Nghiên cứu của tác giả Vũ Mạnh Lợi và Vũ Tuấn Huy với tiêu đề "Bạo lực trên cơ sở giới” với kết quả nghiên cứu ở ba thành phố là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh đã đi sâu xem
Trang 1MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6
3.1 Ý nghĩa khoa học 6
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
3.2.1 Đối với địa phương: 6
3.2.2 Đối với người dân 7
3.2.3 Đối với sinh viên 7
4 Đối tượng, khách thể, mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng 7
4.2 Khách thể 7
4.3 Mục tiêu 7
4.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.5 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Phương pháp luận 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
5.2.1 Phương pháp liên ngành 10
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành 11
6 Giả thiết nghiên cứu 12
7 Bố cục của khóa luận 12
Phần II: PHẦN NỘI DUNG 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu 14
Trang 21.1.1.Lý thuyết hành vi 14
1.1.2 Lý thuyết hệ thống - sinh thái 14
1.1.3 Lý thuyết nữ quyền hiện sinh 16
1.1.4 Lý thuyết nhu cầu 17
1.2 Các khái niệm công cụ 17
1.2.1 Khái niệm hành vi bạo lực 17
1.2.2 Khái niệm bạo lực gia đình 18
1.2.3.Khái niệm bạo lực đối với phụ nữ 19
1.3 Các hình thức bạo lực đối với phụ nữ 20
1.3.1.Bạo lực về thể chất 20
1.3.2.Bạo lực về tình dục 20
1.3.3.Bạo lực về tâm lý, tình cảm 21
1.3.4.Bạo lực về mặt xã hội 21
1.3.5 Bạo lực về kinh tế , tài chính 21
2.Cơ sở pháp lý của công tác phòng chống bạo lực gia đình 22
2.1.Công ước quốc tế 22
2.2 Hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam về phòng chống bạo lực gia đình 23
3 Một số mô hình can thiệp bạo lực gia đình trên thế giới và ở Việt Nam 24
3.1.Mô hình can thiệp bạo lực gia đình trên thế giới 24
3.2.Một số mô hình can thiệp BLGĐ ở Việt Nam 24
Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
2.1.1 Vị trí địa lý 25
2.1.2 Tình hình kinh tế 25
2.1.3 Tình hình chính trị xã hội – quốc phòng an ninh 25
2.1.4.Về văn hóa giáo dục 26
2.1.5 Tình hình thu nhập của người dân 26
Trang 32.1.6 Những thuận lợi và khó khăn đối với đời sống người dân và công tác phòng
chống BLGĐ 26
2.2 Thực trạng bạo lực gia đình 27
2.2.1 Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt nam 27
2.2.2 Thực trạng bạo lực gia đình tại xã Long Thành - Yên Thành - Nghệ An 28
2.3 Nguyên nhân và hậu quả của bạo hành phụ nữ ở địa phương 38
2.3.1 Nguyên nhân 38
2.3.2 Hậu quả của bạo lực gia đình 44
Chương 3: GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI XÃ LONG THÀNH - HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN 47
3.1 Thực hành công tác xã hội 47
3.1.1 Công tác xã hội cá nhân với đối tượng phụ nữ bị bạo hành 48
3.1.2 Thảo luận nhóm với phụ nữ bị bạo lực gia đình 62
3.1.3.Tham vấn gia đình 63
3.2 Đề xuất những giải pháp 64
Phần III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 0
Trang 4CTXHCN : Công tác xã hội cá nhân
DSGD& TE : Dân số gia đình và trẻ em
HLHPN : Hội liên hiệp phụ nữ
KHHGĐ : Kế hoạch hoá gia đình
TNXH : Tệ Nạn xã hội
UBND : Uỷ ban nhân dân
SKPN& GĐ : Sức khoẻ phụ nữ và gia đình
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các hiện tượng BLGĐ diễn ra ở địa phương 28 Bảng 2 : Bảng so sánh hiện tượng BLGĐ giữa các thôn 29 Bảng 3 : Hiện trạng phụ nữ bị đánh đập hoặc chửi mắng trong gia đình 31 Bảng 4 Xu hướng của BLGĐ đối với phụ nữ ở địa phương trong giai đoạn
2008 -2010 32
Bảng 5.Nhận thức của người dân địa phương về vấn đề BLGĐ đối với phụ nữ36 Bảng 6: Nguyên nhân gây nên tình trạng BLGĐ đối với phụ nữ tại địa phương 39
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự khác biệt giữa phụ nữ là nạn nhân của BLGĐ so với các thành viên khác 29 Biểu đồ 2:Biểu đồ thể hiện xu hướng BLGĐ đối với phụ nữ tại địap phương từ
2008 - 2010 32 Biểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện các hình thức BLGĐ đối với phụ nữ diễn ra ở địa phương 33 Biểu đồ 4: Biểu đồ so sánh mức độ tham gia của các đoàn thể địa phương vào công tác phòng chống bạo hành phụ nữ 37
Trang 7Lời cảm ơn
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp chuyên nghành Công
tác xã hội đề tài “Bạo lực gia đình: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”
(Nghiên cứu tại xã Long Thành – huyện Yên Thành – Tỉnh Nghệ An) Em đãnhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trường Đại học Vinh, ban chủKhoa Lịch sử, các thầy cô giáo tổ bộ môn Công tác xã hội đã trang bị kiếnthức khoa học xã hội cho em trong suốt quá trình học tập Đặc biệt xin gửi lờicảm ơn chân thành tới cô giáo Phạm Thị Oanh - người đã trực tiếp hướng dẫn,giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này Qua đây
em cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo xã Long Thành – huyện YênThành – tỉnh Nghệ An, người dân địa phương, những phụ nữ bị bạo lực tronggia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hợp tác cho em trong suốt quá trìnhtìm hiểu, thu thập thông tin và quá trình can thiệp đối với thân chủ
Mặc dù đã hết sức cố gắng song vì thời gian, kiến thức, kinh nghiệm cònhạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và những ngườiquan tâm tới đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh , tháng 05, năm 2011.
