩm làhết sức cần thiết ở đó các em sẽ thấy được vẻ đẹp của ngôn từ, tác dụng sâusắc của nó đến đời sống nội tâm cũng như bồi dưỡng tâm hồn trong sáng chocác em Ở bậc tiểu học, hoạt động CTVH được hình thành và thể hiện qua các
kỹ năng đọc, tìm hiểu từ ngữ, xác định hình ảnh chi tiết nghệ thuật… thì cònphải hướng dẫn học sinh quan sát ở các góc độ, qua đó lột tả và phân tích,nắm được các đặc điểm nghệ thuật, biết sử dụng từ ngữ súc tích, giàu hìnhảnh để viết lên, nói lên những cảm xúc, rung động của mình, đó là từng bướcgiúp các em phát triển năng lực CTVH Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các
em được cảm thụ những tác phẩm văn học trong sách giáo khoa, từ đó sẽ mởmang tri thức, phong phú về tâm hồn Có năng lực CTVH tốt, học sinh sẽhứng thú hơn khi viết văn, càng thêm yêu quý Tiếng Việt và có ý thức gìn giữ
sự trong sáng của Tiếng Việt
Xuất phát từ những lý do nêu trên, để bồi dưỡng năng lực CTVH cho họcsinh theo mức độ yêu cầu của chương trình Tiếng Việt hiện hành, đồng thờiphục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh khá giỏi về môn Tiếng Việt, chúng
tôi lựa chọn đề tài “Bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4-5 thông qua dạy học Tập làm văn”
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
Thông qua dạy học Tập làm văn, xây dựng các biện pháp bồi dưỡngnăng lực CTVH cho học sinh lớp 4-5, từ đó nâng cao chất lượng dạy học mônTiếng Việt ở tiểu học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình bồi dưỡng năng lực CTVH cho họcsinh lớp 4-5
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp bồi dưỡng năng lực CTVHcho học sinh lớp 4-5 thông qua dạy học Tập làm văn
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp phù hợp với đặc trưng phân môn Tậplàm văn, đặc điểm nhận thức của học sinh thì sẽ góp phần nâng cao đượcnăng lực CTVH cho học sinh lớp 4-5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
5.3 Xây dựng các biện pháp bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp4-5 thông qua dạy học Tập làm văn và tiến hành thử nghiệm các biện pháp đó
ở trường tiểu học
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Trong đề tài, này chúng tôi quan tâm xây dựng các biện pháp bồidưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4-5 thông qua dạy học thể loại Tậplàm văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn
6.2 Địa bàn thu thập các số liệu, thử nghiệm các biện pháp: Chúng tôithu thập số liệu và tiến hành thử nghiệm ở một số trường tiểu học trên địa bànhuyện Hưng Nguyên – Nghệ An
Trang 67 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Chúng tôi tiến hành khảo sát, hệthống hóa, khái quát hóa, tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan đến nộidung cần nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thử nghiệm
7.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học chohọc sinh lớp 4-5 thông qua dạy học Tập làm văn miêu tả
Trang 7Lâu nay đa số các tác giả đều hướng dẫn, xây dựng các biện pháp bồidưỡng năng lực CTVH cho học sinh thông qua các giờ dạy Tập đọc, xem việc
sử dụng các câu hỏi, bài tập là biện pháp chủ chốt để giúp học sinh Tiểu họchiểu và cảm thụ các bài văn, bài thơ Đó là các dạng bài tập như sau:
- Tìm hiểu cách dùng từ đặt câu
- Tập phát hiện những hình ảnh, chi tiết có tính chất gợi tả
- Tìm hiểu và vận dụng một số biện pháp tu từ gần gũi với học sinh như:
So sánh, nhân hoá, ẩn dụ, đảo ngữ, điệp ngữ
- Hướng dẫn học sinh cảm thụ tác phẩm thông qua đọc diễn cảm có sáng tạo
- Ở mức cao hơn, đó là bài tập bộc lộ cảm thụ văn học qua một bài viết ngắn.Tóm lại, khi làm các dạng bài tập trên, học sinh đã nâng cao được khảnăng CTVH nhưng là chỉ thông qua các giờ dạy Tập đọc
Trong môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học, phân môn Tập làm văn giữmột vai trò hết sức quan trọng, nó là tổng hợp kiến thức của các phân môn
Trang 8khác như: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện… Ngoài việc bồidưỡng năng lực CTVH cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc, chúng tacũng có thể bồi dưỡng năng lực CTVH thông qua dạy học Tập làm văn, cụthể là văn miêu tả Đây là một nội dung tương đối mới mà lâu nay trong dạyhọc giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa khai thác được hết mối quan hệgiữa “Miêu tả” và “Cảm thụ” Giữa văn miêu tả và CTVH có mối liên hệ hữu
cơ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau Miêu tả hay tức là biết cách quansát, biết cách quan sát sẽ làm cho học sinh phát hiện ra những cái hay, cái đẹp,cái mới lạ của sự vật hiện tượng, biết rung động và cảm xúc trước cảnh vậtthiên nhiên, biết sử dụng vốn từ ngữ phong phú của Tiếng Việt để diễn tả tâmtrạng cảm xúc bằng ngôn ngữ nói hoặc viết, đó cũng chính là CTVH
Qua khảo sát và thực tế trong thời gian giảng dạy ở trường tiểu học,chúng tôi nhận thấy vấn đề này chưa được đề cập một cách đúng mức, cũngnhư chưa có một công trình nghiên cứu nào quan tâm đầy đủ về nội dung này
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Cảm thụ văn học
- Cảm thụ tức là “nhận biết được bằng cảm tính, giác quan” (Từ điển
Tiếng Việt – Nguyễn Văn Xô)
- Hoặc cảm thụ là “nhận biết được cái tế nhị bằng cảm tính tinh vi” (từ
điển Tiếng Việt – Hoàng Phê)
CTVH là sự hiểu và cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc,
tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm thơ văn Như vậy CTVHcũng có nghĩa là khi đọc, nghe, hoặc thấy một câu chuyện, một bài thơ takhông những hiểu mà còn phải cảm xúc, tưởng tượng và gần gũi, nhập thânvới những gì đã đọc, đã quan sát được
- CTVH khác với phân tích tác phẩm và khảo cứu tác phẩm bởi vì:
Trang 9+ Phân tích tác phẩm là mổ xẻ tác phẩm ra thành nhiều bộ phận rồinghiên cứu nó trong những mối liên hệ bên trong và bên ngoài bằng tư duytrừu tượng và tư duy lôgíc.
+ Khảo cứu tác phẩm là nghiên cứu lịch sử ra đời của tác phẩm, nhữngbiến thể của tác phẩm Để khảo cứu tác phẩm, người làm việc này phải nénxúc cảm để tư duy trừu tượng, tư duy lôgíc chiếm lĩnh được cái lý bên trongcủa tác phẩm
-Khác với khảo cứu tác phẩm và phân tích tác phẩm, cảm thụ đặc biệtcần sự tinh tế, nhạy cảm của trí tưởng tượng và óc quan sát Bởi vậy khi nàotâm hồn con người trở nên chai sạn, tư duy đi theo đường mòn thì khả năngcảm thụ sẽ kém đi, sẽ không còn khả năng phát hiện được những cái hay, cáimới, cái đẹp trong tác phẩm Cảm thụ không chỉ cần sự nhạy cảm tinh tế vàmột tâm hồn trẻ trung hồn nhiên thì cảm thụ còn cần cả vốn sống, vốn vănhóa Có như vậy thì cảm thụ mới có chiều sâu riêng của nó
- Các cấp độ của tác phẩm và cảm thụ tác phẩm
Mục đích của CTVH là thấy, hiểu và cảm được vẻ đẹp của tác phẩm.Song bản thân tác phẩm văn học có đối tượng cảm thu - là chỉnh thể có nhiềucấp độ nên cảm thụ cũng có nhiều cấp độ cao , thấp, nông, sâu khác nhau.Cấu trúc của một tác phẩm bao gồm 4 cấp độ nên trình độ cảm thụ cũng có 4cấp độ khác nhau
+ Cấp độ ngôn từ và sự cảm thụ ngôn từ
Văn bản ngôn từ gồm các phương diện: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp vàkết cấu tác phẩm Tức là sự sắp xếp các tài liệu, là phương tiện tổ chưc hìnhthức nghệ thuật sao cho những gì chính yếu trong tác phẩm được nổi bật, saocho tư tưởng sống động của tác giả gây được ấn tượng trong lòng người đọc
Trang 10+ Cảm thụ phương diện ngữ âm của tác phẩm cần chú ý đến chủ ý tảcảnh tả tình của tác giả qua việc sắp xếp chuỗi liên tục những âm thanh khácnhau thành vần, điệu, tiết tấu.
