Trong những năm qua du lịch Nghệ An đã và đang có nhiều bước khởisắc do đó việc xúc tiến tìm giải pháp thu hút khách du lịch về với bảo tàng làmột vấn đề cấp thiết.Với tính chất là một b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
=== ===
thái thị vân anh
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Bảo tàng Nghệ An trong vấn đề phát triển du lịch Nghệ An
VINH - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
=== ===
thái thị vân anh
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Bảo tàng Nghệ An trong vấn đề phát triển du lịch Nghệ An
chuyên ngành du lịch
Lớp 48B 2 - Du lịch (2007 - 2011)
Giỏo viờn hướng dẫn: DƯƠNG THỊ VÂN ANH
VINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện công trình nghiên cứu này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâusắc tới cô giáo Dương Thị Vân Anh - người hướng dẫn khoa học trực tiếp đãtận tình chỉ dẫn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoalịch sử đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứucủa mình
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ sở Văn hoá thể thao và dulịch Nghệ An, bảo tàng Nghệ An, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về mặt tư liệucũng như có những nhận xét, góp ý trực tiếp cho tôi để có thể hoàn thànhkhoá luận này
Đây là công trình nghiên cứu đầu tay, do điều kiện tư liệu và khả năngcòn hạn chế, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy tôi rấtmong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và bạn đọc để đề tàiđược hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Thái Thị vân Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của khóa luận 5
B NỘI DUNG 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH NGHỆ AN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở NGHỆ AN 6
1.1 Tổng quan về tỉnh Nghệ An 6
1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 6
1.1.2 Sự phân chia hành chính 7
1.1.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 7
1.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 13
1.2 Khái quát về hoạt động du lịch ở Nghệ An 16
1.2.1 Khách du lịch 17
1.2.2 Doanh thu từ du lịch 18
1.3 Những điểm du lịch quan trọng của Nghệ An 20
1.3.1 Một số điểm đến du lịch nổi tiếng đã được đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả 20
1.3.2 Hệ thống bảo tàng - tiềm năng du lịch còn bỏ ngỏ 26
Chương 2 BẢO TÀNG NGHỆ AN - MỘT ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TIỀM NĂNG 29
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Nghệ An 29
Trang 52.1.1 Vị trí 29
2.1.2 Tên gọi 29
2.1.3 Loại hình 30
2.1.4 Lịch sử hình thành 30
2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng Nghệ An 33
2.1.6 Quá trình phát triển của Bảo tàng Nghệ An 35
2.2 Tình hình hoạt động của Bảo tàng Nghệ An trong xu thế phát triển chung của ngành du lịch Nghệ An 41
2.2.1 Đánh giá về tình hình hoạt động của Bảo tàng Nghệ An 42
2.2.2 Đánh giá về thực trạng hoạt động của Bảo tàng Nghệ An trong xu thế phát triển chung của du lịch Nghệ An 54
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA BẢO TÀNG NGHỆ AN ĐỐI VỚI DU LỊCH NGHỆ AN 56
3.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 56
3.1.1 Cơ sở lí luận 56
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 57
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao vị thế của Bảo tàng Nghệ An trong phát triển du lịch Nghệ An 59
3.2.1 Xây dựng không gian trưng bày cố định một cách khoa học hiện đại 60
3.2.2 Phát huy việc tổ chức trưng bày chuyên đề có chất lượng 62
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ thuyết minh viên tại bảo tàng 64
3.2.4 Xây dựng bài thuyết minh, hướng dẫn có chất lượng tốt 66
3.2.5 Tăng cường công tác thu thập hiện vật 68
3.2.6 Tăng cường quảng bá hình ảnh bảo tàng trên các phương tiện thông tin đại chúng 69
3.2.7 Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về bảo tàng 70
Trang 63.2.8 Tổ chức các buổi giao lưu công chúng với bảo tàng 70
3.2.9 Phối hợp hoạt động giữa bảo tàng với các trường học 70
3.2.10 Phối hợp hoạt động giữa bảo tàng với các đơn vị du lịch 72
3.2.11 Phối hợp hoạt động giữa bảo tàng Nghệ An với các bảo tàng khác ở trong và ngoài tỉnh 75
3.2.12 Một số giải pháp khác 76
C KẾT LUẬN 79
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
E PHỤ LỤC
Trang 7Cũng trong thời đại mới du lịch và bảo tàng ngày càng khẳng địnhmối quan hệ tương hỗ Bảo tàng đang trở thành một địa chỉ không thể thiếutrong các tour du lịch hấp dẫn ở những nước có ngành bảo tàng phát triển Ởnước ta trong những năm gần đây, bảo tàng cũng là một điểm đến khá hấpdẫn bởi những giá trị di sản văn hóa dân tộc Thế nhưng chỉ mới một số bảotàng lớn ở nước ta thu hút được đông đảo du khách về tham quan tìm hiểucòn nhìn chung phần lớn vẫn chưa làm được điều này Ở Nghệ An cũngkhông ngoại lệ, bảo tàng và du lịch đang hoạt động riêng lẽ độc lập vớinhau Trong những năm qua du lịch Nghệ An đã và đang có nhiều bước khởisắc do đó việc xúc tiến tìm giải pháp thu hút khách du lịch về với bảo tàng làmột vấn đề cấp thiết.
Với tính chất là một bảo tàng tổng hợp lại được đặt tại một địa phương
có truyền thống văn hóa lâu đời, Bảo tàng Nghệ An có đủ mọi điều kiện đểphát triển thành một bảo tàng lớn, giới thiệu quảng bá hình ảnh quê hươngcon người Nghệ An, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương.Đến đây du khách sẽ tìm được niềm hứng khởi và khơi dậy trong lòng kháchtham quan trí tò mò hấp dẫn trên con đường tìm hiểu khám phá về vẻ đẹp xứ
Trang 8Nghệ Thế nhưng cho đến nay bảo tàng này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn
và vẫn chưa phải là sự lựa chọn hàng đầu của du khách khi về khám phámảnh đất này
Bản thân được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nghệ Tĩnh, lại may mắnđược học chuyên ngành du lịch khi lên đại học, tôi tự nhận thấy phải có tráchnhiệm đóng góp một phần sức lực và trí tuệ nhỏ bé của mình vào công cuộcchung là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên mảnh đất Nghệ An, đưa du lịchNghệ An xích lại gần với ngành bảo tàng mà cụ thể là có cái nhìn đúng đắnhơn về Bảo tàng Nghệ An - một tiềm năng du lịch lớn đang bị lãng quên.Nghiên cứu đề tài này góp phần lý giải tại sao khách du lịch đến bảo tàng cònquá ít, tại sao bảo tàng chưa có sức hấp dẫn du khách Và trên cơ sở nhận địnhthực trạng tôi sẽ đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm khuyến khích sựphát triển của bảo tàng, đưa bảo tàng đến gần với công chúng hơn Với ýnghĩa đó tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là "Bảo tàng Nghệ An trong vấn
đề phát triển du lịch Nghệ An"
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở nước ta, việc nghiên cứu bảo tàng với tư cách là một điểm du lịchcòn là một đề tài khá mới mẻ, có chăng thì chỉ là một số bảo tàng lớn Cònnhững bảo tàng ở địa phương thì hầu như có rất ít các công trình nghiên cứu
Và Bảo tàng Nghệ An cũng nằm chung trong tình trạng đó Có thể nói rằngđây là đề tài đầu tiên đưa Bảo tàng Nghệ An vào nghiên cứu với tư cách làmột điểm du lịch đầy tiềm năng của tỉnh Nghệ An Trên cơ sở đó, đề tài củatôi sẽ có những đóng góp nhất định và khách quan với những luận cứ khoahọc và thực tiễn xác đáng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bảo tàng Nghệ An, du lịch Nghệ An
Trang 9Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu Bảo tàng Nghệ An đặt trong mối quan
hệ là một điểm đến du lịch đầy tiềm năng của tỉnh Nghệ An, trong cái nhìntổng thể của hệ thống bảo tàng và hoạt động du lịch ở nước ta
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Đề tài này tập trung tổng kết đánh giá những thành tựu đạt được củabảo tàng Nghệ An trong thời gian qua cũng như những vấn đề còn tồn tại củabảo tàng Và trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm gópphần hoàn thiện và nâng cao chất lượng bảo tàng, xây dựng thương hiệu đểbiến bảo tàng trở thành một điểm đến hấp dẫn của các tour du lịch lịch sử vănhoá đúng với vai trò ý nghĩa to lớn của một bảo tàng địa phương
