1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc văn hóa việt trông tiểu thuyết của nguyễn xuân khánh (qua hai tác phẩm mẫu thượng ngàn và đội gạo lên chùa) luận văn thạc sĩ ngữ văn

108 2,8K 37

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản Sắc Văn Hóa Việt Trong Tiểu Thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (Qua Hai Tác Phẩm Mẫu Thượng Ngàn Và Đội Gạo Lên Chùa)
Tác giả Phạm Thị Hà
Người hướng dẫn TS. M
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 628 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiờn cứu và phạm vi tư liệu khảo sỏt…...9 PHẠM THỊ HÀ bản sắc văn hóa việt trong tiểu thuyết của nguyễn xuân khánh qua hai tác phẩm Mẫu th ợng ngàn và đội gạo lên chùa CHUYấN

Trang 1

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng nghiờn cứu và phạm vi tư liệu khảo sỏt… 9

PHẠM THỊ HÀ

bản sắc văn hóa việt trong tiểu thuyết

của nguyễn xuân khánh

(qua hai tác phẩm Mẫu th ợng ngàn và đội gạo lên chùa)

CHUYấN NGÀNH: Lí LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Lấ VĂN DƯƠNG

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

6 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT 1.1 Bản sắc văn hóa Việt - đối tượng tìm hiểu, khám phá của văn hóa học và văn học nghệ thuật Việt Nam 11

1.1.1 Khái niệm bản sắc văn hoá và bản sắc văn hoá Việt 11

1.1.2 Bản sắc văn hóa Việt - đối tượng tìm hiểu, khám phá của văn hóa học 13

1.1.3 Bản sắc văn hóa Việt - đối tượng tìm hiểu, khám phá của văn học nghệ thuật……… 15

1.2 Sự tiếp nối của Nguyễn Xuân Khánh ở đề tài lịch sử - văn hóa Việt bằng hình tượng nghệ thuật 17

1.2.1 Nguyễn Xuân Khánh - con người, cuộc đời và văn chương 17

1.2.2 Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa - hai tác phẩm sáng giá trong hành trình sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh 20

1.2.3 Lý giải bản sắc văn hóa Việt - một nhu cầu nổi bật trong Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa 24

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT TRONG HAI TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA 2.1 Đạo Mẫu - hiện tượng văn hóa thuần Việt 30

2.1.1 Đạo Mẫu là đạo dân gian 31

2.1.2 Vẻ đẹp tín ngưỡng thờ Mẫu trong Mẫu Thượng Ngàn 35

2.2 Sự Việt hóa hiện tượng tín ngưỡng Phật giáo 42

2.3 Sự tồn tại bền bỉ của cộng đồng làng xã trong văn hóa Việt 58

2.4 Gợi mở những vấn đề lịch sử- văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa 65

Trang 3

TRONG HAI TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA

3.1 Xây dựng không gian văn hóa Việt 73

3.1.1 Không gian văn hóa của các lễ hội truyền thống 73

3.1.2 Không gian huyền ảo, linh thiêng của đời sống tôn giáo 75

3.2 Bản sắc văn hóa thể hiện qua việc xây dựng hệ thống nhân vật nữ 81

3.2.1 Nhân vật nữ với sự hài hòa giữa vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn 81

3.2.2 Nhân vật nữ - người lưu giữ sức sống văn hóa Việt 85

3.3 Ngôn từ 92

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lịch sử và văn hóa Việt là một trong những vấn đề có sức hấp dẫn vàcuốn hút đối với nhiều nhà văn, nhà thơ nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung 1.2 Trong số những nhà văn thành công về mảng đề tài này không thể

không nhắc đến Nguyễn Xuân Khánh với hai tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn (NXB Phụ nữ, 2005) và Đội gạo lên chùa (NXB Phụ nữ, 2011) và trước đó là tác phẩm Hồ Quý Ly (cũng NXB Phụ nữ, 2000) Mẫu Thượng Ngàn và Đội

gạo lên chùa tiếp tục khám phá cội nguồn và vẻ đẹp văn hóa dân tộc Và cả

hai đều được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn ViệtNam vào các năm 2006, 2011

1.3 Nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt qua hai tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn

và Đội gạo lên chùa cũng nhằm nhìn rõ hơn đóng góp của Nguyễn Xuân

Khánh đối với văn học Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng văn học khá nổi bật trong nhữngnăm gần đây Mặc dù xuất hiện trong làng văn từ rất sớm khoảng những năm

50 của thế kỷ XX nhưng khi tuổi đã cao ông mới thành công với bộ ba tiểu

thuyết: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa cùng với hàng loạt

giải thưởng văn học danh giá trong nước Ba cuốn tiểu thuyết này đã thu hútđược sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu, phê bình văn học Năm 2000,

tiểu thuyết Hồ Quý Ly ra đời đã có không ít những ý kiến góp ý, phê bình Bài

viết của các nhà nghiên cứu liên tục xuất hiện trên các báo, đặc biệt trong cuộc

hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly đăng trên báo Văn nghệ, số 41, 2000 Rất

Trang 5

nhiều nhà văn phát biểu, tranh luận: Nhà văn Hoàng Quốc Hải với bài Những

điều khả ái trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh; nhà

văn Trần Thị Trường đọc tham luận Những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ

Quý Ly; nhà văn Châu Diên với Tiểu thuyết Hồ Quý Ly và tư chất nhà văn trong Nguyễn Xuân Khánh; nhà văn Hoàng Tiến: Thân phận kẻ sĩ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly

Trần Thị Trường trong bài Những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý

Ly đã đưa ra những ý kiến xác đáng về cách xây dựng nhân vật nữ của Nguyễn

Xuân Khánh: “ Mười bốn người phụ nữ, mười bốn số phận, mười bốn tính

cách và mười bốn lối ứng xử, để rồi có mười bốn kết cục”.Theo bà Nguyễn

Xuân Khánh đã “ chiêm ngẫm được cả những ý nghĩ trong cõi thẳm sâu tâmhồn người khác” [61]