+ Cảm thụ phương diện từ vựng của tác phẩm cần chú ý đến nghĩa của
từ, cái hay cái đẹp của từ trong so sánh từ đồng nghĩa hay trái nghĩa Cảm thụ
từ vựng của tác phẩm còn phải chú ý đến từ cổ, từ mới, từ thuần Việt, từ HánViệt, từ phổ thông, từ địa phương Vì vậy muốn hiểu tác phẩm học sinh trướchết phải vượt qua được những trở ngại về từ ngữ này Nhưng khó hơn là các
em phải hiểu được dụng ý của tác giả khi dùng những lớp từ khác nhau Bởi
vì những lớp từ lại gợi những cảm giác riêng Ví dụ từ Hán Việt thường đượcdùng khi cần diễn đạt một cách trang trọng, còn từ thuần Việt lại gợi cảm giácthân mật gần gũi
+ Cảm thụ phương diện ngữ pháp
Là chú ý đến những hiện tượng đặc biệt trong cấu trúc câu, như đảo ngữ,điệp ngữ,… chú ý đến sự đan xen của các kiểu câu tả, kể, cảm thán,… Cáckiểu lời nói trực tiếp, gián tiếp,… thể hiện được tính đa thanh của ngôn ngữ.Cảm thụ cấu trúc ngữ pháp của tác phẩm còn phải chú ý đến ngữ nghĩacủa câu, hàm ý trong câu, tức là điều tác giả muốn thông báo nhưng lại thôngbáo bằng những cách đặc biệt Chú ý đến hàm ý ấy người đọc mới hiểu đúngnội dung thông báo là gì
Ngoài việc nắm chắc được các cấp độ cảm thụ tác phẩm đã nêu trên,chúng ta còn phải nắm được các cấp độ cảm thụ cao hơn như: cảm thụ hìnhtượng, cảm thụ ý nghĩa của hình tượng (ý nghĩa của tác phẩm) cảm thụ tưtưởng của tác phẩm Bởi vì, chính cái làm nên sự nổi bật nội dung tác phẩm làhình tượng trong tác phẩm và tư tưởng của tác phẩm đó Tuy nhiên, do đặcđiểm nhận thức của học sinh tiểu học còn hạn chế cho nên chúng ta không đivào phân tích mổ xẻ một cách cụ thể chi tiết dẫn đến cứng nhắc, thiếu đi sự
Trang 11vô tư hồn nhiên trong tâm hồn trẻ Ví dụ khi dạy bài” Bài ca Côn Sơn”, chúng
ta chỉ có thể dừng lại ở việc khai thác tìm vẻ đẹp của Côn Sơn thông qua cáchình ảnh thân thuộc như: Con suối, tiếng nước chảy, rừng thông,… Chúng tachưa thể khai thác một khía cạnh sâu xa của tác phẩm đó là cái sự “ngâm thơnhàn” của ông Bởi vì chúng ta đã chọn bài này dạy cho các em học sinh 9 -
10 tuổi chưa biết Nguyễn Trãi là ai
1.2.2 Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
- Năng lực tức là khả năng làm được việc (Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê)
- Năng lực CTVH là khả năng thể hiện được sự cảm thụ một tác phẩmvăn học bằng những ý kiến riêng của mình và phù hợp với yêu cầu đã nêu.Theo từ điển Hán Việt của Phan Văn Các, bồi dưỡng theo nghĩa gốc là
“Làm tăng sức khỏe bằng chất bổ”, còn theo nghĩa chuyển thì bồi dưỡng làlàm tăng năng lực phẩm chất Đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm bồidưỡng trên theo nghĩa chuyển
Vậy, có thể hiểu bồi dưỡng năng lực CTVH là vận dụng những tri thức,chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên để trang bị kiến thức và kỹ năng cho họcsinh nhằm giúp học sinh hiểu, lĩnh hội, thưởng thức những cái hay, cái đẹpcủa tác phẩm văn học
1.2.3 Văn miêu tả
1.2.3.1 Khái niệm văn miêu tả
Miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện chân tướng của sự vật.”Văn miêu tả không đưa ra những lời nhận xét chung chung, đánh giá trừutượng mà vẽ ra các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách cụthể sinh động Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung độngsâu sắc qua khả năng quan sát nhạy bén, óc tưởng tượng phong phú và tâmhồn nhạy cảm
Trang 12Hoặc miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người,của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy
Thông qua văn miêu tả bằng ngôn ngữ thì người ta có thể hình dung raquá trình vận động, tưởng tượng ra những thứ vô hình như âm thanh, tiếngđộng, hương vị và những tư tưởng tình cảm của con người
1.2.3.2 Một số đặc điểm của văn miêu tả
a) Văn miêu tả nhằm hướng dẫn cho học sinh biết cách nhận thức cuộc
sống và thể hiện cuộc sống bằng ngôn ngữ
Làm văn miêu tả là nhận thức thế giới, là khám phá, phát hiện đối tượngmiêu tả những nét đẹp, đáng yêu, những điều mới lạ, độc đáo Dạy văn miêu
tả là bồi dưỡng cho các em tâm hồn, cảm xúc, là dạy cho các em biết tích luỹvốn sống hiểu biết về cuộc sống Qua vẻ đẹp của ngôn ngữ miêu tả, các embiết rung động trước cái đẹp, biết yêu quý mình, thiên nhiên, con người… biếtnhìn thấy cái đẹp mới lạ ở đối tượng miêu tả
b) Văn miêu tả là thể văn sáng tác
Muốn viết được một bài văn có chất lượng cao, trước hết chủ thể phảisáng tạo, người viết văn miêu tả phải quan sát đối tượng đang tồn tại trong đờisống thực Quan sát phải biết ghi chép lại để khi viết kết hợp với biện pháp sosánh nhân hóa, liên tưởng tạo ra lời văn sinh động Văn miêu tả không chấpnhận kiểu sao chép một cách máy móc, khô khan Mỗi bài văn là một sảnphẩm không lặp lại, nó mang dấu ấn chủ quan của mỗi học sinh trước đốitượng miêu tả, mỗi người có cách tả, diễn đạt, suy nghĩ khác nhau thông qualăng kính chủ quan của mình Nếu không biết sáng tạo thiếu cảm xúc thì miêu
tả chỉ mới dừng lại ở mục đích mô tả khoa học
c) Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngôn ngữ miêu tả phải giàu cảm xúc và hình ảnh để diễn tả tình cảm củangười viết và vẽ nên sự sinh động, tạo hình cho đối tượng miêu tả
Trang 13Ngôn ngữ miêu tả phải giàu tính từ, động từ và hay sử dụng phép nhânhóa, ẩn dụ, so sánh, tạo nên giai điệu chủ đạo của bài văn, gợi lên trong lòngngười đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng về sự vật được miêu tả
d) Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Đây là đặc điểm nổi bật của văn miêu tả Theo Goorki “dùng từ để tôđiểm cho người và vật là một việc, tả lại một cách sinh động, cụ thể đến mỗingười như ta muốn sờ nó các nhân vật trong “chiến tranh và hòa bình” củaLep.tônxtôi đó là một việc khác” Nét sinh động và tạo hình của văn miêu tả
là những chi tiết sống, gây ấn tượng nhưng khi tước bỏ chúng đi bài văn miêu
tả trở nên mờ nhạt, vô vị Đọc lại bài văn “tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của một người không còn sinh khí”.
Đúng vậy, khi viết văn miêu tả, người viết phải huy động, chọn lọc vốnkiến thức về ngôn ngữ của mình để “tô điểm” cho người và sự vật làm chochúng hiện lên qua từng trang miêu tả sống động như trong đời thực
e) Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của
người viết
Đối tượng của văn miêu tả rất đa dạng và phong phú, đó là đồ vật, câycối, con người… nhưng dù tả một con người hay một cái cây, hay một phongcảnh bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mỹ,cũng gửi vào bài viết ít nhiều những tình cảm hay ý kiến đánh giá bình luậncủa mình Khác với sự chính xác khô khan đến lạnh lùng trong mô tả khoahọc, văn miêu tả bao giờ cũng mang ấn tượng cảm xúc của người viết
1.3 Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4-5
1.3.1 Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4
a) Mục đích của phân môn Tập làm văn lớp 4
Nếu xem phân môn Tập làm văn ở các lớp 2-3 là bước đầu làm quen vớihoạt động tiếp xúc văn bản thì phân môn Tập làm văn lớp 4 có tính chất tổng
Trang 14hợp và phân tích Vừa vận dụng các hiểu biết và kỹ năng Tiếng Việt từ cácphân môn khác, vừa phát huy và hoàn thiện, phát triển một cách có hệ thốnghơn Để thực hiện vai trò này, phân môn Tập làm văn lớp 4 có mục đích, yêucầu như sau:
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng, cụ thể là:
+ Kỹ năng phân tích đề+ Kỹ năng tìm ý, lập dàn bài+ Kỹ năng viết đoạn trong bài văn+ Kỹ năng tự kiểm tra, sửa chữa bài văn nói và viết
- Góp phần cùng các môn học khác phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốnsống, rèn luyện tư duy lôgích, tư duy hình tượng cho học sinh:
Ở lớp 4 , các loại bài Tập làm văn đều gắn với các chủ điểm, quá trìnhcác kỹ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là dịp để học sinh mởrộng vốn từ, nói lên tâm tư, tình cảm của mình, mở rộng hiểu biết về cuộcsống Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, tóm tắt truyện, quan sát đốitượng giúp khả năng phân tích tổng hợp, phân loại của học sinh được rènluyện qua các thao tác cụ thể, thực hiện sản sinh ngôn bản Tư duy hình tượngcủa trẻ cũng có dịp được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhânhoá, ẩn dụ, nhờ huy động vốn sống, trí tưởng tượng để xây dựng cốt truyện
- Bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, năng lực cảm thụ văn học vàhình thành nhân cách học sinh
Phân tích các bài văn, đoạn văn kể chuyện miêu tả học sinh được cảmnhận vẻ đẹp của cuộc sống, của con người và thiên nhiên Khi tìm hiểu đề họcsinh quan sát sự vật, để lập dàn ý, tìm chi tiết, hình ảnh để miêu tả, học sinhđược tiếp xúc với cái chân, thiện, mỹ, được rèn luyện cách nhìn đối tượngtrong mối quan hệ gần gũi giữa người và vật Các bài tập luyện viết thư, traođổi ý kiến với ngươi thân là dịp tăng thêm mối quan hệ gia đình, họ hàng
Trang 15bạn bè Tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong việc hình thành nhâncách tốt đẹp cho các em.