Nhiệm vụ:
Với mục đích như vậy trước hết khoá luận đề cập đến đặc điểm điềukiện tự nhiên, lịch sử, con người, truyền thống những nhân tố ảnh hưởngviệc thành lập bảo tàng, nội dung trưng bày và hoạt động của bảo tàng Bêncạnh đó cũng đề cập đến tình hình hoạt động của hệ thống bảo tàng song songvới việc phát triển du lịch của Nghệ An
Trên cơ sở đó đề tài còn nêu lên một số giải pháp cụ thể, đồng thờimạnh dạn đưa ra một số nhận xét cá nhân hi vọng góp phần làm cho ngườidân và du khách có cái nhìn mới mẻ về một bảo tàng có tầm quan trọng và ýnghĩa lớn nhưng chưa thực sự có sức hấp dẫn
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu:
Để thực hiện đề tài “Bảo tàng Nghệ An trong vấn đề phát triển du lịchNghệ An” tôi tập trung khai thác những nguồn sau:
Các tài liệu thành văn: sách, báo, tạp chí, các diễn văn của Bảo tàngNghệ An, nguồn tài liệu từ Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Nghệ An, cũngnhư là tài liệu trên internet
Trang 10Ngoài ra tôi còn có những cuộc trao đổi, tiếp xúc trực tiếp với một sốcán bộ làm việc tai Bảo tàng Nghệ An - những người có đóng góp quan trọng
để bảo tàng tồn tại và phát triển
Từ nguồn tài liệu thành văn và không thành văn chúng tôi tổng hợp lại,đối chiếu so sánh và căn cứ vào tình hình cụ thể để nghiên cứu đề tài mộtcách nghiêm túc và có hiệu quả nhất
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: Trên cơ sở nguồn số liệu đãthu thập được tôi đã tiến hành tổng hợp, phân tích số liệu để làm rõ vấn đềđang nghiên cứu
- Phương pháp đối chiếu so sánh: Đây là phương pháp quan trọng màtôi sử dụng để so sánh thực trạng hoạt động du lịch bảo tàng ở trên thế giới và
ở Việt Nam cũng như là thực trạng hoạt động du lịch của các bảo tàng trên địabàn tỉnh Nghệ An Bên cạnh đó tôi sử dụng phương pháp này để so sánh mứctăng số lượt khách, doanh thu du lịch qua các năm
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tôi sử dụng phương pháp này bằngcách đến trực tiếp một số cơ sở để tìm hiểu thực trạng phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu đề tài như các bảo tàng trên địa bàn tỉnh Nghệ An, một số đơn vị
mà bảo tàng báo cáo đến trưng bày triển lãm lưu động… Với phương phápnày tôi còn xác minh tính xác thực của báo cáo cũng như để tìm hiểu bảo tàng
và mối quan hệ của bảo tàng đối với phát triển du lịch
- Phương pháp điều tra xã hội học: Trong quá trình làm khoá luận tôi
có sử dụng phương pháp này để tìm hiểu tâm lý du khách khi đến tham quanbảo tàng bằng các phiếu điều tra xã hội học
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Để hoàn thành khoá luận tôi đãgặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia bảo tàng học và du lịch như giám đốc Bảotàng Nghệ An Nguyễn Minh Truyền, phó giám đốc Bảo tàng Nghệ AnTrương Đắc Thành…
Trang 116 Đóng góp của đề tài
Là một sinh viên khoa lịch sử, theo học ngành Việt Nam học chuyên
ngành du lịch, việc nghiên cứu đề tài “Bảo tàng Nghệ An trong vấn đề phát
triển du lịch Nghệ An” mang ý nghĩa phục vụ tốt cho quá trình học tập,
nghiên cứu và công tác của tôi sau này
Đề tài này sẽ tái hiện một cách khách quan toàn diện và có hệ thống vềlịch sử hình thành, tình hình hoạt động của bảo tàng Nghệ An, cũng như làm
rõ về mối quan hệ của Bảo tàng Nghệ An đối với phát triển du lịch Nghệ An
Đề tài góp phần nêu bật giá trị của Bảo tàng Nghệ An đối với lịch sử địaphương nói chung, đối với vấn đề phát triển du lịch Nghệ An nói riêng Vớiviệc đưa ra những giải pháp thu hút khách du lịch về với bảo tàng, đề tài nàycòn đóng góp một phần lý luận thúc đẩy sự phát triển của hệ thống bảo tàngnói chung và Bảo tàng Nghệ An nói riêng
Với việc đưa vấn đề bảo tàng và du lịch ra nghiên cứu một cách nghiêmtúc đề tài này còn góp phần làm nổi bật tầm quan trọng của việc đưa bảo tàngvào phát triển du lịch Từ đó đề tài khẳng định mối quan hệ tương hỗ giữa bảotàng và du lịch
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về tỉnh Nghệ An và hoạt động du lịch ở
Trang 12B NỘI DUNGChương 1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH NGHỆ AN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
Điểm cực Tây là đỉnh núi Pù Xơi xã Mường Ải huyện Kỳ Sơn.
Điểm cực Đông là chân núi Xước - Đông Hồi xã Quỳnh Lập huyện
có biển và đường biển ra thế giới
Với vị trí địa lý và một số điều kiện, Nghệ An đóng vai trò cửa ngõgiao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng Bắc trung bộ với Bắc bộ và Nam bộ
Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế (tuyến du lịch XuyênViệt, tuyến du lịch Vinh - cánh đồng Chum - Luông pha băng - Viêng Chăn -
Trang 13Băng Kốc và ngược lại, qua đường 7 và đường 8), Nghệ An hoàn toàn có khảnăng đóng vai trò một trung tâm du lịch vùng và tiến tới là trung tâm du lịchquốc gia trong tương lai.
Bên cạnh đó thì vị trí địa lý Nghệ An có hạn chế là cách xa các trungtâm tăng trưởng kinh tế quốc gia Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và chưa
có cảng nước sâu
Nghệ An là tỉnh thuộc địa bàn chiến lược 2 khu vực nối liền với Quânkhu Xiêng Khoảng - cánh đồng Chum (Lào) có vị trí rất quan trọng về Quốcphòng - An ninh
Đến ngày 01/07/2008 tỉnh Nghệ An gồm có một thành phố tỉnh lị trựcthuộc tỉnh (Vinh) và 2 thị xã (Cửa Lò và Thái Hoà) và 17 huyện, trong đó có
7 huyện đồng bằng và 17 thị trấn, 25 phường (trong đó 16 phường thuộcthành phố Vinh, 5 phường thuộc thị xã Cửa Lò và 4 phường thuộc thị xã TháiHoà) và 431 xã [3,13]
1.1.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.1.3.1 Địa chất - Địa hình
Về địa chất
Cũng như địa bàn cả nước, mảnh đất Nghệ An đã trải qua các thời kỳkiến tạo địa chất gồm: đại Nguyên sinh, đại Cổ sinh, đại Trung sinh và đạiTân sinh Và qua các đợt kiến tạo địa chất đó thì cấu trúc địa chất tỉnh Nghệ
An rất phức tạp, nằm trong ba đợt kiến tạo lớn: đới nâng Pù Hoạt; miền nếpuốn Trường Sơn; đới võng Sầm Nưa [3,22-23]
Trang 14Về địa hình
Địa hình tỉnh Nghệ An dốc dần từ Tây Bắc - Đông Nam, bị chia cắtmạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông ngòi chằng chịt, trong đó đồi núichiếm 83% diện tích toàn tỉnh
Điều kiện địa hình đã tạo cho Nghệ An một thiên nhiên hùng vĩ, cảnhsắc tươi đẹp, nhưng cũng gây ra nhiều hạn chế không nhỏ trong việc xây dựngcác công trình kiến trúc hạ tầng và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Địa hình Nghệ An có 3 dạng đặc trưng: đồi núi, đồng bằng, bờ biểnĐịa hình đồi núi: bị chia cắt mãnh liệt, nghiêng dốc mạnh từ Tâysang Đông, chủ yếu là núi trung bình, núi thấp và đồi xen lẫn các thunglũng nhỏ hẹp
Địa hình đồng bằng có 2 kiểu chính
- Địa hình đồng bằng bồi tụ, chỉ chiếm 14% diện tích tự nhiên của tỉnh
do phù sa sông ngòi bồi đắp, độ phì nhiêu thấp
- Địa hình bờ biển thấp và bằng phẳng, bị các cửa sông chia cắt Trêncác vách hang động của nhiều dãy núi còn rõ các vết tích xâm lược của nướcbiển như ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành
Địa hình biển: Biển Nghệ An nằm ở cửa biển Vịnh Bắc Bộ Biển có ítđảo và đảo nhỏ, tiêu biểu là Hòn Mắt và Hòn Ngư
Vai trò của địa hình:
Tính đa dạng, phức tạp của địa hình là nhân tố rất quan trọng tạo nên sự
đa dạng của thổ nhưỡng, khí hậu, động thực vật của Nghệ An Đặc điểm ấycho phép khai thác tiềm năng để phát triển một nền nông nghiệp phong phú
đa dạng (Nông, lâm, thuỷ hải sản ), đồng thời tạo điều kiện để phát triển một
số ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có ngành kinh tế biển, du lịch
Địa hình phức tạp, độ dốc lớn gây nên những cản trở không nhỏ về giaothông, thuỷ lợi nhất là miền núi Nạn rửa trôi, xói mòn lớp đất mặt ngày càngtăng làm ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng Đồng bằng gồ ghề, nhỏ hẹp,
Trang 15manh mún, vùng ven biển bị nhiễm mặn cùng với nhiều yếu tố bất lợi, hạnchế phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá của nền nông nghiệp và cải thiệnmôi trường ở Nghệ An [3,33].