Sinh viên:
Nguyễn Thị Hiển
Trang 8PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, đồng thời là một nhóm tâm lý, tổ chức xã
hội đặc thù Là nơi chốn bình yên, là tổ ấm trưởng thành của mỗi cá nhân.Gia đình đảm nhận nhiều chức năng quan trọng Sự ổn định về gia đình cũngnhư sự bình đẳng về giới được cân bằng trong gia đình thì đảm bảo cho sựphát triển bền vững của xã hội Trong những năm gần đây, ở nước ta dưới sựtác động của nền kinh tế thị trường, một mặt tạo ra điều kiện để gia đình làmtốt chức năng của mình Nhưng mặt khác, chính những mặt trái của nền kinh
tế thị trường và một số yếu tố khác đang tác động tiêu cực lên sự tồn tại vàphát triển của gia đình Gia đình với vai trò là tổ ấm đang bị tấn công từnhiều phía Chức năng của gia đình ở thời điểm nhất định đang bị phá vỡtừng mảng, các chức năng đó đang bị biến đổi, có những chức năng đượctăng lên nhưng cũng có những chức năng bị giảm sút Quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình bị biến đổi theo chiều hướng coi trọng giá trị vậtchất hơn giá trị tinh thần Tình cảm gia đình - chỗ dựa tinh thần của mỗi cánhân đang bị giảm sút Nói đến các yếu tố tác động tiêu cực đến gia đìnhkhông thể không nói đến bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình (BLGĐ) xuất hiện từ rất sớm và tồn tại cho đến ngàynay cùng với sự tồn tại của gia đình BLGĐ có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào,bất cứ nhóm dân cư xã hội nào, từ những gia đình giàu có, khá giả đếnnhững gia đình nghèo đói, túng bấn, từ những gia đình trí thức, có học vấnđến những gia đình bình dân, ít được học hành, từ gia đình ở thành thị đếngia đình ở nông thôn BLGĐ biểu hiện ngày càng đa dạng và tinh vi Cùngvới những bạo lực đánh vào thể chất làm cho con người ta đau đớn về mặtthể xác hoặc chết người, thì cũng đã xuất hiện những bạo lực đánh vào tâmhồn, tình cảm, sỷ nhục và xúc phạm nhân phẩm làm tổn thương về mặt tinhthần BLGĐ gây hậu quả nghiêm trọng cho các naṇ nhân, đặc biệt là phụ nữ
Trang 9và trẻ em Nó liên quan chặt chẽ đến thân phận, vị trí, vai trò của họ tronghoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
Trước đây, BLGĐ được nhiều người coi là “chuyện vặt”, “chuyện nộibộ” gia đình Trước năm 1993, hầu hết các chính phủ coi BLGĐ, chống lạiphụ nữ là vấn đề mang tính riêng tư của cá nhân
Ngày nay, BLGĐ được nhìn nhận như trở ngại cho sự phát triển và sự
vi phạm không thể chấp nhận được đối với quyền con người trong đó cóquyền phụ nữ
Phụ nữ trên thế giới luôn sống bất an, khủng hoảng của nạn BLGĐ.Điều này tạo nên yếu tố làm cản trở họ trong việc thực hiện các chức năngcủa mình cũng như cơ hội để tiếp cận các nguồn lực ở trong gia đình vàngoài xã hội
Ở Việt Nam, hiện tượng BLGĐ cũng đã, và đang phát triển dưới nhiềuhình thức khác nhau và tồn tại ở hầu khắp các tỉnh thành, các vùng miền trêncả nước BLGĐ để lại không ít những hậu quả, mà trước hết nó là điểm nútcuối cùng phá vỡ hạnh phúc gia đình Nó biến “tổ ấm” thành “tổ lạnh”, vàthậm chí thành nơi nguy hiểm hoặc địa ngục đối với một số người BLGĐđang làm băng hoại giá trị đạo đức của con người và của xã hội, phá vỡ môitrường giáo dục trẻ em, làm cho lối sống của một số cá nhân bị suy thoái, làyếu tố làm cho các vấn đề xã hội và các loại tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng
và nó cũng chính là nguyên nhân chính của các vụ ly hôn đang ngày càng giatăng như hiện nay Đây là một trong những nguy cơ ảnh hưởng đến sự pháttriển bền vững của xã hội
Trong những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu vềBLGĐ, đặc biệt là bạo lực giữa người chồng đối với người vợ Bên cạnh đócũng có những chương trình, dự án phòng chống BLGĐ thông qua nghiêncứu và hoạt động can thiệp Song nhìn chung những nghiên cứu còn mangtính khái quát, chưa đề cập đến những địa phương cụ thể, chưa thực sự giảithích thấu đáo nguyên nhân của sự xuất hiện ngày càng nhiều hiện tượng này
Trang 10Chưa tổng kết lại được một cách chính xác về hiện trạng, biểu hiện cũng như
hệ quả của nó Những nhận thức chưa đầy đủ về BLGĐ cũng dẫn đến nhữngthiếu hụt trong cách thức giải quyết vấn đề trong thực tiễn
Long Thành là một xã thuộc huyện Yên Thành, thành phần dân cư chủyếu là nông nghiệp, bộ phận nhỏ là viên chức và tiểu thương Hiện nay tìnhtrạng BLGĐ, đặc biệt là bạo lực giữa người chồng đối với người vợ đang diễn
ra khá thường xuyên và phức tạp, gây nên những hậu quả nghiêm trọng Songcho đến nay chưa có một nghiên cứu khái quát nào về tình trạng này Do vậychưa có các biện pháp can thiệp hiệu quả
Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Bạo lực gia đình: Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp” (nghiên cứu tại xã Long Thành Yên Thành Nghệ An) Nhằm mục đích phác họa bức tranh về BLGĐ trên địa bàn từ đó
-đề xuất biện pháp giải quyết
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, BLGĐ là một vấn đề thu hút sự quan tâmnghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, chính vì vậy mà đã cókhông ít những tác phẩm viết về BLGĐ như:
Tác phẩm “Tự do từ bạo lực - Chiến lược toàn cầu của phụ nữ”
(Freedom from Violence – Women’s Strategies from Aroud the World ) của
tác giả Margaret Schule đã cung cấp cách nhìn tổng thể về vấn đề BLGĐ vàchiến lược liên quan đến BLGĐ Tác phẩm đã phản ánh tình trạng bạo lựcchống lại phụ nữ từ nước Mỹ đến các nước đang phát triển ở Châu Á, ChâuPhi và Mỹ La Tinh Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hoá dẫn tới nhữngnguyên nhân, các hình thức diễn ra BLGĐ như: nơi làm việc, đường phố vàgia đình Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông, giáodục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và làm thay đổi hành vi của các cánhân trong việc phòng và chống BLGĐ cũng như các biện pháp cải cáchpháp luật và hành động chống lại BLGĐ
Trang 11Tác phẩm “Tình yêu đến sự sống sót - Sự bạo lực tình dục của đàn
ông và cuộc sống của phụ nữ” (Loving to survive – Sexual men’s violence
and women’s live) - của tác giả Dee.L Rgraham và đồng nghiệp đã trình
bày những ảnh hưởng của bạo lực của nam giới đối với phụ nữ và tâm lýcủa họ Bà đưa ra lăng kính của nữ quyền để chữa trị cho họ trong mối quan
hệ nam nữ
Tác phẩm “Bạo lực - sự im lặng và sự giận giữ - các bài viết của phụ
nữ như là một tội lỗi” (Violence, silence and Anger – Women’s writing as
transgression) – của nhiều tác giả do Deirdre Lashgari chủ biên Tác phẩm
là cơ sở cho các nhà nữ quyền trình bày về sự im lặng, sự tức giận và nhucầu nói lên tiếng nói chống lại bạo lực Nhiều hình thức bạo lực như áp bứctình dục, sự đối kháng giữa mẹ và con gái, các chủ đề về giới với chủng tộc
và giai cấp mà tác phẩm đã đề cập đến
Tác phẩm có tựa đề “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” (Domestic
violence in Vietnam) do tổ chức Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về phát
triển, pháp luật và phụ nữ (Asia Pacific Forum on Women, Law andDevelopment viết tắt là APWLD), xuất bản năm 2000 Tác phẩm là kết quảcủa cuộc khảo sát xã hội học về BLGĐ tại Hà Nội Các tác giả đã khẳngđịnh “BLGĐ đã để lại di chứng nặng nề lên đời sống, tinh thần tình cảm,nhận thức của nạn nhân, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tan vỡ giađình BLGĐ không chỉ xảy ra trong mối quan hệ gia đình giữa chồng với
vợ mà còn giữa cha mẹ đối với con cái, giữa con cái đối với cha mẹ”
Ở Việt Nam, đã có các bài báo của PGS.TS Lê Thị Quý - Một trongnhững chuyên gia nghiên cứu về giới và gia đình đã đăng tải các công trình
đầu tiên về BLGĐ mang tên: “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” đăng trên tạp
chí Khoa học và phụ nữ (năm 1994) Bài viết xác định năm nguyên nhân
chính của BLGĐ đó là: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức,nguyên nhân văn hoá xã hội, nguyên nhân về sức khoẻ và nguyên nhânthuộc về nữ giới
Trang 12Trong tác phẩm “Nỗi đau của thời đại” tác giả Lê Thị Quý nói về vấn
đề BLGĐ ở 2 dạng đó là bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấyđược Với tư cách là sai lệch xã hội, hai dạng bạo lực này thể hiện mối quan
hệ khăng khít ở nơi này nhưng ở nơi khác nó lại thể hiện sự độc lập, táchbiệt lẫn nhau Dạng bạo lực không nhìn thấy được xuất phát từ sự phâncông lao động bất hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp dưới các kháiniệm “thiên chức”, “hi sinh” của phụ nữ