b) Cấu trúc chương trình
Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4 bao gồm 70 tiết được chiađều mỗi tuần 2 tiết, cụ thể được thiết kế như sau:
-Văn kể chuyện: 19 tiết
- Khái niệm văn miêu tả: 1 tiết
- Miêu tả đồ vật: 10 tiết
- Miêu tả cây cối: 11 tiết
- Miêu tả con vật: 8 tiết
- Trao đổi ý kiến: 2 tiết
- Giới thiệu hoạt động: 2 tiết
- Tóm tắt tin tức: 3 tiết
- Điền vào giấy tờ in sẵn: 3 tiết
- Ôn tập cả năm: 8 tiết
c) Nội dung và kiến thức
- Nhìn vào cấu trúc chương trình ta thấy rằng, nội dung văn miêu tả giữmột phần rất quan trọng trong phân môn Tập làm văn, nó chiếm tới 48% thờilượng của phân môn này Bước đầu giúp các em làm quen với khái niệm nhưthế nào là văn miêu tả, nội dung văn miêu tả ở lớp 4, chủ yếu quan sát miêu tảnhững đồ vật, con vật, cây cối xung quanh thân thuộc gần gũi với cuộc sốnghàng ngày của các em Bước đầu hướng dẫn các em quan sát, phát hiện nhữngđặc điểm chính Hướng dẫn các em làm một đoạn văn, một bài văn về tả đồvật, con vật, cây cối
- Nội dung văn kể chuyện: giúp các em nắm được nội dung cốt truyện,nhớ tên nhân vật, sự việc, tình tiết, cấu tạo của một đoạn văn, bài văn kể
Trang 16chuyện Từ đó, các em có thể tự kể lại câu chuyện đã nghe, đã học cho ngườixung quanh nghe
- Văn viết thư: giúp học sinh biết được mục đích của viết thư, nắm đượccấu tạo của một bức thư, có thể viết được một bức thư cho người thân thôngbáo về tình hình học tập của mình
- Trao đổi ý kiến: mục đích giúp các em làm quen với hoạt động trao đổi
ý kiến, hợp tác với những người xung quanh, thể hiện ý kiến của mình về mộtvấn đề nào đó Rèn luyện cho các em cởi mở, tự nhiên trong học tập, giao tiếphàng ngày
- Giới thiệu địa phương, hoạt động: giúp học sinh tự giới thiệu được danhlam thắng cảnh ở địa phương mình, đồng thời giới thiệu được các hoạt độngtruyền thống của địa phương cho mọi người và bạn bè cùng biết
- Tóm tắt tin tức: học sinh có thể tóm tắt được một nội dung thông báotin tức chính xác, ngắn gọn
Trang 17* Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu và nêu câu hỏi bài tập, gợi ý chohọc sinh phân tích nhằm rút ra kiến thức lý thuyết Theo quan điểm tích hợp,ngữ liệu thường được rút ra từ những bài tập mà học sinh đọc Các ngữ liệuđều mang tính điển hình cao và có số lượng chữ hạn chế để đảm bảo tính hiệuquả của việc phân tích và tránh làm mất thời gian học tập.
* Ghi nhớ: là phần chốt lại những điểm chính yếu về kiến thức được rút
ra từ việc phân tích ngữ liệu Học sinh cần nắm vững những kiến thức này
* Luyện tập: là phần bài tập nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức
đã học một cách hiệu quả
+ Hướng dẫn thực hành
Các bài hướng dẫn thực hành nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng Tậplàm văn, thường gồm 2,3 bài tập nhỏ hoặc một đề bài Tập làm văn kèm theogợi ý luyện tập theo hai hình thức nói và viết
1.3.2 Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5
a) Mục đích yêu cầu của phân môn Tập làm văn lớp 5
Trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng
- So với nội dung chương trình của phân môn Tập làm văn lớp 4 thì phânmôn Tập làm văn ở lớp 5 có tính chất cao hơn và phát triển hơn dựa trên nềntảng của nó Đó là sự vận dụng kết hợp các kiến thức đã học để phát triển ởhọc sinh năng lực tư duy và trí tưởng tượng, khả diễn đạt bằng ngôn ngữ nói
và viết tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi để các em chiếm lĩnh nội dung ở cácmôn học khác Nội dung kiến thức ở phân môn Tập làm văn lớp 5 như sau:
+ Miêu tả: Lên lớp 5 các em tiếp tục ôn tập về văn tả cây cối, đồ vật,con vật Bắt đầu học văn tả cảnh, tả người, ở hai nội dung này có yêu cầu caohơn so với những nội dung trước đó Nó đòi hỏi học sinh ở mức độ quan sátcao hơn, sâu sắc hơn
Trang 18+ Báo cáo thống kê: Học sinh bước đầu làm quen với hoạt động lập bảngbáo cáo thống kê, ví dụ các em có thể làm các bài tập đơn giản như lập bảnthống kê kết quả học tập trong tháng của từng thành viên trong tổ, trong lớp.+Làm đơn: Học sinh biết cách viết đơn, trình bày đơn đúng quy định, từ
đó các em có thể tự viết đơn cho mình như: đơn xin học tiếng Anh, đơn xinvào đội tình nguyện…
+ Thuyết trình tranh luận: Giúp học sinh biết nêu lên một vấn đề, giảithích vấn đề và biết bảo vệ chính kiến của mình Học cách thuyết phục ngườikhác đảm bảo thái độ và cách lịch sự
+ Biên bản: Học sinh biết ghi lại nội dung cuộc họp hay một sự việc xảy
ra để làm bằng chứng
+ Chuyển đoạn văn thành kịch: Học sinh biết chuyển thể những đoạn vănđối thoại thành dạng kịch Đây là hoạt động làm phong phú thêm nội dunghọc tập, phát triển sự linh hoạt, sáng tạo ở các em, luyện tập cho các em tínhhợp tác với người khác
- Trang bị các kỹ năng cho học sinh như sau:
+ Kỹ năng giao tiếp như:
* Kỹ năng phân tích đề bài
* Kỹ năng nhận diện kiểu bài
+ Kỹ năng lập hoạt động giao tiếp:
* Xác định dàn ý của bài văn đã cho
* Tìm và sắp xếp các dàn ý trong bài văn kể chuyện
* Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài vănmiêu tả
+ Kỹ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp
* Kỹ năng xác định đoạn văn
* Kỹ năng liên kết các đoạn văn thành bài văn
Trang 19+ Kỹ năng kiểm tra các hoạt động giao tiếp
* Đối chiếu với văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giaotiếp và yêu cầu diễn đạt
* Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
- Về các loại bài học thì cũng có hai dạng như Tập làm văn lớp 4 đó làdạy lý thuyết và dạy thực hành
b) Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, năng lực
cảm thụ văn học, cảm xúc thẩm mỹ và hình thành nhân cách cho học sinh.Cũng tương tự như chương trình nội dung ở Tập làm văn lớp 4, các bàilàm văn ở lớp 5 cũng gắn với chủ điểm của đơn vị học Việc rèn luyện các kỹnăng Tập làm văn ở học sinh chính là cơ hội giúp các em làm quen và mởrộng hiểu biết về cuộc sống xung quanh theo chủ điểm đã học Việc phân tíchdàn bài, lập dàn ý, miêu tả, biên bản, chuyển đoạn văn thành kịch… góp phầnphát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại học sinh còn là sự thể hiệnđược năng khiếu nghệ thuật ở các em từ đó giúp phát triển tư duy hình tượng
và óc sáng tạo, khả năng làm việc độc lập đồng thời biết chia sẻ, hợp tác vớinhững người xung quanh Phát triển trí tưởng tượng qua các biện pháp sosánh, ẩn dụ, nhân hoá… khi tả cảnh tả người
Học các tiết Tập làm văn, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp củacon người, của thiên nhiên, vẻ đẹp của ngôn từ qua các hình ảnh trong các bàivăn điển hình Khi phân tích đề Tập làm văn, các em có dịp hướng tới cái đẹp