1.1.3.2 Thổ nhưỡng
Theo số liệu mới nhất ngày 01/01/2009 thì tổng diện tích tỉnh Nghệ An
là 1649068,23 ha [3,34] Đặc điểm địa chất phức tạp là cơ sở để sinh ra mộtnền thổ nhưỡng đa dạng, nhiều lợi thế nhưng đồng thời cũng có không ítnhược điểm Theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân đất Nghệ An thành 2nhóm chính là:
Đất thuỷ thành: phân bố tập trung chủ yếu tập trung ở các huyệnđồng bằng, ven biển Chiếm vị trí quan trọng trong số này là 191.427ha đấtphù sa và nhóm đất cát Đây là nhóm đất có ý nghĩa lớn đối với sản xuấtNông nghiệp của tỉnh [3,39]
Đất địa thành: loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng núi (74,4%), có
ý nghĩa lớn trong việc khai thác trồng các cây công nghiêp và cây ăn quả
Với lợi thế thổ nhưỡng hiện có, Nghệ An đã và đang hình thành cácvùng chuyên canh tập trung có khối lượng hàng hoá lớn với các loại cây chủyếu như lạc, lúa, mía, sắn, cao su, cà phê, dứa, rau vụ đông
Bên cạnh những ưu thế đó thì một số hạn chế thổ nhưỡng của Nghệ Anlà: Địa hình nghiêng dốc mạnh, dễ bị xói mòn, hầu hết đất có chất lượng thấp,nghèo dinh dưỡng, độ chua PH cao
Cơ cấu sử dụng đất ở Nghệ An hiện nay chưa hợp lý: tỷ lệ đất làmnông nghiệp cây công nghiệp và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản thấp, đất chưa
sử dụng chiếm tỷ lệ lớn gây lãng phí trong việc khai thác tiềm năng tàinguyên đất
1.1.3.3 Khí hậu
Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh
và chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều và mùa đông lạnh ít
Trang 16mưa Đồng thời lại nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dị rõ rệttrên lãnh thổ và theo các mùa.
Khí hậu Nghệ An có một số đặc điểm riêng đó là:
Tổng bức xạ 131,8kcal/cm²/năm, cán cân bức xạ 87,3kcal/cm²/năm Sốgiờ nắng 1500h - 1700h/năm
Nhiệt độ trung bình năm luôn vượt 23.5°C, đồng bằng ven biển 23,9°C
Độ ẩm vào thời điểm cao nhất 100%, thấp nhất 50%, tháng 7 có độ ẩmtrung bình thấp nhất 72%
Lượng mưa: lượng mưa trung bình hàng năm ở Nghệ An từ 1500 2000mm
-Vai trò của khí hậu được thể hiện rõ:
Nghệ An có một vùng khí hậu chuyển tiếp, có sự phân hoá thành 2 mùa
rõ rệt và là nơi nắng lắm mưa nhiều, lượng nhiệt và độ ẩm cao, rất thích hợpcho phát triển rừng nhiệt đới và đa dạng hoá các cây trồng
Tuy nhiên, khí hậu Nghệ An cũng hết sức khắc nghiệt có một số hiệntượng thời tiết cực đoan: Gió Tây Nam khô nóng, thời tiết nóng lạnh thấtthường tác hại đến sản xuất, đời sống và sức khoẻ con người, nạn bão lụt, hạnhán, lốc xoáy thường xuyên đe doạ, rất khó phòng chống một cách hiệu quả
Với những yếu tố vị trí địa lý, cấu trúc địa hình và đặc điểm khí hậu đã ưuđãi cho Nghệ An một lượng nước khá phong phú cả trên mặt và dưới đất Vớikhoảng 21,4 tỷ m³ nước trên mặt và khoảng 42 tỷ m³ nước dưới mặt đất [3,74]
Vai trò của thuỷ văn thể hiện rõ những mặt ưu và những mặt hạn chế:
Trang 17Nguồn nước ngầm phong phú, chất lượng tốt có thể bổ sung cho nguồnnước mặt
Nghệ An hướng ra biển Đông với bờ biển dài 82km, có biển rộng
4230 hải lý vuông Đây là lợi thế rất quan trọng để phát triển ngành kinh tếbiển [3,85]
Thuỷ chế không đều, phân bố theo vùng và theo mùa thường xảy ra hạnhán, lũ lụt
Trang 18nhiều luồng sinh vật Sự đa dạng sinh học thể hiện rõ ở tự nhiên rừng và tựnhiên biển của Nghệ An với nhiều loại động thực vật đa dạng và quý hiếm
- Về tài nguyên rừng:
Nghệ An có diện tích đất lâm nghiệp 1.178.182,2 ha, chiếm72% diệntích tự nhiên toàn tỉnh, là tỉnh có diện tích rừng và đất rừng đứng thứ 2 trong
cả nước sau Gia Lai Diện tích có rừng là 777.359,7 ha trong đó rừng tự nhiên
là 689.077,6 ha, rừng trồng là 88.282,1 ha (số liệu năm 2005) Tỷ lệ che phủtính đến năm 2005 là 47% [3,90-91]
Trong những kiểu rừng ở Nghệ An có nhiều loài thực vật quý hiếm nhưpơmu, samu, bách xanh, kim giao cùng với số lượng động vật lớn RừngNghệ An chiếm một nửa số lượng loài động vật có trong sách đỏ Việt Nam,trong đó có một số loài nổi tiếng mới phát hiện như: dê sừng dài (sao la),mang lớn, cá Parazoao [3,87-88]
Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, ở Nghệ An hình thành nhiềuloại hình hệ sinh thái khác nhau mà nổi bật trong số đó phải kể đến rừng ngậpmặn Tràm chim Hưng Hoà, Vườn quốc gia Pù Mát cũng như khu dự trữ sinhquyển miền Tây Nghệ An
- Về tài nguyên biển:
Nghệ An có bờ biển dài 82 km và diện tích vùng biển 4230 hải lývuông, dọc bờ biển có nhiều cửa với độ sâu từ 1 đến 3,5m thuận lợi cho tàuthuyền có tải trọng 50 - 1000 tấn ra vào [3,100-101]
Theo điều tra của viện nghiên cứu hải sản, trữ lượng hải sản các loạiNghệ An khoảng 80.000 tấn (số liệu công bố năm 1998), khả năng khai tháccho phép khoảng 35 - 37 nghìn tấn/năm [3,101]
Bờ biển Nghệ An có nhiếu bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi tắm Cửa Lò,Nghi Thiết, Cửa Hiền, Diễn Thành, Quỳnh Bảng
Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Nghệ An có nhiều tiềm năng pháttriển vận tải biển, trong đó cảng Cửa Lò và cảng Cửa Hội là những cảng lớn
Trang 191.1.3.6 Khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của Nghệ An khá đa dạng, có các loại từkhoáng sản quý hiếm như vàng, đá quý đến các loại khác như thiếc, bôxít,phốtphorit và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng như đá vôi (để sảnxuất ximăng), đá xây dựng, cát sỏi trong đó có nhiều loại có ý nghĩa trongphạm vi vùng và cả nước như thiếc, đá vôi, đá xây dựng Đây là một lợi thếlớn của tỉnh trong việc phát triển các ngành công nghiệp như khai khoáng, sảnxuất xi măng, vật liệu xây dựng
Đến nay, theo kết quả điều tra nhìn chung Nghệ An có nhiều loạikhoáng sản, tuy nhiên những tài nguyên khoáng sản có khả năng đưa vào sảnxuất công nghiệp chủ yếu là đá các loại, đất sét, cao lanh Các loại tàinguyên khoáng sản khác có trữ lượng nhỏ, phân tán và tập trung ở miền nam,
cơ sở hạ tầng kém nên việc đầu tư khai thác gặp nhiều khó khăn
1.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.4.1 Dân cư và dân tộc
Với những đặc điểm dân cư nói trên, Nghệ An có những thuận lợi vàkhó khăn nhất định đối với việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 20Dân tộc
Trên lãnh thổ tỉnh Nghệ An có 6 tộc người cùng chung sống: Kinh,Mông, Thái, Thổ, Khơmú, Ơđu Và phân theo 4 nhóm ngôn ngữ: ViệtMường, Tày Thái, Môn Khơme, Mông Dao
Đông nhất là người Kinh với hơn 2.600.000 người chiếm tới 86,5% dân
số toàn tỉnh [3;129] Ít nhất là tộc người Ơđu chỉ khoảng hơn 600 người [3,146]
Về địa bàn cư trú của các tộc người trong tỉnh, cùng với sự đan xen,hoà nhập, còn thể hiện bản sắc riêng của từng tộc người
Người Kinh phần lớn cư trú ở đồng bằng ven biển, các thị trấn, thị tứmiền núi Còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở miền núi
Qua điều tra đã thấy được Nghệ An có nhiều làng bản đẹp ở cả đồngbằng và vùng rẻo cao Các tộc người ở Nghệ An còn giữ được những nét vănhoá độc đáo đặc sắc của mình
