Đối với công tác bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lý ở Sa Pa đã thực hiện một số hoạt động bảo vệ môi trường nhưng chưa đáp ứng và khắc phục được những tác động tiêu cực của du lịch đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Văn Hùng
Trang 3MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ 9
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Kết cấu của luận văn 13
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH MIỀN NÚI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 1.1 Phát triển du lịch tại miền núi 14
1.1.1 Điều kiện phát triển du lịch tại miền núi 14
1.1.2 Các loại hình du lịch tại miền núi 15
1.2 Bảo vệ môi trường tự nhiên 15
1.2.1 Một số khái niệm 15
1.2.2 Các thành phần của môi trường tự nhiên 17
1.2.3 Các quy định về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch vùng miền núi 19 1.3 Các nguồn tác động từ hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên 22
1.4 Một số bài học kinh nghiệm về bảo vệ môi trường tự nhiên tại điểm du lịch miền núi 25
1.4.1 Liên quan đến quản lý nhà nước 25
1.4.2 Liên quan đến việc quản lý khu, điểm du lịch 26
1.4.3 Liên quan đến cộng đồng địa phương 27
1.4.4 Liên quan đến đơn vị và cá nhân kinh doanh du lịch 27
Trang 4Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TẠI SA PA VÀ BẮC HÀ
2.1 Tiềm năng du lịch ở Sa Pa và Bắc Hà 29
2.1.1 Tiềm năng du lịch ở Sa Pa 29
2.1.2 Tiềm năng du lịch ở Bắc Hà 30
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch ở Sa Pa và Bắc Hà 30
2.2.1 Các loại hình du lịch chính tại hai điểm 30
2.2.2 Điểm, tuyến điểm chính của Sa Pa và Bắc Hà 33
2.2.3 Số liệu thống kê về hoạt động du lịch ở 2 điểm 34
2.3 Tác động của du lịch đến môi trường ở Sa Pa và Bắc Hà 40
2.3.1 Kiến trúc cảnh quan 41
2.3.2 Môi trường nước 43
2.3.3 Xử lý chất thải rắn 45
2.3.4 Rừng và đa dạng sinh học 47
2.3.5 Môi trường không khí 49
2.4 Hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên ở Sa Pa và Bắc Hà 51
2.4.1 Vấn đề triển khai, thể chế hóa các quy định của Nhà nước về BVMT tại Sa Pa và Bắc Hà 51
2.4.2 Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, người dân và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động du lịch về bảo vệ môi trường 55
2.4.3 Hoạt động BVMT của người dân ở các điểm du lịch Sa Pa và Bắc Hà 60
2.4.4 Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm BVMT tại hai điểm du lịch 62
2.4.5 Phòng ngừa hạn chế những sự cố môi trường và tác động gây ô nhiễm môi trường trong hoạt động du lịch 65
2.4.6 Hoạt động quan trắc, đánh giá hiện trạng môi trường tại các điểm du lịch ca địa phương 67
2.4.7 Hoạt động xử lý môi trường tại các điểm du lịch 67
Trang 52.5 Một số nhận xét về phát triển du lịch và vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên
tại Sa Pa và Bắc Hà 70
2.5.1 Những kết quả tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường tại hai điểm du lịch 70
2.5.2 Những hạn chế, yếu kém trong hoạt động bảo vệ môi trường tại điểm du lịch
71
2.5.3 Nguyên nhân những hạn chế, yếu kém trong hoạt động bảo vệ môi trường tại điểm du lịch 74
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH BẮC HÀ VÀ SA PA 3.1 Định hướng phát triển du lịch tại Bắc Hà và Sa Pa trong thời gian tới 76
3.2 Một số giải pháp tăng cường bảo vệ môi trường tại điểm du lịch Sapa và Bắc Hà 77
3.2.1 Tăng cường quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch tại địa phương 77
3.2.2 Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch tại điểm 80
3.2.3 Tăng cường đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực 85
3.2.4 Cải thiện hệ thống, quy trình xử lý chất thải 86
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, xử phạt các vi phạm về bảo vệ môi trường 87
3.2.6 Đẩy mạnh hoạt động quan trắc và đánh giá 89
3.2.7 Huy động sự tham gia của cư dân địa phương vào hoạt động bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch 89
3.2.8 Tăng cường hợp tác quốc tế trong du lịch và bảo vệ môi trường 89
3.3 Một số khuyến nghị 91
3.3.1 Khuyến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và môi trường
92
Trang 63.3.2 Khuyến nghị với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch 93 3.3.3 Khuyến nghị với cộng đồng địa phương, khách du lịch 93
KẾT LUẬN 94 Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
TN - MT Tài nguyên - Môi trường
VH - TT - DL Văn hóa - Thể Thao và Du lịch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 2.1 Biểu tổng hợp số ngày tour trên các tuyến du lịch làng bản trên địa bàn huyện Sa Pa năm 2006 – 2007 32 Bảng 2.2 Biểu tổng hợp kết quả hoạt động du lịch của Sa Pa năm 2006 – 2008 38 Bảng 2.3 Đánh giá của người dân địa phương và khách du lịch về môi trường nước tại điểm du lịch 44 Bảng 2.4 Đánh giá của người dân địa phương và khách du lịch về rác thải không đúng nơi quy định tại điểm du lịch 46 Bảng 2.5 Cách thức xử lý rác thải tại điểm du lịch 47 Bảng 2.6 Kết quả đo kiểm phân tích các khí độc trên địa bàn huyện Sa Pa và Bắc Hà 49 Bảng 2.7 Kết quả đo tiếng ồn trên địa bàn huyện Sa Pa và Bắc Hà 50 Bảng 2.8 Đánh giá của người dân địa phương và khách du lịch về hoạt động BVMT tại điểm du lịch 54 Bảng 2.9 Đánh giá của người dân địa phương về hoạt động tuyên truyền, giáo dục BVMT tại điểm du lịch 58 Bảng 2.10 Đánh giá về tham gia hoạt động BVMT của người dân địa phương 61 Bảng 2.11 Đánh giá của người dân địa phương tại Sa Pa và Bắc Hà về việc chính quyền địa phương khen thưởng, xử phạt những hành vi gây ô nhiễm môi trường 64 Bảng 2.12 Đánh giá của người dân địa phương tại Sa Pa và Bắc Hà về hoạtđộng xử lý môi trường tại điểm du lịch 69 Bảng 3.13 Kết hợp truyền thông đại chúng với truyền thông cộng đồng 82
Trang 9DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Trang Hình 1.1 Một số hoạt động du lịch cụ thể ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên ở
miền núi 23
Hình 1.2 Tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch tới các thành phần của môi trường tự nhiên 24
Hình 2.3 Cơ sở lưu trú tại Sa Pa năm 2008 36
Hình 2.4 Lượt khách tới Sa Pa giai đoạn 2001 – 2008 38
Hình 2.5 Sơ đồ lượt khách tới Bắc Hà giai đoạn 2006 – 2008 40
Hình 2.6 Khách sạn Linh Trang, công trình tiêu biểu cần được tháo dỡ một phần theo qui chế đô thị Sa Pa từ năm 2004 nhưng hiện nay chưa được thực hiện 42
Hình 2.7 Khách sạn Sao Mai – Bắc Hà 43
Hình 2.8 Nước thải trực tiếp từ nhà vệ sinh xuống sông (xã Bản Hồ - Sa Pa) 44 Hình 2.9 Nước thải từ cơ sở ăn uống trực tiếp ra đường 44
Hình 2.10 Thùng rác đặt cạnh nơi buôn bán đồ ăn 45
Hình 2.11 Thịt thú rừng trong thực đơn của nhà hàng 48
Hình 2.12 Biển nhắc nhở BVMT trên núi Hàm Rồng – Sa Pa 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môi trường tự nhiên là tài nguyên của hoạt động du lịch, có mối quan hệ qua lại với hoạt động du lịch Ở nhiều vùng miền núi, nơi môi trường tự nhiên còn nguyên sơ, trong lành đang là điểm thu hút du khách; phát triển du lịch được coi như một phương thức để góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trong mối quan hệ với du lịch, môi trường thường là yếu tố chịu nhiều tác động tiêu cực
mà du lịch mang lại Nhiều thành phần của môi trưòng tự nhiên có khả năng khôi phục nhưng đa số các yếu tố không thể tự phục hồi hoặc phục hồi chậm
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường ở các tỉnh miền núi chưa cao: điều kiện kinh tế thấp, nhận thức về bảo vệ môi trường chưa được quan tâm, chú trọng…Mặt khác, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế này là các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và môi trường chưa có nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường; các hoạt động nghiên cứu, đánh giá các thành phần môi trường còn rất hạn chế
Sa Pa và Bắc Hà là hai điểm du lịch có nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng, hấp dẫn và có nhiều điểm tương đồng về điều kiện phát triển du lịch của tỉnh Lào Cai Nếu Sa Pa đã trở thành điểm đến thu hút khách từ từ nhiều năm nay thì Bắc Hà hiện nay được coi như một điểm đến mới của tỉnh Lào Cai đang được tập trung khai thác, đầu tư phát triển du lịch