Nghiên cứu của tác giả Vũ Mạnh Lợi và Vũ Tuấn Huy với tiêu đề
"Bạo lực trên cơ sở giới” với kết quả nghiên cứu ở ba thành phố là Hà Nội,
Huế và thành phố Hồ Chí Minh đã đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng vàcác thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới, cũng như các phản ứng củacác cá nhân, pháp luật và các thể chế đối với nạn BLGĐ Nghiên cứu cũngđưa ra nhận xét về tình trạng bạo lực có chiều hướng gia tăng đặc biệt trongnhững gia đình mà ở đó người phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai tròkinh tế hộ Nghiên cứu đưa ra tám nguyên nhân dẫn tới BLGĐ và bảy kiếnnghị nhằm hạn chế ngăn chặn tình trạng BLGĐ
Đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” của Hội liên
hiệp phụ nữ (HLHPN) Việt Nam năm 2001 đã tìm hiểu nhận thức củangười dân và các cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hộitrong việc phòng chống BLGĐ Ngoài ra, đề tài còn chỉ ra hậu quả nghiêmtrọng của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng của những nạn nhân đốivới hành vi bạo lực
Tác phẩm “Bạo lực gia đình - Sự sai lệch của một giá trị” của hai tác
giả Lê Thi Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh xuất bản năm 2007 đã nói lên đượcvai trò của các hình thức can thiệp trong đó có truyền thông đối với vấn đềphòng và chống BLGĐ Thông qua kết quả nghiên cứu của dự án tác giả đãnói lên được tầm quan trọng của các hình thúc can thiệp nhằm nâng caonhận thức cho người dân về phòng chống BLGĐ
Trang 13Ngoài những mô hình can thiệp trên, nhiều trung tâm nghiên cứu vàcác tổ chức hoạt động trong lĩnh vực gia đình cũng có nhiều dự án, mô hìnhcan thiệp khác nhau ở tất cả các vùng miền trên cả nước Tuy nhiên, có một
số mô hình mang tính khả thi nhưng cũng có nhiều mô hình không đem lạihiệu quả như mong muốn Điều đó là do các nghiên cứu chỉ kết luận dựatrên những cuộc khảo sát với số lượng lớn khách thể nghiên cứu
Ngoài ra, còn rất nhiều tác phẩm, các nghiên cứu và các bài viết vềBLGĐ được đăng trên các tạp chí, các trang báo và các hình thức khác Tuynhiên, các nghiên cứu về vấn đề bạo lực tại từng địa phương cụ thể chưanhiều
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
BLGĐ hiện nay đang được xem là một vấn nạn chung của toàn xã hội.Việc ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn này có ý nghĩa rất quan trọng Do vậynghiên cứu nhằm khẳng định một lần nữa tầm quan trọng của công tácphòng chống BLGĐ trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theohướng công bằng, bình đẳng giới, bình đẳng xã hội Đồng thời làm phongphú thêm lý luận về BLGĐ và công tác xóa bỏ BLGĐ
Kết quả nghiên cứu còn góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết xã hộihọc như lý thuyết hành vi, lý thuyết bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳnggiới, lý thuyết về gia đình, lý thuyết về bạo hành gia đình, lý thuyết hệthống sinh thái…và các lý thuyết công tác xã hội như lý thuyết hệ thốngtrong công tác xã hội, lý thuyết xung đột…
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
3.2.1 Đối với địa phương:
Giúp cán bộ và ban ngành đánh giá, nhìn nhận lại thực trạng vấn đềBLGĐ tại địa phương Góp phần tạo cơ sở cho địa phương có những điềuchỉnh, bổ sung về chính sách, chủ trương để thực hiện bình đẳng Hạn chế
Trang 14và đi đến xoá bỏ tệ nạn bạo lực trong gia đình, tạo động lực cho sự tiến bộcủa phụ nữ và phát triển chung của địa phương.
3.2.2 Đối với người dân
Giúp người dân nhìn nhận những vấn đề xoay quanhBLGĐ Từ đó giúp
họ thay đổi lối tư duy cũ, góp phần thực hiện hiệu quả bình đẳng giới, xâydựng gia đình no ấm và hạnh phúc
3.2.3 Đối với sinh viên
Qua nghiên cứu này, sinh viên có cơ hội vận dụng những kiến thứccông tác xã hội đã được học (phương pháp thực hành công tác xã hội, các lýthuyết xã hội học, các lý thuyết công tác xã hội, các kiến thức về gia đìnhhọc ) vào thực tiễn cuộc sống Đây là điều kiện cho sinh viên hiểu thêmnhững kiến thức và rèn luyện những kỷ năng cũng như phẩm chất cần thiếtcho quá trình làm việc sau này
4 Đối tượng, khách thể, mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
- Đối tượng nghiên cứu: Bạo lực gia đình: Thực trạng, nguyên nhân,
giải pháp
- Đối tượng khảo sát: Nghiên cứu tiến hành trên cơ sở đánh giá nhanh
nhận thức 80 người, độ tuổi từ 25 - 45 tuổi, trong đó bao gồm cả nam giới và
nữ giới
4.2 Khách thể
- Khách thể nghiên cứu: Nạn nhân (trong đó đặc biệt là phụ nữ) bị bạo
lực trong các gia đình
- Khách thể khảo sát: Những người dân địa phương bao gồm phụ nữ bị
bạo hành, nam giới, cán bộ địa phương, người dân
4.3 Mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát
Đề tài được thực hiện với một nhận thức rõ ràng rằng BLGĐ là vấn đềđang rất được quan tâm ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, trên cơ sở xem xét các
Trang 15mối quan hệ trong gia đình, đề tài mong muốn đưa đến một cách nhìn toàndiện về những yếu tố xoay quanh vấn đề thực trạng BLGĐ Đồng thời đểlàm rõ nguyên nhân và hậu quả của vấn đề này đối với các cá nhân, gia đình
và xã hội Qua đó đề ra được những giải pháp nhằm hạn chế đi đến ngănchặn hiện tượng này…
- Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, đề tài tập trung đánh giá thực trạng bạo lực trong gia đình ở
xã Long Thành: Những hoàn cảnh, lý do, hình thức
Thứ hai, tìm hiểu cách nhìn nhận, đánh giá của người dân về tình trạngBLGĐ Và công tác phòng chống BLGĐ ở địa phương
Thứ ba, tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả mà BLGĐ đối với đời sốngcủa người dân
Thư tư, đưa ra mô hình can thiệp và kiến nghị những giải pháp nhằmhạn chế đi đến ngăn chặn tình trạng này ở địa phương có hiệu quả
4.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ một số lý luận chung liên quan đến đề tài
Thứ hai, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề nghiêncứu (thông qua việc thực hành các phương pháp chuyên ngành và liênngành)
Thứ ba, tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình BLGĐ trong giai đoạn
2008 - 2010
Thứ tư, phân tích hoạt động phòng chống BLGĐ ở địa phương Rút
ra những kết quả đạt được và tồn tại
Thứ năm, đưa ra mô hình can thiệp và đề xuất các biện pháp canthiệp nhằm đạt hiệu quả hơn
4.5 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian
Trang 16Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở khảo sát thực tế tại xã LongThành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Về thời gian
Thời gian khảo sát được tiến hành từ ngày 16/02/2011 đến ngày16/03/2011 Nghiên cứu về vấn đề bạo lực trong gia đình tại địa phương đượcxem xét trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2010
BLGĐ không chỉ là vấn đề gia đình mà hiện nay nó đang là vấn nạnchung của toàn xã hội BLGĐ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng và tác độngđến tất cả các thành viên trong gia đình (đàn ông, phụ nữ, người già, trẻ em).Nhưng do giới hạn về thời gian cũng như hạn chế về kiến thức và kinhnghiệm của bản thân Vì vậy, nghiên cứu chỉ đi sâu tìm hiểu những tác độngcủa BLGĐ đối với phụ nữ Rút ra thực trạng, nguyên nhân và đề xuất nhữnggiải pháp can thiệp nhằm phòng chống và ngăn chặn hiện tượng sai lệch nàydiễn ra ở địa phương
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các nguyên lý củachủ nghĩa duy vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: Nguyên lý
về sự phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến… giúp chúng ta hìnhthành và khai thác các hiện tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp đếnBLGĐ tại địa phương
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử tất cả các hiện tượng nảy sinh trong xãhội đều có quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của nó Trong các thời kìkhác nhau, dưới các hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ có sự biến đổi khácnhau Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặt các hiện tượng xã hội,các quá trình xã hội trong hoàn cảnh lịch sử của đời sống xã hội Dựa trênquan điểm đó có thể thấy việc nghiên cứu về phụ nữ bị bạo hành trong gia
Trang 17đình cần phải đặt nó trong điều kiện cụ thể về tình hình kinh tế, xã hội, vănhoá của địa phương cũng như trong điều kiện chung của cả nước Trong mỗiđiều kiện này thì vấn đề BLGĐ sẽ có những biến đổi khác nhau với nhữnghình thức khác nhau.
Trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội sẽ có những yếu tố tácđộng khác nhau lên vấn đề BLGĐ
Đồng thời cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứngđòi hỏi phải xem xét sự kiện xã hội này trong mối liên hệ với sự kiện xã hộikhác Không được tách riêng việc thực hiện quyền của phụ nữ ra khỏi sự vậnhành của đời sống xã hội, mà phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng vớikinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội và đặc biệt là với các vấn đề xã hội nhưbình đẳng giới, tệ nạn rượu chè, cờ bạc
Bên cạnh đó hệ thống các khái niệm, các lý thuyết Công tác xã hội và lýthuyết Xã hội học đã trở thành cở sở để giải thích cho những vấn đề vànhững hiện tượng xảy ra xung quanh vấn đề trực trạng, nguyên nhân và giảipháp trong phòng và chống BLGĐ Ngoài ra các lý thuyết này còn trang bịcho chúng ta lăng kính để nhìn nhận và lý giải vấn đề từ nhiều góc cạnh khácnhau
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp liên ngành
- Phương pháp phân tích tài liệu
Trong đề tài này ngoài việc thu thập thông tin từ đối tượng, người ngiêncứu đã phân tích và sử dụng các thông tin, các số liệu từ các báo báo của xã,các giáo trình, tạp chí liên quan đến vấn đề, các trang wed về phụ nữ làm cơ
sở cho nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp rất quan trọng và được sử dụng trong suốt quá trìnhnghiên cứu Quan sát có nhiều loại với những hiệu quả khác nhau Do vậyquá trình nghiên cứu đã quan sát những nội dung liên quan đến vấn đề như:
Trang 18hoàn cảnh kinh tế gia đình, đời sống sinh hoạt, thái độ, hành vi, cử chỉ củađối tượng bị bạo hành (phụ nữ) và người gây bạo hành (người chồng) Quansát những thái độ, hành vi của người dân và chính quyền trong công tácphòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương tiện được sử dụng để có được những thông tin
từ thân chủ Phỏng vấn là công việc có tính chất nghề nghiệp và đòi hỏiNVCTXH phải có sự chuẩn bị kĩ lượng về nội dung câu hỏi đối với thân chủ.Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 4 cán bộ xã (chủ tịch, cán bộ phụ nữ,công an, tư pháp) 4 phỏng vấn đối với phụ nữ bị bạo hành trong gia đình 3phỏng vấn sâu đối với người dân
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
- Phương pháp công tác xã hội với cá nhân
Công tác xã hội với cá nhân là phương pháp của công tác xã hội nhằmgiúp đỡ từng cá nhân, con người thông qua mối quan hệ 1-1 Là cách thức, làquá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội vận dụng những kỷ năng, kiến thứcchuyên môn để giúp đối tượng phát huy năng lực, tiềm năng cũng như thamgia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện đời sống của mình Trong nghiên cứu này, sinh viên đã thực hành công tác xã hội cá nhânvới một số phụ nữ bị bạo lực trong gia đình để cùng họ chia sẽ vấn đề
Để một cá nhân tự mình đưa ra một quyết định hoặc chuyển từ chưa có
dự định sang có dự định thực hiện là một điều không dễ dàng Và thậm chíngay cả khi họ đã có dự định và đã có kế hoạch cho giải quyết vấn đề củamình nhưng họ lại không biết làm gì để thực hiện nó Họ luôn cần có ngườiđộng viên, chia sẻ khích lệ và cũng như đánh giá kết quả mà họ thực hiện Dovậy, NVCTXH phải thực hành tốt các kỷ năng như kỷ năng tạo lập mối quan
hệ giao tiếp, kỷ năng đánh giá vấn đề, kỷ năng thấu cảm…và đặc biệt là kỷnăng tham vấn để tìm hiểu, chia sẻ và tiến hành can thiệp ca Từ đó giúp họthay đổi nhận thức, thái độ và hành vi
Trang 19- Phương pháp công tác xã hội nhóm.
Công tác xã hội nhóm sử dụng nhằm xây dựng nhóm phụ nữ bị bạo lựctrong gia đình Việc thành lập nhóm có mục đích tạo ra môi trường tươngđồng cho các thành viên để họ có thể xóa bỏ mặc cảm, lấy lại thăng bằngtrong tâm lý, tình cảm cũng như trong mọi vấn đề của cuộc sống Thông quaviệc sinh hoạt nhóm, các thành viên sẽ có cơ hội chia sẽ với nhau những khókhăn, những kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trongcuộc sống gia đình Từ đó họ cảm thông và giúp đỡ nhau giải quyết vấn đềcủa mình và vấn đề chung của cả nhóm Trong quá trình nhóm thành lập vàhoạt động, NVCTXH cần phải vận dụng những kiến thức và kỷ năng củacông tác xã hội như kỹ năng đánh giá vấn đề, kỹ năng thúc đẩy tiến trìnhnhóm, kỹ năng thúc đẩy tương tác nhóm…để giúp nhóm nhìn nhận ra vấn đềcủa mình và tìm ra biện pháp giải quyết
6 Giả thiết nghiên cứu
Giả thiết 1: Tình trạng BLGĐ ngày càng gia tăng, ngày càng tinh vi
đang diễn ra với nhiều hình thức, mức độ khác nhau
Giả thuyết 2: BLGĐ xuất hiện và tồn tại đối là do tác động tổng hợp
của nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau
Gỉa thiết 3: BLGĐ xảy ra để lại những hậu quả nặng nề không chỉ đối
với nạn nhân của bạo lực, các thành viên khác trong gia đình Mà còn gâynhững hậu quả đối với xã hội
Gỉa thiết 4:Việc đưa ra những giải pháp hiệu quả trong việc ngăn chặn
nạn BLGĐ sẽ góp phần tích cực trong việc giải phóng phụ nữ, thực hiệnbình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ
7 Bố cục của khóa luận
7.1 Tên khóa luận: “ Bạo lực gia đình: Thực trạng, nguyên nhân,
giải pháp” (nghiên cứu trên địa bàn xã Long Thành huyện Yên Thành
-tỉnh Nghệ An trong giai đoạn).
7.2 Kết cấu khóa luận
Trang 20Khóa luận gồm 2 phần:
Phần I: Phần mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.2 Thực trạng và nguyên nhân của vấn đề BLGĐ tại xã Long Thành,huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2008- 2010
2.3 Mô hình can thiệp và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảthực hiện phòng chống BLGĐ ở xã Long Thành
Phần III: Kết luận và khuyến nghị
Trang 21
Phần II: PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết hành vi
Khoa học phân tích hành vi ra đời năm 1849, băt đầu với thí nghiệm củaIvan Pavlov Sau đó, có một số nhà khoa học tiếp tục ngiên cứu là Watson vàSkinner
Công tác xã hội có mục tiêu hỗ trợ con người thực hiện các chức năngcủa mình 1 cách bình thường Do vậy để tiến hành giải quyết ca tham vấn cánhân trong công tác xã hội (CTXH), NVCTXH cần phải đánh giá được quátrình hình thành hành vi cá nhân, nắm được các tác động của các yếu tố mốitrường làm phát sinh hành vi đó
Hành vi của con người gồm 3 loại: Hành vi ứng phó để tồn tại, để hộinhâp, để tăng trưởng và thành đạt Hành vi của cá nhân chịu tác động củamôi trường sống, kinh nghiệm sống mà người đó trải qua
Hành vi của con người thường có mục đích đáp trả cho nhu cầu tìnhcảm Vận dụng vào đề tài để phân tích những yếu tố tạo nên hành vi củangười chồng Hay nói cách khác, những hành vi bạo lực bị tác động bởi môitrường vật chất hay môi trường con người Qua đó xem xét những hành vibạo lực có xuất phát từ bản thân người đó hay không Đồng thời, những hành
vi, suy nghĩ của người phụ nữ bị bạo lực ảnh hưởng bởi những nhân tố nàotrong môi trường của họ Thông qua đó để có những can thiệp hiệu quả
1.1.2 Lý thuyết hệ thống - sinh thái
Lý thuyết này được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật họcBertalanffy Đây là lý thuyết quan trọng trong nền tảng triết lý trong ngànhCTXH
Lý thuyết hệ thống sinh thái là tập hợp con của lý thuyết hệ thống, môtả hành vi con người sống và làm việc chịu sự tương tác với gia đình, bạn bè,hàng xóm, các tổ chức xã hội khác Lý thuyết này có nhiều đóng góp quan
Trang 22trọng trong công tác xã hội, một trong những đóng góp đó là định nghĩa 3cấp độ của hệ thống.
