1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của ICantơ về bản chất của nhận thức trong tác phẩm phê phán lý tính thuần tuý

79 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 598,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng lý luận nhận thức đ-ợc trình bày chủ yếu trong Phê phán lý tính thuần tuý mở đầu thời kỳ phê phán, ông đ-ợc coi là ng-ời đã làm "cuộc cách mạng Côpécníc trong triết học" khi đặt l

Trang 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

Immanuen Cantơ (1724-1804) là ng-ời sáng lập triết học cổ điển Đức

Bằng lý luận nhận thức đ-ợc trình bày chủ yếu trong Phê phán lý tính thuần

tuý mở đầu thời kỳ phê phán, ông đ-ợc coi là ng-ời đã làm "cuộc cách mạng

Côpécníc trong triết học" khi đặt lại vấn đề bản chất của nhận thức trên cơ sở lập ra một "toà án lý tính" xem xét những điều kiện khả thể, giới hạn và khả năng nhận thức của con ng-ời Lấy sự phê phán nhận thức luận của hai trào l-u siêu hình học nổi danh đ-ơng thời là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm làm tiền đề, I.Cantơ dự định xây dựng một khoa học triết học bắt đầu

từ nền tảng của nhận thức, với mong muốn tìm ra nguyên tắc bản nhiên của lý tính; và quả thực ông đã có đóng góp vĩ đại cho lịch sử triết học với t- cách là ng-ời tổng hợp tri thức nhân loại và làm cầu nối t- t-ởng ph-ơng Tây từ cận

đại đến hiện đại

Triết học I.Cantơ đậm tính nhân văn với mục đích đem lại cho con ng-ời một cách nhìn mới về thế giới và về bản thân mình Theo I.Cantơ, triết học phải tạo lập cho con ng-ời một nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống và những lý t-ởng nhân đạo Các vấn đề trên

đều xoay quanh năng lực của lý tính, phản ánh ba khía cạnh cơ bản nhất trong mối quan hệ ''con ng-ời - thế giới'' là nhận thức, thực tiễn và giá trị Vấn đề thứ nhất: con ng-ời với t- cách chủ thể nhận thức có thể biết đ-ợc những gì về thế giới Đây là vấn đề nhận thức luận thuần túy, đ-ợc triển khai trong triết học lý luận của I.Cantơ; trong đó, bản chất của nhận thức là một nội dung quan trọng cần đ-ợc quan tâm nghiên cứu

Triết học I.Cantơ là nền tảng, điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại; chứa đựng cả những hạn chế và công lao Ph.Ăngghen nhận xét "chính I.Cantơ

là ng-ời đầu tiên đã phá vỡ cái quan niệm hoàn toàn thích hợp với ph-ơng pháp t- duy siêu hình và ông đã phá vỡ một cách hết sức khoa học đến mức

Trang 2

mà hiện nay phần lớn những lý lẽ của ông đã dùng để chứng minh vẫn còn giá trị" [23, tr.86]* Nhận xét này tr-ớc hết nhằm đề cao những t- t-ởng biện

chứng của I.Cantơ giữa lúc khoa học hiện đại đang cần có một t- duy mới vạch đ-ờng Những t- t-ởng ấy cho đến nay vẫn còn có ý nghĩa Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu triết học I.Cantơ nói chung, quan niệm về bản chất của nhận thức và tri thức nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh các khoa học về t- duy đang phát triển mạnh mẽ h-ớng tới nền kinh tế tri thức hiện nay

Phê phán lý tính thuần tuý là một tác phẩm đồ sộ, chứa đựng nhiều t-

t-ởng quan trọng của I.Cantơ về nhận thức luận, lôgíc học với tham vọng đặt nền móng cho một "môn siêu hình học mới muốn trở thành một khoa học thực sự" Việc triển khai theo h-ớng nhận thức luận tiên nghiệm giúp I.Cantơ có một cách đặt vấn đề mới về mối quan hệ giữa t- duy và tồn tại so với siêu hình học truyền thống khởi từ thời kỳ tiền Xôcrát đến C.Vônphơ Chính điều đó đã

đ-a I.Cantơ đến chỗ độc đáo và trở thành triết gia có ảnh h-ởng rộng trong các trào l-u triết học ph-ơng Tây hiện đại Đồng thời cũng là triết gia gây nhiều tranh luận trái ng-ợc nhất trong lịch sử triết học từ các cách tiếp cận khác nhau về các chủ đề mà ông nêu ra Do vậy, nghiên cứu vấn đề bản chất của nhận thức trong tác phẩm này sẽ tạo cơ sở cho việc nghiên cứu các t- t-ởng khác của I.Cantơ và góp phần lý giải sức sống của nó trong các trào l-u triết học ph-ơng Tây hiện đại

Mặt khác, việc giảng dạy lịch sử triết học ph-ơng Tây ở n-ớc ta hiện nay đang đ-ợc đẩy mạnh, đòi hỏi phải có thêm nhiều công trình đi vào tìm hiểu, nghiên cứu mảng đề tài quan trọng và khó khăn này, phục vụ công tác

giảng dạy và nghiên cứu lý luận Với những lý do trên, tôi chọn “ Quan niệm của I.Cantơ về bản chất của nhận thức trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình

* Từ đây: - Số đầu là số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo;

- Số cuối là số trang của tài liệu tham khảo

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình viết về triết học

I.Cantơ nói chung và tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý nói riêng theo nhiều

ph-ơng diện khác nhau Thứ nhất là loại công trình viết về triết học I.Cantơ, trong đó có bàn đến nhận thức luận của ông Ngoài bản triết học th-ờng thức chủ yếu trình bày giản l-ợc t- t-ởng I.Cantơ của Nguyễn Đình Thi, tr-ớc hết, các tác giả chỉ ra việc I.Cantơ đã phân biệt tri thức khoa học với tri thức thông th-ờng, thực ra là phân biệt nhận thức tiên nghiệm và nhận thức kinh nghiệm Trần Thái Đỉnh trình bày nhận thức luận của I.Cantơ theo trình tự lôgíc của

cuốn Phê phán lý tính thuần tuý, khẳng định "tri thức đích thực, tức tri thức

khoa học bao giờ cũng chắc chắn vì tất yếu và phổ quát và đ-ợc áp dụng một cách tiên thiên tuyệt đối"; điều này đ-ợc I.Cantơ chứng minh bằng các tri thức luận lý, toán học, vật lý, và cố gắng xây dựng nó trong môn siêu hình học [Xem: 8, tr.24] Cách trình bày này có -u điểm là bám sát tác phẩm gốc của I.Cantơ nh-ng ch-a đánh giá mặt tích cực và hạn chế của ông Tác giả Nguyễn

Văn Huyên khẳng định "I.Cantơ đối lập hai loại tri thức: tri thức hạn chế và

tri thức khoa học" [Xem: 14, tr.71]; đồng thời phân tích hai cấp độ của nhận

thức kinh nghiệm là kinh nghiệm thông th-ờng và kinh nghiệm nhận thức khoa

học; hai cấp độ của nhận thức tiên nghiệm là cái có tr-ớc kinh nghiệm và cái siêu nghiệm [Xem: 14, tr.59] Các tác giả cũng phân tích khá rõ khả năng

nhận thức của cảm tính, giác tính và lý tính đ-ợc I.Cantơ trình bày t-ơng ứng với khả năng nhận thức của toán học, khoa học tự nhiên lý thuyết và siêu hình học

Những đóng góp của các công trình khảo cứu này là chỉ ra các t- t-ởng triết học cơ bản của I.Cantơ cũng nh- đánh giá chung về giá trị hiện thời của các t- t-ởng ấy Nh-ng với di sản khổng lồ của triết gia này thì việc nghiên cứu đòi hỏi phải tiếp tục đi sâu hơn nữa vào từng mảng đề tài, từng chủ đề, hay từng tác phẩm riêng của ông Một số bài viết về siêu hình học, nhận thức luận, lôgíc học và phép biện chứng tiên nghiệm của I.Cantơ đ-ợc tập hợp

Trang 4

trong cuốn I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổ điển Đức do Nhà xuất

bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1997 và Hội thảo khoa học "Triết học cổ

điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học", tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức thành công vào tháng 12/2004 phần nào đáp ứng yêu cầu đó

Nội dung các bài viết này khá phong phú Vấn đề bản chất nhận thức

của I.Cantơ đ-ợc tác giả Vũ Văn Viên chỉ ra là có tính chất tiên nghiệm và

tổng hợp và I.Cantơ tin rằng nhận thức luận tiên nghiệm ấy đã đ-ợc hiện thực hoá trong toán học và khoa học tự nhiên [Xem: 49] Trong nhận thức luận

I.Cantơ, tính tích cực của chủ thể nhận thức đ-ợc xem là yếu tố có giá trị cao, hình thành trong phép diễn dịch tiên nghiệm về các phạm trù [Xem: 3, tr.78] Bảng phạm trù của I.Cantơ có tính phổ quát và tất yếu, t-ơng đối đầy đủ và hệ thống, sắp xếp theo nhịp ba: tiền đề - phản đề - hợp đề, nh-ng tác giả Lê Công

Sự cho rằng, các phạm trù của I.Cantơ chỉ là cách nói khác đi "ý niệm bẩm sinh" của R.Đềcáctơ, "chân lý vĩnh cửu" của G.V.Lépnít mà thôi [Xem: 33, tr.92-93] Học thuyết về "antinômia" và "lôgíc tiên nghiệm" của I.Cantơ chỉ ra mâu thuẫn không thể giải quyết đ-ợc của lý tính thuần tuý khiến cho lý tính phải cậy đến lòng tin, phản ánh thực trạng phổ biến của triết học duy tâm lúc

đó là đều xuất phát từ thần học và không v-ợt qua khuôn khổ của thần học; nh-ng đồng thời nó cũng là điểm khởi đầu của lôgíc biện chứng khoa học [Xem: 47, tr.66] Nh- vậy, t- t-ởng biện chứng của I.Cantơ cũng là một giá trị, tác giả Đặng Hữu Toàn đánh giá: "Không chỉ "nêu lại phép biện chứng"

mà các nhà siêu hình thế kỷ XVII-XVIII đã đ-a nó vào lãng quên, không chỉ làm cho nó thoát khỏi địa vị của một thứ triết lý hão huyền, một "nghệ thuật hùng biện" nh- các nhà triết học cổ đại Hy Lạp quan niệm, I.Cantơ đã tạo ra trong hệ thống triết học duy tâm tiên nghiệm của mình một hình thức mới của phép biện chứng - phép biện chứng tiên nghiệm" [41, tr.23] Cách tiếp cận triết học cũng là một vấn đề đ-ợc các học giả quan tâm ở I.Cantơ Tác giả Hồ

Sỹ Quý khẳng định triết học I.Cantơ mang tinh thần phê phán hết sức rõ rệt,

Trang 5

đã phê phán một cách trực diện và không th-ơng tiếc toàn bộ "linh hồn" của triết học tiền bối; triết học nào cũng ít nhiều sử dụng vũ khí phê phán nh-ng phê phán đ-ợc nâng lên thành một ph-ơng thức xây dựng t- t-ởng, đ-ợc hệ thống hoá thành một cách tiếp cận riêng thì chỉ có ở I.Cantơ [Xem: 29, tr.283-284] Tác giả Đỗ Minh Hợp chỉ ra đặc tr-ng của cách tiếp cận tiên nghiệm của triết học I.Cantơ là "quay lại với ý thức chỉ đ-ợc làm sáng tỏ hơn, chỉ có tính chất đặc thù hơn", tức là một cách tiếp cận xác định đối với việc phân tích ý thức [Xem: 12, tr.265-266] Vấn đề "cái siêu việt", "cái siêu nghiệm" đ-ợc tác giả Phạm Minh Lăng và Phạm Văn Chung đề cập nh- là sức mạnh kỳ diệu của trí tuệ cũng là nội dung mang tính thời đại Những hạn chế và giá trị của nhận thức luận I.Cantơ đ-ợc trình bày xen kẽ, rải rác trong các bài viết Có thể rút

ra hạn chế chủ yếu là tính chất duy tâm và bất khả tri trong việc nhận thức thế giới Nh-ng không thể phủ nhận công lao to lớn của I.Cantơ: đặt lại vấn đề mối quan hệ giữa t- duy và tồn tại mà cầu nối là chủ thể nhận thức với toàn bộ tính tích cực, sáng tạo của chủ thể; phân tích cấu trúc của trực quan và lý tính;

đặt vấn đề nghiên cứu công cụ và khả năng của nhận thức Mặc dù tác giả Trần Văn Phòng nhận xét "những đóng góp của I.Cantơ chủ yếu là đặt vấn đề chứ không phải giải quyết vấn đề" [Xem: 26] song những giá trị này thực sự

đã góp phần thúc đẩy triết học và khoa học phát triển, để cho "khoa học chứng minh về chi tiết" Và sự thực là "sự xuất hiện của các hệ thống lôgíc hiện đại

và các ph-ơng pháp nhận thức khoa học hiện đại đã chứng thực điều đó" [Xem: 49]

Những bài viết này cho thấy việc khai thác các khía cạnh trong triết học I.Cantơ không bao giờ là đầy đủ cả Việc đánh giá, lĩnh hội triết học I.Cantơ một cách thực sự khách quan, chính xác và khoa học là điều không dễ vì t- t-ởng của ông chứa đựng rất nhiều vấn đề mới mẻ, uyên bác, phức tạp; và trong cuộc đời sáng tạo của ông từng có b-ớc ngoặt lớn về lập tr-ờng triết học, những vấn đề ông nêu ra còn ẩn chứa các mâu thuẫn gây nên nhiều cách

lý giải khác nhau

Trang 6

Khi tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý đ-ợc dịch lần đầu tiên ra tiếng

Việt năm 2004, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn đã trình bày xen lẫn phần chú giải dẫn nhập của mình nhằm làm rõ hơn các t- t-ởng vốn đ-ợc xem là khá phức tạp và khó hiểu của I.Cantơ trong cuốn sách Đồng thời Thái Kim Lan viết bài dẫn luận Công trình này có thể coi là những b-ớc đi đầu tiên trực tiếp giới

thiệu Phê phán lý tính thuần tuý - một cuốn sách đ-ợc A.Sôpenhauơ đánh giá

là "quan trọng nhất trong muôn một đ-ợc tr-ớc tác tại châu Âu" - với bạn đọc Việt Nam