và cao cả, lòng nhân ái Các bài luyện tập làm báo cáo thống kê, làm đơn, làmbiên bản, lập chương trình hoạt động… cũng là tạo điều kiện cơ hội cho họcsinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng Những điều đó làm cho tình yêumến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và sự vật xung quanh của trẻ đượcnảy nở, tâm hồn tình cảm của học sinh thêm phong phú Đó là những nhân tốhết sức quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ
Trang 20c) Cấu trúc chương trình
Bảng 1 Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 5
Số tiếtLoại văn bản
Học kì I Học kỳ II Cả năm
Miêu tả:
- Miêu tả đồ vật (ôn tập)
- Miêu tả cây cối (ôn tập)
- Miêu tả con vật (ôn tập)
- Miêu tả cảnh
- Miêu tả người
1408
0403030407
0403031815Các loại văn bản khác:
- Báo cáo thống kê
-03
020302030303
d) Các biện pháp dạy học
Để hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu và làm bài tập thực hành, giáoviên áp dụng những biện pháp sau:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
+ Cho học sinh đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của bài tập
+ Giáo viên giải thích rõ yêu cầu của bài tập
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của bài tập để cả
Trang 21- Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập
+ Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm đểthực hiện bài tập
+ Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức khác nhau.+ Trao đổi với học sinh, sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ chức để học sinhgóp ý cho nhau, đánh giá nhau trong quá trình làm bài
+ Sơ kết, tổng kết ý kiến học sinh
1.4 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học
1.4.1 Đặc điểm nhận thức
a) Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chung chung, đại thể, ít đi sâuvào chi tiết và mang tính không chủ động Nó còn mang tính tổng thể và chưađạt trình độ của tri giác phân biệt Ở lứa tuổi này, nét đặc trưng nhất của trigiác là tính chất ít phân hoá của nó Các em khó phân biệt những đối tượng cónét và đặc điểm gần giống nhau Khi tri giác, sự phân tích có tính chất địnhhướng, có tổ chức và sâu sắc của trẻ em còn yếu Vì vậy mà khi tri giác một
sự vật thì các em phải làm cái gì đó cụ thể với sự vật như: cầm, nắm, sờ,mó… Các em tri giác những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các
em thường gặp trong cuộc sống và gắn với các hoạt động của chúng, những gì
mà giáo viên trực tiếp chỉ dẫn thì các em mới tri giác tốt Chúng ta thấy rằng,các em tri giác những sự vật, những dấu hiệu , những đặc diểm nào trực tiếpgây cho các em xúc cảm Vì vậy khi các em tri giác tính xúc cảm thể hiện rất
rõ và theo chủ quan của các em
Chúng ta cũng thấy rằng tri giác không tự bản thân nó phát triển được,trong quá trình học tập tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trởnên phức tạp và sâu sắc Vì vâỵ để có sự phát triển tri giác của học sinh cầnphải có vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên Chính giáo viên là người tổ
Trang 22chức quá trình hoạt động cho học sinh để tri giác những đối tượng nào đĩ, dạycho trẻ vạch ra những đối tượng, những thuộc tính, bản chất của sự vật hiệntượng, chỉ dẫn cho học sinh tri giác một cách cĩ hệ thống và kế hoạch.
b) Chú ý
Sự chú ý khơng cĩ chủ định là đặc điểm cơ bản ở học sinh tiểu học Khảnăng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí, khả năng chú ý cịn bị hạn chế ởhọc sinh Tuy nhiên sự chú ý cĩ chủ định của trẻ đã được tăng lên, mặt khác
sự chú ý của trẻ cĩ khả năng phát triển ở một số phẩm chất khác về mặt sốlượng cũng như về sự phân hố chú ý Sự chú ý thiếu bền vững của học sinhtiểu học là do quá trình ức chế cịn yếu Học sinh lớp 1- 2 khơng thể tập trunglâu dài vào cơng việc, chú ý của trẻ cịn dễ bị phân tán Học sinh lớp 4-5 cĩthể duy trì sự chú ý liên tục trong suốt giờ học Do vậy giáo viên cần luânphiên thay đổi các hoạt động cho học sinh tránh sự ức chế, nhàm chán Giáoviên cần đưa những tri thức, những hoạt động mới mẻ nhằm gây sự kích thíchchú ý và hứng thú học tập của học sinh
Khả năng phát triển chú ý cĩ chủ định, bền vững, tập trung đối với họcsinh tiểu học trong quá trình học tập là rất cao Bản thân quá trình học tập địihỏi phải rèn luyện thường xuyên chú ý cĩ chủ định, nỗ lực chú ý để tậptrung Sự chú ý cĩ chủ định sẽ được phát triển cùng với sự phát triển của động
cơ học tập mang tính xã hội Đồng thời cĩ sự trưởng thành về ý thức tráchnhiệm đối với kêt quả hoạt động học tập của mình Vì vậy giáo viên cần phải
cĩ những kĩ năng tổ chức và điều chỉnh chú ý của học sinh một cách thuần
thục và phù hợp K.Ousinxki viết: “Hãy rèn luyện cho trẻ khơng chỉ vì cái gì
mà trẻ thích thú mà cịn những cái khơng lý thú nữa, tức là hành động vì khối cảm khi hồn thành trách nhiệm của mình.”
c) Trí nhớ
Trang 23So với lúc tuổi mẫu giáo thì ở học sinh tiểu học ghi nhớ có chủ định vàkhông chủ định đều đang phát triển Sự phát triển trí nhớ của học sinh tiểuhọc có sự biến đổi về chất Đó là sự hình thành và phát triển của “ghi nhớ cóchủ định” phát triển ở mức cao hơn Tuy vậy, với học sinh tiểu học cả ghi nhớkhông chủ định và có chủ định vẫn tồn tại song song chuyển hoá và bổ sungcho nhau trong quá trình học tập Vì vậy giáo viên cần nắm chắc và rèn luyệncho học sinh cách sử dụng hai loại trí nhớ này một cách hợp lý , hiệu quả.Ngoài ra chúng ta thấy rằng ngôn ngữ của học sinh tiểu học ở cuối cấpcàng phát triển mạnh hơn Vì vậy mà ngôn ngữ đóng vai trò hết sức quantrọng trong việc thúc đẩy trí nhớ có chủ định phát triển Nhờ có ngôn ngữ các
em diễn đạt những tri thức đã biết bằng lời, bằng chữ viết của mình, điều nàyrất quan trọng cho sự phát triên trí nhớ mà còn cho cả sự phát triển của trítưởng tượng, tư duy của các em sau này
d) Tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình tâm lý rất quan trọng tronghoạt động nhận thức Sự nắm vững kiến thức bất kì một lĩnh vực nào khôngthể thiếu hoạt động tích cực của tưởng tượng Để lĩnh hội được tri thức, họcsinh phải tái tạo cho mình những hình ảnh của hiện thực như: những sự kiện
đã xảy ra trong qúa khứ, những quang cảnh chưa từng thấy, những đường nét,hình vẽ trong hình học… tất cả những điều đó tạo điều kiện cho tưởng tượngphát triển Ơ đầu cấp tiểu học, tưởng tưởng của các em còn mang tính trựcquan, cụ thể Còn học sinh ở cuối bậc tiểu học thì sự hình dung được đốitượng một cách tương đối đầy đủ trọn vẹn hơn, tưởng tưởng càng gần hiệnthực hơn Có được như vậy là do các em được lĩnh hội những tri thức khoahọc do nhà trường cung cấp Mặt khác, đó cũng là nhờ các em biết dựa vàongôn ngữ để xây dưng hình tượng ngôn ngữ mang tính khái quát cao và trừutượng hơn Trong quá trình phát triển của các em, thì tưởng tượng cũng đã
Trang 24dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của những ấn tượng trực tiếp, hơn nữa tính hiệnthực trong tửơng tượng của học sinh gắn liền với sự phát triển của tư duyngôn ngữ.