Châu Diên trong bài tham luận về tiểu thuyết Hồ Quý Ly cũng khẳng

định thành công của Nguyễn Xuân Khánh ở nhiều phương diện, đặc biệt ôngnhấn mạnh: “Nói đến cách sáng tạo nhân vật, ta sẽ không thể nào quên cônglao của Nguyễn Xuân Khánh trong việc tạo ra nhân vật chính Hồ Quý Ly Đó

là một con người có nhiều phẩm chất ”

Nguyễn Diệu Cầm trong bài Tiểu thuyết lịch sử đang hấp dẫn trở lại nêu lên điểm nổi bật về thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết Hồ Quý Ly:

“Không phải ngẫu nhiên, Hồ Quý Ly lôi cuốn trước hết ở cấu trúc vòng tròn,

mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh gọi là Thủ vĩ ngâm, với chương I mở đầu bằng Hội thề Đồng Cổ và chương VIII kết thúc bằng Hội thề Đốn Sơn Để có

được kết cấu tiểu thuyết khiến người đọc bị lôi cuốn không dứt ra được ấy,Nguyễn Xuân Khánh đã phải ba lần viết đi viết lại trong những năm1978,1985, 1995, chưa kể chính ông đã bị thu hút bởi nhân vật lịch sử Hồ

Quý Ly ngay từ những năm 1970 Cấu trúc vòng tròn trong tiểu thuyết Hồ

Quý Ly đã dẫn dụ độc giả theo dòng sự kiện lịch sử, lại theo dòng thời gian

Trang 6

tiểu thuyết của một lối viết hiện đại Lối viết này vừa tuân thủ thời gian

“chương hồi” của tiểu thuyết phương Đông, vốn tôn trọng sự kiện và conngười lịch sử, nhưng lại khéo kết hợp với một cách xử lý phương Đông, khitác giả không miêu tả trực diện nhân vật chính Hồ Quý Ly từ đầu đến cuối,

mà miêu tả Hồ Quý Ly qua nhiều điểm nhìn” [9]

Hòa Vang trong bài Hấp lực của Hồ Quý Ly (đăng trên Báo Phụ nữ

Việt Nam, số 48/ 2000 Trong bài viết này, Hòa Vang đã nhận ra nét độc đáo

về nghệ thuật xây dựng nhân vật Hồ Quý Ly: “Lực hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ

Quý Ly còn nằm trong thân phận, sự vận động của các hình tượng nhân vật…

mỗi người một số phận, một tính cách, một dạng nổi trôi và vùng vẫy, một kếtcục, để mỗi người một nét vẽ nên cùng sinh động, rõ ràng và bi hùng mộthoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong đó những người yêu thương kính mộ của mình

và mình không thể không bị cuốn vào Cảm hứng bay vút và sâu thẳm vớithiên nhiên, với cây, lá, hoa, sóng gió, những làn hương mong manh thấmđẫm trong từng trang sách, lại thấm ướt cả một thời đại chông chênh, quặn

nở, tỏa đều trong từng nhân vật đang vật vã quay cuồng, trôi dạt giữa nhữngcơn sóng của lịch sử, là những hấp lực không thể cưỡng lại của cuốn tiểu

thuyết lịch sử đang gây ấn tượng trong lòng người đọc hôm nay: Hồ Quý Ly

của Nguyễn Xuân Khánh” [62, 48]

Ngoài ra còn có một số bài nghiên cứu khác như: Hồ Quý Ly tiểu thuyết

lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh của Lại Nguyên Ân (Báo Thể thao và Văn

hóa, số 58, 21/ 07/2000), Tiểu thuyết của Hồ Quý Ly thưởng thức và cảm nhận của Hoàng Cát (Tạp chí Sách, số 11/2000); Mắt bão giữa trần ai của Đỗ Ngọc Yên (Báo Sức khỏe đời sống, số 74, ra ngày 13/09/2000); Đọc tiểu thuyết Hồ

Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh (Báo Xưa và Nay, số 80, 10/2000); Đọc Hồ Quý Ly của Phạm Xuân Nguyên (Tạp chí Tia sáng, 1/2001)…

Trang 7

Năm 2006, tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn ra đời, tiếp tục là đối tượng

để các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Hàng loạt các bài viết về Mẫu

Thượng Ngàn xuất hiện trên báo viết lẫn trên báo mạng như: Trần Thị An với

bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 6/ 2007; Sức quyến rũ của Mẫu

Thượng Ngàn của tác giả Vũ Hà; Mẫu Thượng Ngàn- Nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh trong cuộc trao đổi giữa Việt Báo với nhà nghiên

cứu- phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên; Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và

cuốn tiểu thuyết mới của tác giả Quỳnh Châu; Mẫu Thượng Ngàn- Cơ duyên của Nguyễn Xuân Khánh của Hòa Bình; Văn Chinh với Nơi bắt đầu Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (Báo Tiền phong cuối tuần, số

11/2007); Nỗi đau lịch sử và sự đổi thay của Yến Lưu; …Trong đó, đáng chú

ý có một số bài nghiên cứu đề cập đến trực tiếp đến thủ pháp và nội dung củatác phẩm:

Trong bài Sức quyến rũ của Mẫu Thượng Ngàn, Vũ Hà nhận xét một cách khái quát về tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn: “Là cuốn tiểu thuyết về văn hóa

phong tục Việt Nam được thể hiện qua cuộc sống và những người dân ở một

làng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” và “Mẫu Thượng

Ngàn cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử về Hà Nội cuối thế kỷ XIX” [23]