Đối với công tác bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lý ở Sa Pa đã thực hiện một số hoạt động bảo vệ môi trường nhưng chưa đáp ứng và khắc phục được những tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên ở
Sa Pa hiện nay đã có biểu hiện ô nhiễm cục bộ ở một số điểm mặc dù hoạt động du lịch thực sự phát triển chưa lâu Trong khi đó, là một điểm du lịch mới được chú trọng phát triển du lịch nên các hoạt động bảo vệ môi trường ở Bắc Hà hầu như chưa được quan tâm Theo quy hoạch phát triển du lịch Lào Cai đến năm 2020, Sa
Pa và Bắc Hà được xác định là hai điểm du lịch trọng tâm của tỉnh Điều này cũng
Trang 11trường không được quan tâm đúng mức và tổ chức thực hiện có hiệu quả
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch và vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên ở Sa Pa và Bắc Hà” Tại Việt Nam, đã có một số công trình
nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ở miền núi cũng như ở Sa Pa Trong luận văn này, ngoài các số liệu, kết quả từ báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch và môi trường ở địa phương, tác giả đã thực hiện phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân Trên cơ sở phân tích hiện trạng một số yếu tố môi trường có tác động chính tới hoạt động du lịch và các hoạt động bảo vệ môi trường của Sa Pa và Bắc Hà, luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị Từ đó, luận văn góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường tự nhiên trong quá trình phát triển du lịch ở Sa Pa và Bắc Hà
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được tiến hành nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên trong sự phát triển của hoạt động du lịch ở Sa Pa và Bắc
Hà, đảm bảo phát triển du lịch theo hướng bền vững của hai điểm du lịch này
Từ đó, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Nghiên cứu hiện trạng một số thành phần môi trường tự nhiên dưới tác động của hoạt động du lịch và một số hoạt động bảo vệ môi trường của các thành phần tham gia hoạt động du lịch tại Sa Pa và Bắc Hà
Chỉ ra các yếu kém và nguyên nhân của hoạt động bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Sa Pa và Bắc Hà
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường ở Sa Pa và Bắc Hà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động bảo vệ môi trường tại một số điểm du lịch của Sa Pa và Bắc Hà
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: do hạn chế về nguồn lực và thời gian, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu:
Trang 12o Phạm vi về vấn đề nghiên cứu: mô tả hiện trạng một số thành phần tự nhiên
có thể quan trắc được và có số liệu thống kê, nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn; tập trung vào các hoạt động bảo vệ môi trường chủ yếu ở các điểm du lịch Sa
Ở Bắc Hà: Trung tâm thị trấn Bắc Hà, Bản Phố, Bản Liền, Nậm Khánh
o Phạm vi về thời gian: nghiên cứu về tình hình hiện tại, các số liệu được sử dụng chủ yếu được thống kê vào thời điểm 31/12/2008 trở về trước
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, sơ cấp
Thu thập các số liệu, tài liệu của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương
về quy định của hoạt động bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch; các bài học kinh nghiệm của thế giới đối với hoạt động này
Thu thập các số liệu sơ cấp tại các điểm điều tra, phục vụ cho tìm hiểu, nhận định các hoạt động bảo vệ môi trường tại điểm du lịch tiến hành điều tra
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trên cơ sở những thông tin thu thập được từ các tài liệu, kết hợp với kết quả của điều tra, khảo sát, quan trắc thực tế tại hai điểm du lịch Sa Pa và Bắc Hà, tiến hành phân tích tổng hợp để có những nhận định cơ bản về hiện trạng môi trường tự nhiên ở đây, cũng như các hoạt động bảo vệ môi trường Từ đó chỉ ra sự chênh lệch hoặc những điểm giống nhau, khác nhau về mức độ ô nhiễm; mức độ thực hiện và hiệu quả của hoạt động bảo vệ môi trường…ở hai điểm
Trang 13 Phương pháp điều tra xã hội học
Để có những thông tin phản ánh thực trạng môi trường và hiệu quả hoạt động môi trường mang tính khách quan, luận văn đã tổ chức thực hiện lấy thông tin sử dụng bảng hỏi với người dân; phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp
Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân
Tác giả đã thực hiện phỏng vấn có sự tham gia thảo luận của người dân địa phương về các vấn đề liên quan tới môi trường tự nhiên như chất lượng môi trường
tự nhiên trong các khu du lịch, tác động của du lịch tới môi trường tự nhiên, nhận thức của người dân về vai trò của môi trường với du lịch và đời sống sinh hoạt của người dân Hiệu quả của các hoạt động bảo vệ môi trường (tuyên truyền, giáo dục, đào tạo nâng cao nhận thức, hỗ trợ kinh phí thực hiện bảo vê môi trường…) cũng được tác giả và người dân địa phương tham gia thảo luận, trao đổi một cách khách quan
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Một số vấn đề về phát triển du lịch miền núi và bảo vệ môi trường Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch và hoạt động bảo vệ môi trường tại
Sa Pa và Bắc Hà
Chương 3 Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo
vệ môi trường tại các điểm du lịch Bắc Hà và Sa Pa
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH MIỀN NÚI VÀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 1.1 Phát triển du lịch tại miền núi
Những năm gần đây, xu thế phát triển du lịch trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng đã hướng tới những khu vực có tiềm năng đặc sắc về thiên nhiên và văn hóa Khách du lịch thường chọn những nơi có cảnh quan thiên nhiên phong phú, hoang sơ; môi trường trong lành, khí hậu mát mẻ, dễ chịu; tìm hiểu đời sống, cảm thụ văn hóa và tham gia sinh hoạt cùng cộng đồng dân cư bản địa Chính vì thế, những chương trình du lịch đến những nơi mang đậm bản sắc thiên nhiên và văn hóa vùng, miền được khách du lịch trong nước và quốc tế ưa chuộng
1.1.1 Điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch tại miền núi
Trong lĩnh vực du lịch, môi trường tự nhiên được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch Môi trường
tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố, trong đó, các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có yếu tố hấp dẫn đặc biệt, tạo nên động cơ du lịch, hình thành các loại hình du lịch đặc thù và nhiều sản phẩm du lịch
Khí hậu: ở Việt Nam, nhiều vùng có tiểu khí hậu mát mẻ, không khí trong
lành như Sapa, Tam Đảo, Ba Vì, Bạch Mã, Đà Lạt…phù hợp với loại hình du lịch nghĩ dưỡng, chữa bệnh, đặc biệt thích hợp vào mùa hè
Địa hình: nhiều khu vực miền núi có địa hình đa dạng, độc đáo, đặc trưng với
cảnh quan hấp dẫn Sự tương phản giữa các yếu tố nước, rừng, núi…tạo nên những cảnh quan vừa quen thuộc, vừa độc đáo, khác lạ của mỗi vùng Ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, những thửa ruộng bậc thang đặc trưng nằm xen kẽ những ngọn núi, những thác nước, những con suối tạo nên phong cảnh vừa hùng vĩ, vừa gần gũi, du khách như được hòa mình vào thiên nhiên, vào cuộc sống của người dân địa phương…
Địa hình nước ta với ¾ diện tích là đồi núi đã tạo ra các cảnh quan tự nhiên rất
đa dạng và đẹp mắt Tính chất đồi núi của địa hình Việt Nam phần nào gây trở ngại
Trang 15Rừng và đa dạng sinh học: Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự
đa dạng về thành phần loài cao nhất Đây đồng thời là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học
Hoạt động du lịch ở miền núi diễn ra tại những vùng sinh thái nhạy cảm, khó khăn và dễ làm tổn thương đến hệ sinh thái Đa phần cảnh quan miền núi là bất ổn định, dễ bị biến đổi, nhạy cảm cao với các biến động, khả năng phục hồi thấp hoặc khó trở lại cân bằng sau khi bị tàn phá