Mảnh đất Nghệ An có sự dung hoà nhiều yếu tố tôn giáo và tín ngưỡnggiống như cả nước và là một vùng đất đa tôn giáo Các tôn giáo chính ở Nghệ
An phải kể đến Phật Giáo và Công Giáo
1.1.4.2 Điều kiện kinh tế
Thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế, đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong những năm qua nền kinh tế tỉnhNghệ An đạt được những thành tựu to lớn GDP bình quân đầu người (tínhtheo giá hiện hành) năm 2005 của tỉnh đạt 5,59 triệu đồng Nền kinh tế tỉnhtăng trưởng cao hơn nhiều trong những năm gần đây, vượt mức bình quân của
cả nước và vùng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của tỉnh giaiđoạn 2001 - 2005 đạt 10,25% [3,197]
Bên cạnh đó thì nền kinh tế Nghệ An đang có sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo ngành, lãnh thổ và theo thành phần kinh tế ngày càng hợp lý hơn
Tuy thế nền kinh tế Nghệ An còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế đáng kểcần vượt qua Như chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao, tăng trưởng
Trang 21kinh tế chủ yếu vẫn được tạo ra từ các ngành lĩnh vực truyền thống, trình độcác ngành sản xuất chưa cao, các ngành công nghiệp hiện đại hầu như chưa
có, GDP bình quân đầu người so với mức bình quân cả nước còn thấp,chuyển dịch kinh tế chưa thực sự mạnh mẽ, ngành dịch vụ nhất là các phânngành thương mại, dịch vụ giao thông vận tải, du lịch, phát triển chưa tươngxứng với tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao nhưng chưa bềnvững [3,195-209]
1.1.4.3 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông vận tải
Giao thông vận tải của tỉnh có một cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh Với12482km đường bộ; 84km đường sắt Bắc Nam (từ bắc Hoàng Mai đến NamĐàn); nhiều tuyến đường sông; có sân bay Vinh đang ngày càng được hoànthiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và cảnước nói chung
Bên cạnh đó là một hệ thống bến cảng (gồm bến xe ô tô đường bộ, bếncảng đường thuỷ) Đến cuối năm 2008, trên địa bàn tỉnh có 14 bến xe ô tô,trong đó có 2 bến xe loại 1 Có cảng biển Cửa Lò là một cảng biển quantrọng Năng lực vận tải của tỉnh tương đối lớn với 11015 chiếc ô tô chở hàng,
7514 chiếc ô tô chở khách, 276 chiếc tàu, ca nô chở hàng, 230 chiếc thuyềnxuồng máy (đường sông) và 25 chiếc (đường biển) năm 2008 [3,298-307]
- Hệ thống cấp nước sinh hoạt
Hiện nay toàn tỉnh có 5 cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch hoạtđộng theo mô hình doanh nghiệp Nhà nước địa phương và nhiều trạm cấp
Trang 22nước do huyện quản lý Về cơ bản đã cung cấp nước sạch cho một bộ phậndân cư trên địa bàn mà chủ yếu là dân cư đô thị [3,232-233].
- Bưu chính viễn thông
Là một tỉnh có địa bàn rộng, điạ hình phức tạp nhưng hệ thống cápquang, đường truyền băng thông rộng, đường truyền internet đã đến được tất
cả các huyện
Đến năm 2008 toàn tỉnh có 123 đơn vị bưu điện, 1013796 thuê baođiện thoại, 24359 thuê bao internet Nghệ An còn được chọn là 1 trong 4 tỉnhlàm điểm xây dựng (chính phủ điện tử) và nay đang triển khai một số dự ánlớn [3,309-311]
Bên cạnh hệ thống khách sạn thì, toàn địa bàn tỉnh số lượng cơ sở phục
vụ ăn uống khá lớn từ các nhà hàng lớn đến các đơn vị nhỏ
Hạ tầng du lịch được quan tâm đầu tư, tạo đà cho việc phát triển củangành, nhất là giai đoạn 2001 - 2005, ước tính nguồn vốn đầu tư trực tiếptrong 5 năm đạt gần 1000 tỷ đồng, trong đó 170 tỷ là từ vốn của chương trìnhquốc gia về phát triển du lịch Điều đó hứa hẹn hạ tầng du lịch của tỉnh ngàycàng khang trang [3,291-292]
1.2 Khái quát về hoạt động du lịch ở Nghệ An
Mảnh đất Nghệ An được biết đến là một mảnh đất địa linh nhân kiệtnơi sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước Nghệ An còn nổi tiếng bởi truyềnthống đấu tranh kiên cường bất khuất trong các cuộc kháng chiến chống giặcngoại xâm Nhưng ngày nay về với Nghệ An ta còn ngỡ ngàng bởi mảnh đất
Trang 23nổi tiếng với cái khắc nghiệt của thiên nhiên ngày càng đổi sắc sang trang mớitrên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, du lịch Và ta càng thấm thíahơn bao giờ hết câu ca dao:
“ Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”.
Nghệ An có tiềm năng lớn về du lịch và trong những năm gần đâyNghệ An đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch của
cả nước Hoạt động du lịch ở Nghệ An đang có những chuyển biến lớn Sựchuyển biến đó được thể hiện rõ ở số lượng khách đến và doanh thu du lịchcủa Nghệ An trong những năm gần đây
1.2.1 Khách du lịch
Theo số liệu thống kê của sở Sở Văn hoá Thể Thao Du lịch Nghệ Anthì số lượng khách du lịch đến tham quan Nghệ An ngày càng tăng, năm saucao hơn năm trước Theo đánh giá tổng quát khách du lịch thời kỳ 2006- 2010như sau:
Bảng 1.1 Hiện trạng khách du lịch đến Nghệ An thời kì 2006 - 2010
Trang 24Qua bảng tổng kết trên ta nhận thấy rõ sự tăng trưởng về số lượtkhách du lịch đến Nghệ An qua các năm ở cả hai nguồn khách du lịch Quốc
tế và khách nội địa Phân tích tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm vềkhách du lịch đạt 14,7% So sánh tỷ trọng khách du lịch Quốc tế và nội địatrên địa bàn cho thấy khách du lịch Quốc tế đạt 3,4% tổng số khách đếnNghệ An là còn quá thấp Nguyên nhân khách du lịch quốc tế thấp do vị tríđịa lý, điều kiện cơ sở hạ tầng, công tác tuyên truyền quảng cáo và cũng nhưchất lượng dịch vụ các sản phẩm du lịch chưa thu hút được nhiều khách dulịch quốc tế đến Nghệ An [8]
1.2.2 Doanh thu từ du lịch
Về lý thuyết doanh thu từ du lịch là tất cả khoản thu mà do khách dulịch chi trả trên địa bàn trong quá trình tham quan du lịch nhưng thực tế hiệnnay thống kê doanh thu du lịch mấy năm trên địa bàn chủ yếu dựa trên báocáo doanh thu của các công ty kinh doanh du lịch là chính; còn các chỉ tiêukhác của khách du lịch tại các doanh nghiệp khác ngoài du lịch chưa được cậpnhật đầy đủ nên số liệu phân tích doanh thu chỉ mới đề cập đến thu nhập dulịch của các doanh nghiệp du lịch
Qua nghiên cứu hiện trạng cho thấy doanh thu của các công ty du lịchtăng trưởng qua các năm Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của doanhthu từ du lịch Nghệ An là 24,5%/ năm Báo cáo doanh thu từ du lịch của SởVăn hoá Thể thao Du lịch Nghệ An thời kỳ 2006 - 2010 cho thấy rõ điều đó
Bảng 1.2 Doanh thu từ du lịch thời kì 2006 - 2010
Đơn vị tính: Triệu đồngn v tính: Tri u ị tính: Triệu đồng ệu đồng đồngng
(Nguồn: Sở Văn hoá Thể thao Du lịch Nghệ An)
Trang 25Cùng với du lịch cả nước, du lich Nghệ An đã đạt được bước tiến mạnh
mẽ, doanh thu và lượng khách liên tục tăng, được Tổng cục du lịch đánh giá
là một trong 10 tỉnh thành có tốc độ phát triển du lịch nhanh Ngành du lịch
đã đóng góp vào tổng sản phẩm GDP của tỉnh khá Năm 2005 đạt được 30triệu USD tương đương 330 tỷ đồng, năm 2009 đạt 778 tỷ đồng đến năm