Nh- vậy, nghiên cứu sâu và có hệ thống các đề tài đ-ợc I.Cantơ gợi mở

trong Phê phán lý tính thuần tuý là công việc mới mẻ của giới học thuật ở Việt

Nam Trong khi việc tiếp cận văn bản gốc bằng tiếng Đức còn khó khăn thì bản dịch tiếng Việt nói trên của Bùi Văn Nam Sơn là tài liệu chủ yếu để nghiên cứu luận văn này

3 Mục đớch và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: Từ sự phân tích cách tiếp cận và những luận

điểm cơ bản của I.Cantơ, luận văn góp phần làm rõ quan niệm của ông về bản

chất của nhận thức trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

1) Phân tích bối cảnh ra đời của tác phẩm, cách tiếp cận của I.Cantơ về nhận thức trong tác phẩm

2) Phân tích những nội dung cơ bản nhất thể hiện quan niệm của I.Cantơ về bản chất của nhận thức

3) Đánh giá một cách khái quát quan niệm của I.Cantơ về bản chất của nhận thức

4 Cơ sở lý luận, ph-ơng pháp và phạm vi nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Trang 7

Luận văn đ-ợc thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử triết học

- Ph-ơng pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng ph-ơng pháp so sánh, lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp nhằm tái hiện và đánh giá quan niệm của I.Cantơ về bản chất nhận thức

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ quan niệm của I.Cantơ về bản chất

của nhận thức trong Phê phán lý tính thuần tuý

5 Đóng góp mới của luận văn

Một là, luận văn góp phần làm rõ nguồn gốc lý luận quan niệm của

I.Cantơ về bản chất của nhận thức trong Phê phán lý tính thuần tuý

Hai là, b-ớc đầu đánh giá những tích cực cũng nh- hạn chế trong nhận

thức luận của I.Cantơ

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Mặc dù đã có nhiều nhà nghiên cứu viết về I.Cantơ ở các góc độ khác nhau song để nghiên cứu ngày càng đầy đủ, sâu sắc những quan điểm triết học của ông thì còn cần rất nhiều công trình khác Về mặt lý luận, luận văn hoàn thành sẽ góp một phần nhỏ cho việc nghiên cứu về lý luận nhận thức của I.Cantơ; về mặt thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài liệu phục vụ tham khảo cho công tác giảng dạy lịch sử triết học hiện nay ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 2 ch-ơng, 4 tiết

Trang 8

Ch-ơng 1 bối cảnh ra đời và cách tiếp cận của I.cantơ về bản chất của nhận thức

trong tác phẩm phê phán lý tính thuần tuý

1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề lý luận ra đời tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý

Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu thực hiện những b-ớc đi quan trọng nhằm chuyển đổi ph-ơng thức sản xuất phong kiến sang ph-ơng thức sản xuất t- bản chủ nghĩa; và thực sự đã đạt đ-ợc những thành tựu kinh tế

- xã hội to lớn, từng b-ớc khẳng định địa vị thống trị của giai cấp t- sản Sự phát triển kinh tế t- bản đã phá tan quan hệ sản xuất cát cứ phong kiến trên cơ

sở xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới, làm thay đổi ph-ơng thức tổ chức lao

động, thay đổi kết cấu giai cấp và đời sống xã hội nói chung Điểm nhấn của quá trình này là các cuộc cách mạng xã hội Nếu cách mạng t- sản lần đầu tiên nổ ra ở Hà Lan (thế kỷ XVI) báo hiệu thời kỳ Trung cổ đã suy tàn, thì cách mạng t- sản Anh (1640-1660) là cuộc cách mạng đầu tiên có ý nghĩa lớn

đối với quá trình hình thành chủ nghĩa t- bản trên phạm vi châu Âu và thế giới Cơ sở kinh tế của cuộc cách mạng này là các ngành công nghiệp ở Anh

đã phát triển rất mạnh mẽ, những phát minh về kỹ thuật, nhất là những hình thức tổ chức mới trong lao động đã làm cho năng suất lao động ở các công tr-ờng thủ công ngày càng tăng Trong đó, ngành len dạ rất phát triển đã mở

ra cuộc xâm thực của công nghiệp đối với nông nghiệp, làm thay đổi kết cấu giai cấp và các nhóm xã hội Tômát Morơ [Thomas More] (1478-1535) - nhà văn nhân đạo chủ nghĩa, nhà hoạt động chính trị, quốc vụ khanh n-ớc Anh -

đã mô tả: "Những con cừu x-a kia ngoan ngoãn hiền hậu biết bao, bây giờ đều trở thành những con vật hung hãn, tham lam Cừu ăn thịt ng-ời, phá hoại ruộng v-ờn, nhà cửa và thành thị" Tình trạng "cừu ăn thịt ng-ời" thực tế là sự

Trang 9

t-ớc đoạt ruộng đất của nông dân do nhà t- bản công nghiệp và địa chủ liên kết tiến hành, nhằm "biến đồng lúa thành đồng cỏ" dành cho việc chăn nuôi

cừu phục vụ ngành dệt len Trong T- bản, C.Mác [Karl Marx] (1818-1883) đã viết: "Cơ sở của toàn bộ quá trình tiến triển này chính là sự t-ớc đoạt ruộng

đất của nông dân chỉ đ-ợc tiến hành triệt để ở n-ớc Anh thôi; vì vậy trong sự phác hoạ sau đây của chúng ta, tất nhiên là n-ớc Anh sẽ giữ một địa vị bậc nhất"; và "biến đồng ruộng thành đồng cỏ, đó là khẩu hiệu chiến đấu của lớp quý tộc mới"

Ngành th-ơng nghiệp ở Tây Âu cũng không ngừng mở rộng, nhất là ngoại th-ơng, cùng với chế độ thực dân xâm chiếm thuộc địa Một loạt các công ty th-ơng mại lớn ra đời nh-: công ty châu Phi (1553) chuyên buôn vàng, ngà voi, nô lệ da đen; công ty Mátxcơva buôn bán dọc sông Vônga vào

Ba T- và ấn Độ; công ty Tây Ban Nha (1577); công ty ph-ơng Đông (1579) buôn bán ven biển Ban Tích; công ty Thổ Nhĩ Kỳ (1581), công ty Đông ấn (1600) cạnh tranh với th-ơng nhân Hà Lan và Pháp Sở giao dịch của Trung tâm mậu dịch và tài chính khu Xity (Luân Đôn - Anh) cũng đ-ợc thành lập từ khá sớm vào năm 1568 để đáp ứng nhu cầu phát triển trao đổi hàng hoá Th-ơng nghiệp đã góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ nguyên thuỷ t- bản và hình thành chủ nghĩa thực dân

Sự bành tr-ớng hệ thống thuộc địa đạt tới mức độ cao ch-a từng có trong thế kỷ XVII-XVIII, mở rộng thị tr-ờng trong và ngoài n-ớc, cùng với cách mạng ruộng đất ở Anh; điều đó đòi hỏi một khối l-ợng sản phẩm công nghiệp lớn mà nền sản xuất công tr-ờng thủ công không đáp ứng nổi Xuất phát từ yêu cầu khách quan của xã hội và những điều kiện sẵn có, n-ớc Anh b-ớc vào giai đoạn cách mạng công nghiệp Khởi điểm của cuộc cách mạng

này là sự xuất hiện máy móc cơ khí, là sự nhảy vọt từ lao động thủ công sang

lao động bằng máy móc dựa trên những thành tựu số học, cơ học, vật lý học,

hoá học và động lực học kết hợp với trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá khá hoàn thiện của nền sản xuất Mở đầu là các phát minh trong

Trang 10

ngành bông vải sợi Năm 1733, nhà kỹ thuật Giôn Cây phát minh ra thoi bay làm cho năng suất sợi tăng gấp đôi Năm 1735, Abraham Đácbi phát minh ra ph-ơng pháp nấu than cốc từ than đá để luyện gang, góp phần phát triển ngành luyện kim và cơ khí Năm 1765, ng-ời thợ dệt Giêm Hácrivơ phát minh

ra máy kéo sợi có 16 đến 18 cọc suốt so với xa kéo sợi một cọc suốt thủ công tr-ớc đây Năm 1769, máy kéo sợi chạy bằng sức n-ớc ra đời mang tên

áccraitơ sau đó đ-ợc công nhân Xamyen Crơmtơn cải tiến tới trình độ cao hơn Nh-ng hạn chế của loại máy kéo sợi này là phải xây dựng nơi sản xuất gần nguồn n-ớc Cùng năm đó, một thực nghiệm viên là Giêm Oát [James Watt] (1736-1812) tìm ra nguyên tắc máy hơi n-ớc mở đ-ờng cho việc giải phóng sức lao động Vài năm sau, máy dệt chạy bằng hơi n-ớc ra đời có năng suất tăng gấp 39 lần Nhờ có những phát minh vĩ đại ấy, lao động bằng máy

đã thắng lao động bằng chân tay ở hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu của n-ớc Anh Cách mạng công nghiệp có ảnh h-ởng sâu sắc đến đời sống xã hội, làm phân hoá kết cấu giai cấp, thay đổi nhận thức của con ng-ời đối với giới

tự nhiên và xã hội

Những nét chấm phá trên cho thấy cách mạng công nghiệp Anh là một biến cố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế - xã hội t- bản lúc bấy giờ Còn các cuộc cách mạng t- sản là điểm nút, mở đ-ờng cho sự phát triển của hiện thực xã hội và các t- t-ởng xã hội tiến bộ Các cuộc cách mạng đó

ảnh h-ởng rộng lớn đến các phong trào giải phóng ở các n-ớc châu Âu, trong

đó có n-ớc Đức, bao gồm các nội dung: chống chủ nghĩa phong kiến, hệ t- t-ởng tôn giáo; phát triển hệ t- t-ởng t- sản mang tính chất tiến bộ thời bấy giờ, đòi trả lại cho con ng-ời những quyền cơ bản mà nó đáng đ-ợc h-ởng Tuy nhiên, chủ nghĩa phong kiến ch-a bị tiêu diệt hoàn toàn về mặt chính trị, dẫn đến xuất hiện t- t-ởng thoả hiệp của một bộ phận giai cấp t- sản yếu hèn Khuynh h-ớng thoả hiệp này biểu hiện rõ nét nhất ở n-ớc Đức, nơi mà sự phát triển của chủ nghĩa t- bản bị cản trở bởi chính những điều kiện kinh tế, chính trị của nó N-ớc Đức hãy còn là một n-ớc nửa phong kiến bị phân hoá cả về kinh tế lẫn chính trị, nh- tàn tích của chế độ nông nô, chế độ ph-ờng hội, tình

Trang 11

trạng cát cứ của các lãnh chúa, sự tồn tại của nhiều quốc gia nhỏ phụ thuộc lẫn nhau trong nhà n-ớc quân chủ Phổ, đã kìm hãm sự phát triển t- bản chủ nghĩa ở Đức Ph.Ăngghen [Friedrich Engel] (1820-1895) thốt lên: "Mọi thứ

đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia

hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi" [22, tr.754] Trong bối cảnh xã hội

Đức có trình độ lạc hậu hơn rất nhiều so với một số n-ớc phát triển t- bản chủ nghĩa đi đầu ở Tây Âu, triết học I.Cantơ là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh vực t- t-ởng, đ-ợc coi là "lý luận Đức của cuộc cách mạng t- sản Pháp"

Triết học I.Cantơ là một hiện t-ợng nằm trong bối cảnh phát triển văn hóa và triết học cận đại, biểu thị những đặc điểm của một chặng đ-ờng phát triển tinh thần và văn hóa của Tây Âu Triết học I.Cantơ có liên hệ nội tại với toàn bộ văn hóa châu Âu thời cận đại Về ranh giới lịch đại, quan điểm chính thống của các nhà sử học Liên Xô tr-ớc đây cho rằng thời cận đại đ-ợc khởi

đầu từ cách mạng t- sản Anh giữa thế kỷ XVII Khác với quan điểm đó, các nhà sử học ph-ơng Tây cho rằng thời Trung cổ kết thúc vào thế kỷ XV và b-ớc chuyển sang thời cận đại cũng bắt nguồn từ đó với phong trào Phục h-ng

và Cải cách tôn giáo Tuy nhiên, các đặc tr-ng văn hóa ph-ơng Tây trở thành bản sắc cho đến tận ngày nay chỉ đ-ợc hình thành từ thế kỷ XVI trở đi Đặc biệt, văn hóa châu Âu cận đại có liên hệ mật thiết với phong trào Khai sáng, -

là một trào l-u t- t-ởng và văn hóa đặc biệt, hình thành ở Tây Âu vào cuối thế

kỷ XVII - XVIII Có thể coi các đại diện lớn nhất của nó là Giôn Lốccơ [John

Montesquieu] (1689-1755), Phrăngxoa Mari Vônte [Francois Marie Voltaire] (1694-1778), Giăng Giắc Rútxô [Jean-Jacques Rousseau] (1712-1778), Đênít

Điđơrô [Denis Diderot] (1713-1784), Pôn Hăngri Hônbách [Paul Henri Holbach] (1723-1789), Giôhan Gốtphrít Hécđơ [Johann Gottfried Herder] (1744-1803), Gốthôn Êphram Létxinh [Gotthold Ephraim Lessing] (1729-1781), v.v Tác

động của phong trào Khai sáng v-ợt ra khỏi khuôn khổ của thời đại mà các nhà Khai sáng hoạt động, minh chứng rõ nét là toàn bộ thế kỷ XIX đã diễn ra

Trang 12

d-ới khẩu hiệu khải hoàn của những t- t-ởng Khai sáng Các nhà Khai sáng coi ph-ơng tiện cơ bản để hoàn thiện con ng-ời và xã hội là phổ biến tri thức, khoa học và giáo dục Cơ sở thế giới quan là sự tin t-ởng vào tính hợp lý của thế giới, tin t-ởng vào khả năng xây dựng xã hội phù hợp với những nguyên tắc hợp lý trong việc giáo dục "con ng-ời hợp lý" Phong trào Khai sáng gắn liền với sự sùng bái lý tính mà họ hiểu là những nguyên tắc của khoa học cổ