1.1.2 Các loại hình du lịch tại miền núi
Có nhiều yếu tố để xác định hoặc hình thành loại hình du lịch Phân loại theo môi trường tài nguyên, hoạt động du lịch được chia làm hai nhóm lớn là du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên Du lịch văn hóa hình thành dựa trên sức hấp dẫn từ các yếu tố văn hóa như: lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, trang phục, lối sống, ẩm thực, trang phục Loại hình du lịch tự nhiên được dựa trên việc thỏa mãn nhu cầu về với thiên nhiên Dựa theo cách phân loại loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi,
có những loại hình thuần túy du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, khám phá, thể thao, lễ hội) và loại hình kết hợp du lịch trong chuyến đi với các mục địch khác (kinh doanh) Theo cách phân loại này, tại các điểm du lịch tại miền núi, có một số loại hình du lịch phổ biến sau: du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch đi bộ, ngắm cảnh, leo núi và mạo hiểm, du lịch lễ hội Ngoài các loại hình du lịch thuần túy, vùng miền núi cũng phổ biến những loại hình du lịch kết hợp như: kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo, kinh doanh, nghiên cứu, thể thao
Việc khai thác loại hình du lịch miền núi ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, đơn điệu và chưa đa dạng Các hoạt động du lịch phần lớn do các công ty lữ hành tổ chức với mục đích thu hút nhiều du lịch nhưng chưa chú trọng tới tác động của du lịch tới môi trường Sự khai thác này dù ít hay nhiều, ở loại hình nào cũng đều có những tác động nhất định đến môi trường, ở các mức độ khác nhau, phụ thuộc vào loại hình du lịch
1.2 Bảo vệ môi trường tự nhiên
1.2.1 Một số khái niệm
Trang 16Luật Bảo vệ Môi trường (2005) đã đưa ra khái niệm môi trường, theo đó: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”(Điều 3) Theo khái niệm này, môi trường được hiểu là sự tổng hòa của các
thành phần tự nhiên Nói cách khác, môi trường được hiểu là môi trường tự nhiên
Xuất phát từ khái niệm trên, trong Luật Bảo vệ môi trường (2005), thành phần môi trường được xác định là những yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác Đối với hoạt động du lịch, các môi trường thành phần của môi trường du lịch thường được xem xét bao gồm: môi trường địa chất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường sinh thái, sự cố môi trường…
Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trường Hoạt động du lịch khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại, góp phần thay đổi các đặc tính của môi trường Môi trường tự nhiên là một trong những tài nguyên du lịch quyết định tới sự hình thành, tồn tại và phát triển của hoạt động du lịch Bảo vệ môi trường tự nhiên cũng là bảo vệ, đảm bảo cho hoạt động du lịch phát triển theo hướng bền vững
Bảo vệ môi trường trong Luật Bảo vệ Môi trường (2005) được chỉ ra là những
hoạt động góp phần gìn giữ cho môi trường tự nhiên trong lành; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu tới môi trường; phục hồi môi trường bị ô nhiễm, suy thoái; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường
Quy chế BVMT trong lĩnh vực du lịch ban hành kèm Quyết định số 01/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã giải thích: “Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ không
gian lãnh thổ, đất, nước, không khí, các hệ sinh thái, các hệ động, thực vật, các công trình kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên nơi tiến hành các hoạt động du lịch” Do
đó, “Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch là các hoạt động cải thiện và tôn tạo môi trường du lịch; phòng ngừa, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm
Trang 17khác, theo quan điểm của Luật Bảo vệ Môi trường Quy chế BVMT trong lĩnh vực
du lịch, bảo vệ môi trường đối với hoạt động du lịch là bảo vệ, ngăn ngừa, khắc phục các tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch tới các thành phần môi trường tự nhiên
1.2.2 Các thành phần của môi trường tự nhiên
Dựa theo mối liên hệ và tầm quan trọng đối với hoạt động du lịch, các thành phần của môi trường tự nhiên ở miền núi được xét tới gồm: môi trường địa chất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường sinh thái (rừng, đa dạng sinh học),
sự cố môi trường, môi trường cảnh quan…
Môi trường địa chất là một tập hợp các thành tố địa chất của môi trường tự
nhiên, bao gồm các yếu tố như cấu trúc địa chất, các hoạt động kiến tạo, quá trình phong hóa, các tai biến địa chất ảnh hưởng đến môi trường hoặc chi phối môi trường Đối với hoạt động du lịch, môi trường địa chất được biểu thị qua các chỉ số cụ thể như các chỉ số về độ bền vững của đất đá, các chỉ số địa chất công trình cho việc xây dựng các quần thể du lịch, xây dựng các tuyến, điểm du lịch, cấp thoát nước, sử dụng bồn nước (hồ, sông, biển); mức độ, khả năng xảy ra các chấn động địa chất, hiện tượng trượt lở ở những khu vực có các hoạt động du lịch; các chỉ số về đặc điểm địa hình…
Môi trường nước là bộ phận cấu thành quan trọng của môi trường tự nhiên,
những biến động của môi trường nước thường dẫn đến những biến động về chất lượng sống Các yếu tố môi trường nước phân bố khá rộng, từ nước lục địa trong đó
có nước mặt (ao, hồ, sông suối), nước dưới đất (tầng nông và tầng sâu), đến nước đại dương, nước biển Trong hoạt động du lịch, nước được đánh giá ở nhiều góc độ liên quan đến khả năng cấp và chất lượng nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vui chơi giải trí và tắm biển, nghỉ dưỡng và chữa bệnh của du khách
Môi trường không khí là bộ phận của môi trường tự nhiên tồn tại dưới dạng
thể khí Trong môi trường du lịch, môi trường không khí có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định các khu du lịch nghỉ dưỡng, đến tổ chức mùa vụ khai thác du lịch…Các yếu tố của môi trường không khí có vai trò khá lớn trong việc xem xét định hướng quy hoạch khu du lịch, bố trí không gian và phác đồ kiến trúc quần thể du lịch Đánh
Trang 18giá chất lượng môi trường không khí cho hoạt động du lịch nghiên cứu mức độ ô nhiễm của không khí, mức độ thuận lợi và thích hợp của thời tiết, khí hậu đối với việc tổ chức hoạt động du lịch như nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe
Môi trường sinh học được xem là bộ phận sống (hữu cơ) của môi trường tự
nhiên Môi trường sinh học là cơ sở duy trì và phát triển sự sống trên trái đất, điều hòa nguồn nước, làm sạch bầu khí quyển, cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội Do đó, môi trường sinh học có vai trò rất to lớn trong việc thiết lập và bảo vệ cân bằng sinh thái của tự nhiên Những biến đổi của môi trường sinh học về lượng
và chất đều có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động du lịch
Đa dạng sinh học là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch, đặc biệt trong xu hướng phát triển du lịch tìm kiếm cái mới, muốn gần hơn với tự nhiên Chính vì vậy, bảo tồn đa dạng sinh học là một bài toán khó đối với chính quyền địa phương, các đơn vị, tổ chức quản lý để lựa chọn khai thác hợp lý đa dạng sinh học trong hoạt động du lịch
Các tai biến, sự cố môi trường:
Tai biến môi trường là những biến đổi bất thường của thiên nhiên được xem là
kết quả của quá trình hoạt động tự nhiên hoặc hậu quả gián tiếp của tác động của con người lên tự nhiên như dông, bão, lũ quét, nước dâng do bão và gió mùa, trượt
đá, lở đất, núi lửa phun, mưa axit, xói lở biển…
Sự cố môi trường là những rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con
người, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng như cháy rừng, rò rỉ hóa chất, tràn dầu trên sông hay biển, nhiễm độc môi sinh do sự cố cơ sở sản xuất hóa chất, sự cố trong lò phản ứng hạt nhân…
Cảnh quan môi trường: có thể hiểu cảnh quan môi trường là sự kết hợp của