Từ những đặc điểm trên, trong quá trình dạy học, giáo viên cần tổ chứcdạy học theo hướng cho học sinh quan sát các sự vật, hiện tượng, mô hình cụthể cũng như cho học sinh làm các dạng bài tập mở giúp học sinh phát triểntốt hơn trí tưởng tượng của mình
e) Tư duy
Tư duy cũng là một qúa trình tâm lý Nhưng khác với qúa trình nhậnthức cảm tính, quá trình tư duy phản ánh dấu hiệu, mối liên hệ bản chất củacác sự vật hiện tượng khách quan
Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý học thì sự phát triển tư duy của học sinhtiểu học diễn ra theo hai giai đoạn cơ bản Đó là giai đoạn tư duy trực quan cụthể và giai đoạn tư duy trừu tượng khái quát Tư duy của trẻ em ở tiểu học sẽchuyển dần từ tính trực quan cụ thể sang tính trừu tượng khái quát Học sinhtiểu học khi tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát… thường căn cứ vào đặcđiểm bề ngoài, cụ thể, trực quan Nhất là đối với học sinh đầu bậc tiểu học lớp1-3, tới lớp 4-5 các em đã có thể thoát khỏi ảnh hưởng chủ quan của dấu hiệutrực tiếp, hoàn toàn dựa vào những tri thức và những khái niệm đã được hìnhthành trong quá trình học tập Ở giai đoạn đầu tư duy của trẻ vẫn bị cái tổngthể chi phối, tư duy phân tích đã hình thành nhưng còn non và yếu nên cácbiểu tượng ở trẻ chưa thật chính xác và vững chắc Sang giai đoạn hai của tưduy trừu tượng, khái quát thì thao tác của tư duy như phân loại hay tính toán,thoa tác về không gian và thời gian đã hình thành và phát triển Sự kết hợpcác thao tác tư duy là cơ sở của việc hình thành khái niệm Trẻ đã có thể thoátkhỏi ảnh hưởng chủ quan của những dấu hiệu trực tiếp và hoàn toàn dựa vànhững tri thức, khái niệm đã được hình thành trong quá trình học tập
Trang 25Như vậy, trong quá trình học tập tư duy của học sinh tiểu học thay đổi vàdiễn ra thường xuyên ở giai đoạn này Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ đangdiễn ra Ở đây, vai trò thúc đẩy của nội dung và phương pháp dạy học, vai tròcủa giáo viên với tư cách là người tổ chức quá trình học tập, giáo dục có ảnh
hưởng đặc biệt.V.A.Krutesxki khẳng định: “khi tổ chức một quá trình học tập khác đi, khi thay đổi nội dung học tập phù hợp với những phương pháp khác của nó thì trẻ có thể có được những đặc điểm tư duy hoàn toàn khác.”
Từ những sự phân tích trên ta thấy rằng, trong quá trình dạy học, giáo viêncần phải sử dụng phù hợp các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lựctrí tuệ cũng như nhằm bồi dưỡng những phẩm chất của hoạt động trí tuệ chohọc sinh Có như vậy, mới nâng cao chất lượng và hiệu qủa trong dạy học
1.4.2 Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung vànhân cách nói riêng Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệtquan trọng vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của họcsinh Tình cảm tích cực không chỉ kích thích trẻ em nhận thức mà còn thúcđẩy trẻ em hoạt động Trong giáo dục tiểu học, nếu quá quan tâm đến sự pháttriển của trí tuệ mà xem nhẹ giáo dục tình cảm thì sẽ làm cho nhân cách các
em phát triển phiến diện Trí tuệ phát triển cao là cơ sở tốt để tình cảm, ý chíphát triển, song không phải bao giờ vốn tri thức sâu rộng, trình độ phát triểntrí tuệ cao cũng tự nó chuyển hoá thành thế giới quan và niềm tin, tình cảm và
ý chí Các mặt đó của nhân cách tư duy có liên quan mật thiết với nhau songlại có tính độc lập tương đối, đòi hỏi phải có nội dung, phương pháp giáo dụcrèn luyện riêng, thích hợp và phải được song song hình thành và phát triển.Xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan hình ảnh
cụ thể, sinh động Ví dụ: khi giảng bài cô giáo dùng đồ dùng dạy học đẹp,màu sắc rực rỡ, các em reo lên “đẹp quá”, “thích quá”…Do đó, những bài
Trang 26giảng khô khan, khó hiểu, nặng nề về lý luận chẳng những không tạo dựngcho học sinh những cảm xúc tích cực mà càng làm cho các em mệt mỏi, căngthẳng…
Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm củamình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết ở các quá trình nhận thức, trigiác tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm.Học sinh dễ xúc cảm, đồng thời hay xúc động, vì thế các em yêu mến một cáchchân thực cây cối, chim muông, cảnh vật…và trong các bài văn của mình các
em thường xuyên nhân cách hoá chúng Khi các em nhận ra một điều tốt, nhậnđược lời khen của thầy cô giáo thì niềm sung sướng thể hiện trên nét mặt, nụcười và hành vi cử chỉ Khi bị điểm kém hơn các bạn, bị một lời chê trách củagiáo viên các em buồn ra mặt và có khi bật khóc trước bạn bè
Học sinh tiểu học còn chưa biết kiềm chế những tình cảm của mình, chưabiết kiểm tra sự thể hiện tình cảm ra bên ngoài Các em bộc lộ tình cảm củamình một cách hồn nhiên, chân thực Nhưng cũng vì đặc điểm này đôi khi các
em cười vui, đùa nghịch làm mất trật tự trong giờ học Nguyên nhân của hiệntượng này là do ở học sinh quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế, vở nãothường chưa đủ sức điều chỉnh hoạt động của bộ phận dưới vỏ não Mặt khác,
về mặt tâm lý thì ý thức, các phẩm chất của ý chí còn chưa có khả năng điềuchỉnh và điều khiển được những xúc cảm của các em
Từ đặc điểm này trong dạy học và giáo dục, chúng ta cần khơi dậy nhữngcảm xúc tự nhiên của học sinh tiểu học, đồng thời khéo léo, tế nhị rèn luyệncho các em khả năng tự mình làm chủ tình cảm của mình, không được đè nénhoặc có những lời nói, việc làm gây xúc động mạnh hoặc hưng phấn
Trong bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh, giáo viên phải bồi dưỡngtình cảm, cảm xúc cho các em khi tiếp xúc với thơ văn, tình yêu cuộc sốngxung quanh có như vậy mới nâng cao được khả năng CTVH
Trang 271.4.3 Cơ chế tâm lý của việc hình thành năng lực cảm thụ văn học
Việc dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường nói chung và việc dạy họcphân môn Tập làm văn nói riêng phải đạt mục đích hình thành ở học sinh mộtnăng lực CTVH Hiểu theo nghĩa rộng, năng lực này chính là khả năng rungđộng, cảm thụ với cái đẹp, là năng lực tạo ra cái đẹp trong cuộc sống (tronghọc tập, lao động, giao tiếp,…) là thể hiện được cá tính và bản lĩnh cá nhân,
có ý thức về bản thân… Năng lực này được hình thành trong quá trình lâu dài,kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội Đó là quá trình chuyểnnhững giá trị văn hóa của dân tộc, của nhân loại vào trong nhận thức, suy nghĩcủa các em Cách truyền thụ những giá trị văn hoá, năng lực văn học theo tinhthần phát triển bản sắc cá nhân Đó là giáo viên đưa ra kiến thức cho học sinh
mà học sinh không thụ động tiếp nhận Giáo viên chỉ là người cố vấn, tổ chứchướng dẫn, điều khiển các em tự lao động, tự nhập thân vào tác phẩm, tựquan sát để giàu mình nhờ lấy được năng lực của những thế hệ đi trước.Rubinstêin viết: “Con người chỉ nắm vững những cái chính mình đạt đượcbằng lao động” Chỉ bằng cách tự lao động, những gì các em tự chiếm lĩnhđược mới thực sự vững chắc và đó mới là của các em Trong quá trình họctập, chiếm lĩnh kiến thức và năng lực văn học của loài người qua các tácphẩm văn học, giáo viên không buộc các em chỉ có một sở thích, một nhậnxét Các em không bị gò bó, không buộc phải suy nghĩ theo cách nghĩ củagiáo viên, các em được tự do trong cách nghĩ, cách viết, tự do bộc lộ suy nghĩ