- Cấp độ vi mô
Con người là tiểu hệ thống tạo thành bởi tiểu hệ thống tâm sinh lý xãhội Các tiểu hệ thống này tương tác lẫn nhau CTXH can thiệp ở hệ thốngnày hướng vào nhu cầu của con người, những vấn đề và điểm mạnh của họ,đưa ra các giải pháp và chọn phương án tốt nhất Tập trung vào làm việc với
cá nhân và giúp họ thực hiện chức năng của mình
Đồng thời, lôi kéo sự can thiệp của các thành viên trong gia đình, cácnhóm và tổ chức xã hội khác và công tác ngăn chặn BLGĐ
- Cấp độ vĩ mô
Hệ thống này đề cập đến nhóm và hệ thống lớn hơn gia đình Bốn hệthống vĩ mô tác động đến cá nhân là các tổ chức, các thiết chế, cộng đồng vànền văn hoá
Lý thuyết hệ thống sinh thái trong công tác xã hội phỏng theo nhữngkhái niệm của thuyết hệ thống và sinh thái Trong xã hội, mỗi cá nhân đều cómôi trường và hoàn cảnh sống Họ luôn chịu tác động của các yếu tố của môitrường và chính bản thân cũng có tác động ngược trở lại môi trường Nhưvậy, cá nhân trong môi trường và các yếu tố có mối quan hệ trực thuộc lẫnnhau Do vậy, để hiểu cá nhân trong môi trường, chúng ta phải nghiên cứuđể hiểu môi trường xung quanh Mặt khác, cá nhân không vận hành mộtmình, trong nhiều trường hợp, có khi nhân viên xã hội chỉ chú trọng vào cá
Trang 23nhân, không chú trọng đến môi trường xung quanh Tuy nhiên để đạt đượchiệu quả giúp thân chủ giải quyết vấn đề của mình, nhân viên xã hội cần phảilàm việc ở trên cả 3 cấp độ: cá nhân, gia đình, cộng đồng.
Vận dụng lý thuyết hệ thống sinh thái vào đề tài để xem xét mối quan
hệ giữa phụ nữ bị bạo hành với môi trường xung quanh họ như anh em, bạn
bè, làng xóm, chính quyền địa phương Đồng thời xem xét môi trường xungquanh có tác động như thế nào đến vấn đề của họ Ngoài ra còn áp dụng lýthuyết này để xây dựng mô hình can thiệp
1.1.3 Lý thuyết nữ quyền hiện sinh
Đại diện tiêu biểu là nhà văn kiêm nhà nhà triết học Simone De
Beauvoir với cuốn sách nổi tiếng là “The sean sex” (giới tính thứ hai).
Thuyết này cho rằng phụ nữ bị áp bức bởi tính chất “ là người khác”nghĩa là không phải là nam giới Nam giới là cái “ tôi ” và gọi những ngườikhác là “người khác” Chủ nghĩa cá nhân cao độ của thuyết hiện sinh, cộngthêm quyền lực của nam giới đã khiến cho sự áp bức phụ nữ càng sâu sắchơn De Beauvoir đã phê phán quan điểm của nam giới khi cho rằng phụ nữchỉ là “một nửa” của họ Người phụ nữ bị áp bức chính vì họ bị coi là “mộtnửa”, là “ người khác”, là khách thể của nam giới Bà kêu gọi mọi người hãysuy nghĩ về phụ nữ như suy nghĩ về nam giới, nghĩa là phụ nữ phải đượcbình đẳng với nam giới Bà là người đầu tiên đưa ra kết luận rằng: phụ nữkhông chỉ được sinh ra mà họ cần phải được tôn trọng
Áp dụng lý thuyết này vào đề tài để giải thích nguyên nhân gây nênthực trạng phụ nữ bị bạo lực đó là do tư tưởng phụ quyền Đó là những hành
vi vi phạm quyền phụ nữ Từ đó thay đổi nhận thức của họ, tìm ra nhữngbiện pháp để thay đổi quan hệ giới, tiến tới bình đẳng trong gia đình và ngoài
xã hội
1.1.4 Lý thuyết nhu cầu
Trang 24Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như mộttrong những người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn Năm
1943, ông đã phát triển một trong các học thuyết mà tầm ảnh hưởng của nóđược thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đó
là lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người Ông sắp xếp các nhu cầucủa con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mứccao hơn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức thấp hơn phải được thoả mãn
Hệ thống nhu cầu mà ông đề cập bao gồm: Nhu cầu về thể chất/ sinh lý;Nhu cầu an toàn, an ninh; Nhu cầu tình cảm xã hội; Nhu cầu được tôn trọng;Nhu cầu hoàn thiện và phát triển Trong đó, nhu cầu về thể chất/ sinh ly
́được xem là nhu cầu cơ bản nhất và cần được đáp ứng đầu tiên Còn nhu cầu
về hoàn thiện và phát triển được xếp vào bậc thang cuối cùng và nó đượcđáp ứng khi các nhu cầu khác đã được đáp ứng
Trong đề tài này, vận dụng lý thuyết để khẳng định đối tượng nạn nhânBLGĐ họ cũng là con người Hơn ai hết họ cần được đáp ứng những nhu cầu
cơ bản trên, đặc biệt là nhu cầu về một môi trường sống an toàn và cần đượctôn trọng Từ đó có cách can thiệp, tác động làm thay đổi hành vi ngườichồng Đồng thời lôi kéo phụ nữ vào cộng đồng để nói lên vấn đề, suy nghĩ,nhu cầu của mình
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm hành vi bạo lực
Trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, người dân thường hiểu bạo lựcliên quan đến những hành vi cụ thể như: đánh đập, cưỡng ép hoặc sự ngượcđãi vượt quá mức độ có thể chấp nhận được Tuy nhiên, nhận thức này cònhạn chế vì bạo lực còn biểu hiện dưới nhiều hình thức khác
Theo điều 2, Luật phòng chống BLGĐ của Việt Nam thì BLGĐ gồm 9
hành vi bạo lực sau:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý xâm hại đến sứckhỏe, tính mạng các thành viên trong gia đình
Trang 25- Lăng mạ hoặc có hành vi cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm cácthành viên khác trong gia đình.
- Cô lập, xua đuổi hay gây bạo lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quảnghiêm trọng
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữaông bà và cháu, cha mẹ - con cái, vợ - chồng, anh chị em với nhau
- Cưỡng ép các thành viên trong gia đình lao động quá sức, đóng góp tàichính quá khả năng của họ Kiểm soát thu nhập của các thành viên trong giađình nhằm tạo ra sự phụ thuộc về tài chính
- Có hành vi trái pháp luật buộc các thành viên trong gia đình phải rakhỏi chỗ ở
Các hành vi trên cũng được áp dụng đối với thành viên là vợ chồng đã
ly hôn hoặc nam nữ không có điều kiện kết hôn mà chung sống với nhau như
vợ chồng
1.2.2 Khái niệm bạo lực gia đình
Theo quy định của luật phòng chống BLGĐ, Quốc hội khoá 12 (2007)
“ BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại đến thể chất và tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”.
Theo Uỷ Ban Dân số gia đình và Trẻ em định nghĩa “ Bạo lực trong gia đình là do một thành viên trong gia đình gây ra với một thành viên khác, thường là do người chồng gây ra đối với người vợ, biểu hiện bằng những
Trang 26hành vi làm tổn thương đến sức khoẻ, thể chất, tinh thần, tình dục, tâm lý của người vợ”.