các yếu tố hữu hình, được tạo ra dưới tác động của tất cả những thành phần môi trường tự nhiên và những hoạt động của con người, đem lại những hiệu quả nhất định về mặt thẩm mỹ Giá trị thẩm mỹ của cảnh quan là đối tượng để thưởng thức,
Trang 19Trong mối quan hệ với các thành phần môi trường khác, cảnh quan môi trường mang tính chất phái sinh bởi nó được tạo thành từ các thành phần môi trường liên quan Tuy nhiên, cảnh quan môi trường có tính độc lập tương đối Đó là chất lượng của cảnh quan môi trường không được đánh giá theo chất lượng của các thành phần môi trường cơ bản mà được đánh giá trên cơ sở cảm quan và căn cứ vào những yếu tố hữu hình tác động lên giác quan của con người, được đánh giá ở sự hài hòa khả năng tạo ấn tượng và tạo cảm xúc Tính độc lập của yếu tố cảnh quan môi trường còn thể hiện ở chỗ có những hành vi, mặc dù không làm tác động đáng kể đến những thành phần như đất, nước, không khí song lại làm ảnh hưởng đáng kể đến cảnh quan môi trường (như viết, vẽ bậy hay xây công trình chắn mất tầm nhìn ) Tác động từ những biến đổi của cảnh quan môi trường lên hoạt động du lịch thường mang tính trực tiếp, mạnh mẽ và nhanh chóng Do vậy, việc bảo vệ cảnh quan môi trường cần được coi là một trong những nội dung quan trọng của công tác bảo vệ môi trường du lịch
Hoạt động du lịch chịu ảnh hưởng từ môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa – xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, khi phân tích đánh giá hiện trạng môi trường
du lịch, môi trường tự nhiên (môi trường du lịch tự nhiên) thường được quan tâm hơn Luật Bảo vệ Môi trường ở Việt Nam hiện nay cũng mới đề cập tới khía cạnh môi trường tự nhiên Những nội dung liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội, môi trường nhân văn thường được đánh giá ở mức độ định tính do không thể đo lường và lượng hóa được
1.2.3 Các quy định về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch vùng miền núi
Các quy định về BVMT trong lĩnh vực du lịch tại các điểm du lịch vùng miền núi được thể hiện chủ yếu tại các văn bản pháp quy sau:
Luật BVMT(2005) được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 8, gồm
XV chương, 136 điều, quy định về bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động du lịch tại miền núi Đây là văn bản pháp quy quan trọng nhất đối với hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên,
Trang 20 Luật Du lịch (2005) được Quốc hội Khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 10,
gồm XI chương, với 88 điều BVMT được đề cập trong nhiều nội dung của Luật, trong đó, điều 9 quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến BVMT du lịch Luật Du
lịch đã xác định môi trường bao gồm “môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch” (khoản 21 điều 4) Đây có thể coi là
căn cứ quan trọng để thúc đẩy các nỗ lực về bảo vệ môi trường một cách hiệu quả Điều 9 Luật Du lịch đặt ra yêu cầu đối với công tác bảo vệ môi trường trong
lĩnh vực du lịch, đó là “môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được
bảo vệ tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh”
Về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình “ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi
trường du lịch” Theo quy định này, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ ban hành
những quy định để bảo vệ môi trường du lịch ở khía cạnh tự nhiên, ngăn ngừa và khắc phục các hiện tượng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường trong lĩnh vực du lịch, bảo vệ cảnh quan nơi diễn ra hoạt động du lịch; Bộ Công an có những quy định nhằm đảm bảo an ninh, trật tự trong hoạt động du lịch;
Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) quy định về việc giữ gìn nếp sống văn minh trong ứng xử đối với khách du lịch, bảo vệ các thuần phong mỹ tục…Tuy nhiên, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành liên quan để bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch mới đạt được hiệu quả như mong muốn
Đối với UBND các cấp, khoản 3 điều 9 Luật Du lịch quy định “UBND cần có
biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương” Theo đó, UBND từ cấp tỉnh, huyện, xã đều có trách nhiệm đề xuất
và tổ chức triển khai các biện pháp cụ thể bảo vệ môi trường du lịch trên địa bàn của mình Đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khoản 4 điều 9 quy định các
tổ chức, cá nhân này “có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh
trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động
Trang 21cơ sở kinh doanh của mình” Với quy định này, Luật Du lịch đã đề cao vai trò của
các chủ thể kinh doanh trong bảo vệ môi trường du lịch Các chủ thể này phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong phạm vi cơ sở kinh doanh của mình (thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh), đồng thời chịu trách nhiệm về những hậu quả đối với môi trường mà hoạt động kinh doanh du lịch gây ra Khoản 5 điều 9 Luật Du lịch quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trường của
khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác:“bảo vệ
và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam” Điều này cũng có nghĩa là môi trường du lịch chịu tác
động bởi hành vi của rất nhiều chủ thể, kể cả các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực
du lịch và các chủ thể không trực tiếp tham gia hoạt động du lịch Vì vậy, môi trường du lịch chỉ có thể được bảo vệ một cách hữu hiệu khi tất cả các chủ thể liên quan đều thực hiện tốt trách nhiệm của mình
Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả
Chỉ thị số 07/2000/CT-TTg ngày 30/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ về
tăng cường gìn giữ trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm thăm quan du lịch Theo Chỉ thị, trách nhiệm bảo vệ môi trường tự nhiên nói riêng trước hết là trách nhiệm của Chính quyền địa phương nơi có điểm thăm quan du lịch BVMT cần có sự phối hợp giữa các bộ ngành chức năng có liên quan để đảm bảo tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường cho các hoạt động du lịch; thực hiện các hoạt động kiểm tra hoạt động du lịch nhằm tránh tác động xấu tới môi trường tự nhiên; xử phạt các hoạt động gây ô nhiễm tới môi trường
tự nhiên; khắc phục các tác động tiêu cực của du lịch tới môi trường tự nhiên…
Quy chế BVMT trong lĩnh vực du lịch ban hành kèm Quyết định số
01/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 22Quy chế gồm VI chương với 23 điều, được ban hành nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch một cách bền vững
Đây được coi là quy chế về BVMT có tính chuyên ngành đầu tiên, trong đó, trách nhiệm, nhiệm vụ BVMT được quy định chi tiết từ quá trình lập dự án, thiết kế, xây dựng; cải tạo, nâng cấp các khu, điểm du lịch và các công trình phục vụ du lịch tới trách nhiệm cụ thể của cá nhân, tổ chức và của cơ quan nhà nước
Vấn đề BVMT trong hoạt động phát triển du lịch trên phạm vi cả nước, bao gồm cả các điểm du lịch, khu du lịch vùng dân tộc và miền núi được cụ thể hóa, gắn với nội dung về đánh giá môi trường chiến lược Theo đó, những tác động chủ yếu
từ du lịch đến môi trường tự nhiên đã được chỉ ra và đó cũng là căn cứ để đưa ra giải pháp phù hợp, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động BVMT tự nhiên
1.3 Các nguồn tác động từ hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên
Toàn bộ các sự việc, hiện tượng, hoạt động trong hoạt động du lịch và những hoạt động liên quan đến dự án du lịch là những nguồn tác động đến môi trường tự nhiên Chúng bao gồm 4 nhóm yếu tố sau:
Các nguồn tác động của dự kiến bố trí các công trình xây dựng trong dự án phát triển du lịch:
+ Xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (cơ sở lưu trú, công viên giải trí, nhà hàng…);
+ Các công trình đặc thù riêng cho mỗi nội dung dự án phát triển du lịch cụ thể (thể thao núi, nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học chuyên đề, sinh thái, mạo hiểm…)
Các nguồn tác động đầu vào của dự án phát triển du lịch:
+ Hoạt động cải tạo và nâng cấp hoặc xây dựng mới các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (đường giao thông, hệ thống cung cấp nước và năng lượng, hệ thống thu gom và xử lý chất thải…);
+ Các hoạt động khai thác vật liệu và hoạt động xây dựng của công nhân;
Trang 23 Nguồn tác động trong các giai đoạn phát triển:
+ Lập quy hoạch và chuẩn bị mặt bằng (di dân, san ủi…)
+ Thực hiện quy hoạch đầu tư xây dựng, xây lắp…
+ Các hoạt động du lịch sau xây dựng: thể thao, thăm quan Vườn Quốc gia, khu bảo tồn, các hoạt động dịch vụ du lịch, hoạt động quản lý, chương trình hoạt động khác…
Các tác động đầu ra:
+ Tải lượng ô nhiễm từ các cơ sở dịch vụ du lịch;
+ Các nguồn nước đã bị ô nhiễm (nước thải, nước sông hồ);
+ Chất thải từ các phương tiện vui chơi giải trí, dịch vụ vận tải, hoạt động tham quan…làm ảnh hưởng đến môi trường nước, không khí, môi trường nước, đất và các hệ sinh thái
Xả thải từ các cơ sở lưu trú xuống các sông, suối Xây dựng và hoạt động Cạn kiệt nguồn nước từ suối
của các cơ sở lưu trú Mất hệ thực vật tại khu vực xây dựng cơ sở lưu trú
Xói mòn đất tại khu vực xây dựng Đường giao thông và Ảnh hưởng tới sự di chuyển của động vật
điểm đỗ xe Tích tụ chất thải ở các dòng suối
Ảnh hưởng tới hệ sinh thái nhạy cảm Tăng lượng rác thải không đúng nơi quy định Đốt lửa trại làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng Gây ô nhiễm hệ sinh thái
Trekking, Cắm trại, Cháy rừng
Ảnh hưởng tới thảm thực vật Thay đổi thói quen và tập quán sinh sống của động vật
Hình 1.1 Một số hoạt động du lịch cụ thể ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên ở
miền núi [28, tr.xiii]
Trang 25Những điều kiện môi trường tự nhiên thuận lợi như: khí hậu dễ chịu, phù hợp với phát triển du lịch; thủy văn có chế độ an toàn, địa hình đa dạng, ngoạn mục; động thực vật phong phú; không khí trong lành ở miền núi là những điều kiện để đẩy mạnh hoạt động phát triển du lịch Tuy nhiên, các thành phần của môi trường tự nhiên có những thành phần có khả năng tự phục hồi, nhưng cũng có những thành phần thời gian phục hồi lâu hoặc có thể bị mất vĩnh viễn Vì vậy, các thành phần tự nhiên khi bị suy thoái, sẽ tác động ngược trở lại hoạt động du lịch, gây cản trở đến hoạt động du lịch (lũ quét, sạt lở đất, cảnh quan bị suy thoái, hệ sinh thái bị phá vỡ không còn khả năng thu hút du khách…)
1.4 Một số bài học kinh nghiệm về bảo vệ môi trường tự nhiên tại điểm du lịch miền núi
1.4.1 Liên quan đến quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước có vai trò quyết định đối với phát triển du lịch nói chung và bảo vệ môi trường du lịch nói riêng Ngoài việc đưa ra một hệ thống pháp luật hoàn thiện giúp cho việc quản lý tốt tài nguyên và môi trường du lịch, nhà nước có thể xem xét đưa ra các chính sách ưu tiên nhằm tạo điều kiện tiền đề để tiến hành các công tác này Nhà nước còn là đầu mối phối hợp với các Tổ chức bảo tồn quốc tế để xây dựng các dự án bảo vệ tài nguyên, môi trường.Với quyền lực của mình, nhà nước đưa ra các quy định ưu đãi về thuế và cho phép lập ra các loại quỹ phục vụ cho mục đích bảo vệ tài nguyên và môi trường của ngành
Tại Nepal, dự án Bảo tồn khu vực Annapuna (ACAP) là một ví dụ điển hình
về việc xây dựng Quỹ Bảo tồn từ các hoạt động du lịch, dự án được sử dụng tiền từ nguồn thu vé vào cổng khu bảo tồn Annapuna (15 USD/khách nước ngoài và 1,5 USD/khách từ các nước trong khu vực Nam Á) cho các chương trình bảo vệ tài nguyên, môi trường trong khu vực Trong dự án Upper Mustang (phần mở rộng của các chương trình ACAP), Chính phủ Vương quốc Nepal đã quyết định trích trả lại 60% lợi nhuận du lịch vào các hoạt động bảo vệ tài nguyên, môi trường trong khu vực
Trang 261.4.2 Liên quan đến việc quản lý khu, điểm du lịch
Một trong những vấn đề mấu chốt đặt ra đối với mục tiêu bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch là tránh hiện tượng quá tải mà biện pháp hữu hiệu là quản
lý mật độ và công suất phục vụ của các nhà trọ tại các khu, điểm du lịch
Một trong những kinh nghiệm được phổ biến cho lĩnh vực này là dự án Du lịch Sinh thái bản địa ở Ryo Blanco tại Ecuador Dự án này đã có biện pháp xây các điểm đón khách cách trung tâm cộng đồng khoảng 1 km để giảm bớt mật độ xây dựng nhà trọ tại khu trung tâm nhằm hạn chế tác động tiêu cực xảy ra giữa khách du lịch và người dân địa phương Tại Senegan, dự án Du lịch Nông thôn tổng hợp ở Hạ Casamance lại chú ý đến vấn đề hạn chế công suất phục vụ của các nhà trọ, "khống chế công suất được đón tối đa 20 - 40 khách/lần và chỉ được xây dựng ở các làng có số dân bằng hoặc lớn hơn 1000 người" chứ không cho phép tăng công suất các nhà trọ cũ Vấn đề khác liên quan đến quản lý khu, điểm du lịch là phải tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng thay thế củi đốt Nhận thức được vấn đề này, tại Nepal dự án ACAP đã đưa ra chương trình năng lượng thay thế củi đun, trước mắt là khuyến khích việc sử dụng dầu hoả trong các nhà trọ để phục vụ các nhu cầu của khách du lịch Trong đó ACAP đã cung cấp một khoản vay với lãi suất thấp cho những người
có kho dầu chấp nhận cung cấp dầu với giá thấp nhất; chuyên chở các bếp dầu cũng như hỗ trợ việc sửa chữa và bảo dưỡng bếp
Việc giữ gìn vệ sinh môi trường và cảnh quan cũng cần được quan tâm Tại rất nhiều điểm du lịch hiện nay, do sự quản lý lỏng lẻo và thiếu thông tin, nhận thức chưa cao của du khách cũng như của các cộng đồng địa phương dẫn đến việc môi trường ngày càng bị xuống cấp bởi các nguồn ô nhiễm gây ra Nhiều Chính phủ một mặt đã tiến hành hàng loạt các biện pháp để giữ gìn vệ sinh môi trường như xây dựng các trung tâm thu gom, xử lý rác và nước thải, mặt khác tổ chức các đợt tuyên truyền vận động và trợ giúp các cộng đồng địa phương tham gia vào công tác giữ gìn vệ sinh môi trường Các nhà trọ và các khu du lịch ở Nepal là những ví dụ tiêu biểu cho công tác giữ gìn vệ sinh công cộng nhờ những biện pháp quản lý và cơ chế
Trang 27thu rác được bố trí hợp lý và có chỉ dẫn cụ thể Các chủ nhà nghỉ đã được dự án hỗ trợ về tài chính như cấp vốn vay với lãi suất thấp và kỹ thuật để quản lý và xử lý các chất thải rắn này một cách thích hợp
1.4.3 Liên quan đến cộng đồng địa phương
Trong quá trình phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, môi trường, thì sự tham gia của cộng đồng địa phương có vai trò quyết định Họ vừa là đối tượng để thu hút khách du lịch, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm du lịch vừa là một nhân tố quản lý, tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh du lịch và bảo vệ môi trường nơi họ sinh sống Đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương luôn là yếu tố cần thiết và gắn liền với sự bảo vệ môi trường của quá trình phát triển du lịch Ngoài ra, gắn hoạt động du lịch với bảo vệ môi trường bằng cách tạo việc làm cho cộng đồng đang là một cách làm có hiệu quả trên thế giới Trường Eco - Escuela de Espanol, dạy tiếng Tây Ban Nha, được thành lập năm
1996 là một phần trong dự án bảo tồn quốc tế ở khu làng San Andes (Guatemala) là một ví dụ Trường học thuộc sở hữu của cộng đồng đia phương, nằm trong khu bảo tồn sinh quyển May, bao gồm khóa học ngoại ngữ và cơ hội ở nhà dân, du lịch sinh thái cộng đồng Trường đón 1.800 du khách mỗi năm, chủ yếu là từ Mỹ và châu Âu, tạo việc làm cho 100 cư dân, mà 60% trong số đó là những người trước đây làm nghề khai thác gỗ trái phép, săn bắn, đốt nương, làm rẫy Báo cáo giám sát năm
2000 cho thấy trong số các gia đình được hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh này phần lớn đã giảm hoạt động săn bắn và đốt nương làm rẫy Thêm nữa, những hộ gia đình trong làng phần lớn được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ ngôi trường khiến cho áp lực của cộng đồng đối với việc săn bắn động vật ở đây đã giảm hẳn
1.4.4 Liên quan đến đơn vị và cá nhân kinh doanh du lịch