của mình L.X.Vưgotxki đã nói: “Trong công tác giáo dục, hiểu một cách đúng đắn và khoa học hoàn toàn không có nghĩa là áp đặt một cách giả tạo
từ ngoài vào cho các em những lý tưởng, cảm xúc hoặc tinh thần hoàn toàn
xa lạ với các em Công tác giáo dục đúng đắn chính là ở chỗ thức tỉnh trong trẻ em những gì vốn có trong nó, giúp cho cái đó phát triển và hướng dẫn sự phát triển đó theo một hướng nhất định.” Còn theo quan điểm các nhà tâm lý
Trang 28học thì trẻ em không phải là một tờ giấy trắng mà người lớn muốn vẽ gì lên
đó cũng được Chính giáo dục là môi trường, là điều kiện để các em bộc lộnhững gì còn tiềm ẩn trong đó và đó mới là một nền giáo dục nhân văn Vìvậy, mà cơ chế để hình thành được năng lực CTVH ở học sinh tiểu học nócũng bắt nguồn từ việc tiếp thu, nhận thức có mục đích của nền văn học nhânloại Nó không thể nằm ngoài quy luật nhận thức của loài người
Ta biết rằng tác phẩm văn học là kết quả của sự bộc lộ đầy tài năng, tâm tư,tình cảm của nhà văn Nhà văn phải quan sát cuộc sống, cảm nhận, tích luỹ vàngày càng làm giàu mình bằng những biểu tượng, những hiểu biết phong phú,sâu sắc về hiện thực muôn màu của cuộc sống Sự tích luỹ đến một lúc nào đó sẽnảy sinh nhu cầu mãnh liệt được nói ra, viết ra những cảm xúc đang dồn nén củanhà văn Tác phẩm đi vào lòng người bao giờ cũng tràn đầy những điều bí ẩn, kỳdiệu, bao giờ cũng thấm đượm một tinh thần nhân văn, một lý tưởng thẩm mĩcao cả, khả năng lôi cuốn và lay động lòng người sâu sắc Chính đặc điểm nàycủa tác phẩm, khi hướng dẫn các em CTVH cần cho các em nhập thân vào tácphẩm, sống và cảm xúc cùng với cuộc sống của nhân vật trong tác phẩm Không
có sự nhập thân thì không thể có một hoạt động cảm thụ nào
Phải tổ chức các việc làm, hành động, thao tác cụ thể cho chính các em
tự chiếm lĩnh tác phẩm dưới sự chỉ đạo của giáo viên Chúng ta thấy rằng cho
dù lời giảng giải của giáo viên có rất hay, rất hấp dẫn cũng không tạo ra được
sự nhập thân thực sự Hoc sinh tiểu học rất hồn nhiên, hiếu động, chỉ thực sự
bị cuốn hút khi tham gia những hoạt động hấp dẫn Các em có thể nghe kểchuyện cổ tích, nghe đọc chuyện hàng giờ nhưng lại khó có thể chăm chúnghe trọn một đoạn diễn giảng “cao siêu” không gợi được trí tò mò của các
em tuy độ dài chỉ ít phút Vì vậy sẽ có những phản ứng ngược trong quá trìnhhọc tập của các em
Trang 29Ta biết rằng tác phẩm văn học là sản phẩm của tưởng tượng, là sản phẩm
hư cấu từ những cứ liệu hiện thực của nhà văn Hư cấu và tưởng tượng đã tạo
ra hình tượng văn học và mang lại sức sống cho nó Vì vậy khi hướng dẫn các
em CTVH cũng cần phải dạy các em biết tưởng tượng, biết tái tạo hình tượngmột cách cụ thể, để các em trải nghiệm tâm trạng và nhập thân với tác phẩmmới có được những cảm xúc riêng của mình Mặt khác tác phẩm văn học tồntại được là nhờ liên tưởng, mọi nhân vật, yếu tố trong tác phẩm đều được tácgiả sử dụng phép liên tưởng để làm cho người đọc liên hệ bản thân với cáchình tượng đó Có như vậy tác phẩm mới tồn tại được với thời gian
Như vậy, từ tìm hiểu cơ chế tâm lý của việc hình thành năng lực CTVHcho học sinh tiểu học ta thấy rằng, trong quá trình dạy học Tiếng Việt nói chung
và nội dung cảm thụ văn học nói riêng phải tổ chức được quá trình chuyển nănglực, giá trị văn học của dân tộc, của loài người vào trí tuệ, tâm hồn của các emmột cách tự nhiên theo hai thao tác cơ bản đó là tưởng tượng và liên tưởng
1.5 Mối quan hệ giữa Tập làm văn miêu tả và cảm thụ văn học
Miêu tả là căn cứ vào những điều quan sát, ghi chép và cảm nhận về đốitượng (đồ vật, cây cối, loài vật, con người…) Dùng ngôn ngữ để vẽ ra hìnhảnh chân thực của đối tượng đó, trình bày theo một bố cục hợp lý và diễn đạtbằng lời văn sinh động, khiến cho người đọc, người nghe cùng thấy, cùngcảm nhận như mình
Như vậy, thao tác quan sát là quan trọng nhất trong quá trình làm bài vănmiêu tả, biết cách quan sát hợp lý ở các góc độ khác nhau sẽ giúp ta nhìnnhận, đánh giá sự vật, hiện tượng một cách chính xác hơn
Cảm thụ văn học không chỉ là cảm nhận được những giá trị sâu sắc trước
vẻ đẹp của ngôn từ, mà CTVH còn là biết rung động, ấn tượng trước đốitượng được miêu tả Tức là thể hiện tình cảm của mình đối với sự vật hiệntượng thông qua các giác quan, từ đó có nhu cầu ghi lại suy nghĩ, cảm xúc của
Trang 30mình bằng ngôn ngữ nói hoặc viết CTVH có được cũng là nhờ tích luỹ vốnhiểu biết về thực tế cuộc sống, nó là qúa trình nhận thức có ảnh hưởng bởivốn sống của mỗi người Những điều ấy trước hết được tích luỹ bằng nhữnghiểu biết và cảm xúc của chủ thể qua các hoạt động và quan sát hàng ngày.Như vậy, trong quá trình miêu tả, hoạt động quan sát là cách thức chúng tanắm bắt quy luật của đối tượng, nhìn thấy những điều khác biệt giữa các sựvật hiện tượng với nhau Đối với học sinh tiểu học, việc quan sát các sự vậthiện tượng gần gũi và thân thuộc vơí các em là rất cần thiết, nó giúp các emyêu thích, gắn bó với thế giới xung quanh mình Vì vậy, để bồi dưỡng nănglực CTVH cho học sinh, chúng ta cần phải hướng dẫn các em biết cách quansát Bởi vì những con người, cảnh vật, sự việc vẫn diễn ra quanh ta tưởngchừng như rất quen thuộc, nhưng nếu ta không chú ý quan sát, nhận xét để cócảm xúc và ghi nhớ (hoặc chép lại) thì chúng ta sẽ không thể làm giàu thêmvốn hiểu biết về cuộc sống xung quanh mình Chính vì vậy, tập quan sátthường xuyên bằng nhiều giác quan như tai nghe, tay sờ, mắt nhìn, mũingửi… là một thói quen rất cần thiết của một học sinh giỏi Nhưng cách quansát như thế nào mới có kết quả tốt vào phục vụ cho việc tích luỹ “vốn sống”?Nhà văn Tô Hoài, người nổi tiếng về tài quan sát và miêu tả đã nêu lên kinh
nghiệm quan sát cho chúng ta như sau: “Quan sát phải tìm ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề Nhiều khi chẳng cần giàn đủ sự việc, chỉ cần chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhất như: một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công nắn, nghe, nghĩ mới bật lên và khi thấy bật lên được thì thích thú, hào hứng, không ghi là không chịu được”.
Quan sát nhiều, quan sát kỹ chẳng những giúp cho các em viết được bài vănhay mà còn tạo điều kiện cho các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một
Trang 31cách tinh tế sâu sắc Nhờ có tình yêu quê hương, yêu những người nông dânchân lấm tay bùn, thương mẹ vất vả một nắng hai sương thì Trần Đăng Khoamới cho ra đời tác phẩm “Hạt gạo làng ta” Nhưng nhờ có vốn hiểu biết về cuộcsống nông thơn ở làng quê Việt Nam, một bạn học sinh tiểu học đã viết được
đoạn văn cảm thụ văn học khá xúc động như sau: “…Vị phù sa như người mẹ hiền nuôi nấng, chăm sóc từng hạt gạo nhỏ bé Lẫn trong phù sa là cả hương vị đài sen thơm bát ngát Hạt gạo không những chứa đựng sức sống dẻo giai của dòng phù sa màu mỡ mà còn nhuốm cả hương thơm ngọt ngào, cả sự trong trắng tinh khiết của đoá hoa sen nữa Hạt gạo quyện lẫn tiếng hát ngọt bùi êm
ấm của người mẹ hiền, của tiếng sáo vi vu, vi vu trên cánh đồng bát ngát trong những buổi chiều lộng gió Hạt gạo thật đáng quý biết bao.”