2010 đạt trên 1003 tỷ đồng, tăng 29% so với năm 2009 Sự đóng góp của dulịch trong tổng GDP của tỉnh ngày càng tăng cho thấy vai trò ngày càng quantrọng của lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An [8]
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, Nghành du lịch Nghệ Ancòn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng vàlợi thế của tỉnh Hạn chế của sự phát triển đó có thể đúc kết trên 3 vấn đề cơbản sau đây:
Một là: Việc quy hoạch và xây dựng kế hoạch đầu tư, khai thác nguồnlực tài nguyên du lịch, đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch của tỉnh chưađược coi trọng đúng mực Vì vậy nhiều dự án kéo dài, việc triển khai thiếuđồng bộ giữa các bộ phận của hệ thống du lịch như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuậtphục vụ khách đi lại lưu trú; dịch vụ ăn uống ẩm thực, dịch vụ đáp ứng nhucầu mua sắm hàng hoá, quà lưu niệm; dịch vụ vui chơi giải trí và các hoạtđộng trung khác Hạn chế này dẫn đến Nghệ An chưa phải là điểm đến của dukhách nước ngoài
Hai là: Nghệ An chưa phát triển trở thành vùng kinh tế năng động, sứcthu hút đầu tư từ nước ngoài vào các nghành kinh tế mũi nhọn của tỉnh cònnhiều hạn chế Bên cạnh đó sản phẩm hàng hoá của Nghệ An chưa có sức hấpdẫn, thiếu sức cạnh tranh; các doanh nghiệp còn yếu kém trong việc tuyêntruyền, quảng bá sản phẩm và đầu tư nâng cao chất lượng, tạo dựng thươnghiệu sản phẩm
Ba là: Đội ngũ các bộ của nghành nhìn chung còn nhiều bất cập, nhất làtrình độ quản lý và nghiệp vụ quản trị kinh doanh của của nghành còn thiếu
Trang 26tính chuyên nghiệp, chưa được trang bị đủ kiến thức, nghiệp vụ để dáp ứngyêu cầu hiện tại và để làm tốt công tác tham mưu xây dựng chiến lược pháttriển nghành du lịch của tỉnh với tầm nhìn lâu dài
Bên cạnh những khó khăn trên thì du lịch Nghệ An còn phải chịu áplực cạnh tranh rất lớn của các tỉnh trong vùng trong khi nguồn lực đầu tư cho
du lịch còn hạn hẹp Vì vậy để ngành du lịch Nghệ An nhanh chóng trở thànhngành kinh tế quan trọng, phát triển tiêm xứng với tiềm năng và lợi thế thì cầnsớm giải quyết những tồn đọng trên
1.3 Những điểm du lịch quan trọng của Nghệ An
1.3.1 Một số điểm đến du lịch nổi tiếng đã được đưa vào khai thác sử dụng
có hiệu quả
Nghệ An là tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú cả tài nguyên du lịch
tự nhiên và nhân văn Thiên nhiên Nghệ An ưu đãi cho tỉnh nhà nhiều thắngcảnh đẹp nổi tiếng và nhiều loại hình sinh thái Cùng với đó con người xứNghệ đã sản sinh ra nhiều giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đặc sắc làm nênsức hút lớn đối với du khách Hoạt động du lịch tỉnh nhà đã và đang đạt nhiềuthành tựu lớn đặc biệt là một số điểm du lịch lớn đã được đưa vào khai thác
Về du lịch tự nhiên:
Khu du lịch Cửa Lò
Hiện nay du lịch biển Nghệ An nổi tiếng nhất phải kể đến thị xã biểnCửa Lò Đây đang là một địa điểm hấp dẫn lớn đối với du khách Bãi biểnCửa Lò dài gần 10km, kéo dài từ phường Nghi Thuỷ đến phường Nghi Hải(Cửa Hội), và bãi tắm du lịch vẫn tập trung ở phường Thu Thuỷ, Nghi Thu vàmột phần Nghi Hương Điểm nổi bật của bãi tắm là nước biển sạch và trong,bãi biển thoải, cát trắng phau, mịn màng Rừng phi lao xanh tốt, nước biểntrong xanh, độ mặn từ 3,4 % đến 3,5% Bãi tắm chia là 3m bãi nhỏ: bãi tắmLan Châu, bãi tắm Xuân Hương, bãi tắm Song Ngư Điều lý thú khi đến với
Trang 27bãi biển Cửa Lò là du khách vừa có thể tắm biển, ngắm cảnh vừa có thể vừa
có thể thưởng thức hải sản ngon bổ dưỡng
Đô thị du lịch biển Cửa lò trong năm 2010 đã đón 1,8 triệu lượt khách,trong đó có trên 1,3 triệu lượt khách lưu trú, tổng doanh thu dịch vụ du lịchđạt 725 tỷ đồng, hoàn thành toàn diện và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đượcgiao [8]
Vườn quốc gia Pù Mát
Vườn Quốc Gia Pù Mát được thành lập năm 2001 trên cơ sở chuyểnhạng từ khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát Vườn cách thành phố Vinh khoảng125km, nằm trên sườn Đông dải Bắc Trường Sơn, phía tây nam của tỉnhthuộc địa bàn 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương giáp biên giớiViệt Lào Đây là khu rừng nguyên sinh duy nhất còn lại của miền Bắc cấnđược bảo vệ nghiêm ngặt, là một trong số khu bảo vệ có tính đa dạng sinh họccao nhất nước ta và cả châu Á Vườn có diện tích 93113 ha [8]
Vườn Quốc Gia Pù Mát có nhiều loại thực vật động vật quý hiếm đượcghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới cần được bảo vệ
Về thực vật bậc cao có mạch có 2500 loài sinh sống trong đó có 68 loài
có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào sách đỏ Việt Nam, 41 loài nằm trongsách đỏ thế giới như: pơmu, thông lông gà, đỉnh tàng, samu dầu [8]
Về động vật co 132 loài thú, 81 loài cá, 13 loài rùa , đặc biệt có Voi,
Hổ, Sao la, Vượn đen má trắng, chà vá chân nâu, khỉ đuôi lợn, mang TrườngSơn… [8]
Những năm gần đây, việc phát hiện sao la, mang lớn, mang trườngsơn và những loài được xtôi như đã tuyệt chủng như Thỏ vằn Trường Sơn
đã thực sự thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học cũng nhưkhách du lịch
Tháng 11 năm 2007 Vườn quốc gia Pù Mát được tổ chức UNESCOcông nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, đồng thời Ủy ban nhân dân tỉnh
Trang 28Nghệ An cũng đã phê duyệt quy hoạch chi tiết khu du lịch thác Khe Kèm Đây là tiền đề và là điều kiện để Vườn quốc gia Pù Mát phát triển du lịchsinh thái và là địa điểm lý tưởng để du khách đến tham quan, nghiên cứu vàgiải trí [8].
Khu du lịch Bãi Lữ đang được quy hoạch là một hệ thống nhà nghỉkhách sạn từ 3-5 sao, nhà hàng và các dịch vụ đa năng Các công trình: sângolf, bảo tàng Hải dương học, hệ thống khuôn viên, nhạc nước và 120 biệtthự Đặc biệt khu giải trí casino trên bán đảo (3 mặt giáp biển) ở độ cao gần100m cùng quy mô thu nhỏ của Vạn Lý Trường Thành và bãi tắm tiên sẽtạo ra nét độc đáo, thơ mộng, mới lạ, hấp dẫn
Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An
Khu dự trữ sinh quyển là khu vực ở đó bao gồm những mẫu nguyêncủa hệ sinh thái có ý nghĩa nhất về nguồn gen, giống, loài để bảo tồn và pháttriển theo hướng có lợi nhất cho con người
Khu dự trữ miền Tây Nghệ An là khu dự trữ thứ 5 ở nước ta đượcUNESCO công nhận
Khu dự trữ miền Tây Nghệ An có diện tích 1303205ha, trong đó vùnglõi 241985ha, vùng đệm 503270ha, vùng chuyển tiếp 558030ha thuộc phạm
vi 9 huyện miền núi: Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương,
Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ hợp, Tân Kỳ Đây là khu sinh quyển lớnnhất nước ta với 12 loại hình của hệ sinh thái Bắc Trường Sơn, có mức đọ đa
Trang 29dạng hoá sinh học cực kỳ phong phú, tạp trung tại vườn quốc gia Pù Mát, khubảo tồn thiên nhiên Pù Huống, khu bảo tồn thực vật Pù Hoạt, rừng nguyênsinh Puxalaileng (Kỳ Sơn), Tam Hợp (Tương Dương), Thanh Thuỷ (ThanhChương); có bản sắc văn hoá đa dạng phong phú của các dân tộc anh tôi Thái,Thổ, Khơmú, Mông, Ơđu, Kinh sinh sống từ lâu đời [8].
Miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển là
sự ghi nhận của Thế Giới đối với việc bảo vệ thiên nhiên rừng, bảo tồn đadạng sinh học do đó càng tạo nên sức hút đối với du khách về tham quan vànghiên cứu
Về du lịch lịch sử văn hoá:
Hệ thống di tích lịch sử văn hoá:
Nghệ An là một trong những những địa chỉ văn hoá đặc biệt của cảnước với hệ thống di tích - danh thắng đa dạng phong phú, nhiều chủng loạivới trên 1000 di tích lịch sử văn hoá cách mạng Trong đó có 131 di tích đãđược nhà nước xếp hạng cấp quốc gia và được chia làm 3 loại: di tích lịch sửvăn hoá, di tích cách mạng và di tích lưu niệm danh nhân [8]
Di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu có đền Cuông, đền thờ Mai ThúcLoan, đền Bạch Mã, đền thờ Nguyễn Xí, núi Lam Thành, núi Dũng Quyết -Phượng Hoàng Trung Đô, thành cổ Vinh Di tích lịch sử Nghệ An phảnánh lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của người dân xứ Nghệ trongtừng giai đoạn lịch sử của dân tộc, đồng thời qua hệ thống di tích nàychúng ta có thể hiểu và khẳng định vai trò, vị trí của Nghệ An trong lịch sửdân tộc Việt Nam
Di tích cách mạng là di tích ghi dấu những cơ sở cách mạng, nhữngphong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ An là hệ thống di tích XôViết Nghệ Tĩnh như mộ các chiến sỹ hy sinh trong ngày 12/09/1930 ở TháiLão- Hưng Nguyên, đình Võ Liệt, đình Quỳnh Đôi, làng đỏ Hưng Dũng, ditích Tràng Kè ở Yên Thành, di tích nhà cụ Vi Văn Khang ở Môn Sơn, Con
Trang 30Cuông, ngã ba Bến Thuỷ Những di tích thời kỳ chống Mỹ cứu nước tiêubiểu có Truông Bồn, cột mốc số 0- đường Hồ Chí Minh
Di tích lưu niệm danh nhân là những di tích về những danh nhân đã cónhiều cống hiến xuất sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nổitiếng ở Nghệ An phải kể đến khu di tích Kim Liên, nhà cụ Phan Bội Châu,Nhà đồng chí Lê Hồng Phong, Nhà thờ họ đồng chí Trần Phú…
Trong hệ thống di tích lịch sử văn hoá ở Nghệ An có một số điểm đãđược khai thác có hiệu quả và có sức hút lớn đối với du khách Tiêu biểu như:
Khu di tích lịch sử Kim Liên
Khu di tích lịch sử Kim Liên là khu di tích tưởng niệm chủ tịch Hồ ChíMinh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thuộc vùng duyênhải miền Trung Việt Nam, cách thành phố Vinh khoảng 15km theo tỉnh lộ 49
Khu di tích Kim Liên là một trong bốn di tích quan trọng bậc nhất tạiViệt Nam về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lưu giữ những hiện vật, tài liệu, khônggian văn hóa - lịch sử về thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhữngngười thân trong gia đình ông
Được đánh giá là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốcgia, khu di tích Kim Liên được Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đầu tưtrong nhiều năm qua Hằng năm, khu di tích đón tiếp hàng triệu khách thamquan trong và ngoài nước tới viếng thăm
Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ
Công trình tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh nằm trênđịa bàn phường Trường Thi được khởi công xây dựng vào năm 2000, đúngdịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Người
Tượng cao 18m, bằng chất liệu đá granít Bình Định Tượng ngoảnh mặt
về hướng Đông Bắc, thuận theo hướng ánh sáng tự nhiên, tôn thêm vẻ uy nghihoành tráng khắc họa rõ hình dáng Bác: bước đi, vẻ mặt, ánh nhìn
Trang 31Nơi đặt tượng đài Bác là quảng trường rộng gần 11 ha, tên gọi làQuảng trường Hồ Chí Minh, với nhiều hạng mục như: lễ đài, cột cờ, đườngdiễu hành, sân hành lễ, hệ thống điện chiếu sáng, cây xanh, hệ thống đài phunnước tạo cảnh, núi Chung mô phỏng theo núi Chung ở Làng Sen quê Bác vừatạo khung cảnh hoành tráng của Quảng trường, vừa thể hiện sự gần gũi củaBác Hồ đối với quê hương Trên 1.650 loài cây tiêu biểu của mọi miền Tổquốc đã đựơc đtôi về trồng, trên đỉnh có vườn cây lưu niệm của các đồng chílãnh đạo Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế trồng trong những dịp đến thăm.
Quảng trường Hồ Chí Minh là một công trình văn hóa có tầm cỡ quốcgia, một tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện tấm lòng kínhyêu của nhân dân tỉnh Nghệ An và nhân dân cả nước đối với vị lãnh tụ vĩ đạicủa dân tộc Đây đang là một điểm văn hóa quan trọng thu hút ngày càngđông nhân dân thành phố, du khách trong tỉnh, trong nước và thế giới quâyquần bên Người thăm thú, vui chơi, tổ chức lễ hội
Theo số liệu của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Nghệ An, năm
2010, Quảng trường Hồ Chí Minh (TP Vinh) đã đón 3,7 triệu lượt khách đếntham quan, đạt 105,7% kế hoạch Trong khi đó, Khu di tích Kim Liên (NamĐàn) cũng đón tiếp và hướng dẫn cho hơn 2 triệu lượt người với 17.886 đoàn(trong đó khách quốc tế 229 đoàn với 2.066 lượt người và 40 quốc tịch) vềthăm quê Bác [8]
Khu lâm viên núi Quyết
Lâm Viên - Núi Quyết đang hình thành một khu du lịch sinh thái có quy
mô và mang đậm nét văn hoá-lịch sử xứ Nghệ - Lâm viên núi Quyết Lâm viênnúi Quyết được xây dựng trên cơ sở bảo tồn một di sản văn hoá - lịch sử đã có
từ trên 200 năm nay Đó là Phượng Hoàng - Trung Đô của vua Quang Trung
Theo quy hoạch, khu du lịch Lâm viên - Núi Quyết sẽ bao gồm nhiềucông trình, hạng mục như khu công viên rừng, các khu vui chơi giải trí, khôiphục lại những di tích, hình tượng tiêu biểu từ thời xưa và qua hai cuộc chiến
Trang 32tranh chống Pháp, chống Mỹ Mục đích tôn tạo lại theo đúng quy mô giá trịcủa nó nhằm góp phần giữ gìn di sản quý giá và truyền thống, chứng tích lịch
sử hào hùng của ông cha để lại, phục vụ các nhu cầu về tham quan, nghiêncứu, vui chơi giải trí
Đến nay, thành phố Vinh đã đầu tư xây dựng một số công trình như Biadẫn tích Phượng Hoàng Trung Đô trên nền toà lầu Rồng cũ giữa kinh đôPhượng Hoàng, Vọng Đài trên đỉnh núi Quyết - nơi Lý Nhật Quang từngdựng Vọng Hải Đài, đường rải nhựa lên tận đỉnh núi, đền thờ Quang Trung vànhiều công trình du lịch khác Ngoài ra, còn có thêm một tuyến đường hơn
400 bậc từ sườn núi phía đông phục vụ cho khách đi bộ
Hiện nay, Lâm Viên - Núi Quyết đang trở thành một điểm du lịch hấpdẫn thu hút hàng nghìn khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan
Hệ thống lễ hội:
Du lịch tâm linh ở Nghệ An đang là một mảng thu hút được một sốlượng khách lớn Trong đó phải kể đến một số địa điểm tiêu biểu như là đềnCờn, đền Quả, đền Bạch Mã, đền ông Hoàng Mười, đền Hồng Sơn, HangBua, Hang Thẩm Ồm Hàng năm tại những di tích lịch sử văn hóa này kháchthập phương về thắp hương, phúng viếng, tham quan, tìm hiểu rất đông đảo.Đặc biệt là vào những ngày lễ lớn hình thành nên một loại hình du lịch tiêubiểu mà các công ty du lịch đang đẩy mạnh khái thác là du lịch lễ hội Một số
lễ hội có sức hút lớn đối với du khách như: Lễ hội đền Cờn, lễ hội đền Quảsơn, lễ hội đền Cuông, lễ hội Hang Bua, lễ hội làng Sen, lễ hội Mai Hắc Đế,
lễ hội đền Hồng Sơn…
1.3.2 Hệ thống bảo tàng - tiềm năng du lịch còn bỏ ngỏ
Bên cạnh các trung tâm du lịch tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiệncòn có 3 bảo tàng lớn Đó là Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Nghệ An
và Bảo tàng Quân khu IV Những bảo tàng này đã và đang ngày càng hoàn
Trang 33thiện về chức năng và hoạt động để phục vụ nhu cầu văn hoá của nhân dâncũng như là phục vụ mục đích du lịch của tỉnh nhà.