Ngoài việc tuân thủ mọi quy định của nhà nước đối với việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, các đơn vị và cá nhân kinh doanh du lịch cần phải tiếp thị một cách có trách nhiệm Tạo ra và tiếp thị những sản phẩm có tác dụng khuyến khích du khách thưởng thức một cách khôn ngoan tài nguyên thiên nhiên, văn hoá, lịch sử là nhiệm vụ của người kinh doanh du lịch
Trang 28Trong các tài liệu quảng cáo cần cung cấp những thông tin đáng tin cậy Khi có thể, cần củng cố, tăng cường khả năng nhận thức về môi trường trong các chương trình tiếp thị Tại Brazil, nơi có các hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên phát triển mạnh, công ty Aretic Edge Tour, chuyên tổ chức các tour du lịch mạo hiểm và du lịch sinh thái đã áp dụng một số biện pháp để tổ chức khai thác du lịch dựa vào thiên nhiên nhưng tích cực bảo vệ thiên nhiên như đặt ra các nguyên tắc tổ chức gồm: giới hạn lượng khách cho mỗi nhóm tham quan dưới 10 người; không sử dụng động thực vật tại điểm du lịch làm thức ăn; thực phẩm đem theo được chuẩn bị sẵn và đóng gói; nước bẩn đổ xa nguồn nước sạch; rác đốt tại chỗ hoặc đem đi; đi hàng một trên đường mòn; không cắm trại tại những nơi tập trung những đàn thú hoang; dọn sạch nơi cắm trại trước khi rời đi…
Tại nhiều điểm du lịch, các nhà đầu tư đã tổ chức lồng ghép hoạt động du lịch với giáo dục môi trường.Quan sát loài vượn hoang dã và bán hoang dã trong môi trường sống là cơ hội giáo dục môi trường có ý nghĩa cho nhiều khách du lịch nội địa Tại khu quan sát vượn lớn Bohorok (Indonesia), nhà ga ở Bohorok đã chuyển thành trung tâm quan sát, do vậy đã tạo cơ hội bảo tồn bền vững cho hệ sinh thái nhiệt đới Thông qua việc quan sát vườn, khách du lịch được trải nghiệm đời sống hoang dã và hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới Điều này làm tăng nhận thức của du khách đối với bảo tồn rừng nhiệt đới Hơn nữa, hoạt động du lịch đóng góp nguồn thu cho dân cư địa phương, qua đó thúc đẩy khai thác rừng bền vững như là sự thay thế thực sự cho việc khai thác gỗ và săn bắn, buôn bán động vật hoang dã
Phát triển du lịch cũng như nhiều hoạt động kinh tế - xã hội khác cũng dẫn tới những tác động tiêu cực tới môi trường Nhưng cũng có thể hạn chế những ảnh hưởng đó bằng những chính sách, quy định phù hợp, kịp thời, kêu gọi được sự tham gia của mọi thành phần tham gia vào hoạt động du lịch Đặc biệt, BVMT ở miền núi trong hoạt động du lịch cần gắn bó mật thiết với bảo vệ lợi ích của cộng đồng địa phương, nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch, hưởng lợi từ hoạt động này
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TẠI SA PA VÀ BẮC HÀ
2.1 Tiềm năng du lịch ở Sa Pa và Bắc Hà
2.1.1 Tiềm năng du lịch ở Sa Pa
Sa Pa là huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, nằm bên sườn Đông dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m Nằm ở độ cao trung bình khoảng 1600m so với mặt nước biển, Sa Pa được biết đến không chỉ bởi thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng mà còn bởi sự đa dạng bản sắc văn hóa của các dân tộc anh em sống ở trên mảnh đất này
Ảnh hưởng của các yếu tố địa hình, địa mạo phức tạp, bị chia cắt mạnh và có
vị trí địa lý đặc biệt nên nhiệt độ trung trung bình ở Sa Pa hàng năm là 15,3oC, nhiệt
độ các tháng mùa hè dao động từ 18 - 21oC, vào mùa đông dao động từ 9 – 12oC, đặc biệt có những năm xuống tới, có tuyết rơi Sa Pa có khí hậu Á nhiệt đới rõ rệt, mát mẻ về mùa hè, lạnh về mùa đông rất phù hợp cho các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, du lịch leo núi, du lịch sinh thái và du lịch nhân văn Do đặc điểm của các khu vực khác nhau nên đã tạo ra các vùng sinh thái khác nhau và có nhiệt độ khác nhau trong cùng thời điểm Địa hình Sa Pa đa dạng với hệ thống núi cao, hang động, thác nước, đèo dốc, thung lũng, bãi đá tạo nên cảnh quan đa dạng, độc đáo Sa Pa có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như: Thác Bạc, Cầu Mây, núi Hàm Rồng, động Tả Phìn, đỉnh núi Phan Xi Păng, vườn quốc gia Hoàng Liên…
Hệ động, thực vật ở Sa Pa phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại, đặc biệt có nhiệu loại động, thực vật quý hiếm cần được bảo vệ Các yếu tố tự nhiên tác động đã góp phần hình thành nên thảm thực vật đa dạng ở đây, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Sơn Thảm thực vật ở đây vẫn còn nguyên thủy, đa dạng và thay đổi tầng sinh thái rõ rệt theo độ cao
Về tài nguyên nhân văn, toàn huyện Sa Pa có 6 nhóm dân tộc, bao gồm: H’mông, Dao, Tày, Kinh, Dáy, Phù Lá Các nhóm dân tộc này khác nhau về phục trang, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng mà trong đó trang phục là đặc
Trang 30điểm dễ phân biệt nhất Chính sự phong phú đa dạng về văn hóa này là một phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của Sa Pa đối với du khách
Hệ thống lễ hội các dân tộc Sa Pa rất phong phú về nội dung và hình thức, còn
in đậm nhiều yếu tố tín ngưỡng cổ Đó là những lễ hội truyền thống như Hội chơi xuân của người H’mông, “Lễ tết nhảy” của người Dao, Hội xuống đồng (Hội cầu mùa) của người Dáy, múa mừng được mùa của người Xá Phó…
Nét độc đáo của Sa Pa là chợ phiên với nhiều nét độc đáo, hấp dẫn Chợ không chỉ là trung tâm giao lưu kinh tế đơn thuần mà còn hàm chứa nét văn hóa sống động, là nơi sinh hoạt, giao lưu văn hóa của đồng bào các dân tộc địa phương Đến Sa Pa, du khách còn được tham quan, chứng kiến nhiều nghề thủ công tiêu biểu: nghề dệt vải, thêu trang phục, đan lát của người Xá Phó; nghề thêu hoa văn thổ cẩm, nấu rượu, làm giấy của người Dao…cùng với màu sắc, hoa văn, phong cách về tạo dáng và trang trí với phong cách thẩm mỹ đậm đà sắc thái tộc người trên những trang phục của đồng bào H’mông, Dao, Giáy, Phù Lá…; được thưởng thức các làn điệu dân ca, điệu múa, âm sắc của các loại nhạc cụ dân gian, các loại nhạc cụ dân gian, các trò chơi dân gian của nhiều tộc người
Các yếu tố tự nhiên hài hòa, kết hợp với các yếu tố nhân văn đã tạo nên sức hấp dẫn của du lịch Sa Pa Đến Sa Pa, du khách không chỉ chiêm ngưỡng một thiên nhiên đặc thù của các tỉnh miền núi phía Bắc mà còn được thưởng thức các giá trị văn hóa của các tộc người thiểu số ở đây
2.1.2 Tiềm năng du lịch ở Bắc Hà
Bắc Hà cách thành phố Lào Cai 66 km về phía Đông Bắc, diện tích tự nhiên 67.872 ha, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn ; dân số hơn 50.000 người, gồm 14 dân tộc anh em sinh sống như : Kinh, Mông, Tày, Nùng, Dao, Phù Lá… trong đó hơn 47%
là dân tộc H’Mông Mỗi dân tộc đều có nét đặc trưng riêng, từ tiếng nói, chữ viết, trang phục, kiểu dáng nhà ở, phương pháp canh tác đến các lễ hội và văn hóa ẩm thực… được bảo tồn, lưu giữ, đây là những sản phẩm du lịch đặc sắc hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
Trang 31Bắc Hà thuộc khí hậu Á nhiệt đới, phù hợp trồng các loại cây ăn quả, rau và hoa cao cấp, có tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch Nhiệt độ trung bình
Đặc điểm tự nhiên đã tạo cho huyện Bắc Hà có nhiều cảnh quan nguyên sơ hùng vĩ, cùng với vốn văn hóa giàu bản sắc của các dân tộc được bảo lưu phong phú, hấp dẫn, đan xen như : Hội xuống đồng của dân tộc Tày, lễ hội cúng rừng của người Nùng, văn hóa chợ vùng cao… Và nhiều phong tục, tập quán truyền thống sản xuất với nhiều ngành nghề như : dệt thổ cẩm, nấu rượu…
Bắc Hà còn tập hợp nhiều di tích lịch sử như : Dinh thự cổ Hoàng A Tưởng (còn gọi là nhà Vua Mèo), Đền Bắc Hà, đền Trung Đô…; có rất nhiều hang động đẹp như : Hang động Tả Van Chư, Lùng Phình, Na Lo, Hang Tiên bên ven bờ sông Chảy…Bên cạnh đó Bắc Hà còn có: rừng già Bản Liền, Tả Van Chư, rừng chè cổ thụ xã Hoàng Thu Phố… là những điều kiện và di vật thuận lợi cho Bắc Hà phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch văn hoá Đến với Bắc Hà, du khách còn được thỏa mãn với các loại hình du lịch như: du lịch cảnh quan thiên nhiên, du lịch sinh thái, du lịch leo núi mạo hiểm, du lịch nghỉ dưỡng, du lhịch thể thao và du lịch nghiên cứu khoa học…
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch ở Sa Pa và Bắc Hà