BLGĐ được định nghĩa “ Là hành vi và sự đe dọa của các thành viên trong gia đình đối với các thành viên khác, kết quả làm cho những người bị bạo lực và các thành viên trong gia đình bị đau đớn về thể xác, tinh thần, hoặc tình dục Bản chất của bạo hành là sự lạm dụng quyền lực để khống chế, khuất phục và kiểm soát thành viên khác trong gia đình” ( Duffy và
Monirov,1997)
Theo định nghĩa trên thì BLGĐ được hiểu không chỉ là hình thức bạolực giữa người chồng đối với người vợ và ngược lại, mà còn là bạo lực củacác thành viên trong gia đình đối với con cái, người già và các anh chị emtrong gia đình BLGĐ có thể xảy ra với tất cả các mối quan hệ giữa các cặp
vợ chồng kết hôn hay không kết hôn, giữa cha mẹ - con cái…Và bạo lực ởđây chúng ta không chỉ hiểu bằng những hành động vũ phu như đánh đập,hành hạ thân xác mà còn hiểu rộng hơn cả về tinh thần, tình cảm và tình dục.Một vấn đề nữa thường thì nạn nhân của các hành vi bạo lực trong gia đình
là những người ở vị trí yếu thế hơn như phụ nữ, trẻ em, người già Nhưngtrong nghiên cứu này, người viết chủ yếu đề cập đến hành vi bạo lực đối vớiphụ nữ trong gia đình
1.2.3 Khái niệm bạo lực đối với phụ nữ
BLGĐ đối với phụ nữ được các quốc gia thành viên LHQ đã thốngnhất và đưa vào văn kiện tại Hội nghị thế giới về phụ nữ tại Bắc Kinh năm
1995 như sau: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kì hành vi bạo lực nào dựa trên cơ sở giới gây tác hại hoặc tổn thương đối với phụ nữ về thân thể, tình dục và tâm lí, bao gồm cả sự đe dọa tiến hành những hành vi đó Cưỡng bức hoặc độc đoán tước đoạt quyền tự do của người phụ nữ dù nó xãy ra nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” ( UNIEEM,1998).
Như vậy, phạm vi của bạo lực giới khá rộng, bao gồm các hành vi bạolực chống lại phụ nữ trong cuộc sống riêng tư (BLGĐ) và các hành vi bạo
Trang 27lực chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo lực ngoài gia đình) Nhưng trongnghiên cứu này, người nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên cứu hành vi bạo lựcchống lại phụ nữ trong gia đình và người gây bạo lực chính là người chồngcủa họ.
Tổ chức y tế thế giới đưa ra nhận định: “Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xãy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn là nam giới, thường là người chồng hoặc người tình, người chồng cũ hoặc người tình cũ hay những người đàn ông quen biết phụ nữ” (WHO.1998) Sở dĩ phụ
nữ thường là nạn nhân vì xét về mặt sinh học, cơ thể của phụ nữ yếu hơnnam giới Xét về mặt xã hội, phụ nữ có địa vị thấp hơn và có ít quyền lựctrong xã hội so với nam giới
1.3 Các hình thức bạo lực đối với phụ nữ
BLGĐ nói chung và BLGĐ đối với phụ nữ có thể biểu hiện dưới nhữnghình thức và hành vi khác nhau như: Lời nói, tâm lý, tình dục, kinh tế Cóthể thấy các dạng biểu hiện cơ bản của bạo lực với phụ nữ như sau:
1.3.1 Bạo lực về thể chất.
Là bất kì hành động bạo lực nào được thực hiện để kiểm soát, làm đau, gây nguy hại hay hành hung về thể chất cho đối phương Hình thức bạo lực này bao gồm: Đấm, đá, túm, giật tóc, đẩy ngã, bạt tai, phá hoại tài sản hay vật dụng có giá trị, đốt, dùng vật để đánh, cấu véo làm bị thương Đây là
hình thức mà ta dễ dàng có thể nhận ra vì ít nhiều nó cũng để lại thương tíchtrên người nạn nhân mà ta có thể nhìn thấy được Chính vì vậy mà hình thứcnày được thống kê nhiều hơn so với các hình thức bạo lực khác
1.3.2 Bạo lực về tình dục
Là bất kì hành vi nào cưỡng bức đối tác phải có quan hệ tình dục không mong muốn Hình thức này bao gồm: Theo đuổi hành vi tình dục đối với người không nhận thức được tình thế, tự tiện sờ mó, quan hệ tình dục không mong muốn, sử dụng hành vi thú tính trong quan hệ tình dục Quan
Trang 28hệ tình dục với người không có đầy đủ kiến thức hay không nhất trí hoặc khi
1.3.3 Bạo lực về tâm lý, tình cảm
Bạo lực về tâm lý là sự xỉ vả, làm nhục, bị ép cô lập, hăm doạ, đe doạ
và kiểm soát các hoạt động( không phù hợp) Có thể là cả việc lấy đi quyền quyết định của nạn nhân trong khi người đó có đủ khả năng đưa ra quyết định.
Đó còn là sự bỏ bẵng, không chăm sóc cố tình hay vô tình với ngườikhác trong gia đình và điều này gây tổn thương đến người khác Bạo lực tìnhcảm bao gồm: Việc cấm đoán các hoạt động của vợ, chồng (nhốt lại trongnhà, không cho làm việc gì đó, đe doạ làm tổn hại phớt lờ người kia vàngoại tình) Hình thức này gây nên những vết thương trong lòng nạn nhân.Mặc dù khó có thể đo lường được, song không thể coi nhẹ hình thức bạo lựcnày
1.3.4 Bạo lực về mặt xã hội
Đó là sự cô lập, kiểm soát khỏi hệ thống giúp đỡ thực sự hoặc khống chế việc sử dụng thời gian và không gian , liên tục rình mò, do thám, theo dõi làm cho nạn nhân không có sự tự do trong sinh hoạt và công việc.
1.3.5 Bạo lực về kinh tế , tài chính
Là bất cứ hành động nào buộc người khác phải phụ thuộc vào người lạm dụng vì tiền hay sự sống Dạng này bao gồm việc giấu tiền, vật dụng quý, phương tiện đi lại hay các nguồn lực khác, ngăn cản việc kiếm tiền một
Trang 29cách độc lập Hay kiểm soát tất cả tiền của gia đình "Sự phân công lao động trên cơ sở giới cũng có thể coi là một dạng của BLGĐ"
Sự phân dạng bạo lực nói trên chỉ mang tính chất tương đối, trong thực
tế khó có thể phân định rạch ròi đâu là bạo lực thể chất, đâu là bạo lực tinhthần, đâu là bạo lực xã hội Có những hành động bạo lực thường kết hợphai hay nhiều hình thức bạo lực Chẳng hạn: Đánh đập (bạo lực thể chất)thường đi đôi với chửi bới, nhiếc móc (bạo lực tinh thần) Cưỡng dâm (bạolực tình dục) thường đi kèm với bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần, tìnhcảm
Ngoài các dạng phân loại phổ biến trên, nhà nghiên cứu Lê Thị Quý còn
có cách nhìn nhận BLGĐ thành hai dạng chính: Bạo lực nhìn thấy được vàbạo lực không nhìn thấy được
Bạo lực nhìn thấy được là dạng bạo lực về thể chất và tinh thần mà ta cóthể nhìn thấy được, cảm nhận được, ít nhiều để lại dấu vết sau hành vi bạolực
Bạo lực không nhìn thấy được có thể hiểu là việc người đàn ông trúttoàn bộ trách nhiệm gia đình cho phụ nữ, từ lao động kiếm sống đến côngviệc nội trợ, chăm sóc nuôi dạy con cái Trong điều kiện như vậy, phụ nữkhông còn thời gian để nghỉ ngơi, chăm lo sức khoẻ của bản thân và thamgia các hoạt động của xã hội
Vị thế của họ trong gia đình ngày càng thấp kém, khoảng cách bất bìnhđẳng giữa người vợ và người chồng ngày càng lớn Bạo lực không nhìn thấy
được chưa được thừa nhận là một dạng bạo lực ( Lê Thị Quý, 1996 )
2 Cơ sở pháp lý của công tác phòng chống bạo lực gia đình
2.1 Công ước quốc tế
Chúng ta có thể kể đến một số công ước quốc tế về vấn đề bạo lực giađình như:
“Tuyên ngôn Thế Giới về quyền con người” do Hội Đồng Liên Hợp
Quốc thông qua ngày 10/12/1948
Trang 30“Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW ) Mục đích của công ước là nhằm trao cho phụ nữ những quyền
con người mà pháp luật quốc tế thừa nhận Đây là văn bản pháp lý quốc tếtoàn diện nhất từ trước đến nay về vấn đề phụ nữ và sự ra đời của nó đã đánhdấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào đấu tranh cho quyền bình đẳngnam nữ Công ước xứng đáng đóng vai trò là kim chỉ nam cho các hànhđộng vì tiến bộ, bình đẳng và phát triển hoà bình
“Tuyên ngôn Bắc Kinh và cương lĩnh hành động toàn cầu” được
chấp nhận bởi 189 quốc gia thành viên tại hội nghị thế giới lần thứ 4 về phụ
nữ tại Bắc Kinh-Trung Quốc
2.2 Hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam về phòng chống bạo lực gia đình
BLGĐ đang là vấn đề mà được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm vàthể hiện rõ trong quan điểm của mình về chăm lo cho con người, bảo vềquyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điềuước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã kí kết
Ngoài ra, Nhà nước Việt Nam còn xây dựng hệ thống pháp lý tương đối
ổn định, bao gồm các điều khoản, quy định về bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ
- Hiến pháp 1992 thể hiện toàn diện các quyền cơ bản của con người
về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá
- Luật bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam khoá 11 kì họp 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệulực từ ngày01/07/2007 Quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnhvực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới
- Luật hôn nhân và gia đình quy định sự bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ của vợ và chồng; tôn trọng danh dự nhân phẩm; quyền và nghĩa vụcủa cha mẹ với con cái
- Luật phòng chống bạo lực gia đình do Quốc hội nước Cộng hoà
XHCNVN khoá 12 kì họp thứ 2 thông qua ngày 1/7/2008 đã cơ bản hoàn
Trang 31thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phòng chốngbạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay.