Trong bài Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội, 2006, tác giả Lưu Hà nhận xét về Mẫu Thượng Ngàn:“Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh

vừa mới phát hành đã nhanh chóng gây được dư luận Cuốn tiểu thuyết mangtính lịch sử, văn hóa, phong tục có vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại Văn hóaViệt, tín ngưỡng Việt và cuộc hòa nhập với văn minh phương Tây, đồng thời

là sự phản kháng, được mô tả sâu đậm và quyến rũ Cuốn sách ra đời sau tiểu

thuyết Hồ Quý Ly (2001) chứng tỏ bút lực dồi dào của nhà tiểu thuyết Nguyễn

Xuân Khánh”, và “chọn chủ đề nông thôn Việt, mà lại viết về văn hóa làng,

Trang 8

văn hóa đạo Mẫu- thì quả đúng điển hình Việt Nam nhất Sự kiện nhà văn

Nguyễn Xuân Khánh ở tuổi 75 vừa cho ra đời cuốn tiểu thuyết thứ 4- Mẫu

Thượng Ngàn càng chứng tỏ ông là một tiểu thuyết gia am hiểu tường tận văn

hóa Việt” Trong bài Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh:“về từ miền hoang

tưởng”, tác giả Lê Thị Thanh Bình nhận xét: “Tiểu thuyết văn học trong độ

mười năm năm lại đây nếu không có Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn thì

thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam thiếu đi biết bao nhiêu cái bản sắc sangtrọng của bản sắc văn hóa Việt thấm đẫm trong văn học Việt.”

Ngoài ra còn một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu Hồ Quý Ly và Mẫu

Thượng Ngàn như:

Hoàng Thị Thúy Hòa (2007), trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học

Vinh với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh khẳng định

hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh trong dòng văn học đương đại Trên cơ sởkhảo sát, phân tích và luận giải hướng khai thác các vấn đề lịch sử và hư cấulịch sử trong sáng tạo tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh qua hai tác phẩm

Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn.

Lê Thị Thúy Hậu (2009), trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học

Vinh với đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu

Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật

trong hai tiểu thuyết đó trên các mặt: Nhân vật, không gian- thời gian, giọngđiệu, ngôn từ, kết cấu và nghệ thuật trần thuật Luận văn khẳng định hai tiểuthuyết này có những đóng góp lớn cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Đào Thị Lý (2010), trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Đại học Vinh với

đề tài Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (Qua hai tác phẩm

Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn) tập trung nghiên cứu về nghệ thuật xây

dựng nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và kiểu “nhân vật văn hóa” trong Mẫu Thượng Ngàn.

Trang 9

Năm 2011, Đội gạo lên chùa ra mắt bạn đọc tuy có những thành công

vang dội và nhận được sự quan tâm từ độc giả cũng như các nhà nghiên cứu,phê bình nhưng do thời gian xuất hiện chưa lâu nên chưa có công trình nghiêncứu chuyên sâu nào dành cho tác phẩm này Mà chỉ có một số bài đăng trên

báo viết và báo điện tử như: Tiểu thuyết như một tham khảo Phật giáo (Đọc

Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh) của Mai Anh Tuấn (2011); Nguyễn Xuân Khánh Đội gạo lên chùa của Thu Hà (báo Tuổi trẻ online,

2011); Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Đội gạo lên chùa của Hoài Thương (báo Thể thao Văn hóa 2011); Kiến giải về dân tộc trong Đội gạo lên chùa của

Nguyễn Xuân Khánh của Đoàn Ánh Dương (Văn nghệ, 27/2011); Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt qua tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh của Văn Chinh, (Văn nghệ, số 6/ 2012); Gừng già mới cay của Hoài

Nam (Báo An ninh thế giới giữa tháng, số 50/ 2012)

Ngàn và Đội gạo lên chùa nói riêng

Bản sắc văn hóa Việt trong hai tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn và Đội

gạo lên chùa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu như: Trần

Thị An với bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu

Thượng Ngàn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 6/ 2000; Nguyên lý tính Mẫu trong truyền thống của Dương Thị Huyền; Châu Diên (2006), Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc, Báo Tuổi trẻ v.n; Mai

Anh Tuấn (2011), Tiểu thuyết như một tham khảo Phật giáo (Đọc Đội gạo

lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh); Kiến giải về dân tộc trong đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh của Đoàn Ánh Dương (Văn nghệ,27/ 2011); Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt qua tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh của Văn Chinh (Văn nghệ, 6/ 2012)

Trang 10

Tác giả Trần Thị An, với bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian

trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học,

số 6/2007, đã đặt không gian của cuốn tiểu thuyết trong bối cảnh văn hóa dângian Việt Nam và nghiên cứu tiểu thuyết trong mối liên hệ với thực tế cácphong tục tập quán truyền thống xưa của dân tộc Việt như tục thờ cúng báchthần và tín ngưỡng vật linh, gắn huyền thoại ông Đùng bà Đà với tín ngưỡngphồn thực Qua đó bước đầu nhìn nhận quan điểm của nhà văn về tínngưỡng dân gian của người Việt Tín ngưỡng dân gian ấy được tác giả, nhìnnhận như “một nội lực cố kết cộng đồng là phản lực tự vệ của một dân tộc

là vô thức cộng đồng cần khai phóng ” Cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn

là một tư liệu đáng quý mở đầu cho những ai muốn tìm hiểu về Đạo Mẫu, đặcbiệt là văn hóa lên đồng của người Việt: “Về tín ngưỡng này, Nguyễn XuânKhánh đã đề cao sự hấp dẫn, thu hút của nó đối với đám đông với những phép

lạ hiện hữu, hơn thế nữa, ông còn đề cao sự an ủi, sự cứu rỗi, giá trị thanh tẩycao quý của nó thông qua trải nghiệm của người trong cuộc” [1, 36]