điển đ-ơng thời Bản tính ng-ời theo họ là "cái thiện tuyệt đối" còn những khiếm khuyết của nó gắn liền với sự không hoàn hảo của xã hội, sự tác động xấu của môi tr-ờng xã hội Họ phân chia xã hội thành "giới tinh hoa hoàn hảo" và quần chúng ch-a đ-ợc khai sáng - những ng-ời mà các nhà Khai sáng

đồng cảm và h-ớng nỗ lực của mình vào việc giáo dục họ Đồng thời, phong trào Khai sáng định h-ớng việc cải tạo xã hội theo thiết kế trên cơ sở có luận

cứ khoa học Công lao của các nhà Khai sáng là ở chỗ họ đã nâng cao địa vị xã hội của khoa học và giáo dục Sự đánh giá cao tri thức và trình độ hiểu biết (trái ng-ợc với sự ngu dốt và chủ nghĩa ngu dân) từ đó đã không bao giờ biến mất khỏi châu Âu

Các nhà nghiên cứu thống nhất với nhau rằng, khai sáng là đặc tr-ng

chủ đạo của văn hóa Tây Âu cận đại Nội dung của khai sáng đ-ợc thể hiện

tập trung trong chủ nghĩa duy lý theo nghĩa rộng nhất của từ này Văn hóa Tây

Âu cận đại rất đề cao lý tính; thực chất là sự sùng bái lý tính Trong đó, lý tính khoa học hay niềm tin vào những khả năng vô hạn của khoa học trở thành yếu

tố hàng đầu Ng-ời ta tin rằng những nguyên tắc bất biến của thế giới nằm trong chính bản chất của lý tính, vì một lẽ hiển nhiên là lý tính không có những nguyên tắc thì không còn là lý tính nữa Từ đó, các nhà khoa học tự nhiên và triết học không ngừng theo đuổi mục đích tìm ra các quy luật khoa học, các tri thức chân lý tất yếu và phổ quát Nh- vậy, sự tin t-ởng vào tính

hợp lý của thế giới mở ra con đ-ờng dẫn tới sự luận chứng cho khoa học về

mặt ph-ơng pháp luận Khoa học châu Âu cận đại đặt nền móng cho khoa học

tự nhiên hiện đại phát triển Chủ nghĩa duy lý quy định trong lịch sử và văn

Trang 13

hóa châu Âu cận đại rằng, ph-ơng diện t- t-ởng bắt đầu đóng một vai trò đặc biệt, xã hội vận động tiến lên d-ới tác động của t- t-ởng

Bên cạnh đó, thời cận đại quan niệm về bản thân văn hóa nh- là giới tự

nhiên thứ hai - là giới tự nhiên mới do con ng-ời sáng tạo ra, nh-ng cũng quan

trọng nh- giới tự nhiên thứ nhất Nếu nh- văn hoá cổ đại và trung cổ hình thành theo nguyên tắc thích nghi với tự nhiên thì văn hoá cận đại hình thành trên nguyên tắc sáng tạo tự nhiên Nguyên tắc này định h-ớng th-ờng xuyên hoạt động của con ng-ời vào cái mới, vào việc tích lũy những sản phẩm vật chất và tinh thần ngày càng nhiều hơn Do đó, văn hóa châu Âu cận đại đã tiên phong thực hiện sự đề cao tính tích cực của con ng-ời, sức mạnh sáng tạo của chủ thể văn hoá Sự phát triển nội tại của văn hóa châu Âu cận đại quy định thái độ phê phán của nó đối với các thời đại tr-ớc Thời cận đại đã tiến hành phê phán thời trung cổ bằng bầu nhiệt huyết của lý tính; thể hiện ở hai mặt: một mặt, coi thời trung cổ là thời đại đen tối và cuồng tín tôn giáo nên đã loại

bỏ không ít thành tựu của văn hóa trung cổ; mặt khác, xu h-ớng tự phê phán dựa trên việc giữ lại những mối liên hệ với quá khứ vẫn tiếp tục có tác động ở bên trong văn hóa cận đại mà triết học I.Cantơ là ví dụ điển hình

Immanuen Cantơ [Immanuel Kant] sinh ngày 22/4/1724 tại thị trấn Konixbécgơ [Kửnisberg] (miền Đông n-ớc Phổ), mất ngày 12/2/1804 sau gần

4 tháng lâm bệnh nặng, h-ởng d-ơng 80 tuổi Ngay từ khi còn là sinh viên, I.Cantơ đã hấp thụ triết học tự nhiên và cơ học của Isác Niutơn [Issac Newton] (1642-1727), thích thú với siêu hình học kinh viện nhà tr-ờng của Gốtphrít Vinhem Lépnít [Gottfried Wilhelm Leibniz] (1646-1716) - Crixtian Vônphơ

trị - xã hội của J.J.Rútxô Có thể coi đây là những tiền đề lý luận trực tiếp để hình thành ba bộ phận của hệ thống triết học I.Cantơ là triết học tự nhiên, triết học nhận thức và triết học thực tiễn Dù có một cuộc sống bề ngoài đơn điệu

và tẻ ngắt, I.Cantơ vẫn nổi tiếng khắp thế giới lúc sinh thời vì những bài giảng thông tuệ đã trở thành huyền thoại, đ-ợc những ng-ời say mê triết học đánh giá là một trong số ít những triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại, cùng với Xôcrát

Trang 14

[Socrates] (470-399 Tr.CN) và Platôn [Plato] (427-347 Tr.CN) thời cổ đại, Gioóc Vinhem Phriđrích Hêghen [Georg Wilhelm Friedrich Hegel] (1770-1831)

và Máctin Haiđơgơ [Martin Heidegger] (1889-1976) sau này

Sau một loạt các tác phẩm xuất sắc gồm: Sơ luận về bất kỳ môn siêu

hình học nào trong t-ơng lai muốn trở thành khoa học (1783), Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì? (1784), Đặt cơ sở cho siêu hình học về đức lý (1785), Các cơ sở siêu hình học đầu tiên của khoa học tự nhiên (1786), Tôn giáo bên trong các ranh giới của lý tính đơn thuần (1793), H-ớng đến nền hoà bình vĩnh cửu (1795), Siêu hình học về đạo đức (1797), Nhân loại học d-ới giác độ thực tiễn (1798) và đặc biệt là bộ ba Phê phán lý tính thuần tuý (1781-1787), Phê phán lý tính thực tiễn (1788) và Phê phán năng lực phán đoán (1790),

I.Cantơ ba lần đ-ợc bầu vào các viện hàn lâm: Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Béclin (1786), Viện hàn lâm khoa học Pêtécbua (1794), Viện hàn lâm khoa học Siena (1798) I.Cantơ là triết gia đầu tiên đồng thời là viện sĩ hàn lâm; sau ông, cho đến thế kỷ này, không lấy làm lạ khi một triết gia luôn

có tầm cỡ của một giáo s- đại học và gần nh- tất cả những ng-ời xuất sắc trong lĩnh vực này đều là nhà hàn lâm Khuynh h-ớng chuyên nghiệp hoá triết học bị phê phán gay gắt từ áctuya Sôpenhauơ [Arthur Schopenhauer] (1788-1860), nh-ng d-ờng nh- hiện nay khuynh h-ớng đó đã đ-ợc thiết định không thể nào đảo ng-ợc

Sự nghiệp đồ sộ của I.Cantơ đ-ợc ông nung nấu từ ý t-ởng tổng kết toàn

bộ tri thức triết học trong lịch sử loài ng-ời từ thời cổ đại Hy Lạp cho đến thời

đại ông trên tinh thần phê phán, gạn lọc, kế thừa những yếu tố mà ông cho là

đúng, là có giá trị; từ đó xây dựng một hệ thống siêu hình học mới theo nghĩa

là khoa học triết học vạn năng Tốt nghiệp đại học năm 1746 đến tr-ớc khi

đ-ợc bổ nhiệm làm giáo s- siêu hình học và lôgíc học năm 1770, I.Cantơ khởi nghiệp bằng những lý thuyết khoa học tự nhiên, hình thành các quan niệm về triết học tự nhiên mang tính chất duy vật tự phát - thời kỳ này những t- t-ởng phê phán ở I.Cantơ ch-a rõ ràng, vì vậy gọi là thời kỳ tiền phê phán Từ năm

Trang 15

1770 cho đến cuối đời, I.Cantơ đặt ra nhiệm vụ phê phán lý tính, phê phán các

hệ thống siêu hình học tr-ớc đó, đặc biệt là siêu hình học duy lý và siêu hình học duy nghiệm - vì vậy, thời kỳ này đ-ợc gọi là thời kỳ phê phán

Thời kỳ tiền phê phán (tr-ớc 1770)

Đây là thời kỳ I.Cantơ tham dự sâu sắc vào các vấn đề triết học và khoa học tự nhiên của trào l-u Khai sáng Trong lĩnh vực siêu hình học, mặc dù I.Cantơ đã bắt đầu tiếp cận với một khuynh h-ớng khác của trào l-u Khai sáng

- khuynh h-ớng triết học phản duy lý khởi từ J.J.Rútxô; song tựu trung ông vẫn chấp nhận khuynh h-ớng duy lý thống trị mà phong trào này đã mở ra ở Tây Âu với đỉnh cao là siêu hình học tr-ờng ốc G.V.Lépnít - C.Vônphơ Thậm chí trong một số luận văn, ông còn đ-a ra các luận cứ chứng minh sự hiện hữu khả thể của Th-ợng đế nh- một "đấng sáng tạo bất khả tri của toàn thể" trên quan điểm mục đích luận rất đ-ợc -a chuộng trong giới học thuật truyền thống

Tuy nhiên, I.Cantơ quan tâm nhiều hơn đến các khoa học tự nhiên nh- toán học, vật lý học, thiên văn học, sinh học và địa chất học Có thể nói, trong

lý thuyết về tự nhiên, I.Cantơ về cơ bản đã thể hiện nh- một nhà duy vật tự phát khi ông khẳng định thế giới đ-ợc cấu tạo từ vật chất, mọi vật thể liên hệ, t-ơng tác lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy Định luật vạn vật hấp dẫn của I.Niutơn đã cuốn hút ông Các nhà kinh điển của triết học Mác cũng đánh giá rất cao công lao của I.Cantơ trong lĩnh vực này Ph.Ăngghen viết: "I.Cantơ là ng-ời khởi x-ớng ra hai giả thuyết thiên tài, mà nếu không có hai giả thuyết này thì lý luận của khoa học tự nhiên ngày nay không thể tiến lên đ-ợc, - thuyết về nguồn gốc của hệ thống mặt trời [ ] và thuyết thuỷ triều làm giảm tốc độ quay của quả đất" [23, tr.492] Trong lĩnh vực sinh học, I.Cantơ đề xuất t- t-ởng phân loại động vật theo nguồn gốc các loài dựa vào các nhóm genotíp của chúng Trong lĩnh vực nhân loại học, ông đ-a ra t- t-ởng về lịch sử tự nhiên của loài ng-ời, - điều mà sau này, Sáclơ Rôbớt Đácuyn [Charles Robert Darwin] (1809-1882) chứng minh về mặt sinh học qua tác phẩm Nguồn gốc

Trang 16

các loài qua chọn lọc tự nhiên còn Ph.Ăngghen chứng minh về mặt xã hội

bằng bài viết Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ v-ợn

thành ng-ời Tác phẩm chủ yếu của I.Cantơ thời kỳ này là Lịch sử tự nhiên đại c-ơng và thuyết bầu trời (1755); trong đó, ông nêu lên giả thuyết thiên tài về

nguồn gốc của thái d-ơng hệ là những khối tinh vân gồm vô vàn các hạt vật chất, nhờ lực vạn vật hấp dẫn mà chúng khuếch tán trong không gian rồi dần dần tụ lại thành những đám mây khổng lồ, do lực hút và đẩy trong lòng chúng tạo ra vận tốc xoáy làm chúng đông kết lại thành những khối cầu có kích th-ớc khác nhau, làm nên các hành tinh trong hệ mặt trời Giả thuyết này cũng cho phép mở rộng ra nhiều hệ mặt trời khác t-ơng tự trong vũ trụ vô cùng vô tận Sau đó không lâu, nhà thiên văn học và toán học ng-ời Pháp Pie Ximông Laplaxơ [Pierre Simon Laplace] (1749-1827), tiến hành nghiên cứu độc lập với I.Cantơ, cũng có giả thuyết t-ơng tự từ những kết luận toán học của mình Từ

đó, học thuyết tinh vân nguyên thuỷ đi vào lịch sử với tính cách là lý thuyết vũ trụ I.Cantơ - P.S.Laplaxơ Nh- vậy là I.Cantơ đã đi xa hơn I.Niutơn bằng việc ứng dụng các nguyên tắc khoa học tự nhiên để không chỉ giải thích kết cấu mà còn giải thích cả nguồn gốc của hệ thống mặt trời, trong khi I.Niutơn thừa nhận không thể rút ra nguyên nhân của bản thân sức hút cũng nh- các thuộc tính của chúng Đồng thời giả thuyết của I.Cantơ cũng là minh chứng rõ nét cho việc triết học đã làm tốt nhiệm vụ dẫn đ-ờng cho khoa học tự nhiên nh- thế nào, giúp các nhà khoa học tự nhiên "tránh khỏi lầm lạc liên miên, khỏi phải mất vô số thì giờ và công sức vào những h-ớng sai lầm, vì trong điều phát hiện của I.Cantơ đã có cái khởi điểm của mọi sự tiến bộ sau này" [23, tr.466]

Đ-ơng nhiên, việc truy tìm đến tận cùng nguồn gốc và bản chất của thế giới trên cơ sở t- duy máy móc siêu hình thế kỷ XVIII rốt cuộc sẽ gặp mâu thuẫn trong nhận thức mà t- duy ấy không thể v-ợt qua, - mặc dù các giả thuyết thiên tài của I.Cantơ đã manh nha tiềm ẩn t- duy biện chứng nh- các nhà kinh điển của triết học Mác nhận xét: "Vấn đề cái hích đầu tiên đã bị loại bỏ; trái đất và tất cả hệ thống mặt trời hiện ra nh- là một cái gì đã hình thành