Như vậy, có thể nói rằng cảm thụ là phương tiện miêu tả Đó chính là thểhiện của sự quan sát tinh tế, nhạy cảm Mọi sự vật được qua“ lăng kính” cảmthụ, nó sẽ trở nên lung linh hấp dẫn hơn Miêu tả không thể thiếu được yếu tốcảm thụ, bởi vì miêu tả là nghệ thuật sáng tạo, còn cảm thụ sẽ phát triển khảnăng sáng tạo đó lên một tầm cao mới làm cho chủ thể thẩm thấu được hếtnhững gì đã quan sát
Miêu tả còn là thể hiện được tâm tư tình cảm của mình đối với đốitượng được quan sát, thể hiện được quan điểm thẩm mỹ của cá nhân, là rungđộng trước vẻ đẹp của thiên nhiên Người có khả năng cảm thụ văn học tốtchắc chắn không thể làm ngơ trước một buổi chiều quê lộng gió với nhữngcánh diều tuổi thơ, không thể thản nhiên trước một cành hoa đẹp vừa chớm
nở, trước sức sống mãnh liệt của những chồi non… Những hình ảnh đó đãlàm cho họ xao xuyến, muốn ghi lại tất cả những cảm xúc của mình và đó như
là một nhu cầu tất yếu Đối với học sinh tiểu học, chúng ta cần phải cho các
em quan sát những điều gần gũi, những điều mới mẻ, tạo giai điệu tâm hồncho trẻ bằng những ngôn từ súc tích, bồi dưỡng tâm hồn cho các em với sựtrong trắng thật thà Hướng dẫn cho các em viết lên, nói lên cảm xúc của
Trang 32mình Chúng ta dễ dng nhận thấy rằng, với những học sinh biết quan sát tốt,
có trí tưởng tượng phong phú và óc liên tưởng cao, tâm hồn nhạy cảm thì các
em bao giờ cũng có thể viết được những bài văn miêu tả hay Các em chỉđược quan sát cảnh vật, sự vật đó dù chỉ một lần nhưng các em có khả năngtái tạo lại một cách sinh động Bằng những lời nói, câu chữ của mình, các emthể hiện cho người đọc người nghe có thể thấy được cả mùi vị, màu sắc, âmhưởng của những điều đã quan sát được
Như vậy, bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh thông qua giờ dạy Tậpđọc là hướng dẫn các em tìm thấy vẻ đẹp của ngôn từ, cũng như ý nghĩa, tưtưởng của tác phẩm Bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh thông qua dạy họcTập làm văn miêu tả là hướng dẫn học sinh cch sử dụng từ ngữ sc tích giu hìnhảnh, gợi tả, gợi cảm để nói lên những suy nghĩ, cảm xúc, rung động của mìnhtrước đối tượng miêu tả Là bồi dưỡng thêm tình yu qu hương, đất nước, yêu conngười và mọi sự vật xung quanh, góp phần bồi dưỡng tâm hồn trong sng cho trẻ
Có thể nói rằng mối quan hệ giữa miêu tả và CTVH là mối quan hệ hữu
cơ, tương hỗ cho nhau Nếu không có rung động và xúc cảm thì miêu tả sẽ trởnên khô cứng, bài viết sẽ thiếu hồn và nhạt nhẽo Ngược lại, chỉ có cảm xúc
mà không được quan sát một cách sắc sảo, thấu đáo sẽ làm cho lời văn sáorỗng, không gây được hứng thú cho người đọc Vì vậy khi dạy Tập làm vănvới nội dung miêu tả, giáo viên phải khai thác tối đa mối quan hệ giữa hai yếu
tố này, tạo được sự kích thích cho học sinh khi học
1.6 Tiểu kết chương 1
Từ việc phân tích cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã rút
ra một số kết luận cơ bản như sau:
1.6.1 Việc bồi dưỡng năng lực CTVH là nhiệm vụ hết sức quan trọng
của môn Tiếng Việt nói chung và của phân môn Tập làm văn nói riêng Giáoviên thiết kế, tổ chức các hoạt động cho học sinh phát huy được khả năng,năng lực sở trường của mình và đó cũng là một trong những nhiệm vụ trọng
Trang 33tâm hàng đầu của nhà trường trong giai đoạn đổi mới dạy học như hiện nay.Tăng cường các hoạt động học tập nhằm nâng cao kiến thức, giúp học sinhphát triển nhân cách, phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội trong giai đoạnhiện nay Bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh là cần thiết, bởi vì đó chính
là thước đo để đánh giá năng lực kết quả học tập môn Tiếng Việt, hiệu quảphương pháp tổ chức dạy và học của giáo viên và học sinh Từ đó có nhữngđiều chỉnh phù hợp với thực tiễn công tác giảng dạy ở nhà trường, góp phầnhoàn thành mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh
1.6.2 Bồi dưỡng năng lực CTVH còn là mục đích để phát hiện những học
sinh có năng khiếu sở trường của mình về môn Tiếng Việt và có kế hoạch bồidưỡng cho các em phát huy tốt khả năng của mình Giáo viên cần tạo ra động
cơ học tập tích cực cho các em trong nội dung CTVH, hướng dẫn tổ chức chocác em tìm thấy được vẻ đẹp lấp lánh của Tiếng Việt, biết sử dụng chúng đểmiêu tả cuộc sống một cách sinh động, hấp dẫn Biết phát hiện về vẻ đẹp củacác sự vật gần gũi thân thuộc xung quanh ta, diễn đạt chúng bằng ngôn ngữmạch lạc rõ ràng Bồi dưỡng năng lực CTVH là cách thức trau dồi và gìn giữ
sự trong sáng, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt cho các em
1.6.3 Việc dạy học văn miêu tả kết hợp bồi dưỡng năng lực CTVH cho
học sinh lớp 4 – 5 là hoạt động dạy học phù hợp với yêu cầu thực tiễn của hainội dung này Kết hợp hài hoà và sử dụng các biện pháp dạy học hiệu quả sẽkích thích sự hứng thú học tập ở học sinh Cần phải khai thác tối đa mối quan
hệ giữa hai yếu tố này Xem việc kết hợp hai nội dung dạy học này là mộtcách thức, là xu thế để bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh Đây cũngchính là yêu cầu cơ bản trong quá trình xây dựng các biện pháp nhằm bồidưỡng năng lực cảm thụ cho học sinh lớp 4 -5 thông qua dạy học văn miêu tả
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIẾN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 342.1 Thực trạng bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4-5
2.1.1 Khảo sát thực trạng
Để có cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp bồi dưỡng năng lực CTVHcho học sinh lớp 4-5 thông qua dạy học văn miêu tả, mặt khác nhằm đáp ứngnhu cầu của thực tiễn dạy học phân môn Tập làm văn và nội dung CTVH nóichung, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng bồi dưỡng năng lực CTVH chohọc sinh lớp 4-5 ở các trường tiểu học đóng trên địa bàn huyện HưngNguyên-Nghệ An Chúng tôi lựa chọn các trường tiểu học có điều kiện thuậnlợi cũng như các trường tiểu học còn có nhiều khó khăn trong điều kiện dạyhọc để nắm được thông tin chính xác và khách quan Từ đó rút ra được nhữngyêu cầu cơ bản để xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng năng lựcCTVH cho học sinh lớp 4-5 thông qua dạy học văn miêu tả
- Đối tượng điều tra: 200 giáo viên đang dạy học ở các trường tiểu họctrên địa bàn huyện Hưng Nguyên
- Nội dung điều tra:
a) Thái độ và nhận thức của giáo viên về việc bồi dưỡng năng lực CTVHcho học sinh lớp 4-5
b) Mức độ tổ chức rèn luyện, bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4-5
- Phương pháp điều tra:
Để có được kết quả sát với thực tế, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp điều tra như phỏng vấn, phát phiếu điều tra, Anket
2.1.2 Phân tích thực trạng
a) Thái độ nhận thức của giáo viên về bồi dưỡng năng lực CTVH
Để nắm được thực trạng bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh lớp 4-5,chúng tôi tiến hành khảo sát thái độ nhận thức của giáo viên về vấn đề nàydựa trên một số nội dung đánh giá như sau: Khái niệm CTVH, mục tiêu bồidưỡng năng lực CTVH, nội dung bồi dưỡng năng lực CTVH, đối tượng bồidưỡng năng lực CTVH Chúng tôi tổng hợp và thu được kết quả như sau Bảng 2: Mức độ nhận thức của giáo viên về bồi dưỡng năng lực CTVH
Mức độ nhận thức Đúng, đầy đủ Chưa đầy đủ Sai
Trang 35Nội dung đánh giá
Sốlượng Tỷ lệ
Sốlượng Tỷ lệ
Sốlượng Tỷ lệ
Qua khảo sát chúng tôi đã rút ra được một số nhận xét, đó là:
Về khái niệm CTVH đa số giáo viên đều nhận thức đầy đủ và đúng đắn(60%) Điều đó chứng tỏ rằng việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinhlớp 4-5 được đông đảo giáo viên quan tâm Chính việc nắm chắc được kháiniệm này sẽ giúp giáo viên đưa ra được những nội dung và mục tiêu bồidưỡng năng lực CTVH hợp lý Có 35% trả lời đúng nhưng chưa đầy đủ,chúng tôi thấy nguyên nhân là do họ còn đồng nhất giữa “đọc hiểu” và “cảmthụ” Thực tế chúng ta biết rằng đọc hiểu và cảm thụ có sự tác động qua lạivới nhau, thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Có 5% trả lời sai vềkhái niệm CTVH, điều này xảy ra là do năng lực và trình độ sư phạm của một
bộ phận giáo viên còn hạn chế, họ chưa tìm tòi, chưa thực sự quan tâm đúngmức về mảng kiến thức này
Về mục tiêu bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh thì đa số giáo viênđều nhận thức đúng, đây chính là điều kiện thuận lợi, là dấu hiệu tích cực choviệc dạy nội dung CTVH ở nhà trường tiểu học nói chung Tuy nhiên, bêncạnh đó vẫn còn có một số giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu củanội dung này là bởi vì do nội dung CTVH thường chỉ được dạy lồng ghép vàomột số nội dung của các phân môn khác, nó không được tách ra độc lập, nó là
Trang 36kết quả tổng hợp kiến thức môn Tiếng Việt nói chung Những giáo viên ít tổchức rèn luyện năng lực CTVH cho học sinh sẽ không phát hiện ra điều này.