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê nhận định: Đội gạo lên chùa là cuốn sách

có sức nặng, rất nặng- cả về nghĩa đen và nghĩa bóng Vì tiểu thuyết dày tới

860 trang- hơn cả Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn - và qua số phận hàng

chục nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ, tác giả miêu tả những biến độngcủa xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến sau ngày đất nướcthống nhất, đụng chạm đến rất nhiều vấn đề văn hóa - xã hội, triết lý nhânsinh… Những năm vừa qua, không ít tiểu thuyết đã viết về đề tài tương tự,nhưng khác với các nhà văn khác, Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa vànhững nhà sư trong bối cảnh đó, lấy Phật giáo làm điểm nhìn để soi rọi, suy

ngẫm về các sự kiện đó Đội gạo lên chùa có ý nghĩa sâu rộng hơn, chạm đến

những vấn đề muôn thưở của kiếp người…

Trang 11

Mai Anh Tuấn, trong bài Tiểu thuyết như một tham khảo Phật giáo (Đọc Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, đăng trên Tạp chí Nhà văn, 2011) viết: Đội gạo lên chùa là cuốn tiểu thuyết ngay từ tiêu đề, đã

tiết lộ một dấu chỉ Phật giáo và vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri thứctiếp nhận thuộc chốn cửa thiền, một không gian văn hóa riêng biệt Mai

Anh Tuấn đã khẳng định: “Phật giáo trong Đội gạo lên chùa là Phật giáo

làng quê ”, đã nhận thấy ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh sắp xếpcác sự kiện lịch sử nổi bật của thế kỉ XX trong tương quan đối sánh với sựtồn tại của Phật giáo làng quê để từ đó tiến tới khẳng định “Phật giáo làmột lối sống tốt đẹp lành mạnh nhất”

Theo nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Đội gạo lên chùa đã phản ánh nền

Phật giáo Việt Nam, nền phật giáo du nhập nhưng đã được Việt hóa” Nhàvăn Hoàng Quốc Hải nhận xét: “Anh luôn đụng đến những vấn đề bản chất

của văn hóa Việt, đó là Mẫu Thượng Ngàn - hiện tượng văn hóa thuần Việt,

và giờ đây là đạo Phật - hiện tượng văn hóa du nhập nhưng đã được Việt hóa

Đội gạo lên chùa là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ

của văn hóa Việt đang bị phá hủy, đang dần biến mất”

Trong tiểu luận Gừng già mới cay, đăng trên báo An ninh thế giới giữa tháng, số 50, 3/ 2012, Hoài Nam đã đặt Đội gạo lên chùa trong bối cảnh của

tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: “Thứ nhất, nó cho thấy rằng một lối viết đặcsệt cổ điển vẫn có thể làm một tác phẩm hay Vấn đề nằm ở nội lực văn hoá

và khả năng sáng tạo của người viết chứ không phải ở những thứ “isme” thờithượng nào đó Thứ hai, một cách ngẫu nhiên, nó chỉ ra một mảng trống củavăn học Việt Nam: tiểu thuyết phong tục - văn hoá Phong tục - văn hoá cóthể là nhân vật chính chứ không chỉ là cái phông nền hay nét điểm xuyết nàotrong tác phẩm, tại sao không? Điều này đã có được sự thành công của tiểuthuyết phong tục - văn hoá trong văn học Trung Quốc hiện đại minh chứng,

Trang 12

và cũng chính là điều mà Nguyễn Xuân Khánh làm được qua tiểu thuyết Mẫu

Thượng Ngàn, rồi bây giờ là tiểu thuyết Đội gạo lên chùa”.

Các bài báo ngắn và một số luận văn về Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo

lên chùa trích dẫn trên tập trung nghiên cứu hai tác phẩm trên cả phương diện

nội dung và nghệ thuật, đồng thời chỉ ra những thành công ban đầu của haitiểu thuyết Nhưng trong số những tài liệu chúng tôi có trong tay chưa cócông trình nghiên cứu nào đi vào tìm hiểu một cách toàn diện về bản sắc văn

hóa Việt qua hai tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Bản sắc văn hóa Việt trong hai tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội

gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

3.2.1 Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của

Nguyễn Xuân Khánh

3.2.2 Ngoài ra luận văn còn khảo sát thêm tiểu thuyết Hồ Quý Ly cũng của

Nguyễn Xuân Khánh và một số tác phẩm của một số nhà văn khác có liên quan

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nhằm tìm hiểu:

- Một số vấn đề nổi bật về bản sắc văn hóa Việt trong hai tiểu thuyết

Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

- Nghệ thuật thể hiện bản sắc văn hoá Việt trong hai tiểu thuyết Mẫu

Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh.

- Sự đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh cho văn học Việt Nam đươngđại qua mảng đề tài này

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

5.2 Phương pháp đối chiếu, so sánh

5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn

được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh và vấn đề bản sắc văn hóa ViệtChương 2 Một số vấn đề nổi bật về bản sắc văn hóa Việt trong hai tiểu

thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

Chương 3 Nghệ thuật thể hiện bản sắc văn hóa Việt trong hai tiểu

thuyết Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

Trang 15

Chương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH

VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT

1.1 Bản sắc văn hóa Việt - đối tượng tìm hiểu, khám phá của văn hóa học

và văn học nghệ thuật Việt Nam

1.1.1 Khái niệm bản sắc văn hoá và bản sắc văn hoá Việt

Ở Việt Nam đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu luận bàn

về khái niệm hay định nghĩa về bản sắc văn hoá Trương Hữu Quýnh đã nói:

“Cái chung cơ bản là con người Còn cái riêng khác biệt thể hiện trong vănhoá là cái bản sắc Vậy có thể hiểu bản sắc dân tộc (hay bản sắc văn hoá dântộc ) là những biểu hiện giá trị tinh thần hay vật chất nói lên đặc điểm của mộttộc người nhất định, phân biệt họ với các tộc người khác ” [42, 154] Phạm