Trang 17

trong thời gian" [23, tr.466]; "lần đầu tiên, cái quan niệm cho rằng giới tự nhiên không có lịch sử trong thời gian, đã bị lung lay" [23, tr.85] Vì vậy, ông tập trung nghiên cứu triết học tự nhiên với niềm tin rằng, triết học với t- cách

là một khoa học lý thuyết thuần tuý có khả năng lý giải mọi vấn đề của giới tự nhiên mà không cần đến các tài liệu kinh nghiệm Lúc đầu, I.Cantơ chịu ảnh h-ởng lớn của siêu hình học kinh viện G.V.Lépnít - C.Vônphơ và các quan niệm máy móc của I.Niutơn, sau đó chuyển dần sang thuyết hoài nghi t- biện của Rơnê Đềcáctơ [Réne Descartes] (1596-1650); chịu ảnh h-ởng và là ng-ời truyền bá tích cực t- t-ởng Khai sáng vào n-ớc Đức nh-ng I.Cantơ còn tiến thêm một b-ớc là phê bình chủ thuyết Khai sáng cũng nh- đối t-ợng của nó là

lý trí và tri thức Đó là một trong các lý do khiến I.Cantơ chuyển sự nghiên cứu của mình từ đối t-ợng khách thể bên ngoài sang đối t-ợng lý tính bên trong ở thời kỳ phê phán

Thời kỳ phê phán (sau 1770)

Đây là thời kỳ I.Cantơ đặt ra một khát vọng hiểu biết vô bờ bến Các vấn đề khoa học tự nhiên không còn thoả mãn ông, nhất là khi trình độ nhận thức khoa học của thế kỷ XVIII với t- duy siêu hình không thể lý giải đ-ợc các vấn đề mới mẻ nh- bản chất của sự sống và lý tính con ng-ời D-ờng nh- khát vọng hiểu biết và khả năng hiểu biết có giới hạn trở thành một mâu thuẫn lớn mà I.Cantơ trăn trở muốn khám phá Sự bế tắc trong việc lý giải nguồn gốc

sự vận động của thế giới vật chất khiến ông dần nghi ngờ rằng khả năng nhận thức của con ng-ời về thế giới không phải không có giới hạn; và thực ra con ng-ời có nhận thức đ-ợc thế giới nh- là nó tồn tại không? Từ đó, ông đi đến quan niệm về thế giới "vật tự nó" [Ding an sich] tồn tại bên ngoài mọi khả năng nhận thức của con ng-ời và cái mà con ng-ời nhận thức đ-ợc thật ra là thế giới hiện t-ợng - hay là thế giới khả giác Theo I.Cantơ, nguồn gốc của sự vận động không phải nằm ở bản thân vật chất mà nằm ở "cái đằng sau" của vật chất với tính cách là nguyên nhân đầu tiên Thuyết động lực của ông thể hiện rõ b-ớc chuyển từ thế giới quan duy vật tự phát sang thế giới quan duy

Trang 18

tâm khi cho rằng cái có tr-ớc không phải là vật chất mà là một thứ lực thuần tuý làm cho vật chất vận động Động lực học tuyệt đối đã đuổi nguyên tử luận với t- cách là học thuyết về cấu trúc vật chất, là cơ sở của chủ nghĩa duy vật,

ra khỏi khoa học tự nhiên Dù vậy, yếu tố biện chứng trong thuyết động lực I.Cantơ là quan niệm về sự thống nhất giữa hai lực hút và đẩy mới là hạt nhân

đ-ợc Ph.Ăngghen đánh giá cao, và đã đ-ợc các nhà triết học duy tâm Đức tiếp thu làm nên phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng G.V.Ph.Hêghen Có thể nói, nếu không có sự tiên phong của I.Cantơ trong việc phá vỡ các quan niệm siêu hình thế kỷ XVII-XVIII thì không thể có quan niệm biện chứng đ-ợc hình thành một cách tự giác và có hệ thống từ thế

kỷ XIX trở đi

Kế thừa thuyết hoài nghi có ph-ơng pháp của R.Đềcáctơ, I.Cantơ không những nghi ngờ tính đúng đắn của chủ nghĩa duy lý mà còn nghi ngờ cả tính xác đáng của chủ nghĩa kinh nghiệm Theo I.Cantơ, chủ nghĩa duy lý đã đi quá xa trong việc t- biện để kiến thiết nên một ngôi nhà siêu hình học không

có cơ sở vững chắc từ nền móng; trong khi chủ nghĩa kinh nghiệm đã bắt đầu

đúng h-ớng nh-ng Giôn Lốccơ trứ danh đã vội vàng khái quát mọi nhận thức

của con ng-ời chỉ vào trong một viên gạch duy nhất là kinh nghiệm Cả hai trào l-u này đều chỉ kh- kh- giữ lấy lập tr-ờng quan ph-ơng của mình mà bác

bỏ đối ph-ơng, tạo ra một đấu tr-ờng siêu hình học khốc liệt Từ sự hoài nghi

về mặt nhận thức luận này mà I.Cantơ tiến hành kiểm tra toàn bộ vật liệu của nhận thức từ cảm năng đến giác tính và lý tính để rút ra một nhận xét làm chấn động giới triết học đ-ơng thời, đó là siêu hình học giáo điều từ tr-ớc đến nay cần phải bị phê phán triệt để nhằm tìm ra cơ sở cho một môn siêu hình học mới muốn trở thành một khoa học thực sự Và I.Cantơ đã từng b-ớc tiến hành "cuộc cách mạng Côpécníc" trong lề lối t- duy của mình thông qua việc

phê phán các vấn đề của siêu hình học, tức của lý tính, bằng bộ ba Phê phán

nổi tiếng

Trang 19

Nói gọn lại, thời kỳ tiền phê phán giúp I.Cantơ rà soát hầu hết các tiến

bộ của khoa học tự nhiên đến thời của ông để làm cơ sở cho sự phê phán chính các lý thuyết khoa học tự nhiên đó với tính cách là những bộ phận của nhận thức trong thời kỳ phê phán; còn thời kỳ phê phán giúp I.Cantơ khảo sát lý tính thuần tuý để tìm ra chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại của khoa siêu hình học mới với tính cách là một hệ thống tiên nghiệm phổ biến, tất yếu cho mọi nhận thức khoa học, thực tiễn hành động và giá trị vĩnh hằng của con ng-ời

Trong đó, Phê phán lý tính thuần tuý là đột phá khẩu cho mọi sự phê phán

Nh- vậy, tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý ra đời trong bối cảnh

n-ớc Đức đang cố vùng vẫy nhằm thoát khỏi tình trạng trì trệ của nó, với sự thôi thúc nội tại của t- t-ởng Đức và tác động tích cực của các cuộc cách mạng ở Tây Âu T- t-ởng duy tâm của giai cấp t- sản Đức có hạn chế là hiểu

sự phát triển nh- một quá trình tinh thần tự thức tỉnh, là sự tự phát triển của lý tính Do đó, nó ch-a tạo ra đ-ợc những đột phá cách mạng trong hiện thực xã hội giống nh- ng-ời Hà Lan, ng-ời Anh và ng-ời Mỹ đã làm Điều này về sau

đ-ợc các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác chỉ ra khi phê phán triết học pháp quyền của G.V.Ph.Hêghen, cũng có ý nghĩa nh- là phê phán triết học duy tâm

Đức nói chung; đòi thay thế vũ khí của sự phê phán bằng sự phê phán của vũ

khí Có nghĩa là tinh thần phê phán của ng-ời Đức đ-ợc trỗi dậy mạnh mẽ kể

từ I.Cantơ nh-ng mới chỉ dừng lại ở sự phê phán lý tính; chỉ đến chủ nghĩa Mác, tinh thần phê phán mới thực sự hoà nhập với hiện thực xã hội, trở thành

vũ khí tinh thần của giai cấp cách mạng Đức Song, toàn bộ sự yếu hèn của giai cấp t- sản Đức không cản trở n-ớc Đức làm nên những thành tựu vĩ đại

trong triết học, mà công trình Phê phán lý tính thuần tuý của I.Cantơ mang

tính chất khởi đầu Lịch sử t- t-ởng đã chứng minh rằng, các học thuyết tiến

bộ có thể nảy sinh trong lòng một xã hội có trình độ kinh tế lạc hậu hơn nếu

nó biết tiếp thu thành tựu khoa học và t- t-ởng của các xã hội tiến bộ khác

Do đó, bên cạnh tiền đề kinh tế - xã hội mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng t- sản ở Tây Âu thế kỷ XVI-XVII tạo ra b-ớc ngoặt về kinh tế và chính trị, thì

Trang 20

tiền đề lý luận tạo ra b-ớc ngoặt về t- t-ởng trong tr-ờng hợp này đóng vai trò

quan trọng hàng đầu

Những bậc tiền bối trực tiếp của triết học I.Cantơ là chủ nghĩa hoài nghi

có ph-ơng pháp của R.Đềcáctơ, t- duy cơ học của I.Niutơn, chủ nghĩa kinh nghiệm Anh của J.Lốccơ và Đavít Hium [David Hume] (1711-1766), chủ nghĩa duy lý Đức của G.V.Lépnít - C.Vônphơ và t- t-ởng của J.J.Rútxô thuộc

trào l-u Khai sáng Pháp Tuy nhiên, triết học I.Cantơ không phải là tập đại

thành của các t- t-ởng ấy, mà sự thật là đã có những b-ớc v-ợt qua để mở

đ-ờng cho sự phát triển của triết học cận - hiện đại ở Đức nói riêng và ph-ơng Tây nói chung Rút gọn lại, tiền đề lý luận của triết học I.Cantơ là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, trong đó có tính đến yếu tố biện chứng của truyền thống t- t-ởng Đức kế thừa từ thời cổ Hy Lạp

Tiền đề lý luận thứ nhất là chủ nghĩa duy lý bao gồm những học thuyết

siêu hình xuất phát từ luận điểm về sự thống nhất giữa t- duy và tồn tại trên cơ

sở các quy luật lôgíc hình thức của t- duy I.Cantơ tổng kết trào l-u duy lý kể

từ học thuyết ý niệm của Platôn đến học thuyết đơn tử của G.V.Lépnít và rút

ra điểm chung về nhận thức luận của trào l-u này là biến t- duy thành bản thể của thế giới mà không đếm xỉa đến kinh nghiệm, cảm giác của con ng-ời, biến những quy luật lôgíc hình thức của t- duy thành quy luật chung của mọi tồn tại mà không quan tâm đến nội dung của nó Vì vậy những ý niệm về Th-ợng đế, Vũ trụ, và Sự bất tử của linh hồn chỉ là những khái niệm suông, không có nội dung, mà các nhà duy lý t-ởng t-ợng ra rồi không chứng minh

đ-ợc sự tồn tại vững chắc của những ý niệm ấy Nh- vậy, chủ nghĩa duy lý chỉ

sử dụng lý tính mà không quan tâm đến trực quan, trong khi lý tính của họ không đ-ợc kiểm tra về khả năng và phạm vi hoạt động khả hữu Có nghĩa là

họ buông thả cho lý tính suy t-ởng về mọi vấn đề xa rời khỏi lĩnh vực kinh nghiệm, tạo ra những tri thức siêu hình, rồi đem những tri thức siêu hình ấy áp

đặt trở lại cho thế giới tồn tại Ph-ơng thức sử dụng lý tính nh- thế là mang tính giáo điều Siêu hình học đ-ợc hình thành trên cơ sở nguyên tắc lý tính

Trang 21

nh- vậy không thể trở thành khoa học thực sự Cách đặt vấn đề ấy của I.Cantơ

đã đ-a siêu hình học tr-ờng ốc G.V.Lépnít - C.Vônphơ với t- cách là hệ thống

duy lý đỉnh cao điển hình trở thành đối t-ợng phê phán chủ yếu của Phê phán

lý tính thuần tuý

Chủ nghĩa duy lý cận đại không phải không có những thành công nhất

định, đặc biệt là trong việc góp phần đánh đổ hệ t- t-ởng giáo hội phong kiến Nếu triết học kinh viện thời Trung cổ đề cao các thực thể siêu nhiên với t- cách là tinh thần vũ trụ, thì chủ nghĩa duy lý cận đại giành lại vị trí đó cho lý

tính của con ng-ời Tiêu biểu là R.Đềcáctơ với tham vọng hiểu biết không giới

hạn của t- duy khi ông xác lập mệnh đề "tôi có thể nghi ngờ mọi tồn tại

nh-ng không thể nghi ngờ tôi t- duy, do đó tôi t- duy tôi tồn tại" Nh- vậy có

thể hiểu ở một góc độ nào đó, lần đầu tiên Th-ợng đế với t- cách là tồn tại tối cao bị nghi ngờ từ ph-ơng diện triết học bởi một tồn tại khác vốn vẫn bị coi là

bé mọn - tồn tại tôi t- duy Công lao đó rõ ràng thuộc về chủ nghĩa duy lý thế

kỷ XVI-XVII, dù d-ới hình thức siêu hình cực đoan nhất Tuy nhiên, b-ớc sang thế kỷ XVIII, tr-ớc sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu của nền sản xuất xã hội, lý tính siêu hình gặp phải khó khăn là không đáp ứng nổi đòi hỏi của thực tiễn Tình hình đó ở buổi ban đầu tất nhiên dẫn đến những khuynh h-ớng t- t-ởng phản duy lý mà những hình thức sớm nhất của

nó đã xuất hiện cuối thời kỳ Khai sáng ở Pháp, tiêu biểu là J.J.Rútxô Có thể coi I.Cantơ nằm trong sự kế thừa t- t-ởng phản duy lý nh-ng theo một chiều h-ớng khác, chiều h-ớng phê phán lý tính Bằng sự xác lập cái tiên nghiệm của lý tính, I.Cantơ đã cố gắng đ-a lý tính và quỹ đạo khoa học chứ không chỉ