Về đối tượng bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh, qua khảo sát chochúng ta thấy giáo viên nhận thức đúng tương đối cao (55%) Theo họ mọiđối tượng học sinh đều phải được làm các bài tập về CTVH, nhưng mức độyêu cầu có thể khác nhau Một số giáo viên nhận thức chưa đầy đủ là bởi vì
họ cho rằng bồi dưỡng năng lực CTVH chỉ dành cho một số đối tượng họcsinh khá giỏi của lớp, đây là một cách nhìn phiến diện cho nên không phải tất
cả mọi học sinh đều được tiếp cận dạng bài tập này Điều đó sẽ không phùhợp và gây ra phản ứng ngược, đó là những học sinh không được làm bài tập
sẽ gây mất trật tự trong lớp, sẽ tạo nên sức ỳ cho một số em, các em có cảmgiác bị “phân biệt” cho nên dễ gây ra một số hành động tiêu cực
b Mức độ tổ chức bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh
Để xác định được hiệu quả của việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho họcsinh lớp 4-5, chúng tôi khảo sát mức độ tổ chức dạy học nội dung này củagiáo viên cho học sinh Bởi vì hiệu quả ở học sinh sẽ phản ánh được mức độrèn luyện của giáo viên như thế nào và điều đó được thể hiện ở bảng sau:Bảng 3: Mức độ tổ chức bồi dưỡng năng lực CTVH cho học sinh của giáo
Trang 37khiếu về môn Tiếng Việt Từ đó có kế hoạch bồi dưỡng để nâng cao chấtlượng mũi nhọn cho lớp và nhà trường.
Một số bộ phận giáo viên không thường xuyên tổ chức bồi dưỡng CTVHcho học sinh là bởi vì họ chưa thực sự nhiệt tình và tâm huyết với mảng nộidung này, chưa đầu tư thời gian đúng mức, thỉnh thoảng tổ chức bồi dưỡng chocác em để lấy phong trào, “chiếu lệ” Vì vậy mà hiệu quả dạy học ở nội dungnày nói chung chưa cao Có 3% giáo viên không tổ chức bồi dưỡng năng lựcCTVH cho học sinh, có điều này là bởi vì do trình độ năng lực sư phạm của một
số giáo viên hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học, mặt khác họ cho rằngCTVH đối với học sinh tiểu học là một điều “xa vời”, hoặc xem năng lực CTVH
là khả năng “bẩm sinh” của học sinh đó, không cần phải rèn luyện, bồi dưỡng
mà “tự nhiên có” Họ không muốn học hỏi thêm, tư duy vẫn đi theo lối mòn và
vì vậy đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy học nói chung
2.2 Thực trạng năng lực cảm thụ văn học của sinh học lớp 4-5
2.2.1 Khảo sát thực trạng
Để đánh giá thực trạng năng lực cảm thụ văn học của học sinh lớp 4-5,chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ hứng thú và kiểm tra kết quả bài làm củacác em khi học nội dung CTVH
2.2.2 Phân tích thực trạng
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 8 lớp 4-5 (240 học sinh) ở hai trườngtiểu học đó là Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai và trường tiểu họcHưng Đạo có kết quả như sau:
Bảng 4: Mức độ hứng thú của học sinh khi học nội dung CTVH
Trang 38thoả mãn nhu cầu học tập của mình, hơn nữa đặc điểm tâm lý của học sinhtiểu học là rất thích được cô giáo khen và được điểm cao Vui vẻ và hứng thúhơn khi được cô giáo đọc bài của mình trước lớp và được xem như là “bài vănmẫu” Điều đó làm cho sự hứng thú học tập nội dung CTVH sẽ được lan toảsang các môn học khác Một số em trả lời không thích làm bài tập này là bởi
vì năng lực nhận thức của các em còn hạn chế, điều này thể hiện sự phân hoáđối tượng học sinh trong lớp Vì vậy giáo viên cần phải quan sát và nắm rõđược đặc điểm của từng đối tượng học sinh ở lớp mình, giúp cho việc ra bàitập phù hợp, tránh đưa nội dung quá sức cho một số học sinh yếu hơn, như thế
sẽ gây cho các em mệt mỏi, chán học…Tuy nhiên trong quá trình khảo sát,chúng tôi nhận thấy thực trạng cảm thụ văn học của học sinh lớp 4-5 có một
số đặc điểm như sau:
Sự cảm thụ văn học của học sinh lớp 4-5 còn chưa đầy đủ và hoàn thiện
so với sự cảm thụ văn học của người lớn Điều đó được thể hiện bởi nhữngđặc điểm cụ thể như sau:
- Sự chi phối mạnh mẽ của tình cảm, sự vượt trước của tình cảm so vớiquá trình phân tích – tổng hợp
Chúng ta thường thấy là học sinh lớp 4-5 thường thờ ơ và không thíchnhững nhân vật ít hành động, tức là những nhân vật giàu suy tư, nội tâm Vìvậy các em thường bỏ qua hay chỉ đọc lướt những đoạn văn bình luận, suynghĩ, triết lý của nhân vật hay tác giả vì các em cho là không thú vị Các emthường yêu thích các nhân vật dí dỏm giàu hành động cả trong trường hợp cácnhân vật ấy được miêu tả rất sơ lược, không tạo nên những biểu tượng về tínhcách
Vì tình cảm vượt trước quá trình phân tích tổng hợp, cho nên sự thích thútừng nhân vật của các em thường là cảm tính và chủ quan Các em sẵn sànggắn cho nhân vật của tác phẩm những nét tính cách thiếu căn cứ trong tác
Trang 39phẩm Thiện chí và sự thông cảm làm các em thấy nhân vật mình yêu thíchchỉ có những nét tính cách tốt và đánh giá cao nhân vật phân tích mà nhân vật
có Vì vậy trong quá trình quan sát và tìm hiểu học sinh cũng chỉ nhìn nhận sựvật hiện tượng bằng những nét nổi bật bên ngoài và nói lên suy ghĩ tình cảmcủa mình một cách ngây thơ hồn nhiên
- Sự phát triển chưa hoàn thiện của năng lực phân tích
Năng lực phân tích ở lứa tuổi học sinh tiểu học chưa phát triển, nếu cầnphân tích các nhân tố của tác phẩm các em dễ dàng phân tích được hành độngcủa nhân vật, tình huống nhân vật hành động, vẻ bên ngoài là những đặc điểmđược thể hiện một cách trực quan và dễ nhân biết Cũng như thế khi quan sátmột đối tượng được miêu tả, các em dễ dàng sa vào vẻ bên ngoài của đốitượng đó và phân tích các sự vật hiện tượng một cách thiếu bản chất, chỉ dựavào hiện tượng biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng đó
- Sự thiếu hoàn thiện của năng lực so sánh tổng hợp
Học sinh lớp 4-5 có thể so sánh hành động của nhân vật này với hànhđộng của nhân vật khác, động cơ hành động của nhân vật này với động cơhành động của nhân vật khác, nếu những hành động, động cơ này được thểhiện rõ ràng, trực quan Các em khó so sánh tổng hợp những hành động, động
cơ, ý nghĩa, cảm xúc của các nhân vật nếu không được bộc lộ một cách dễnhận thấy lại quá xa nhau về thời gian
- Năng lực khái quát chưa cao, thể hiện ở những đặc điểm sau
+ Khi tả các em thường sa vào các chi tiết cụ thể, thiếu khả năng kháiquát, tổng hợp vấn đề
+ Các em không biết lật đi lật lại vấn đề, sự khái quát thường vội vã,thiếu chiều sâu, dễ nhầm lẫn giữa bản chất và hiện tượng
- Các em chưa thấy hết mối liên hệ giữa các sự vật, sự việc
Trang 40Học sinh tuổi này chưa hình thành được những hiểu biết về cuộc sốngmột cách có hệ thống Vốn sống của các em còn nghèo, cho nên khi quan sáttìm hiểu một nhân vật các em thường rơi vào tình trạng cảm tính, chủ quan,thiếu căn cứ khi lý giải những cảm xúc cũng như hành động của đối tượngmình miêu tả Mặt khác, cũng do vốn sống còn nghèo nên các em khái quátvấn đề chưa cao, trình độ nhận thức và vốn từ còn hạn chế làm cho các emkhông đủ khả năng tìm được từ ngữ thể hiện đúng điều mà mình muốn nói Như vậy ta thấy rằng, những nguyên nhân của hạn chế trên xuất phát dođặc điểm về tâm lý cũng như mức độ nhận thức của học sinh, điều đó xẩy raphù hợp với quá trình của sự phát triển tâm lý Tuy nhiên thì sự cảm thụ trựctiếp và hồn nhiên đối với tác phẩm văn học của học sinh vẫn diễn ra là bởi vì:+ Khả năng đọc-hiểu, khả năng quan sát của các em đã tốt hơn trước, các
em có thể hiểu ngay một tác phẩm văn học mà khi đọc nó không có quá nhiều
từ khó và ẩn dụ
+ Óc tưởng tượng và liên tưởng của các em đã hình thành nên không cầntốn nhiều công sức nhận thức của các em có thể phản ánh ngay kết quả củaquá trình đọc, quan sát dưới hình thức biểu tượng
Từ những đặc điểm trên giáo viên cần giúp học sinh vượt qua giai đoạncảm thụ văn học còn cảm tính này, giúp các em phát triển tư duy hình tượng,đạt tới trình độ cảm thụ văn học, bắt đầu biết cảm thụ một cách sâu sắc Vìvậy, quá trình giảng dạy giáo viên cần phải mở rộng đề tài sao cho hấp dẫn,thân thiết, bổ ích với các em Một phương pháp dạy học đúng đắn luôn luônnhằm mục đích phát huy năng lực của người học và thể hiện được bản sắc cánhân
2.3 Thực trạng sử dụng các biện pháp bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4-5
2.3.1 Khảo sát thực trạng