Vũ Dũng trong Hỏi và Đáp về cơ sở văn hoá Việt Nam nêu định nghĩa: “Bản

sắc văn hoá dân tộc là hệ thống những đặc tính bên trong, những sắc tháiriêng có tính gốc nguồn, gắn với những đặc tính của chủ thể, trở thành nguồncội, khuôn mặt, nền tảng, bản thể của một nền văn hoá; là căn cước, là chứngminh thư của văn hoá bất kỳ dân tộc nào Nó chính là cái để phân biệt văn hoádân tộc này và văn hoá dân tộc khác, khiến cho văn hoá của dân tộc nàykhông là “cái bóng” của văn hoá dân tộc khác và ngược lại ” [14, 22]

Ngô Đức Thịnh trong bài viết Văn hoá dân gian và văn hoá dân tộc

khẳng định: “Bản sắc văn hoá là gì? Đó là tổng thể các giá trị đặc trưng củavăn hoá dân tộc, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sửlâu dài của đất nước với các giá trị đặc trưng mang tính bền vững, trường tồn,trừu tượng và tiềm ẩn Do vậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn cácsắc thái văn hoá, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hoá” [66] CònNguyễn Khoa Điềm lại phát biểu: “Nếu như văn hoá là cái chuông thì bản sắc

Trang 16

văn hoá là tiếng chuông vậy Cũng như tiếng chuông, bản sắc văn hoá giúp tanhận ra những vẻ đẹp tinh thần sâu xa của mỗi dân tộc” [21, 46].

Civillawinfor trong Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong

quá trình giao lưu hội nhập cho rằng: “Bản sắc văn hoá dân tộc là cái “hồn”,

là sức sống nội sinh, là cái thẻ “ căn cước” của mỗi dân tộc để phân biệt dântộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể bộc lộ một cách toàn vẹn nhất sựhiện diện của mình trong quả trình giao lưu và hội nhập” [67]

Phan Ngọc lại khẳng định: “ Nói đến bản sắc văn hoá tức là nói đến cáibất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử Dĩ nhiên văn hoá làmột hệ thống những quan hệ, không phải là những vật Các hệ thống quan hệnày mang những tên gọi riêng, có thể chứa đựng những cách lí giải khác nhautrong cách biểu hiện qua các thời đại Cái tạo thành tính bất biến của hệ thốngquan hệ này là những nhu cầu của tâm thức người Việt Nam” [43,34]

Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra quan điểm của mình về bản sắc văn hoá,theo ông: “Bản sắc văn hoá của một dân tộc là các giá trị tinh thần tồn tạitương đối lâu bền hơn cả truyền thống văn hoá dân tộc ấy “Tương đối lâubền” nghĩa là bản sắc văn hoá vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi nhưng rấtchậm và khó khăn” [54, 34]

Đỗ Lai Thúy cũng cho rằng: “Tính dân tộc của người Việt hoặc bản sắcvăn hoá Việt được hình thành trong quá trình lịch sử và thay đổi theo lịch sử”[61, 266] Như vậy ông cũng quan niệm bản sắc văn hoá cũng luôn có sự điềuchỉnh, biến đổi, chọn lọc

Từ đó, ta có thể thấy rằng mỗi nhà nghiên cứu tuỳ theo tư duy của mình

mà có những khái niệm bản sắc văn hoá riêng Qua quá trình tìm hiểu ta thấybản sắc văn hoá là cái cốt lõi, cái đặc trưng riêng của một cộng đồng văn hoátrong lịch sử tồn tại và phát triển, giúp phân biệt dân tộc này với dân tộc khác.Bản sắc văn hoá dân tộc không phải là cái ngưng đọng, bất biến mà luôn phát

Trang 17

triển một cách biện chứng theo xu hướng tích lũy, thu nạp những điều tốt đẹp,tiến bộ, sa thải những cái xấu, cái lạc hậu, không phù hợp với thời đại Trảiqua hàng ngàn năm lịch sử, văn hoá Việt Nam đã vượt qua sự bị động để tiếpthu tinh hoa văn hoá của nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình Nó cóthể bao gồm: cội nguồn, cách tư duy, cách sống, dựng nước, giữ nước, sángtạo văn hoá, khoa học - nghệ thuật, phong tục, tập quán, lễ hội, ngôn ngữ, vănchương Bản sắc văn hoá có hai quan hệ cơ bản: Quan hệ bên ngoài là dấuhiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau và quan hệ bên trong chỉ tính đồngnhất mà mỗi cá thể trong cộng đồng đều phải có.

1.1.2 Bản sắc văn hóa Việt - đối tượng tìm hiểu, khám phá của văn hóa học

Bản sắc văn hoá Việt Nam là đối tượng chính mà văn hoá học lấy làmđối tượng tìm hiểu khám phá Văn hoá học qua các phương thức, phươngpháp đã làm nổi bật bản sắc văn hoá Việt Nam với những đặc trưng riêng biệtcủa văn hoá Việt Nam mà không trộn lẫn với bất kỳ một nền văn hoá nàokhác Có rất nhiều nhà nghiên cứu như Đào Duy Anh, Phan Ngọc, Trần Ngọc

Thêm Với những công trình nghiên cứu như Việt Nam văn hoá sử cương;

Bản sắc văn hoá Việt Nam; Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam đã giúp chúng

ta hiểu rõ về bản sắc văn hoá dân tộc mình

Cuốn sách Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (Nxb Văn

học, 2010) được tác giả hoàn thành vào năm 1938 là công trình nghiên cứu cótính chất tạo nền móng cho sự hình thành một ngành khoa học có tên là Vănhoá học Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu miệt mài, đầy nhiệthuyết của tác giả đối với nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh giao lưumạnh mẽ với văn hoá phương Tây Khi mà văn hoá Việt Nam có nguy cơ

bị lấn lướt bởi âm mưu đồng hoá của kẻ thù Tác giả nhận ra “cái bi kịchhiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ truyền của vănhoá cũ ấy với những điều mới lạ của văn hoá Tây phương Cuộc xung đột

Trang 18

ấy sẽ giải quyết thế nào, đó là vấn đề quan hệ đến sự sinh tử tồn vong của dântộc ta vậy” [2, 5] Với mục đích là để nhận rõ nội dung của văn hoá xưa và giátrị của văn hoá mới, tác giả đã nghiên cứu và khẳng định: Văn hoá tức là sinhhoạt Từ đó chia Văn hóa làm ba bộ phận: 1 - Kết quả sinh hoạt; 2 -Xã hộisinh hoạt 3 - Trí thức sinh hoạt.