2.2.1 Các loại hình du lịch chính tại hai điểm
Du lịch cộng đồng: Tại Sa Pa, hoạt động du lịch làng bản đã được quy hoạch,
tổ chức thực hiện từ nhiều năm trở lại đây Các làng bản thu hút nhiều du khách như: Tả Phìn, Cát Cát, Bản Hồ, Sín Chải, Tả Van…Phòng Văn hóa - Thông tin của huyện đã tổ chức đoàn khảo sát 2 tuyến du lịch (xã Nậm Cang và xã Bản Khoang,
Tả Giàng Phình) để đề xuất mở tuyến mới, dự kiến năm 2009 và 2010 Tính đến
ngày 28/11/2008 số đoàn đi tham quan các tuyến du lịch làng bản là 18.977 đoàn với 79.361 lượt khách, đến 31/12/2008 có 22.387 đoàn khách với 97.281 lượt
khách, tăng 3.410 đoàn bằng 17.920 lượt khách)
Trang 32Bảng 2.1 Biểu tổng hợp số ngày tour trên các tuyến du lịch làng bản trên
địa bàn huyện Sa Pa năm 2006 - 2007
Stt Số ngày Tour
Năm 2006 Năm 2007 So sánh (%)
cùng kỳ
Số đoàn
Lượt khách
Số đoàn
Lượt khách
Số đoàn
Lượt khách
1 Đi trong ngày 9.364 32.666 9.577 44.753 102 137
2 Đi 2 ngày 1 đêm 3.417 15.827 3.875 13.672 113 86
3 Đi 3 ngày 2 đêm 1.424 4.988 2.389 6.142 167 123
4 Đi 4 ngày 3 đêm và dài hơn 180 1.038 745 2.015 413 194
Tổng cộng 14.380 54.519 16.586 66.582 115 122
(Nguồn: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Sa Pa, 2009)
Ở Bắc Hà, tại các thôn bản Tà Chải, Bản Phố, Trung Đô, Nậm Khánh, Bản Liền đã xuất hiện ác mô hình làm du lịch cộng đồng Người dân tại các thôn, bản đã biết tận dụng lợi thế ngôi nhà của mình để khai thác phục vụ khách du lịch có nhu cầu khám phá trải nghiệm Đây là loại hình du lịch đang được ưa thích và phát triển
ở Sa Pa và Bắc Hà Loại hình du lịch này một mặt khai thác được các lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên của địa phương, mặt khác tạo cơ hội việc làm cho người dân, mang lại lợi ích cho cộng đồng Nhưng thách thức khi loại hình này phát triển
là tăng lượng rác thải, nước thải không được xử lý đúng quy trình, thiếu nước sạch…
Du lịch nghỉ dưỡng hiện nay chủ yếu là khách du lịch trong và ngoài tỉnh đến
Bắc Hà sau khi thăm quan, du lịch thì kết hợp nghỉ dưỡng ngắn ngày ở các nhà nghỉ, khách sạn và thưởng thức các món ăn ẩm thực các dân tộc trên địa bàn Đối với Sa
Pa, hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ du lịch ngày một phát triển, đa dạng về chất lượng cùng với các dịch vụ bổ sung đã phát triển ở một mức độ nhất định nên đã đáp ứng được nhu cầu nghỉ dưỡng của du khách, mặc dù mức độ đáp ứng chưa cao Để đáp ứng nhu cầu của du khách, nhiều cơ sở lưu trú tư nhân, quy mô nhỏ được xây
Trang 33 Du lịch sinh thái: là loại hình này dựa vào thiên nhiên, cảnh quan môi trường
sinh thái, Sa Pa và Bắc Hà có những thế mạnh đặc biệt mà ít nơi có được, cùng với nền văn hóa bản địa gắn với tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường sinh thái Vườn Quốc gia Hoàng Liên, cảnh quan thiên nhiên ở các làng bản là điểm đến thích hợp của loại hình du lịch này Nếu Sa Pa có lợi thế về công tác quy hoạch, tổ chức các điểm du lịch thì Bắc Hà có điểm mạnh về phong cảnh hoang sơ, còn ít được biết tới Các điểm như : Rừng chè cổ thụ Hoàng Thu Phố, rừng Sa Mộc Lầu Thí Ngài, Lùng Cải…là những điểm đến hấp dẫn đối với loại hình du lịch này Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức đối với chính quyền, các đơn vị tổ chức hoạt động du lịch, với cư dân địa phương và môi trường tự nhiên khi hoạt động này được phát triển nhưng trình độ quản lý chưa tương xứng
Du lịch đi bộ, ngắm cảnh, leo núi và mạo hiểm: Ở Sa Pa đã hình thành nhiều
điểm, tuyến điểm du lịch đáp ứng nhu cầu của loại hình du lịch này, đặc biệt là tuyến Sa Pa – Phan Xi Păng với nhiều chương trình, chặng leo khác nhau Bắc Hà cũng đã xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch mạo hiểm, thu hút được du khách nước ngoài, nhưng số lượng các chương trình, tuyến điểm, trình độ
tổ chức còn hạn chế: leo núi ở xã Bảo Nhai, Nậm Mòn, Cốc Ly, Hoàng Thu Phố, núi
3 mẹ con tại thị trấn Bắc Hà; du lịch trên sông Chảy tuyến Bảo Nhai - Cốc Ly,
Du lịch lễ hội: với 20 dân tộc, hoạt động lễ hội của hai huyện đã và đang được
đẩy mạnh khai thác để phát huy các tiềm năng du lịch Tuy nhiên, thách thức đối với môi trường tự nhiên là các hoạt động lễ hội thường tập trung lượng khách lớn trong một thời gian ngắn, trong khi đó công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đầy đủ, làm gia tăng sức ép lên môi trường
2.2.2 Điểm, tuyến điểm chính của Sa Pa và Bắc Hà
Tại Sa Pa có nhiều địa danh trở thành điểm tham quan thường có trong các chương trình du lịch: Cầu Mây, Thác Bạc, Cát Cát, Cổng Trời, Thung lũng Mường Hoa, Bãi đá cổ, Nhà thờ đá, Núi Hàm Rồng, Động Tả Phìn, Làng thổ cầm Tả Phìn… Ngoài ra, các chương trình tham quan bản, mang tính khám phá, nghỉ dưỡng cũng rất được du khách, đặc biệt khách quốc tế ưa chuộng:
Trang 34- Sa Pa – Tả Phìn;
- Sa Pa – Sín Chải;
- Sa Pa – Bản Hồ;
- Sa Pa – Y Lĩnh Hồ - Lao Chải – Tả Van;
- Sa Pa – Lao Chải – Tả Van – Giang Tà Chải;
- Sa Pa – Y Lĩnh Hồ - Lao Chải – Tả Van – Giang Tà Chải – Supan;
- Sa Pa – Tả Van – Giang Tà Chải – Supan – Bản Hồ;
- Sa Pa – Phan Xi Păng
Ở Bắc Hà, nơi diễn ra các phiên chợ của các đồng bào dân tộc thiểu số được tổ chức ở những địa điểm khác nhau và có những nét đặc sắc khác nhau Mỗi phiên chợ được tổ chức duy nhất một lần trong tuần, đó là nơi gặp gỡ và khám phá đời sống đồng bào các dân tộc Có nhiều chương trình tham quan chợ phổ biến, hấp dẫn
đã được tổ chức như: Chợ Văn hóa Bắc Hà, Chợ Lùng Phình, Chợ Cán Cấu, Chợ Cốc Ly…Bắc Hà đã hình thành một số điểm, tuyến du lịch thu hút khách du lịch đến tham quan:
- Dinh Hoàng A Tưởng
- Chợ Văn hóa Bắc Hà và chợ Lùng Phình
- Chợ Cốc Ly, đi du thuyền trên sông Chảy, thăm làng người Tày Trung Đô
- Tuyến: Bắc Hà – Lầu thí ngài – Tả Van Chư – Hoàng Thu Phố - Cốc Ly – Sông Chảy – Trung Đô (Bảo Nhai)
- Tuyến: Bắc Hà – Bản Phố - Hoàng Thu Phố - Cốc Ly – Sông Chảy – Trung Đô (Bảo Nhai)
- Tuyến: Bắc Hà – Nậm Đét – Nậm Khánh – Bản Liền
- Tuyến: Bắc Hà – Bản Phố - Na Hối – Hoàng A Tưởng
2.2.3 Số liệu thống kê về hoạt động du lịch ở 2 điểm
2.2.3.1 Tại Sa Pa
* Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
- Giao thông: Theo đường bộ, Sa Pa cách Hà Nội 327km Tuyến giao thông chính
Trang 35tàu từ Hà Nội đi Lào Cai và ngược lại Các tuyến đường giao thông trong huyện đang được nâng cấp và tu sửa, đặc biệt là các tuyến đường từ thị trấn đến các xã
- Hệ thống thông tin liên lạc: Sa Pa có trạm phát sóng vi ba, có bưu điện thị trấn, từ
nhà nghỉ, khách sạn du khách có thể liên lạc với bất cứ nơi đâu trong nước và quốc tế
- Hệ thống cung cấp điện: Sa Pa hiện có hệ thống điện quốc gia với đường dây dẫn
35KV và nhiểu trạm biến áp có thể cung cấp đủ cho nhu cầu sử dụng điện Đã có khoảng 80% các xã của huyện đã được đáp ứng nhu cầu sử dụng điện
- Hệ thống cung cấp nước: vấn đề nước sinh hoạt ở Sa Pa còn là vấn đề cần khắc
phục Ở Sa Pa hiện đang sử dụng nhiều nguồn nước khác nhau
Hệ thống nước do người Pháp xây dựng với đường ống dẫn chính Ø100 đã bị
vỡ nhiều nơi, hiện chỉ đủ cung cấp nước cho ¼ nhu cầu nước ở Sa Pa Hệ thống do UNICEF tài trợ xây dựng từ 1992-1993, gồm nhiều bể chứa và các vòi nước tự chảy cho các cụm dân cư, sau 2 năm hoạt động các bể chứa và các vòi tự chảy đã mất nước, hệ thống đường ống hỏng nặng do mở rộng mặt đường số 4Đ từ Sa Pa đi Bình Lư
Hệ thống nước tự chảy do nhân dân tự tạo, lấy nước từ các núi đá vôi Hàm Rồng Hệ thống này không ổn định, phụ thuộc vào mùa và dễ bị ô nhiễm Hiện nay
ở một số khách sạn và người dân Sa Pa sử dụng nguồn nước này Nguồn nước máy được cung cấp từ nhà máy nước với công suất sử dụng đạt 3.000m3/ngày đêm Nguồn nước này lấy từ Thác Bạc qua xử lý và chủ yếu cung cấp cho thị trấn Ngoài
ra, ở Sa Pa còn sử dụng nước mưa và nước giếng đào Chất lượng nước ở Sa Pa nói chung đảm bảo vệ sinh, nhưng vào mùa khô khoảng tháng 2, nguồn nước thường cạn kiệt, nước không đủ dùng cho sinh hoạt, các nhà hàng, cơ sở lưu trú