3 Một số mô hình can thiệp bạo lực gia đình trên thế giới và ở Việt Nam
3.1 Mô hình can thiệp bạo lực gia đình trên thế giới
- Ở nước Mỹ, có nhiều mô hình nhà tạm lánh dành cho nạn nhân, có
1800 nhà tạm lánh Bên cạnh đó thành lập các địa chỉ an toàn nơi mà phụ nữ
có thể lánh nạn như đến nhà thờ, đền thờ
- Ở BraZin: Xây dựng mô hình đồn cảnh sát toàn phụ nữ, có các dịch vụ
tư vấn tâm lý và hỗ trợ nạn nhân
- Ở Ôxtrâylia, Canada áp dụng mô hình tập hợp những gây bạo lựcthành từng nhóm và thảo luận về vai trò giới Hướng dẫn họ phương phápkiềm chế nóng giận, căng thẳng, giúp họ ý thức được trách nhiệm đối vớihành động của mình
3.2 Một số mô hình can thiệp BLGĐ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước thực trạng BLGĐ diễn ra như hiện nay, nhiều tổchức trong nước kết hợp với các tổ chức nước ngoài đưa ra nhiều mô hìnhcan thiệp khác nhau để hạn chế vấn đề này và đảm bảo an toàn cho phụ nữ
- Mô hình “ Làng Việt Nam không có bạo lực” do Trung tâm nghiên
cứu giới và phát triển phối hợp Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam thực hiện Các hoạt động của dự án là xây dựng mô hình can thiệp có sự tham gia củangười dân , động viện sự tham gia của phụ nữ Các tổ chức tư vấn, câu lạc
bộ, địa chỉ tin cậy được thành lập Hoạt động hiệu quả cao là truyền thanhtruyền hình, văn nghệ có nội dung liên quan đến bạo lực gia đình
Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 322.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Long Thành là một xã nghèo thuộc huyện Yên Thành phía Đông giáp xãNhân Thành, phía Tây giáp xã Xuân Thành, phía Nam giáp xã Bảo Thành,phía Bắc giáp xã Tăng Thành
Long Thành là một vùng đất chiêm trũng với diện tích tự nhiên là 945,4
ha Về dân số có 1921 hộ với 85522 nhân khẩu Trong đó có 230 hộ theoThiên chúa giáo
Xã được phân chia thành 17 xóm dân cư để quản lý và điều hành
2.1.2 Tình hình kinh tế
Long Thành là vùng đất chiêm trũng do vậy cơ cấu kinh tế của xã hộiđược xác định là độc canh cây lúa – tiểu thủ công nghiệp
Trong những năm qua tình hình kinh tế xã Long Thành tiếp tục tăng kinh
tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giải quyết nhiều việc làm cho ngườilao động, đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao
Duy trì hoạt động làng nghề truyền thống “ Chiếu cói văn trai” và nghềmây tre đan xuất khẩu, sản xuất ổn định, số lao động tham gia ở 2 lĩnh vựcnày trên 300 lao động Thu nhập bình quân 1triệu/người/ tháng Tổng số laođộng tham gia nghành nghề, dịch vụ tăng lên 2100 lao động, số lao động nghềmộc, nề, xây dựng cơ bản, quản lý, buôn bán, dịch vụ các loại ngày càng pháttriển kể cả lao động đi làm ăn xa ở các tỉnh phía nam
2.1.3 Tình hình chính trị xã hội – quốc phòng an ninh
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nghị quyết của hội đồngnhân dân xã Long Thành tình hình chính trị, KTXH tiếp tục ổn định là cơ sởtạo điều kiện để phát triển nhanh các lĩnh vực kinh tế xã hội có những bướcchuyển biến tích cực đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao
Tình hình an ninh và trật tự an toàn xã hội giữ vững, phong trào quầnchúng bảo vệ an ninh Tổ Quốc được tăng cường, tích cực đấu tranh phát hiện
Trang 33xử lý các tội phạm Trong 6 tháng 2010 xảy ra 12 vụ, đã xử lý 11 vụ vàchuyển huyện 1 vụ.
2.1.4.Về văn hóa giáo dục
Xã thường xuyên tổ chức các hội thi, hội diễn với chủ đề: Các hoạt độngthi đua yêu nước, học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chi Minh , Hội thi
về văn hóa gia đình về giáo dục xã thường xuyên tác động các hoạt động thiđua dạy tốt học tốt, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh các hoạt động xãhội trong trường học Nghành giáo dục xã nhà năm 2009 - 2010 tiếp tục đượcgiữ vững danh hiệu tiên tiến của Huyện
2.1.5 Tình hình thu nhập của người dân
Xuất phát từ nền kinh tế thị trường nên trong những năm qua thì nguồnthu nhập của người dân ngày càng nâng cao Hiện nay khoảng 7triệu/người/năm Xã có 1921 hộ, qua kiểm soát đánh giá có:
Hộ giàu 340 hộ, chiếm 17,69 % so với tổng số hộ
Hộ khá 625 hộ, chiếm 32,68 % so với tổng số hộ
Hộ trung bình 769 hộ, chiếm 40,17 % so với tổng số hộ
Hộ nghèo 187 hộ, chiếm 9,73 % so với tổng số hộ
2.1.6 Những thuận lợi và khó khăn đối với đời sống người dân và công tác phòng chống BLGĐ
Trang 34Đạo đức lối sống của một bộ phận dân cư đang là vấn đề bức xúc đặt ra,ý thức tuân thủ pháp luật còn đang hạn chế.
2.2 Thực trạng bạo lực gia đình
2.2.1 Thực trạng bạo lực gia đình ở Việt nam
Mặc dù nhận thức về bình đẳng nam - nữ trong gia đình và ngoài xã hội
ở nước ta có nhiều chuyển biến tiến bộ Nhưng cho đến nay, nạn bạo hành,ngược đãi người vợ vẫn khá phổ biến, và ngày càng tinh vi, đặc biệt là ởnhững vùng nông thôn nghèo khổ, dân trí thấp
Theo Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội: Kết quả khảo sát 8 tỉnh
cũng như kết quả nghiên cứu BLGĐ cho thấy bạo lực xảy ra khá phổ biến ởcác vùng miền trong cả nước, hàng năm có khoảng 2/3 trong tổng số gia đình
có hành vi bạo lực về thể chất ( như đánh đập ), 25% gia đình có hành vi bạolực về tinh thần, 80% các cặp vợ chồng có hành vi ép buộc trong quan hệ tìnhdục
Không những gia tăng về tỷ lệ mà số vụ cũng tăng lên, trong 8 năm gầnđây có tới 11.630 vụ BLGĐ được chính quyền can thiệp, giải quyết, cao nhất
là tỉnh Kiên Giang 2.005 vụ, Hà Tây 1.484 vụ, còn trong 5 năm (2000 –2005) các tòa án địa phương đã thụ lý và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ việc
về ly hôn gia đình, trong số này có tới 186.954 vụ có hành vi đánh đập, ngược
đãi chiếm 53,2% ( Nguồn: Báo cáo của UB các VĐXH của Quốc Hội tại
hội thảo lấy ý kiến xây dựng Luật phòng chống BLGĐ tổ chức hôm 23/8 tại
Hà Nội).