Với cách phân chia ấy, tác giả làm rõ những nội dung cơ bản của phạmtrù văn hoá

Sau này có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá khác như

Bản sắc văn hoá Việt Nam của Phan Ngọc Ở cuốn sách này với sự nhất

quán trong phương pháp nghiên cứu và khái niệm, tác giả đã trình bàytrong 16 chương chia thành 4 phần: Phần 1 Những khái niệm mở đầu;Phần 2 Giao lưu văn hoá; Phần 3 Cách nhìn văn hoá học; Phần 4 Bảo vệ

và phát huy văn hoá

Có thể nói Bản sắc văn hoá Việt Nam là công trình nghiên cứu tương

đối đầy đủ về văn hoá Việt Nam, có ý nghĩa lớn cho bạn đọc trong quá trìnhtìm hiểu và nghiên cứu về văn hoá Việt Nam

Còn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam của Trần ngọc Thêm cũng là

công trình được nhiều độc giả đón đọc, đặc biệt còn được dùng làm giáo trình

để cho sinh viên học tập Tác giả đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để làm

rõ bản sắc văn hoá Việt Nam ở nhiều phương diện: Từ văn hoá nhận thức đếnvăn hoá tổ chức cộng đồng, trong đó vừa có tổ chức đời sống tập thể và đờisống cá nhân Ngoài ra tác giả còn làm rõ văn hoá ứng xử với môi trường tựnhiên và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội GS Phạm Đức Dương đãdành những lời bình luận rất xác đáng về công trình này: “Với trên 600 trangsách đầy ắp các tri thức, các dữ kiện tổng hợp từ rất nhiều công trình ĐôngTây kim cổ thuộc nhiều lĩnh vực văn hoá khác nhau, tác giả đã xâu chuỗi các

Trang 19

sự kiện thành một bức tranh tổng quan về văn hoá với cách trình bày hết sứcmạch lạc, sáng rõ ” [54, 681].

Ngoài ra, nhiều công trình khác như Văn hoá Việt Nam và cách tiếp

cận mới của Phan Ngọc, Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á của

Phạm Đức Dương đã góp phần làm rõ văn hoá Việt Nam và bản sắc của vănhoá dân tộc ta

1.1.3 Bản sắc văn hóa Việt - đối tượng tìm hiểu, khám phá của văn học

nghệ thuật

Từ lâu, bản sắc văn hóa Việt là một đối tượng được nhiều nhà văn, nhàthơ, tìm cách lý giải trong các tác phẩm của mình Đó là một vấn đề có sứchấp dẫn và cuốn hút đối với các văn nghệ sĩ nói chung Dù lấy con người làmtrung tâm nhưng qua việc phản ánh con người trong các mối quan hệ xã hộicũng góp phần làm toát lên được bản sắc văn hoá Việt Nam Như trong truyền

thuyết Con Rồng cháu Tiên đã làm nổi bật được cội nguồn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam Truyền thuyết Bánh chưng, bánh dày đã cho ta thấy

rõ nền văn minh nông nghiệp lúa nước từ xa xưa cùng với nét văn hoá đặc

trưng trong phong tục gói bánh chưng, bánh dày Trong Bình Ngô đại cáo,

Nguyễn Trãi đã rất tự hào về truyền thống văn hóa có từ lâu đời của dân tộcViệt Nam:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên làm Đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Trang 20

Các tác phẩm của Nguyễn Trung Thành vừa làm rõ bản sắc văn hoácủa vùng Tây Nguyên vừa khái quát được truyền thống đánh giặc, sức sốngmãnh liệt của con người Việt Nam khi đối diện với giặc ngoại xâm Trong

trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, đã khơi gợi lại lịch sử

bốn nghìn năm của dân tộc, một nền văn hoá đậm đà bản sắc, một diện mạocủa Việt Nam rất riêng, rất đặc biệt:

Để Đất nước này là Đất nước của Nhân dân

Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại

Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu

Bên cạnh đó, nhiều nhà văn, nhà thơ đã xem văn hoá và bản sắc văn hoá

là đối tượng phản ánh trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Hà Nội, mảnh đấtkinh kỳ, ngàn năm văn hiến, nơi tập trung những giá trị văn hoá của cả dân tộc,

là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ.Viết về nét đẹp văn hoá

của Hà Nội là viết về vẻ đẹp văn hoá Việt Nam Một Hà Nội Vang bóng một

thời trong con mắt của một “tao nhân mặc khách” Nguyễn Tuân; một Hà Nội

trong niềm khắc khoải Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng; một Hà Nội trong

chiều sâu thăm thẳm lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng; một Hà Nội trong sự bất

tử in dấu thời gian bởi Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài Tác phẩm Vang bóng

một thời của Nguyễn Tuân gồm 11 truyện ngắn viết về một thời đã xa với các

giá trị văn hoá đẹp đẽ Nhân vật trung tâm trong các truyện ngắn này là các nhànho tài hoa gặp “buổi Tây Tàu nhố nhăng, làm lạc cả quan niệm cũ, làm tiêuhao mất bao giá trị tinh thần” Họ tìm cách giữ lại vẻ đẹp xưa trong văn hoádân tộc: Thưởng hoa, uống rượu “Thạch lan hương”, họ nhấm nháp chén tràbuổi sớm với tất cả nghi lễ thiêng liêng Rất nhiều thú vui tao nhã, rất nhiều