đơn thuần là chống lại lý tính; từ ý h-ớng này, ông là ng-ời duy lý duy khoa học Những thành tựu của chủ nghĩa duy lý đ-ợc I.Cantơ thâu tóm trong hệ thống các phạm trù của giác tính, những quy luật lôgíc hình thức của t- duy và các phán đoán phân tích rất có giá trị trong thời kỳ cơ học phát triển Từ đó

ông tiến sâu thêm bằng cách siêu nghiệm hoá các phạm trù; xây dựng lôgíc học siêu nghiệm không những khảo sát các hình thức của t- duy mà còn khảo

Trang 22

sát cả những nội dung mà trực quan đem lại trong chừng mực nó xuất hiện một cách tiên nghiệm; xem xét tính tiên nghiệm và tổng hợp của các phán

đoán; và cuối cùng, vạch ra những mâu thuẫn (antinômia) của lý tính suy luận Nh- vậy, quá trình phê phán lý tính của I.Cantơ có sự kế thừa chủ nghĩa duy

lý rất rõ nét, thậm chí cách trình bày hệ thống triết học của ông cũng không nằm ngoài dạng thức duy lý; chẳng hạn, ông mô tả các hình thức của phán

đoán t-ơng ứng với các phạm trù theo lôgíc tam luận: tiền đề - phản đề - hợp

đề, để rút ra các antinômia chỉ có chính đề - phản đề nên không thể giải quyết triệt để đ-ợc Mặc dù học thuyết phạm trù duy tâm tiên nghiệm của I.Cantơ có khác với học thuyết phạm trù theo phái duy thực và duy niệm, song vẫn nằm trong sự đối lập duy lý giữa việc coi phạm trù có giá trị tự thân hay phạm trù

là sản phẩm của đầu óc con ng-ời Cho nên không ngạc nhiên nếu trào l-u phi

lý khởi từ A.Sôpenhauơ về sau vẫn tiếp tục chỉ trích I.Cantơ nh- là một thứ triết học duy lý đối lập với họ

Tiền đề lý luận thứ hai là chủ nghĩa kinh nghiệm bắt đầu từ việc đề xuất

các ph-ơng pháp thực nghiệm của Phranxi Bêcơn [Francis Bacon] (1561-1626)

đến thuyết kinh nghiệm của J.Lốccơ, từ thuyết duy tâm chủ quan cực đoan của Goócgiơ Béccơly [George Berkeley] (1684-1753) đến thuyết hoài nghi của

Đ.Hium Không phải vô cớ mà I.Cantơ đề tặng ấn bản A cuốn Phê phán lý

tính thuần tuý cho J.Lốccơ, còn mở đầu ấn bản B xuất hiện lời đề từ m-ợn

trong Lời tựa tác phẩm Cuộc đại canh tân sự làm chủ của con ng-ời đối với tự

nhiên [Magna instauratio imperii humani in naturam] của Ph.Bêcơn Ngay cả

cuộc cách mạng Côpécníc trong lề lối t- duy cũng là cụm từ I.Cantơ m-ợn của

Ph.Bêcơn để nói về sự thay đổi trong cách đặt vấn đề siêu hình học của mình;

đối với I.Cantơ, không phải lý tính quay xung quanh "trái đất thực tại" mà thế giới hiện t-ợng phải quay xung quanh "mặt trời lý tính"

Trong Sơ luận về bất kỳ môn siêu hình học nào trong t-ơng lai muốn

trở thành khoa học (1783), I.Cantơ thừa nhận là chủ nghĩa kinh nghiệm của

Đ.Hium đã đánh thức ông khỏi cơn mê giáo điều bởi Đ.Hium đã hoài nghi

Trang 23

tính đúng đắn của các phạm trù trừu t-ợng mà lý tính tạo ra một cách không

có cơ sở vững chắc Cơ sở nhận thức của con ng-ời không phải cái gì khác hơn là cảm giác trong mối quan hệ với thể trạng tâm sinh lý của họ Kết quả của nhận thức không gì khác hơn là kinh nghiệm do cảm giác đem lại Khoa sinh lý học tự nhiên đầu thế kỷ XVIII xác nhận điều đó Tất cả những gì ngoài phạm vi của kinh nghiệm đều không đáng tin cậy Nh- vậy, các nhà kinh nghiệm có ý h-ớng chống lại các nhà duy lý một cách trực tiếp từ ph-ơng diện nhận thức luận I.Cantơ nhận thấy lý lẽ của chủ nghĩa kinh nghiệm phù hợp với kết quả của các khoa học tự nhiên thực nghiệm đ-ơng thời nên không thể chỉ đơn thuần chối bỏ là xong Mặt khác, tính trực quan của thuyết kinh nghiệm đã phanh phui tính giáo điều của thuyết duy lý là không quan tâm đến nội dung của nhận thức mà chỉ chú trọng đến các hình thức thuần tuý của t- duy I.Cantơ rút ra rằng, nhận thức của con ng-ời chỉ có thể có đ-ợc nội dung khi nối kết với kinh nghiệm do trực quan đem lại; nh-ng nếu chỉ dùng kinh nghiệm thì không thể đạt tới nhận thức khoa học đ-ợc Nếu sai lầm của chủ nghĩa duy lý là tuyệt đối hoá nhận thức lý tính thì sai lầm của chủ nghĩa kinh nghiệm là tuyệt đối hoá nhận thức cảm tính, hai sự cực đoan gây nên những tranh cãi bất tận trong lĩnh vực siêu hình học Giải quyết v-ớng mắc này, theo

I.Cantơ, cần phải tìm ra cấu trúc tiên nghiệm của nhận thức trực quan và lý tính để làm cơ sở nối kết kinh nghiệm Nh- thế là I.Cantơ đã cố gắng dung

hoà, tìm ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm trong vấn đề nhận thức ý h-ớng suy t- đó đồng thời đã đánh thức t- duy biện chứng về các mối liên hệ của ý thức trong triết học duy tâm Đức, đặt vấn đề t-ơng tác giữa nội dung và hình thức của lý tính trở thành trọng tâm của nhận thức luận

Nói tóm lại, trong bối cảnh n-ớc Đức bị câu thúc bởi xu thế phát triển t- bản chủ nghĩa của Tây Âu nh-ng tiền đề kinh tế - xã hội ch-a cho phép giai cấp t- sản làm nổi cuộc cách mạng xã hội của mình; thì các nhà triết học t- sản Đức đã đi tr-ớc về ph-ơng diện t- t-ởng, xuất phát từ các tiền đề lý luận

Trang 24

của triết học duy lý và kinh nghiệm thế kỷ XVI-XVII, làm nên cuộc cách

mạng siêu hình học mà I.Cantơ và Phê phán lý tính thuần tuý là điểm khởi

đầu, sáng lập nền triết học cổ điển Đức với nhiều hạt nhân tiến bộ ảnh h-ởng lâu dài về sau J.Hítchbécgơ [J.Hirschberger] nhận xét: "I.Cantơ đ-ợc xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn nhất của thời cận đại, là triết gia của nền văn hoá tân thời và của nhiều lĩnh vực khác nữa Dù ng-ời ta có đánh giá I.Cantơ gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất I.Cantơ đã nâng triết học Đức tiến lên một giai đoạn mới Danh tiếng của ông đẩy lùi tất cả những gì đi tr-ớc vào bóng tối và toả sáng lên những gì đi sau" [Dẫn theo:16]

1.2 Cách tiếp cận của I.Cantơ với vấn đề nhận thức luận

Từ năm 1770 đến khi ấn bản đầu tiên (bản A) của cuốn Phê phán lý tính

thuần tuý ra đời vào tháng 5/1781, I.Cantơ im lặng, chìm trong suy t-, hầu

nh- không viết một tác phẩm nào ngoại trừ 20 trang tóm tắt đề c-ơng bài giảng Nh-ng đây lại là 10 năm thai nghén hệ thống triết học của I.Cantơ Thực ra, từ những năm 1760, I.Cantơ đã rất quan tâm đến vấn đề ph-ơng pháp của siêu hình học Năm 1764, ông đã bàn vấn đề này trong một luận văn ngắn

Nghiên cứu về sự sáng sủa của các nguyên tắc của thần học tự nhiên và đạo

đức Một năm sau, I.Cantơ thông báo ý định ra đời một công trình mang tên Phê phán và điều lệnh cho hệ thống triết học nh- cho một toàn bộ và đã gọi

công trình này là "phê phán lý tính" Tuy nhiên, "phê phán" ở đây vẫn đ-ợc hiểu nh- là một bộ phận của học thuyết về ph-ơng pháp Ngày 31/12/1765, I.Cantơ viết th- cho Giôhan Henrích Lămbe [Johann Heinrich Lambert] cho biết

ông đang soạn một tác phẩm về "ph-ơng pháp đặc thù của siêu hình học và qua đó cũng là ph-ơng pháp cho toàn bộ triết học" Khoảng năm 1770, I.Cantơ phát hiện ra những cặp mệnh đề siêu hình học mâu thuẫn nhau (những

nghịch lý hay antinômia) mà nếu sử dụng lý tính thuần tuý một cách giáo điều

(không có sự phê phán) tất sẽ dẫn tới mâu thuẫn nan giải ý h-ớng về việc phê phán lý tính thuần tuý đã hình thành khá rõ nét mặc dù I.Cantơ vẫn ch-a thực

sự dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy lý Bằng chứng cho sự mâu thuẫn

Trang 25

trong t- t-ởng của ông ở thời điểm này là: một mặt, ông vẫn tán thành quan

điểm duy lý cho rằng có thể nhận thức đ-ợc vật tự thân thông qua những khái

niệm thuần lý (trong luận văn Về thế giới khả giác và thế giới khả niệm); mặt

khác, ông khẳng định siêu hình học phải là sự phê phán lý tính thuần tuý chứ không phải là một học thuyết giáo điều, do đó có thể phải viết một công trình

về Những ranh giới của cảm năng và lý tính (trong th- gửi Máccút Hâyzơ

[Marcus Herz] đề ngày 7/6/1771) Cứ liệu quan trọng chứng tỏ sự ra đời của thời kỳ phê phán là bức th- I.Cantơ gửi Máccút Hâyzơ ngày 21/2/1772, trong

đó ông thông báo đã có đủ điều kiện để biên soạn một quyển Phê phán lý tính

thuần tuý xem xét bản chất của nhận thức lý thuyết và thực hành, tức lý tính

thuần tuý và lý tính thực tiễn Sau khi ấn bản A Phê phán lý tính thuần tuý

đ-ợc ấn hành, I.Cantơ thú nhận "đã hoàn thành cấp tốc sản phẩm đ-ợc ấp ủ suy nghĩ ít nhất 12 năm trong vòng 4 đến 5 tháng" vào nửa cuối năm 1780 (th- gửi Môdê Menđensơn [Moses Mendelssohn] ngày 16/8/1783) Có thể nói, I.Cantơ đã chuẩn bị rất kỹ l-ỡng cho hệ thống triết học của mình - một hệ thống triết học động đến câu hỏi nền tảng của mọi vấn đề - đó là con ng-ời có

thể biết gì hay bản chất nhận thức của con ng-ời là gì?

Bàn đến bản chất của nhận thức không thể không xem xét đến hệ thống tri thức với tính cách là kết quả của nhận thức I.Cantơ quan tâm đến các tri thức khoa học, tri thức thuần tuý và trình bày thành ba bộ phận t-ơng ứng với

hệ thống lôgíc học siêu nghiệm của mình Thứ nhất là các tri thức có liên quan

đến năng lực cảm tính, đ-ợc I.Cantơ khảo sát trong phần Cảm năng học siêu

nghiệm Trong đó, I.Cantơ cố gắng chứng minh tính chất tiên nghiệm của trực

quan thuần tuý tồn tại d-ới dạng các mô thức thuần tuý của cảm năng là không gian và thời gian Thứ hai là các tri thức có liên quan đến các khái niệm thuần tuý (tức phạm trù) và các phán đoán là hai năng lực tiên nghiệm của

giác tính đ-ợc I.Cantơ khảo sát trong phần Phân tích pháp siêu nghiệm Trong

đó, I.Cantơ cố gắng thiết lập bảng các phạm trù tiên nghiệm và truy tìm phán

đoán tổng hợp tiên nghiệm Thứ ba là các tri thức có liên quan đến năng lực

Trang 26

suy luận (các ảo t-ợng) đ-ợc I.Cantơ khảo sát trong phần Biện chứng pháp

siêu nghiệm Trong đó, I.Cantơ cố gắng chứng minh các nghịch lý của t-

t-ởng dựa trên việc phân tích bốn antinômia mà lý tính thuần tuý nhất định

gặp phải trên con đ-ờng suy lý v-ợt ra ngoài kinh nghiệm Tác phẩm Phê

phán lý tính thuần tuý đã đánh dấu những b-ớc chuyển trong t- t-ởng về nhận

thức nói riêng cũng nh- siêu hình học nói chung của I.Cantơ D-ới đây, luận văn trình bày hai b-ớc chuyển cơ bản

Từ triết học tự nhiên đến triết học nhận thức

Nếu triết học tự nhiên của I.Cantơ h-ớng đến khách thể bên ngoài, tức

là các đối t-ợng khách quan độc lập với t- duy con ng-ời hay thế giới vật chất, nh- đối t-ợng của cơ học, vật lý học, toán học, sinh học và địa chất học thì triết học nhận thức của ông lại chuyển đối t-ợng nghiên cứu sang một vấn

đề hoàn toàn mới, - đó là nhận thức của con ng-ời với những khả năng và phạm vi của nó Đây không chỉ đơn thuần là sự chuyển h-ớng mối quan tâm của một nhà khoa học từ vấn đề này sang vấn đề khác mà còn đánh dấu sự chuyển biến trong thế giới quan của I.Cantơ từ lập tr-ờng duy vật tự phát sang lập tr-ờng duy tâm chủ quan Lý do là I.Cantơ gặp phải sự bế tắc trong việc lý giải các hiện t-ợng tự nhiên mới xuất hiện giống nh- hầu hết các nhà khoa học tự nhiên đứng trên lập tr-ờng duy vật máy móc đ-ơng thời Mỗi khi khoa học tự nhiên phải tạm thời dừng b-ớc tr-ớc sự vận động của chính giới tự nhiên thì vai trò của triết học lại đ-ợc nhắc đến, ban đầu nh- một cứu cánh và càng về sau càng tỏ rõ tính chất là một ph-ơng tiện dẫn đ-ờng hiệu quả I.Cantơ cũng vậy, ông tìm đến siêu hình học nh- một lối thoát cho những bế tắc trong việc giải thích tự nhiên từ t- duy siêu hình Vấn đề ông quan tâm là bản chất của lý tính thuần tuý hay bản chất của nhận thức chân lý Vấn đề này nhìn chung không mới so với siêu hình học truyền thống Cái khác ở đây là,