Tình trạng BLGĐ tăng lên ở Việt Nam cũng cho thấy tình trạng bạo lựcđối với phụ nữ tăng, khi phần lớn các vụ BLGĐ chủ yếu là đối với phụ nữ.Theo báo cáo của Uỷ ban DSGĐ&TE tình trạng bạo hành gia đình có tới 90%
là nữ giới, trong đó có 30% phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng, cưỡng bức theonhiều hình thức, phần lớn tình trạng này do người chồng gây ra Trong số đó
có 15% số người vợ bị đánh, gần 80% bị mắng chửi, hơn 70% bị bỏ mặc, gần10% bị chồng cấm đoán tham gia các hoạt động xã hội và gần 20% bị chồng
Trang 35cưỡng bức quan hệ tình dục Đến năm 2007, nạn nhân bị bạo hành trong gia
đình vẫn tiếp tục gia tăng gây bức xúc lớn trong dư luận xã hội ( Nguồn: Báo
cáo của Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em, 2007).
Tóm lại, vấn đề BLGĐ nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nóiriêng đang là vấn đề bức xúc và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng Do vậy, cần
có sự quan tâm nhiều hơn nữa và mạnh mẽ hơn nữa của mỗi cá nhân, giađình, cộng đồng, xã hội
2.2.2 Thực trạng bạo lực gia đình tại xã Long Thành Yên Thành Nghệ An
-2.2.2.1 Tình trạng BLGĐ ở địa phương
Qua nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu thực tế địa bàn nghiên cứu, có thể nóiBLGĐ trên địa bàn xã diễn ra khá thường xuyên và phổ biến với xu hướngngày càng gia tăng
Theo báo cáo của HLHPN xã thì năm 2010 toàn xã có 19 vụ BLGĐ màđược nạn nhân phản ánh lên Nó biểu hiện dưới các mối quan hệ cụ thể nhưsau:
Bảng 1: Các hiện tượng BLGĐ diễn ra ở địa phương.
Trang 36phương Chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn sự khác biệt giữa hiện tượng chồngbạo lực vợ trong gia đình so với các hiện tượng khác qua biểu đồ sau.
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự khác biệt giữa phụ nữ là nạn nhân của
Trang 37Điều này phản ánh một điều rằng: Trong cùng một địa bàn, ở những nơinào trình độ dân trí cao, đời sống kinh tế tương đối và tỷ lệ gia đình tham giaphong trào xây dựng nếp sống văn hóa cao thì ở những nơi đó hiện tượngBLGĐ xãy ra ít hơn và ngược lại Tuy nhiên, kết quả việc thực hiện phiếuđánh giá nhanh khi hỏi 80 người/17 xóm, thì ở hầu hết tất cả các xóm đều cóngười cho rằng họ đã từng chứng kiến cảnh phụ nữ bị đánh đập hoặc chửimắng.
Bảng 3 : Hiện trạng phụ nữ bị đánh đập hoặc chửi mắng trong gia
Trang 38Như vậy, trong nhiều trường hợp tình trạng BLGĐ vẫn đang bị che giấu,chưa được chính nạn nhân và cộng đồng phát giác kịp thời Điều này đặt ranhiệm vụ cho công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về BLGĐ cần phảiđược đẩy mạnh trong cộng đồng dân cư để BLGĐ không còn là chuyện “ nộibộ”, khép kín trong phạm vi gia đình.
Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ chính quyền cũng có cùng chung nhậnđịnh như vậy:
Chị Hoàng Thị Quỳnh - Hội trưởng HLHPN xã Long Thành cho biết:
“Trong năm qua tình trạng bạo lực đối với phụ nữ cũng gây nhiều bức xúc Trong các cuộc họp, thì cán bộ phụ nữ ở các thôn cũng có phản ánh lên Tuy nhiên đó mới chỉ là những vụ bạo hành tương đối nghiêm trọng mà chính người phụ nữ - nạn nhân phản ánh và nhờ sự can thiệp của Hội Còn thực tế
có rất nhiều vụ bạo hành mà chính những nạn nhân lại che giấu Ví dụ như trường hợp chị Vũ Thị H ở xóm Văn Tràng, mặc dù mọi người ai cũng biết chị thường xuyên bị chồng đánh đập Nhưng khi Hội cử người đến can thiệp thì chị lại nói là không có chuyện đó”
Từ những phân tích trên ta có thể thấy các vụ BLGĐ đối với phụ nữthống kê được hoặc được các cấp chính quyền phát hiện chỉ là một phần nhỏ
so với thực tế Nó mới chỉ là phần nổi của tảng băng, còn phần chìm chưanhìn thấy được
2.2.2.2 Xu hướng tiến triển của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở địa phương.
Khi tiến hành phát phiếu đánh giá nhanh ( 80 người) hỏi về nhận thứccủa họ đối với xu hương BLGĐ, kết quả thu được
Bảng 4.Xu hướng của BLGĐ đối với phụ nữ ở địa phương trong giai
Trang 39Biểu đồ thể hiện xu hướng BLGĐ đối với phụ nữ tạ i
( Nguồn: Kết quả phát phiếu đánh giá nhanh nhận thức của người
về xu hướng tiến triển của BLGĐ đối với phụ nữ ở địa phương trong giai đoạn 2008 - 2010).
Chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn sự tiến triển của BLGĐ đối với phụ
nữ qua biểu đồ sau
Biểu đồ 2:Biểu đồ thể hiện xu hướng BLGĐ đối với phụ nữ tại địap
phương
Như vậy, kết quả nghiên cứu đều cho thấy nạn BLGĐ đối với phụ nữdiễn ra ở địa phương ngày càng gia tăng Điều đó phần nào phản ánh thựctrạng vấn đề Tuy nhiên, đó chưa có sự chính xác bởi do những cản trở củayếu tố về nhận thức, quan niệm cũng như khả năng nhận diện các hành vi bạolực của người dân và chính quyền địa phương
2.2.2.3 Các hình thức BLGĐ đối với phụ nữ diễn ra trên địa bàn xã Long Thành
BLGĐ đối với phụ nữ thường diễn ra dưới những hình thức khácnhau Quá trình nghiên cứu cho thấy trên địa bàn xã có tồn tại những hìnhthức bạo lực phụ nữ như: Bạo hành về thể chất; Bạo hành về tinh thần; Bạohành về xã hội và bạo hành về mặt lao động
Trang 40Theo báo cáo của HLHPN xã, thì năm 2010 toàn xã có xảy ra 19 vụBLGĐ, trong đó có 12 vụ BLGĐ đối với phụ nữ, biểu hiện dưới 3 hình thức
cơ bản là bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần và bạo lực xã hội
Các hình thức bạo lực Tỷ lệ (%)
( Nguồn: Tổng hợp báo cáo của HLHPN xã về tình trạng BLGĐ, năm 2010)
Biểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện các hình thức BLGĐ đối với phụ nữ diễn
ra ở địa phương
Nhìn vào biểu đồ ta thấy: BLGĐ đối với phụ nữ ở địa phương chủ yếudiễn ra dưới hình thức là bạo lực về thể chất ( 7/12 vụ) chiếm 58,3% trongtổng số Trong đó có 3 vụ đánh đập với mức độ nặng phải đi bệnh viện vàtrạm xá để chửa trị Trong khi đó bạo lực tinh thần chỉ có (3/12 vụ), chiếm33,3% tổng số Bạo lực về mặt xã hội chỉ chiếm 8,4% tổng số (2/12 vụ)
Tuy nhiên, việc phân chia các hình thức bạo lực ở trên chỉ mang tính chấttương đối Vì thực tế, trong rất nhiều trường hợp người chồng cùng một lúcthực hiện nhiều hình thức bạo hành với vợ mình Trường hợp chị N.T.L ởxóm Văn Tràng là một ví dụ: Chị N.T.L, 38T, cách đây 1 tháng chị phải điềutrị ở khoa thần kinh của Bệnh viện đa khoa Nghệ An Trước khi nhập viện,người ta nói chị bị ma ám Có khi cả ngày chị không nói gì nhưng cũng có lúc