Đến giữa năm 2009, về nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, huyện đã hoàn thiện dự án hệ thống thoát nước đường Mường Hoa, sân thi đấu tenis Sa Pa; đang triển khai các dự án: Dự án Đường Viôlét; Các Dự án Chợ văn hóa, bến xe khách Sa Pa, Dự án mỏ đất đang tiến hành triển khai Một số dự án nâng cấp khu vực nội thị đang sử dụng theo kế hoạch được triển khai vào năm 2009 từ nguồn vốn vay
Trang 36của Cơ quan Phát triển Pháp – AFD như dự án chỉnh trang đô thị Sa Pa từ nguồn vốn thu phí du lịch
Đối với các dự án đầu tư về du lịch – dịch vụ của các doanh nghiệp, việc thu hút các dự án đầu tư vào cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch có dấu hiệu tốt; nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đến khảo sát, đăng ký đầu tư và đang triển khai các dự án về khách sạn và khu nghỉ dưỡng tại Sa Pa như: Công ty Đầu tư Xây dựng Việt Nam (Secoin); Công ty du lịch Saigòn Tourism; Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam…
*Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
- Về hệ thống cơ sở lưu trú: cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung, hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành du lịch Sa Pa đã phát triển mạnh với sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế Hiện nay trên địa bàn huyện có 141 cơ sở lưu trú, với 2.128 phòng, 3.988 giường, tăng 11 cơ sở và 117 phòng so với cùng kỳ Đầu năm 2009, Sở VH – TT – DL tiến hành thẩm định mới 79 cơ sở lưu trú (đạt tiêu chuẩn tối thiểu), thẩm định lại 06 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 2 sao
Số cơ sở lưu trú tại gia ở các thôn, bản hiện nay trên địa bàn huyện có 83 cơ
sở, tăng 12 cơ sở so với năm 2007, thuộc các xã Bản Hồ có 31 hộ (tăng 02 cơ sở),
Xã Tả Van có 40 hộ (tăng 10 hộ), Thanh Phú có 05 hộ, thôn Sín Chải xã San Sả Hồ
có 03 hộ, Tả Phìn 04 hộ, đáp ứng nhu cầu khách tham quan và nghỉ qua đêm tại bản
79
6 2
37
Cơ sở đạt tiêu chuẩn tối thiểu Cơ sở 2 sao
Cơ sở 3 sao Cơ sở 4 sao Chưa thẩm định xếp loại Nhà khach ngành Khu resort
Trang 37- Về kinh doanh lữ hành: Tính đến hết năm 2008, trên địa bàn huyện có 18 Công
ty, chi nhánh, văn phòng đại diện đủ điều kiện kinh doanh lữ hành, trong đó 02 đơn
vị kinh doanh lữ hành quốc tế, 16 đơn vị kinh doanh lữ hành nội (được phép đưa khách quốc tế đi các tuyến du lịch làng bản), với 240 hướng dẫn viên, trong đó có
95 hướng dẫn viên là người dân tộc thiểu số (chiếm 39,5%), tăng 50 HDV so với năm 2006
- Về phương tiện vận chuyển khách du lịch: Đến nay toàn tỉnh đã có hàng trăm xe
ô tô các loại của các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực vận chuyển khách du lịch Phương tiện vận chuyển chính ở Sa Pa là ô tô và xe máy
- Cơ sở vui chơi giải trí và các dịch vụ khác: Hệ thống các cơ sở vui chơi giải trí
(công viên, vũ trường, cơ sở vật lý trị liệu, dịch vụ ẩm thực…) đã hình thành nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu: ít về số lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu; chất lượng thấp, chưa hấp dẫn, đơn điệu, đặc biệt vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập Khách đến Sa Pa chủ yếu tham quan cảnh quan thiên nhiên, các phiên chợ vùng cao, cuộc sống tại các bản làng mà ít có cơ hội sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí Các dịch vụ này hầu như không có, các nhà hàng ẩm thực cổ truyền mang tính đặc trưng của Âu, Á cũng chưa được đầu tư nhiều Đã xuất hiện các cửa hàng lưu niệm và nhà hàng nhưng sản phẩm đơn điệu, nghèo nàn, chưa thể hiện được bản sắc dân tộc
Trang 38Bảng 2.2 Biểu tổng hợp kết quả hoạt động du lịch của Sa Pa
giai đoạn 2006 –2008
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
1 Doanh thu từ du lịch Triệu đồng 100.000 150.000 172.000
3 Doanh thu phí du
4 Tổng lượt khách Lượt người 259.079 305.907 281.839
(Nguồn: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Sa Pa, 2009)
0 50000 100000 150000 200000 250000 300000 350000
Lượt khách 65068 91000 120587 170000 200000 259079 305907 281839
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Hình 2.4 Lượt khách tới Sa Pa giai đoạn 2001 - 2008
Sáu tháng đầu năm 2009, số lượt khách là: 159.522 lượt bằng 111% so với cùng kỳ và bằng 42% so với kế hoạch, trong đó khách nội địa đạt: 116.041 lượt bằng 121% so với cùng kỳ; quốc tế đạt: 43.481 lượt bằng 91% so với cùng kỳ 6
tháng đầu năm cấp thẻ đi tham quan các tuyến du lịch làng bản cho: 4.619 đoàn
Trang 392.2.3.2 Tại Bắc Hà
* Hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch
- Hệ thống giao thông từ Lào Cai đi Bắc Hà còn nhiều khó khăn, đường bộ đã
xuống cấp nghiêm trọng, giao thông đi lại khó khăn Cả tuyến tỉnh, huyện, xã chủ yếu là đường đất hoặc trải đá cấp phối, nền đường nhỏ đi bộ là chính Mạng lưới thông tin hầu như mới chỉ đến các trung tâm xã, chưa mở rộng đến các tuyến, điểm
du lịch bản làng nên ảnh hưởng đến chất lượng các dịch vụ du lịch
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch
có tăng, nhưng chủ yếu mới tập trung đầu tư vào hệ thống kết cấu hạ tầng, chưa chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành du lịch Vì vậy, huyện còn thiếu rất nhiều các cơ sở phục vụ du lịch có quy mô và chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, nhất là các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 2 sao trở lên
- Về cơ sở lưu trú: Năm 2006, toàn huyện Bắc Hà có 13 cơ sở lưu trú với 149
phòng Năm 2007 số cơ sở lưu trú và số phòng chưa có sự thay đổi, nhà nghỉ khuôn viên nhỏ thiếu sân đỗ xe; số phòng nghỉ chưa đủ đáp ứng nhu cầu, đặc biệt là các hội nghị lớn của tỉnh tổ chức tại huyện, các khách sạn chưa có phòng, hội trường để hội họp - hội thảo; dịch vụ phục vụ có 17 nhà hàng ăn uống, các món ăn còn đơn điệu theo phong cách bình dân, đội ngũ nhân viên phục vụ chưa qua đào tạo
- Cơ sở vui chơi giải trí và dịch vụ khác: Chợ văn hóa quy mô nhỏ chật hẹp, hệ
thống thoát nước và vệ sinh môi trường hạn chế, thiếu bãi đỗ xe, thiếu khu buộc, mua bán ngựa theo tập quán của đồng bào dân tộc vùng cao; di tích lịch sử văn hóa; làng văn hóa Bản Phố đã được hỗ trợ xây dựng, xong quy mô chưa đồng bộ, giao thông đi lại nội làng khó khăn, vệ sinh môi trường yếu kém, trình độ đội ngũ hướng dẫn viên du lịch của làng không được đào tạo cơ bản, chưa thể hiện hết tính cộng đồng, các sản phẩm của làng văn hóa nghèo nàn, chưa thể hiện hết bản sắc văn hóa dân tộc; các điểm du lịch khác như hang Tiên Cốc Ly, động Tả Van Chư và các khu rừng nguyên sinh (Rừng gỗ Cốc Ly, rừng chè cổ thụ xã Hoàng Thu Phố ) hiện nay chưa có sự đầu tư tác động tôn tạo, để tăng sự hấp dẫn, các dịch vụ phục vụ như nghỉ ngơi, ăn uống ở những nơi này không có
Trang 40* Kết quả hoạt động du lịch
Khách du lịch trong năm 2006 đạt khoảng 55.000 lượt khách, trong đó khách nước ngoài chiếm khoảng 60% Khách du lịch đến Bắc Hà trong năm 2006 không chỉ đến thăm các phiên chợ mà đã mở rộng các loại hình du lịch khác như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, tham quan tìm hiểu bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc huyện Bắc Hà Trong năm 2007 khách du lịch đến Bắc Hà đạt 61.790 lượt người, đạt 103% kế hoạch (tăng 6790 lượt người với năm 2006) Tổng số khách du lịch lưu trú trên địa bàn 8.150 lượt người, trong đó khách nước ngoài lưu trú 3810 lượt người tăng 1.147 lược so năm 2007 Số lượng khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch Bắc Hà năm 2008 là 73.870 lượt người, tăng 12.870 lượt, đạt 103% kế hoạch, trong đó khách quốc tế chiếm 65% (riêng Tuần Văn hóa –
Du lịch Bắc Hà 2008 thu hút 16.000 lượt khách đến tham quan du lịch, có khoảng
35 % là du khách nước ngoài); lượng khách lưu trú đạt 4.142 lượt, tăng 1.205 lượt
so với năm 2007, từ đầu năm 2009 đến nay là 64 nghìn lượt Cùng đó, mạng lưới thương mại - dịch vụ được mở mang, doanh thu chín tháng năm 2009 đạt gần 100 tỷ đồng, tăng 25 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2008
0 10000 20000 30000 40000 50000 60000