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh nằm ở trong khu nội thành Vinh tỉnhNghệ An Đây là nơi trưng bày các di vật và tài liệu trong cao trào Xô ViếtNghệ Tĩnh 1930 - 1931 Với hơn 5000 hiện vật và tài liệu được trưng bày,đến thăm bảo tàng, du khách sẽ có cảm nhận như đang được sống lại khôngkhí hào hùng, tinh thần bất khuất của cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh những năm
1930 - 1931 Trong đó có nhiều sưu tập hiện vật có giá trị như sưu tập vũ khí
tự vệ đỏ, trống Xô Viết, nuôi dấu bảo vệ Đang, Bác Hồ với Xô Viết NghệTĩnh… [18]
Bảo tàng Quân khu IV
Bảo tàng Quân khu IV nằm ở số 189 đường Lê Duẩn, thành phố Vinh,tỉnh Nghệ An Đây là một bảo tàng thuộc loại hình lịch sử quân sự có nhiệm
vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, trưng bày, tuyên truyền giới thiệu các tàiliệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học phản ánh quá trình xâydựng, chiến đấu, trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu Bảo tàngQuân khu IV trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đấtnước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cho đến nay, Bảo tàng Quân khu IV đãsưu tầm và tiếp nhận gần 1000 kỷ vật, hình ảnh, tư liệu trên các lĩnh vực hoạtđộng của tập thể, cá nhân quân và dân Quân khu IV [19]
Bảo tàng Nghệ An
Bảo tàng Nghệ An đặt trên nền đất nội thành cổ Nghệ An nằm cạnhBảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh ở địa chỉ số 4 đường Đào Tấn, thành phốVinh Đây là một bảo tàng thuộc loại hình khảo cứu địa phương, đượcthành lập từ năm 1980 và cho đến nay đã sưu tập được hơn 20 vạn tài liệuhiện vật Công trình có sự kết hợp giữa nhu cầu văn hóa và du lịch củangười dân xứ Nghệ [12]
Trang 34Là một bảo tàng tổng hợp với nội dung trưng bày có sự kết hợp giữalịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội của địa phương, Bảo tàng Nghệ An sẽ cho
du khách một cái nhìn khái quát nhất về mảnh đất và con người xứ Nghệ
Qua tìm hiểu có thể thấy rằng các bảo tàng trên là những địa chỉ đángtin cậy đưa lại cho du khách những buổi tham quan thú vị, đầy bổ ích Mỗimột bảo tàng chứa đựng trong mình nó những nội dung độc đáo hấp dẫnriêng Thế nhưng, so với nhiều điểm du lịch tiêu biểu và so với tổng lượtkhách hàng năm về với Nghệ An thì cho thấy Bảo tàng Nghệ An nói riêng và
hệ thống bảo tàng trên đất Nghệ An nói chung còn chênh lệch quá lớn Hàngnăm số khách đến tham quan tìm hiểu bảo tàng vẫn thực sự chưa tương xứngvới vai trò và ý nghĩa của chúng Đó là một thực trạng đáng buồn đối với cáccấp ban ngành có liên quan cũng như là ý thức của mỗi người dân dành sựquan tâm của mình cho bảo tàng
Hiện nay, trong xu thế phát triển của thời đại thì bảo tàng và ngành dulịch ngày càng thể hiện mối quan hệ khăng khít không thể tách rời Nhữngbảo tàng nổi tiếng được coi là những điểm đến hấp dẫn không thể thiếu trongcác tour du lịch Do đó Bảo tàng Nghệ An nói riêng và hệ thống bảo tàng ởNghệ An nói chung là một điểm đến đầy tiềm năng của du lịch tỉnh nhà
Có thể xtôi Nghệ An là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam Thiênnhiên nơi đây giàu đẹp với sự kết hợp rừng núi - đồng bằng và biển cả Với 6dân tộc chủ thể cùng sinh sống đã sáng tạo nên bản sắc văn hoá đậm đà Nghệ
An còn hết sức giàu có cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Du lịchNghệ An trong những năm qua đang có bước chuyển mình đáng kể Điều đóđồng nghĩa du khách về Nghệ An ngày một nhiều và điểm đến không thểthiếu được là các bảo tàng
Trang 35Chương 2 BẢO TÀNG NGHỆ AN - MỘT ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TIỀM
đó là Bảo tàng Nghệ An Bảo tàng Nghệ An đặt trên nền đất nội thành cổNghệ An nằm cạnh Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh ở địa chỉ số 4 đường ĐàoTấn, thành phố Vinh Bảo tàng Nghệ An tọa lạc trên một vùng đất rộng Đây
là một công trình có sự kết hợp giữa nhu cầu văn hóa và du lịch của ngườidân xứ Nghệ
Trang 36thể thiếu được trong cơ cấu tổ chức xã hội của tỉnh Nghệ An, có tầm quantrọng chiến lực và vai trò ý nghĩa lớn.
2.1.3 Loại hình
Bảo tàng Nghệ An thuộc loại hình bảo tàng khảo cứu địa phương Bảotàng khảo cứu địa phương có nội dung, ý nghĩa và phạm vi hoạt động về mộtđịa phương nhất định, cho nên nó có các tên gọi: Bảo tàng tổng hợp, bảo tàngkhảo cứu địa phương, bảo tàng khu vực hay bảo tàng tỉnh, thành phố (đâychính là kết quả của sự phân loại bảo tàng theo lãnh thổ bao gồm khu vực,vùng hay địa danh, tỉnh, thành phố)
Theo từ điển Bách khoa thư của Anh thì "Bảo tàng tổng hợp chứa đựngnhững sưu tập của một hoặc nhiều chủ đề, những bảo tàng ấy được biết đếnnhư một bảo tàng của nhiều ngành học thuật Nội dung chính của bảo tàngtổng hợp giới thiệu về vùng và địa phương Bảo tàng tổng hợp ra đời và tồntại là niềm kiêu hãnh của công dân vùng đó và nguyện vọng phát triển tri thứccủa địa phương Chức năng quan trọng nhất của Bảo tàng tổng hợp là phảnánh lịch sử tự nhiên và con người, truyền thống và tinh thần sáng tạo củavùng đất đó"
2.1.4 Lịch sử hình thành
Từ sau khi thống nhất đất nước cho tới nay hầu hết các tỉnh, thành phốđều có bảo tàng với số lượng 63 bảo tàng tỉnh, thành phố trên tổng số 117 bảotàng của cả nước hoạt động ở các cấp độ khác nhau đã mang lại hiệu quả cụthể cho từng địa phương trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản vănhoá của địa phương và của dân tộc
Nghiên cứu về khái niệm bảo tàng địa phương, ngày 19/10/1979 BộVăn hoá - Thể thao đã ban hành chỉ thị số 2760 VHTT/CT và Quy chế số 722VHTT ngày 09/04/1980 về xây dựng bảo tàng tỉnh, thành phố Trong bản chịthị này đã nêu rõ:
Trang 37“Bảo tàng tỉnh, thành phố là một bảo tàng mang tính chất tổng hợpnằm trong hệ thống bảo tàng khảo cứu địa phương của văn hoá, đặt dưới sựchỉ đạo trực tiếp của Sở, Ty Văn hoá thông tin địa phương”.