đối với I.Cantơ, lý tính phải làm công việc khảo sát chính bản thân nó hay

là sự tự ý thức để tìm ra các nguyên tắc bản nhiên của lý tính thuần tuý, làm

tiền đề cho việc xác định bản chất đích thực của nhận thức Trong vấn đề tự ý

Trang 27

thức, không thể không thừa nhận I.Cantơ có chịu ảnh h-ởng của lý luận về thông giác của G.W.Lépnít cũng nh- lý luận về cái tôi và vai trò của l-ơng thức của J.J.Rútxô

I.Cantơ bắt đầu h-ớng sự suy nghĩ của mình không phải vào đối t-ợng bên ngoài mà vào bản thân lý tính; không phải khảo sát sự vật với tính cách là vật tự thân, mà khảo sát tri thức về các hiện t-ợng đ-ợc đem lại cho con ng-ời một cách tiên nghiệm Theo I.Cantơ, cách tiếp cận của triết học tự nhiên không đem lại cách nhìn mới về ph-ơng diện nhận thức luận I.Cantơ muốn thay đổi điều đó trong triết học nhận thức của mình, vì thế vấn đề bản chất của

nhận thức nh- là cái tiên nghiệm đ-ợc đặt ra trong Phê phán lý tính thuần tuý

Điều này nh- I.Cantơ tự nhận, không phải là sự phê phán đối với hệ thống siêu hình học nào mà là sự phê phán bản thân lý tính thuần tuý, hay lý tính thiết lập một toà án cho chính mình Sự phê phán lý tính thuần tuý ch-a phải là một học thuyết, cùng lắm thì nó mới chỉ là một môn học dự bị; nh-ng là b-ớc khởi

đầu của một học thuyết siêu hình học mới có ý nghĩa nh- là khoa học triết học Sự phê phán này là cần thiết để có một nhận thức luận mới, khác với nhận thức luận giáo điều truyền thống Nói cách khác, bản chất của nhận thức giáo

điều nằm ở việc giải quyết mối quan hệ chủ thể - khách thể trên cơ sở các quy luật hình thức của lý tính để tìm ra những chân lý thuần lý Tìm kiếm chân lý suy cho cùng là công việc rốt ráo của nhận thức con ng-ời; nh-ng công việc

đó có thể đ-ợc tiến hành dựa trên những tiền đề khác nhau, dẫn đến có những kết quả không giống nhau Theo I.Cantơ, cần phải khảo sát ngay các tiền đề

để đảm bảo nhận thức không đi sai đ-ờng, tức là xem xét cấu trúc, phạm vi, khả thể của lý tính để làm tiền đề vận dụng lý tính đi vào nhận thức khoa học

Điều này không nằm ngoài bản chất của nhận thức, thậm chí còn là khởi điểm truy tìm bản chất của nhận thức Nh- vậy, b-ớc chuyển thứ nhất này đặt ra vấn đề nghiên cứu bản chất nhận thức nh- là nội dung tiên quyết của bất kỳ môn siêu hình học nào muốn trở thành khoa học B-ớc chuyển này đánh dấu thời kỳ phê phán của I.Cantơ bắt đầu từ sự phê phán lý tính thuần tuý Trong

Trang 28

đó, những chân lý thuần lý mà G.V.Lépnít xác lập là một trong những đối t-ợng của sự phê phán của I.Cantơ

Từ sự đối lập giữa nhận thức duy lý và nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức tiên nghiệm

Bản chất của nhận thức luôn là vấn đề trung tâm đối với bất kỳ lý luận nhận thức nào, cho dù nó có thể đ-ợc trình bày trực diện hay không Trong cả chủ nghĩa duy lý cổ điển lẫn chủ nghĩa kinh nghiệm mang hơi h-ớm duy vật, nhận thức đ-ợc xem nh- kết quả hoạt động t- duy của chủ thể nhằm thấu hiểu thế giới bên ngoài Nh-ng nếu chủ nghĩa kinh nghiệm cố gắng nghiên cứu những t- t-ởng của con ng-ời từ ph-ơng diện nội dung thì chủ nghĩa duy lý cổ

điển lại chú trọng nghiên cứu khía cạnh lôgíc của các t- t-ởng, quan tâm đến các hình thức khác nhau của chúng Luận điểm xuất phát của chủ nghĩa duy lý

là t- duy đồng nhất với tồn tại về mặt nội dung song cần phải tìm hiểu cơ sở của tồn tại ở các quy luật lôgíc chi phối nhận thức chân thực Nh- vậy là chủ nghĩa duy lý có tham vọng xây dựng "khoa học của mọi khoa học" một cách t- biện Trái lại, chủ nghĩa kinh nghiệm, do phát triển trong thời kỳ cơ học, luôn muốn song hành với khoa học khi h-ớng tới một số nguyên tắc chung của tồn tại dựa trên những dữ kiện của các khoa học thực nghiệm Điểm chung của hai tr-ờng phái này là đều kiến thiết một hệ thống triết học dựa trên mối

t-ơng liên chủ thể - khách thể hay vấn đề nhận thức luận Song họ bất đồng

với nhau ở chỗ xác định nguồn gốc của nhận thức và cách tiếp cận nhận thức

từ phía chủ quan hay khách quan I.Cantơ nhận thấy rằng, đấu tr-ờng siêu

hình học là nơi diễn ra sự đối lập gay gắt giữa nhận thức duy lý và nhận thức

kinh nghiệm Phái duy lý cực đoan thì tuyệt đối hoá nhận thức lý tính còn phái kinh nghiệm cực đoan thì tuyệt đối hoá nhận thức cảm tính Cả hai thứ lý luận

nhận thức đó suy cho cùng đều không xuất phát từ chủ thể mà xuất phát từ khách thể nh- là yếu tố tác động đến nhận thức thụ động của con ng-ời

Mặc dù chủ nghĩa kinh nghiệm của Lốccơ trứ danh đã khởi đầu đúng h-ớng

(xuất phát từ cảm giác) nh-ng đã vội vàng khái quát quá sớm khi cho rằng chỉ

Trang 29

có kinh nghiệm, thực nghiệm là đáng tin còn những gì ngoài kinh nghiệm, nhất là tri thức siêu hình, thì không có cơ sở vững chắc I.Cantơ cho rằng cần phải làm một cuộc cách mạng thật sự trong nhận thức luận giống nh- N.Côpécníc đã làm đối với khoa học tự nhiên Điều đó sẽ giúp cho sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm đ-ợc giải quyết

Nh- vậy, I.Cantơ đã có ý đồ xây dựng một triết học v-ợt lên trên cả chủ

nghĩa duy lý lẫn chủ nghĩa kinh nghiệm mà ông gọi là triết học siêu nghiệm

của hai tr-ờng phái triết học này khi đặt ra vấn đề mới: phải làm gì để tìm ra những hình thức lôgíc tiên nghiệm mà nhờ chúng, lý tính của con ng-ời nắm bắt đ-ợc nội dung của tri thức đ-ợc nhận thức nhờ kinh nghiệm? Nói gọn thì

đây là nhiệm vụ khảo sát lý tính bằng ph-ơng pháp siêu nghiệm (không phải giáo điều - TG) Đồng nghĩa với việc phê phán lý tính là phê phán mọi khả năng của nhận thức, mọi tri thức muốn trở thành khoa học, và sâu xa hơn là bàn đến vấn đề chủ thể nhận thức nh- là ý nghĩa tối hậu của triết học Nhiều học giả cho rằng, I.Cantơ là ng-ời chỉ đề cao tri thức giống nh- các nhà duy lý tr-ớc ông Một số khác lại cho rằng I.Cantơ hạ thấp vai trò của tri thức, căn cứ vào việc ông thừa nhận phải dành chỗ cho đức tin Nh-ng xin l-u ý thời kỳ phê phán là nơi I.Cantơ nỗ lực đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy lý mà thời kỳ tiền phê phán ông ra sức bênh vực, còn đức tin của I.Cantơ mang âm h-ởng niềm tin khoa học chứ không chỉ đơn thuần là niềm tin tôn giáo giống nh- thời Trung cổ Thật sự thì I.Cantơ cố gắng tìm ra giới hạn của tri thức để trả lại cho

nó vị trí vốn dĩ của nó nhằm tránh cho lý tính nguy cơ sa chân vào lầm lạc

Đối với ông, tính chất thực tiễn là khía cạnh đáng quan tâm hơn là nhận thức luận đơn thuần; bởi lẽ "sự thông thái nói chung chủ yếu thể hiện trong hành

động hơn là trong tri thức" Tuy nhiên, I.Cantơ vẫn chỉ khuôn hành động thực tiễn trong giới hạn hành động của lý tính tìm ra chân lý theo cách mà

J.J.Rútxô quan niệm Đó là lý do vì sao I.Cantơ tâm đắc với tác phẩm Phê

phán lý tính thực tiễn hơn Phê phán lý tính thuần tuý, mặc dù phê phán lý tính

thuần tuý là công việc phải làm tr-ớc tiên nếu muốn đi tới mọi sự phê phán

Trang 30

khác Nói nh- thế không có nghĩa phê phán lý tính thuần tuý chẳng qua chỉ là b-ớc dạo đầu, tạo tiền đề cho công việc phê phán tiếp theo Mặc dù I.Cantơ đã

ráo vè trong Phê phán lý tính thuần tuý rằng đây chỉ là một môn học dự bị

nh-ng ông đã làm đ-ợc nhiều hơn thế Nhiệm vụ phê phán này đ-ợc I.Cantơ

đặt ra và giải quyết chủ yếu trong Phê phán lý tính thuần tuý, đ-ợc ông gọi là

nhiệm vụ cơ bản của bất kỳ môn siêu hình học nào Bản chất của nhận thức

đ-ợc phóng chiếu trên hai góc độ: một là, cơ sở nào để lý tính nhận thức đ-ợc chân lý; hai là, lý tính thuần tuý có thể đem lại những tri thức khoa học nh-

thế nào Nội dung thứ nhất đ-ợc I.Cantơ trình bày trong phần Học thuyết siêu

nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức Nội dung thứ hai đ-ợc ông trình

bày trong phần Học thuyết siêu nghiệm về ph-ơng pháp ở đó bản chất của

nhận thức trong quan niệm của I.Cantơ hiện rõ trong việc ông lần l-ợt kiểm tra các vật liệu của lý tính thuần tuý để tìm ra ở mỗi giai đoạn nhận thức bản chất tiên nghiệm biểu hiện nh- thế nào

I.Cantơ đã trình bày các vấn đề cơ bản của siêu hình học trên cơ sở nhận thức luận tiên nghiệm Nhận thức luận hoá là con đ-ờng của siêu hình học truyền thống khi trình bày các vấn đề của nó I.Cantơ khác ở chỗ đã cấp cho nó một hình thức mới - hình thức tiên nghiệm Ông không bắt tay vào khảo sát thực thể (vật chất hay tinh thần) nh- các nhà siêu hình học tr-ớc đó

mà tra hỏi về khả năng và phạm vi của lý tính thuần tuý Lý tính thuần tuý ở I.Cantơ ch-a đ-ợc xem xét từ góc độ bản thể luận nên ch-a có ý nghĩa là một thực thể; điều này về sau đ-ợc G.V.Ph.Hêghen thực hiện trong sự cải biến lý tính trở thành tuyệt đối (ý niệm tuyệt đối) Nói cách khác, I.Cantơ không đặt vấn đề "sự tồn tại của lý tính thuần tuý là gì?"; mà đặt câu hỏi theo một h-ớng khác, "lý tính thuần tuý tồn tại nh- thế nào trong chừng mực nó có thẩm quyền?" Nh- vậy cũng là đặt ra những khả năng và giới hạn của nhận thức nói riêng và của con ng-ời nói chung trên cơ sở những điều kiện tiên nghiệm của chủ thể Cách triển khai này về sau đ-ợc nhà hiện t-ợng học E.Huxéc

Trang 31

I.Cantơ rất tự hào tuyên bố: "Nếu tồn tại một khoa học thực sự cần thiết cho con ng-ời thì đó là khoa học mà tôi đang giảng dạy, cụ thể là xác định cho con ng-ời một vị trí xứng đáng trong thế giới, từ đó có thể học đ-ợc cái

điều mà ai cũng phải học để làm ng-ời" [Dẫn theo: 14, tr.47] Khoa học đó là triết học có mục đích tối cao là phơi mở bản chất con ng-ời (theo cách diễn

đạt của M.Haiđơgơ)

Khi xem xét hai tiền đề lý luận là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, I.Cantơ nhận thấy sự tranh cãi giữa họ có cơ không đi đến hồi kết thúc, làm dấy lên những thái độ khác nhau đối với siêu hình học Phái duy lý mặc dù thừa nhận kinh nghiệm cảm tính cũng là một nguồn nhận thức nh-ng chỉ là nhận thức sơ cấp, hời hợt và hỗn loạn, không thể đạt tới chân lý Chính

lý tính sẽ khắc phục điều này để đem lại những chân lý thuần lý (theo cách gọi của G.V.Lépnít) mà cảm tính phải phục tùng Triết học của tr-ờng phái này xoay quanh chủ đề lý tính Tuy nhiên, theo I.Cantơ, là thiếu sự phê phán,

"đi vào quá sớm những vấn đề mà ch-a có chút hiểu biết nào để tha hồ biện

hộ, vắt óc tìm thêm những t- t-ởng hay ý kiến về những chủ đề mà không ai trên thế gian này có hy vọng giải quyết đ-ợc" [16, tr.56] I.Cantơ cho rằng, cần phải kiểm tra điều kiện khả thể của lý tính Công cuộc đó chỉ có thể là công cuộc lý tính tự ý thức, tự phê phán để đảm bảo tính vững chắc ngay từ