Trang 21

nét đẹp văn hoá được Nguyễn Tuân làm sống dậy như: Uống rượu thả thơ,thưởng hoa, nghệ thuật Thư pháp Cũng lấy văn hoá dân tộc làm đối tượng

phản ánh, nhà văn Thạch Lam cho ra mắt độc giả thiên tuỳ bút Hà Nội băm

sáu phố phường Tập tuỳ bút gồm 20 bài ngắn, trong đó 2 bài nói về không

gian công cộng, 2 bài nói về chợ, không khí thương mại, còn bao nhiêu nói vềquà Hà Nội Đến với băm sáu phố phường Hà Nội, Thạch Lam không chỉmuốn khám phá vẻ đẹp của người Hà Nội qua con mắt “trông nhìn” mà sâuhơn còn qua sự “thưởng thức” Bởi vậy cảm hứng của ông ở thiên tuỳ bút nàyphần lớn dành cho văn hoá ẩm thực của người Hà Nội Các “thức quà” của HàNội dưới ngòi bút của Thạch Lam không chỉ đơn thuần là một miếng ăn thuầntúy mà sâu hơn là các giá trị tinh thần, là những nét đẹp văn hoá, không chỉ chohiện tại mà còn lưu giữ đến muôn đời sau

Nói tóm lại, bất kỳ một nhà văn, nhà thơ nào cũng xem bản sắc văn hoáViệt Nam là đối tượng cần tìm hiểu, khám phá và bản sắc văn hoá Việt Namcũng là yêu cầu cần có đối với một tác phẩm văn chương chân chính Tiếpcận và thưởng thức tác phẩm văn học nghệ thuật chúng ta sẽ có cái nhìn baoquát, sắc nét về bản sắc văn hoá Việt Nam

1.2 Sự tiếp nối của Nguyễn Xuân Khánh ở đề tài lịch sử - văn hóa Việt bằng hình tượng nghệ thuật

1.2.1 Nguyễn Xuân Khánh - con người, cuộc đời và văn chương

1.2.1.1 Con người, cuộc đời Nguyễn Xuân Khánh

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có bút danh là Đào Nguyễn Ông sinhnăm 1932, tại quê ngoại phố Huế - Hà Nội nhưng quê nội của ông lại ở CổNhuế - Từ Liêm - Hà Nội Có người cho rằng, nhà văn Nguyễn Xuân Khánhtuổi Nhâm Thân, tuổi Thân vất vả nhưng do mệnh Kiếm Phong Kim nên dẫuthế nào cũng nên nghiệp lớn Ông vốn yêu văn chương từ nhỏ Từ năm 12tuổi đã đọc sách rất nhiều Lớn lên đi bộ đội, làm người lính cầm súng rồi bắt

Trang 22

đầu cầm bút Bắt đầu viết từ năm 1957 Tập truyện ngắn đầu tay ra đời bị “tainạn nghề nghiệp”, hình như vào năm Dần, thuộc Tứ Xung, hạn lớn, phải rờikhỏi cơ quan nhà nước, xoay ra làm nghề may cộng thêm việc nuôi lợn đểlàm kế sinh nhai Điều này không chỉ mình ông Nhiều nhà văn thời đó, donóng lòng muốn nâng cao “chất lượng Người” một cách cả tin cũng từng gặplắm điều bất trắc Riêng Nguyễn Xuân Khánh, có thể do có chữ Nhâm nêngặp may hơn Được biết lúc bấy giờ, do “thương vì hạnh, trọng vì tài”, các chịtrong Ban biên tập Nhà xuất bản Phụ nữ đã bí mật giúp ông, bằng cách dànhcho ông việc dịch sách văn học nước ngoài, lấy bút danh gì đó để gia đìnhông có thêm thu nhập dù rất ít ỏi vì chế độ nhuận bút của nhà xuất bản trả chongười dịch quá thấp Và như thế, một công đôi việc, vừa để kiếm sống, traudồi văn chương và cũng vô tình họ đã âm thầm thắp lên ngọn lửa sáng tạotưởng đâu sắp lụi tàn trong tâm hồn đắng đót của ông Công việc dịch sách đãcứu giúp gia đình và bản thân ông, níu lại cho ông niềm tin trước cuộc đời,khiến ông bền bỉ hơn mà vượt qua vận bĩ

Quê nội của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là ở làng Cổ Nhuế, nơi cónghề may (hàng chợ) nổi tiếng, bấy giờ thuộc ngoại ô thành phố Ngày còn trẻNguyễn Xuân Khánh mê âm nhạc Ông là cây văn nghệ đàn hát tưng bừng,từng là sinh viên Đại học Y khoa Sau thời gian quân ngũ, nhà văn về làmviệc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Thiếu niên Tiền phong Tai nạnnghề nghiệp khiến Nguyễn Xuân Khánh phải nghỉ hưu sớm Trong thời gian

đó, vốn biết nghề may, ông đã cùng vợ con may áo bông chần (bằng vinilôngmàu đen, bên trong là chăn dạ cũ) bán ở chợ Giời Có người kể, ông là tay

nuôi lợn giỏi Có thể những chi tiết trong bản thảo Trư cuồng đã lấy từ một

thực tế đó chăng? Lại có người nói, thỉnh thoảng gặp ông xếp hàng bán máu ởbệnh viện, thi thoảng lại gặp ở chợ Giời, vợ ông đi trước, ông đi sau (áp tải,bảo vệ cho vợ và hàng hóa) Dân chợ Giời gọi vợ ông là “con phe” Áo

Trang 23

bludông của vợ chồng “con phe” thường bán được giá, nhưng Nguyễn XuânKhánh không say nghề may mà chỉ lấy đó để sống mà nuôi mộng mị Trongcuộc đời mộng mị ấy, Nguyễn Xuân Khánh thích nhất việc dịch sách, mặc dùphải dịch chui, phải lấy tên khác.