Bản chỉ thị và quy chế này là cơ sở pháp lý cho các địa phương xâydựng bảo tàng, đồng thời nhấn mạnh: bảo tàng khảo cứu địa phương là cơquan nghiên cứu và giáo dục khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong việcthoả mãn những nghiên cứu văn hoá của mỗi tỉnh, thành phố, là phương tiện
để giúp cho khách tham quan có được sự hiểu biết về một vùng lãnh thổ nhấtđịnh, nó mở rộng kiến thức cho công chúng về mọi mặt của đời sống xã hội,làm nảy nở ở mỗi người khả năng mới để nhận thức
Trong bối cảnh đó của đất nước thì Bảo tàng Nghệ An đã ra đời Đây làmột thiết chế không thể thiếu được trong hệ thống bảo tàng Việt Nam Vàngày 17 tháng 10 năm 1979, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh đã có quyếtđịnh số 1103/ TCUB-QĐ-UB về việc thành lập Bảo tàng Nghệ Tĩnh, ngàynay là Bảo tàng Nghệ An Qua một quá trình chuẩn bị về tổ chức đến năm
1980 Bảo tàng Nghệ Tĩnh mới chính thức đi vào hoạt động So với lịch sửhình thành của một dân tộc Sự ra đời, phát triển của Bảo tàng Nghệ Ankhông phải là dài nhưng 2 thập kỷ đã qua đối với Bảo tàng Nghệ An là cả mộtchặng đường xây dựng, trưởng thành đầy khó khăn, vinh quang, thử thách
Cũng như nhiều bảo tàng khác ở trong nước, Bảo tàng Nghệ An làmột bảo tàng thuộc loại hình khảo cứu địa phương, mang tính tổng hợp Vớichức năng là cơ quan nghiên cứu khoa học (nghiên cứu về lịch sử tự nhiên-lịch sử xã hội) giáo dục truyền thống, kết hợp với các hoạt động bảo vệ, pháthuy di tích, danh thắng ở Nghệ An Thông qua các hoạt động nghiên cứu,sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, công tác quần chúng Hoạt động bảotàng là ở thiết chế không thể thiếu được của ngành Văn hoá thông tin để bảo
vệ phát huy các di sản văn hoá, trực tiếp khơi dậy những truyền thống tốtđẹp về tinh thần cách mạng, tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, dân
Trang 38tộc Việt Nam góp phần bảo dưỡng, nâng cao về trí tuệ, thể lực để động viênmọi người vững bước theo Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Trước khi Bảo tàng Nghệ Tĩnh được thành lập, hoạt động bảo tồn bảotàng ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh là một bộ phận nghiệp vụ trực thuộc TyVăn hoá thông tin Mặc dầu tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ nhưng với mộttấm lòng yêu quê hương xứ Nghệ, biết quý trọng những giá trị lịch sử văn hoá
do cha ông ta sáng tạo nên Đã có nhiều cán bộ lãnh đạo thế hệ đi trước nhưTrần Hữu Thung, Trần Nguyên Trinh, Minh Huệ, Võ Khắc Minh, Trần NhậtTiến, Nguyễn Trung Phong, Mai Trọng Ước những cán bộ chuyên môn như
Lê Văn Thị, Nguyễn Xuân Hãn, Kỳ Quang Lâm, Lê Sỹ Toản, Trần MinhSiêu, Phạm Mai Hùng, Hồ Ngọc Thuyết, Lê Quang Lô, Trần Mạnh Phú,Phạm Quý Thích Trong hoàn cảnh chiến tranh bao cấp, mặc dầu cuộc sốngthiếu ăn, thiếu mặc đời sống khó khăn các đồng chí vẫn nhiệt huyết bám cơquan, bám dân, sưu tầm nghiên cứu các hiện vật tư liệu lịch sử Biết nâng niu,gìn giữ mang đi sơ tán các hiện vật, cổ vật đề phòng tránh sự huỷ hoại củabom đạn giặc Mỹ, để gây dựng nên cả một hệ thống kho hiện vật bảo tànglàm cơ sở cho các hoạt động về sau
Noi gương các bác, các anh, những người đi sau như đồng chí NguyễnThị Duệ, Trần Thị Quế, Phương Loan, Phan Xuân Thành, Nguyễn Thị Tài,Trần Hồng Dần, Ngô Hoàng Lương và những cán bộ trẻ được đào tạo cơ bảnnhư Đoàn Nam, Phan Văn Khoa, Trương Đắc Thành, Lê Bá Hạnh, NguyễnThị Liễu, Nguyễn Thị Ánh Hoà, Lê Phương Thìn, Nguyễn Thị Hiệp, NguyễnThị Hoa đã kế tục xứng đáng truyền thống cha anh để cho các di sản vănhoá Nghệ Tĩnh vừa sưu tầm được bảo vệ, giới thiệu nhiều hơn trước nhândân, quần chúng trong nước và bạn bè quốc tế [1]
Như vậy, Bảo tàng Nghệ An được hình thành là một quá trình phấn đấukhông ngừng của tập thể cán bộ công nhân viên qua nhiều thế hệ của bảo tàng
Trang 39cũng như sự quan tâm đầu tư của các cấp chính quyền Bảo tàng Nghệ An rađời trong bối cảnh của nhà nước là sự cần thiết phải có các bảo tàng khảo cứuđịa phương để tiến hành nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bàynhững mẫu vật thiên nhiên và di vật văn hoá xã hội của địa phương nhằmgiáo dục truyền thống, nâng cao lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương, yêu
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho nhân dân, động viên nhân dân ra sức thi đuahoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước” [4;473]
2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng Nghệ An
2.1.5.1 Chức năng
Bảo tàng địa phương (tỉnh, thành phố) là một thiết chế văn hóa có chứcnăng nghiên cứu khoa học và giáo dục phổ biến khoa học và là kho tàng chủyếu gìn giữ, trưng bày những di sản lịch sử thiên nhiên, văn hóa vật chất vàtinh thần tiêu biểu có liên quan đến lịch sử - văn hóa - xã hội và thiên nhiêncủa địa phương
Bảo tàng Nghệ An cũng là một bảo tàng thuộc loại hình khảo cứu địaphương mang tính tổng hợp do đó chức năng của nó là:
Chức năng nghiên cứu khoa học (nghiên cứu về lịch sử tự nhiên - lịch
sử xã hội Nghệ An)
Chức năng giáo dục tuyên truyền (giáo dục truyền thống yêu quêhương, Tổ quốc; truyền thống hiếu học; truyền thống cần cù lao động, sản xuất…)
Chức năng bảo vệ, bảo quản di sản văn hóa tại Nghệ An
Chức năng tài liệu hóa khoa học (những hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốctiêu biểu ở Bảo tàng Nghệ An được coi là bộ sử đồ sộ về mảnh đất Nghệ An)
Chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức (Bảo tàng Nghệ An đượccoi là một sân chơi giải trí bổ ích đối với mọi tầng lớp người dân Xứ Nghệcũng như là đông đảo khách tham quan)
Trang 40Tất cả các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không táchrời nhau, được thể hiện trên cơ sở những hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốctiêu biểu ở Bảo tàng Nghệ An.
Bảo tàng Nghệ An có chức năng đặc biệt quan trọng trong việc thỏamãn nhu cầu văn hóa của tỉnh, thành phố Là phương tiện để giúp đỡ ngườixtôi có được sự hiểu biết về mọi mặt địa hạt, vùng lãnh thổ Nghệ An Nó mởrộng kiến thức cho mọi người dân đối với mọi mặt đời sống xã hội, làm nảy
nở ở mỗi người những khả năng mới để nhận thức Bảo tàng Nghệ An là một
bộ phận của tổ chức văn hóa để tạo ra đời sống văn hóa của địa phương Bảotàng là cơ quan nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học của tỉnh Nghệ An
2.1.5.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ cụ thể của Bảo tàng Nghệ An được thể hiện rõ:
- Tổ chức nghiên cứu toàn diên về tỉnh Nghệ An: lịch sử thiên nhiên,lịch sử xã hội, đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể của các tộc người trênđịa bàn tỉnh Nghệ An (gồm 6 tộc người: Kinh, Mông, Thái, Thổ, Khơmú, Ơđu)
và đời sống sinh hoạt kinh tế - văn hóa - xã hội đã đang diễn ra ở địa phương
- Tổ chức khảo sát, sưu tầm khoa học để thu thập các hiện vật gốc tiêubiểu trên địa bàn tỉnh Nghệ An về lịch sử tự nhiên, tài nguyên thiên nhiênphong phú, về đời sống sinh hoạt kinh tế - văn hóa - xã hội, về di sản văn hóavật thể và phi vật thể như phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, ngành nghềthủ công truyền thống ở địa phương
- Tổ chức kiểm kê: Phân loại, xác định khoa học và ghi chép khoa học,đăng kí, quản lý những sưu tập hiện vật gốc của địa phương
- Tổ chức kho bảo quản: Phải có hệ thống kho cơ sở bảo quản các hiệnvật gốc tiêu biểu của địa phương theo chất liệu, áp dụng các biện pháp bảoquản kỹ thuật, phải có đội ngũ cán bộ bảo quản và các trang thiết bị, phươngtiện thích hợp bảo quản cho từng loại chất liệu của hiện vật và sưu tập hiệnvật gốc có giá trị bảo tàng