đầu tr-ớc khi giải quyết "các vấn đề không thể tránh khỏi của bản thân lý tính

thuần tuý là Th-ợng đế, tự do và sự bất tử" [16, tr.85] Sự tranh cãi ngay

giữa các nhà duy lý giáo điều đã làm xuất hiện các nhà kinh nghiệm hoài nghi muốn phủ nhận các cơ sở của mọi nhận thức thoát ly khỏi kinh nghiệm và muốn xoá bỏ siêu hình học J.Lốccơ đ-ợc coi là ng-ời nỗ lực kết thúc cuộc

tranh luận bất tận này nh-ng không thành công - đấu tr-ờng siêu hình học vẫn

tiếp diễn Bên cạnh đó xuất hiện những ng-ời muốn trừng phạt siêu hình học bằng sự khinh thị bàng quan, không muốn nêu bất kỳ một câu hỏi siêu hình nào nữa Nh-ng những nhà khai sáng hời hợt này rốt cuộc cũng quay trở lại giáo điều nếu không biết đặt vấn đề một cách khác Nh- vậy là I.Cantơ dần

Trang 32

dần xác định nhiệm vụ phê phán của mình trên cơ sở "đảo ng-ợc điểm nhìn"

chọn lý tính làm trung tâm, từ đó kiến tạo tri thức về thế giới hiện t-ợng nh-

nó vốn có song ch-a đ-ợc sắp xếp một cách khoa học Bản chất của nhận thức loại này là chủ quan nh-ng phải đảm bảo đ-ợc "tính khách quan" cần thiết, là nhận thức cái tiên nghiệm có sẵn trong lý tính nh-ng phải đảm bảo mở rộng tri thức khoa học của con ng-ời Ph-ơng pháp khảo sát lý tính đ-ợc I.Cantơ

lựa chọn là ph-ơng pháp diễn dịch siêu nghiệm Đối t-ợng khảo sát là lý tính

nh-ng I.Cantơ buộc phải xem xét nó thông qua những hình thức biểu hiện của

nó là tri thức, do đó ông lựa chọn việc phân tích các tri thức toán học, vật lý

học, và siêu hình học d-ới dạng các phạm trù, các phán đoán và các suy luận

Nói tóm lại, Phê phán lý tính thuần tuý mở đầu thời kỳ phê phán của I.Cantơ đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu lý tính, nghiên cứu bản chất của nhận

thức, xuất phát từ ý h-ớng khắc phục những khiếm khuyết của chủ nghĩa duy

lý và chủ nghĩa duy nghiệm đ-ơng thời I.Cantơ tránh phê phán lý tính theo

h-ớng phủ nhận hoàn toàn sạch trơn nh- một số nhà triết học kinh nghiệm cực

đoan và các nhà khai sáng hời hợt đã làm Đồng thời ông cũng phê phán việc

sử dụng lý tính mà không có sự kiểm tra giới hạn khả thể của lý tính, dẫn đến sùng bái lý tính nh- chủ nghĩa duy lý cực đoan vẫn tuyên bố Đặt lại vấn đề bản chất của nhận thức, I.Cantơ muốn trả lý tính trở về đúng vị trí của nó trong quá trình nhận thức của con ng-ời, trong mối liên hệ với cảm tính Cao hơn, I.Cantơ muốn kết thúc sự tranh cãi bất tận của siêu hình học truyền thống bằng cách xây dựng điều kiện cho một môn siêu hình học mới - triết học khoa

học Cách đặt vấn đề và giải quyết của I.Cantơ trong Phê phán lý tính thuần

tuý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời điểm giai cấp t- sản Đức cần có

lý luận mới dẫn đ-ờng, góp phần lớn trong việc hình thành nên những t- t-ởng duy tâm và biện chứng về nhận thức của trào l-u triết học cổ điển Đức

Trang 33

Ch-ơng 2

những quan điểm cơ bản của i.cantơ về bản chất của

nhận thức trong phê phán lý tính thuần tuý

2.1 Một số nội dung cơ bản thể hiện bản chất của nhận thức trong quan niệm của I.Cantơ

Trong quá trình xây dựng hệ thống triết học phê phán của mình, I.Cantơ quan tâm đầu tiên đến vấn đề nhận thức Bởi vì nhận thức là một khả năng đặc biệt của lý tính, của con ng-ời Do đó, câu hỏi "Tôi có thể biết đ-ợc cái gì?" cần phải đ-ợc xem xét d-ới góc độ triết học là một nhiệm vụ -u tiên mà I.Cantơ đặt ra trong thời kỳ này Đây là con đ-ờng tất yếu mà siêu hình học phải đi qua nếu muốn trở thành một khoa học thực sự - con đ-ờng lý tính tự kiểm thảo chính mình về các khả năng, các điều kiện có thể có và phạm vi

đem lại tri thức chân lý Không thể chỉ đơn giản coi Phê phán lý tính thuần

tuý là nhận thức luận của triết học I.Cantơ nh-ng nhận thức với tính cách là

năng lực của chủ thể bắt nguồn từ đâu và có thể đi đến đâu là suy t- chủ yếu của I.Cantơ trong tác phẩm này D-ới đây, chúng ta tìm hiểu một số nội dung cơ bản về nhận thức mà I.Cantơ đề cập đến

Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức tiên nghiệm

Tr-ớc hết, I.Cantơ phân biệt hai hình thức của nhận thức là nhận thức kinh nghiệm và nhận thức tiên nghiệm Trong sự phân biệt này, I.Cantơ d-ờng nh- có ý tránh dùng thuật ngữ nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Chúng

ta cũng thấy rằng cặp khái niệm "kinh nghiệm - tiên nghiệm" không hoàn toàn

đồng nhất với cặp khái niệm "cảm tính - lý tính" Mặc dù I.Cantơ thừa nhận kinh nghiệm là kết quả của trực quan cảm tính và tiên nghiệm là thuộc tính thể hiện bản chất của t- duy lý tính; song cấu trúc tiên nghiệm là những quy

định có sẵn trong cả hai hình thức nhận thức ấy, là cấu trúc quy định từ bên trong chủ thể Khác với chủ nghĩa duy lý cực đoan và chủ nghĩa kinh nghiệm

Trang 34

cực đoan, chỉ thừa nhận một nguồn nhận thức duy nhất (hoặc là cảm tính hoặc

là lý tính) rồi từ đó kh- kh- giữ lấy lập tr-ờng kinh viện của mình để bác bỏ

đối ph-ơng, I.Cantơ cho rằng nhận thức của con ng-ời đến từ hai nguồn khác

nhau: một là nguồn kinh nghiệm liên quan đến năng lực cảm tính, hai là

nguồn tiên nghiệm độc lập với cảm tính Đối với I.Cantơ, nhận thức tr-ớc hết

là năng lực của chủ thể, nói rộng ra là năng lực của con ng-ời; và bản chất là năng lực của lý tính thuần tuý Vì vậy, khảo sát năng lực nhận thức hay kiểm tra những điều kiện khả thể của lý tính là vấn đề cốt lõi của triết học luận lý nhằm xây dựng cho triết học này một địa vị vững chắc của một khoa học

I.Cantơ bắt đầu công cuộc khảo sát của mình từ hai nguồn nhận thức kinh

nghiệm và tiên nghiệm

Theo I.Cantơ, con ng-ời có nhận thức là nhờ kinh nghiệm Mọi sự chối

bỏ kinh nghiệm nh- R.Đềcáctơ và phái duy lý [Rationalismus] đã làm đều dẫn

đến giáo điều kinh viện vì khi đó, con ng-ời bị giảm trừ chỉ còn là tinh thần thuần tuý, nhận thức chỉ là những quan niệm suông hay những ý t-ởng trống rỗng I.Cantơ thừa nhận chính chủ nghĩa kinh nghiệm của Đ.Hium đã đánh thức ông khỏi cơn mê giáo điều Từ đây, nhận thức kinh nghiệm có một vị trí xứng đáng trong tri thức luận của loài ng-ời Nhận thức cảm tính đ-ợc I.Cantơ diễn giải bằng những thuật ngữ: kinh nghiệm [Erfahrung], hậu nghiệm [a posteriori] hay th-ờng nghiệm [empirisch] tuỳ thuộc văn cảnh và ý t-ởng mà

ông muốn diễn đạt I.Cantơ gọi là kinh nghiệm những nhận thức có đ-ợc từ sự tổng hợp (nối kết) tri giác, gọi là hậu nghiệm những nhận thức bắt nguồn từ cái có sau kinh nghiệm, gọi là th-ờng nghiệm những tri thức chứa đựng yếu tố

đa tạp của cảm tính

Trong Lời dẫn nhập (ấn bản B), I.Cantơ viết:

Mọi nhận thức của ta đều bắt đầu bằng kinh nghiệm, đó là điều không có gì phải

nghi ngờ; bởi vì thông qua cái gì khiến quan năng nhận thức đ-ợc đánh thức để đi vào hoạt động nếu không phải thông qua những đối t-ợng tác động đến các giác quan của ta để, phần thì tạo ra những biểu t-ợng, phần thì đ-a hoạt động của giác tính chúng ta đi vào vận hành, tức làm công việc so sánh, nối kết hay tách rời những

Trang 35

biểu t-ợng ấy, và nh- thế là xử lý chất liệu thô của các ấn t-ợng cảm tính thành một nhận thức về những đối t-ợng đ-ợc gọi là kinh nghiệm [16, tr.77]

Nếu chỉ đọc riêng đoạn văn này, ng-ời ta không khỏi lấy làm ngạc nhiên về tính duy vật của nó khi I.Cantơ mô tả quá trình đối t-ợng tác động vào giác quan để tạo ra các biểu t-ợng và cung cấp tài liệu cảm tính cho giác tính Tuy nhiên, đặt trong quan niệm của I.Cantơ về nhận thức thì, kinh nghiệm mà chúng ta có không phải là kinh nghiệm về sự vật (hay "vật tự nó")

mà là kinh nghiệm về hiện t-ợng Đối với I.Cantơ, "mọi trực quan của ta không gì khác hơn là biểu t-ợng về hiện t-ợng" và "ta trực quan những sự vật không phải là trực quan cái gì nơi tự thân chúng, cũng không phải trực quan các quan hệ theo bản tính tự thân của chúng, mà nh- chúng xuất hiện ra cho ta" [17, tr.169] Và ông gọi đó là căn tính của nhận thức cảm tính nói chung Hiện t-ợng [Erscheinung] đ-ợc nói đến ở đây là đối t-ợng của nhận thức kinh nghiệm, là cái xuất hiện ra trong trực quan của con ng-ời sau những tác động của chúng lên giác quan, khác với hiện t-ợng [Phaenomenon] là đối t-ợng

đ-ợc suy t-ởng trong giác tính Nh- vậy, nhận thức kinh nghiệm nói riêng và nhận thức nói chung chỉ làm việc với các hiện t-ợng để suy xét trong chừng mực nào chúng xuất hiện ra cho ta chứ không hề đụng chạm gì tới vật tự nó cả Tr-ớc thế giới vật tự nó, con ng-ời hoàn toàn bất khả tri; tr-ớc thế giới hiện t-ợng, nhận thức cần phải tìm ra những điều kiện khả thể, giới hạn và khả năng của mình để có đ-ợc chân lý

Vật tự nó trong quan điểm nhận thức luận của I.Cantơ là vật tồn tại khách quan và không thể nhận thức đ-ợc bằng mọi cách; chính xác hơn, vật tự

nó cần phải đ-ợc nhận thức nh- vật tồn tại tự thân chứ không phải nh- đối t-ợng cảm tính Theo nghĩa này, vật tự nó là căn nguyên, tồn tại thực sự và là bản chất của thế giới Toàn bộ các vật tự nó hợp thành thế giới sự vật mà con ng-ời không thể nhận thức đ-ợc bản chất, chỉ có thể nhận thức đ-ợc các hiện t-ợng mà thế giới ấy gây ra cho lý tính của con ng-ời Và khi đã trở thành hiện t-ợng thì nó phải chịu sự chi phối của các phạm trù lý tính; theo đó, lý

Trang 36

tính sáng tạo ra giới tự nhiên với các hiện t-ợng phong phú Tính bất khả tri của I.Cantơ một phần nói lên giới hạn, tính t-ơng đối của nhận thức; qua đó cũng nói lên cái vô hạn của thế giới mà lý tính không thể v-ơn tới Luận điểm: không thể nhận thức đ-ợc bản chất mà chỉ nhận thức đ-ợc hiện t-ợng của I.Cantơ đã phải gánh chịu sự phê phán cả từ phía các nhà duy tâm nh- G.V.Ph.Hêghen, M.Haiđơgơ hay từ phía các nhà duy vật nh- C.Mác và V.I.Lênin Cần phải nói thêm, việc phân chia thế giới thành "thế giới hiện t-ợng" và "thế giới vật tự nó" có một lý do là những thành tựu khoa học tự nhiên đ-ơng thời ch-a cho phép I.Cantơ thực sự thoát khỏi quan niệm siêu hình thống trị t- duy thế kỷ XVII-XVIII nên không thấy đ-ợc sự vận động, phát triển biện chứng của thế giới vật chất Một mặt, ông nhìn thế giới trong

sự tách rời, ngẫu nhiên; mặt khác, đòi hỏi của nhận thức khoa học là phải chỉ

ra đ-ợc những tri thức phổ biến, tất yếu Đứng tr-ớc mối băn khoăn đó, I.Cantơ đã lựa chọn cách giải quyết là lờ giới tự nhiên đi, coi đó là đối t-ợng của khoa học tự nhiên chứ không phải đối t-ợng của siêu hình học; đối t-ợng thực sự của triết học là những khả năng đã nằm sẵn trong nhận thức, hay là nhận thức tiên nghiệm I.Cantơ cho rằng:

Lâu nay ng-ời ta giả định rằng mọi nhận thức của ta phải h-ớng theo các đối

t-ợng; thế nh-ng mọi nỗ lực dùng các khái niệm để xử lý đối t-ợng một cách tiên

nghiệm hầu qua đó mở rộng nhận thức của ta đều đi đến thất bại cũng tại vì giả định này Vì thế, hãy thử nghiệm để biết đâu chúng ta có thể tiến lên tốt hơn trong việc

giải quyết các vấn đề của siêu hình học bằng cách giả định rằng các đối t-ợng phải

h-ớng theo nhận thức của ta; nhận thức ấy sẽ phù hợp tốt hơn với khả thể đ-ợc

đòi hỏi của một nhận thức tiên nghiệm về đối t-ợng, tức loại nhận thức xác định

một cái gì đó về đối t-ợng tr-ớc đối t-ợng đ-ợc mang lại cho ta [16, tr.44] I.Cantơ không phủ nhận hoàn toàn thế giới vật chất về mặt bản thể luận nh- các nhà duy tâm tuyệt đối vẫn th-ờng làm, có lẽ điều này là ảnh h-ởng của triết học tự nhiên thời kỳ tiền phê phán; nh-ng ông lại phủ nhận nó về mặt nhận thức luận từ góc độ chủ thể tiên nghiệm - cái tôi tiên nghiệm Xét đến cùng thì triết học I.Cantơ vẫn ch-a ra khỏi chủ nghĩa cơ giới và chủ nghĩa duy

Trang 37

lý, ông chỉ có công cải biến nó khi tiếp nhận thêm một số nội dung tích cực của chủ nghĩa kinh nghiệm, trào l-u Khai sáng và truyền thống biện chứng trong triết học Đức Tính chất biện chứng ở I.Cantơ không phải là biện chứng của khách thể mà là biện chứng tiên nghiệm của chủ thể (hay của lý tính

thuần tuý) - đây rõ ràng là biện chứng chủ quan mặc dù I.Cantơ cố gắng thu

xếp cho nó một tính khách quan Sau này, G.V.Ph.Hêghen phát triển phép

biện chứng I.Cantơ, làm cho nó có nội dung khách quan hơn

Quay trở lại vấn đề nhận thức kinh nghiệm, theo I.Cantơ, nó có tính thụ nhận [Rezeptivitọt] hay là "năng lực tiếp thu các biểu t-ợng" hình thành do

"đối t-ợng kích động tâm trí ta" [16, tr.135]; nghĩa là con ng-ời chỉ có kinh nghiệm khi có sự tác động của đối t-ợng lên giác quan Sự kích động này hoàn toàn ngẫu nhiên, do đó nhận thức kinh nghiệm hầu nh- hỗn độn và thiếu sáng sủa, nhất là kinh nghiệm thông th-ờng Song, bản thân nhận thức kinh nghiệm cũng tiềm chứa những yếu tố tiên nghiệm mà I.Cantơ gọi là mô thức [form] của cảm năng, từ đó chất liệu [materie] của kinh nghiệm đ-ợc sắp xếp một cách trật tự và sáng rõ trong nhận thức của con ng-ời (Vấn đề "mô thức - chất liệu" của cảm năng sẽ đ-ợc đề cập chi tiết hơn ở phần các giai đoạn của

nhận thức) Nh- thế là nhận thức còn đến từ một nguồn khác quan trọng hơn,

I.Cantơ viết: "tuy mọi nhận thức của ta đều bắt đầu [anhebt] từ kinh nghiệm,

song không phải vì thế mà tất cả đều bắt nguồn [entspringt] từ kinh nghiệm" [16, tr.77] Chữ "bắt đầu từ kinh nghiệm" đ-ợc I.Cantơ hiểu là "về mặt thời gian, không có nhận thức nào trong ta lại đi tr-ớc kinh nghiệm" Ngoài ra, hoàn toàn có thể có những nhận thức phổ biến, tất yếu trong mọi thời điểm, tức không lệ thuộc vào trình tự của kinh nghiệm Rõ ràng là I.Cantơ đã hé mở một khả năng khác của nhận thức nói chung bằng câu hỏi: "thật có chăng một nhận thức độc lập với kinh nghiệm và cả với mọi ấn t-ợng của giác quan?" [16, tr.78]

Nhận thức kinh nghiệm (th-ờng nghiệm) là nhận thức phải phụ thuộc vào kinh nghiệm, tức có sau kinh nghiệm hay còn gọi là hậu nghiệm Có thể

Trang 38

chia thành hai cấp độ là kinh nghiệm thông th-ờng và kinh nghiệm thuần tuý Kinh nghiệm thông th-ờng cho chúng ta biết những điều mắt thấy tai nghe, th-ờng gặp trong cuộc sống hàng ngày Loại kinh nghiệm bậc thấp này, theo I.Cantơ, không có giá trị cho nhận thức khoa học Kinh nghiệm thuần tuý là sự khảo sát bản thân kinh nghiệm với tính cách là quan năng có sẵn của nhận thức; nói cách khác là khảo sát cái ph-ơng cách mà trực quan đem lại kinh nghiệm cho ta - là kinh nghiệm về chủ thể của nhận thức kinh nghiệm, về cái

Tôi t- duy Loại kinh nghiệm bậc cao này, theo I.Cantơ, đã hàm chứa cái tiên

nghiệm và có giá trị cho nhận thức khoa học Vấn đề kinh nghiệm thuần tuý

"phổ biến đối với mọi nhận thức nói chung" vẫn còn gây nhiều tranh cãi vì phần đông đều hiểu kinh nghiệm theo nghĩa thông th-ờng là kết quả của quá trình đối t-ợng tác động vào giác quan Do vậy, đã là kinh nghiệm thì không thể thuần tuý, tức là không thể mang tính tất nhiên và phổ quát đ-ợc vì mỗi cá nhân đều có thể có kinh nghiệm riêng biệt Song kinh nghiệm thuần tuý theo I.Cantơ không phải là kinh nghiệm về đối t-ợng bên ngoài nhận thức mà là ph-ơng cách bên trong từ đó kinh nghiệm đ-ợc đem lại cho con ng-ời trong nhận thức - tức kinh nghiệm cấp hai, kinh nghiệm tự kiểm thảo chính mình - ph-ơng cách này phổ biến đối với mọi trực quan và nh- thế là có tính tiên nghiệm [a priori] Tóm lại, nhận thức kinh nghiệm đối với I.Cantơ chẳng qua chỉ là b-ớc quá độ để đi đến nhận thức tiên nghiệm, và nhận thức tiên nghiệm mới biểu hiện bản chất của nhận thức chân chính Phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm Anh từ J.Lốccơ đến Đ.Hium, I.Cantơ cho rằng các nhà kinh nghiệm

đã tuyệt đối hoá nguồn nhận thức từ cảm giác nên không thể đạt đến trình độ nhận thức khoa học, cùng lắm chỉ đạt đ-ợc những kết quả rời rạc của khoa học thực nghiệm Chịu ảnh h-ởng của Đ.Hium nh-ng I.Cantơ phê phán

Đ.Hium ở chỗ đã quá nhấn mạnh quan hệ giữa quá trình nhận thức với thể trạng tâm sinh lý của con ng-ời; và nh- vậy là đã giảm trừ con ng-ời thành những cơ thể sinh học chỉ còn có cảm giác mà thôi Hơn nữa, những ng-ời kinh nghiệm chủ nghĩa cũng ch-a vạch ra đ-ợc kết cấu tiên nghiệm của trực

Trang 39

quan bằng ph-ơng pháp siêu nghiệm nên cảm giác của họ vẫn chỉ là sự phản

ánh thụ động đối t-ợng bên ngoài

Từ việc khảo sát lý thuyết của phái kinh nghiệm [Empirismus], I.Cantơ chuyển sang một hình thức mới của nhận thức: nhận thức tiên nghiệm - độc lập với kinh nghiệm theo nghĩa hoàn toàn không đ-ợc rút ra từ kinh nghiệm

I.Cantơ trong Lời dẫn nhập (ấn bản B) đã phân biệt rõ cho độc giả để tránh

nhầm lẫn vì thông th-ờng ng-ời ta chỉ hiểu tiên nghiệm là có tr-ớc một kinh nghiệm nào đấy Ví dụ, ng-ời đào móng một ngôi nhà biết tr-ớc ngôi nhà đó

sẽ đổ mà không cần chờ kinh nghiệm trực tiếp về việc ấy Nh- thế có phải là nhận thức tiên nghiệm không? I.Cantơ trả lời quả quyết rằng không, vì sự biết tr-ớc đó thực ra vẫn dựa trên kinh nghiệm là một vật nặng mất chỗ tựa sẽ bị

đổ Tiên nghiệm không đồng nhất với kinh nghiệm gián tiếp theo nghĩa đối lập với kinh nghiệm trực tiếp Ông kết luận: "Vậy, khi theo dõi các nhận thức tiên nghiệm, ta sẽ không hiểu chúng là độc lập với kinh nghiệm này hay với

kinh nghiệm nọ mà là tuyệt đối độc lập với mọi kinh nghiệm" [16, tr.78]

Trong nhiều đoạn khác, I.Cantơ nhấn mạnh, nhận thức tiên nghiệm độc lập với

mọi ấn t-ợng của giác quan vì chúng "do quan năng nhận thức của ta tự mang lại", "có sẵn trong ta tr-ớc mọi tri giác về đối t-ợng" và là điều kiện để kinh

nghiệm xuất hiện ra cho con ng-ời Nh- vậy, cái tiên nghiệm là một cấu trúc hình thức có sẵn bên trong chủ thể ở mỗi giai đoạn nhận thức sẽ có một cấu trúc tiên nghiệm t-ơng ứng

Đặc điểm để chứng tỏ một nhận thức là tiên nghiệm là nhận thức ấy

phải có tính tất yếu [Notwendigkeit] và tính phổ quát [allgemeinheit] Thực ra, hai dấu hiệu này của nhận thức đã đ-ợc siêu hình học truyền thống Hy Lạp nhắc đến Trong học thuyết của Platôn và Arixtốt, chúng đ-ợc dùng để phân

biệt nhận thức đích thực [Episteme] và t- kiến [doxa] Nhận thức đích thực thì hoàn toàn khách quan, không bị pha trộn bất kỳ ý kiến cá nhân nào; do đó là tất yếu (không thể khác) và phổ biến (không có ngoại lệ) Hai dấu hiệu này không một nhận thức th-ờng nghiệm nào có thể đạt đ-ợc một cách trọn vẹn vì

Ngày đăng: 14/07/2021, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quang Chiến (chủ biên - 2000), Chân dung triết gia Đức, Viện Triết học - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung triết gia Đức
2. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên - 1997), I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổ điển Đức
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), Quan niệm của I.Cantơ về tính tích cực của chủ thể nhận thức. I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổ điểnĐức, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.75-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của I.Cantơ về tính tích cực của chủ thể nhận thức
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1997
4. Phạm Văn Chung (2004), Thực chất "Cái siêu việt" của lý tính trong lý luận nhận thức của I.Cantơ và t- t-ởng của ông về một nền triết học khoa học. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học, Tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái siêu việt
Tác giả: Phạm Văn Chung
Năm: 2004
6. Bùi Đăng Duy (2004), I.Cantơ và nền triết học hiện đại ở ph-ơng Tây. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận vàđạo đức học, Tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I.Cantơ và nền triết học hiện đại ở ph-ơng Tây
Tác giả: Bùi Đăng Duy
Năm: 2004
9. Nguyễn Vũ Hảo (2004), T- t-ởng của I.Cantơ về sự thống nhất của lý luận nhận thức và đạo đức học trong nhân học. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học, Tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T- t-ởng của I.Cantơ về sự thống nhất của lý luận nhận thức và đạo đức học trong nhân học
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo
Năm: 2004
10. Ted Honderich (chủ biên - 2002), Hành trình cùng triết học, (Biên dịch: L-u Văn Hy), Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình cùng triết học
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
11. Đỗ Minh Hợp (1997), Vai trò của triết học I.Cantơ đối với sự phát triển của triết học. I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.294-298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của triết học I.Cantơ đối với sự phát triển của triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1997
12. Đỗ Minh Hợp (1997), Cách tiếp cận tiên nghiệm với việc phân tích ý thức ở I.Cantơ và E.Huxéc. I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổđiển Đức, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.265-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận tiên nghiệm với việc phân tích ý thức ở I.Cantơ và E.Huxéc
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1997
13. Đỗ Minh Hợp (2004), Bản thể luận E.Huxéc với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm I.Cantơ. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết học cổ điển Đức:nhận thức luận và đạo đức học, Tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thể luận E.Huxéc với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm I.Cantơ
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2004
14. Nguyễn Văn Huyên (1996), Triết học Imanuin Cantơ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Imanuin Cantơ
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1996
15. E.V.Ilencov (2003), Lôgíc học biện chứng (Ng-ời dịch: Nguyễn Anh Tuấn), Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgíc học biện chứng
Tác giả: E.V.Ilencov
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 2003
16. Immanuel Kant (2004), Phê phán lý tính thuần tuý (Dịch và chú giải: Bùi Văn Nam Sơn; Dẫn luận: Thái Kim Lan), Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán lý tính thuần tuý
Tác giả: Immanuel Kant
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2004
17. Âu D-ơng Khang (2004), Ph-ơng thức t- duy chủ thể tính của I.Cantơ và những gợi mở của nó với đ-ơng đại. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học, Tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph-ơng thức t- duy chủ thể tính của I.Cantơ và những gợi mở của nó với đ-ơng đại
Tác giả: Âu D-ơng Khang
Năm: 2004
18. Đỗ Văn Khang (2004), I.Cantơ và nhận thức luận hiện đại. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học, Tr-ờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I.Cantơ và nhận thức luận hiện đại
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 2004
19. Phạm Minh Lăng (1997), Cái tiên nghiệm trong triết học I.Cantơ. I.Cantơ - ng-ời sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb. Khoa học xãhội, Hà Nội, tr.94-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tiên nghiệm trong triết học I.Cantơ
Tác giả: Phạm Minh Lăng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1997
22. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
23. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
24. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
25. V-ơng Đức Phong, Ngô Hiểu Minh (2003), Thập đại tùng th- - m-ời nhà t- t-ởng lớn thế giới, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thập đại tùng th- - m-ời nhà t- t-ởng lớn thế giới
Tác giả: V-ơng Đức Phong, Ngô Hiểu Minh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w