Hiện nay Nguyễn Xuân Khánh đang sống cùng gia đình tại ngõ phốTrần Khát Chân, kề Ô Đống Mác, Hà Nội, trong ngôi nhà cũ mới được sửanhờ tiền giải thưởng và tiền xuất bản sách Ở tuổi 70, ông mới trở thành hội

viên Hội Nhà văn Việt Nam sau những giải thưởng về Hồ Quý Ly.

Cuộc đời Nguyễn Xuân Khánh đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộcsống và trong nghề văn Dù cuộc đời nhiều vất vả gian truân nhưng tài năngcủa Nguyễn Xuân Khánh không hề bị thui chột Những năm tháng gian khổ

đó giúp ông làm giàu vốn sống, làm tăng khả năng viết Nguyễn Xuân Khánhtrở thành một hiện tượng trong đội ngũ tác giả tiểu thuyết nói riêng, của vănđàn Việt Nam hiện đại những năm đầu thế kỷ XXI nói chung

1.2.1.2 Sự nghiệp văn học

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đến với sáng tác văn chương từ gầngiữa thế kỷ trước nhưng mãi đến đầu thế kỷ XXI này, khi đã vào tuổi “xưa nayhiếm” ông mới thành danh Sở trường của ông là viết truyện ngắn và tiểu thuyết,trong đó, truyện ngắn không thực sự gây được ấn tượng đối với công chúng bạnđọc, nhưng tiểu thuyết thì được đón nhận một cách nồng nhiệt Ông rất say mê

dịch sách văn học nước ngoài Những tác phẩm dịch của ông bao gồm: Những

quả vàng của Nathalie Saraute, Lời nguyền cho kẻ vắng mặt của Taha Ben

Jelloun, Nhận dạng nam của Elizabeth Badinter, Người đàn bà ở đảo Saint

Dominique của BonaDominique Về truyện ngắn, có những tác phẩm đáng chú ý

như Rừng sâu (1963), Miền hoang tưởng (1990), Hai đứa trẻ và con chó Mèo

xóm núi (2002), Mưa quê (2003) Tiểu thuyết có bộ ba tiểu thuyết gây được

Trang 24

tiếng vang lớn trên văn đàn những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI là Hồ

Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2006) và Đội gạo lên chùa (2011)

1.1.1 Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa - hai tác phẩm sáng giá

trong hành trình sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh

Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Xuân Khánh chúng ta không thể

không kể đến Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa - hai tác phẩm đã khẳng định chỗ đứng của ông trên văn đàn Với hai cuốn tiểu thuyết Mẫu

Thượng Ngàn (2006) và Đội gạo lên chùa (2011), Nguyễn Xuân Khánh đã

được độc giả cũng như giới nghiên cứu thừa nhận là một nhà tiểu thuyết tàinăng, một tâm hồn nghệ thuật gắn bó với lịch sử và văn hóa Việt Nam đậm đàbản sắc dân tộc Một trong những yếu tố làm nên giá trị đặc sắc của hai tác

phẩm Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa là đã thể hiện một cách nhìn mới về văn hóa người Việt đậm đà bản sắc dân tộc Mẫu Thượng Ngàn của

Nguyễn Xuân Khánh là cuốn tiểu thuyết mang tính lịch sử văn hóa, phong tục

vừa có vẻ đẹp cổ điển, vừa hiện đại Tác phẩm, tiền thân là truyện Làng

nghèo, được tác giả thai nghén từ năm 1959 Bản thảo Làng nghèo bị thất lạc,

may mắn còn lại một bản ông Lê Bầu giữ được Trên cơ sở của Làng nghèo, Nguyễn Xuân Khánh mở rộng thành cuốn tiểu thuyết mới với tên mới Mẫu

Thượng Ngàn Tác phẩm đã đẩy lịch sử trở về thời Thực dân Pháp bắt đầu

xâm chiếm đất nước ta nhằm phản ánh giai đoạn giao lưu văn hóa Đông Tâyqua cưỡng chế bằng bạo lực Trong giai đoạn lịch sử này, bản sắc văn hóaViệt Nam được bộc lộ rõ rệt hơn

Tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh do Nhà

xuất bản Phụ nữ, xuất bản, năm 2006 là cuốn tiểu thuyết viết về đề tài văn hóaphong tục Việt Nam, được thể hiện qua cuộc sống của những người dân ở mộtlàng quê vùng bán sơn địa Bắc Bộ hồi cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Trongbối cảnh Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật bị gạt bỏ, đạo Thiên chúa lan

Trang 25

rộng, người dân quê trở về với đạo Mẫu, một tôn giáo có từ ngàn đời Mẫu

Thượng Ngàn còn là câu chuyện tình yêu của những người đàn bà Việt trong

khung cảnh một làng cổ Đó là tình yêu vừa bao dung, vừa mãnh liệt củanhững người phụ nữ với bao cay đắng nhưng đầy chất phồn thực, bi hài quyện

với mộng mơ và cao thượng Mẫu Thượng Ngàn cũng là cuốn tiểu thuyết lịch

sử về Hà Nội cuối thế kỷ XIX gắn với việc người Pháp đánh thành Hà Nội lầnthứ hai, việc xây Nhà thờ lớn, cuộc chiến tranh của nghĩa quân Cờ đen Lưu

Vĩnh Phúc với người Pháp… Có thể nói, chọn Mẫu Thượng Ngàn để bàn về

một vấn đề của văn hóa phong tục của người Việt Nam, Nguyễn Xuân Khánhmuốn bắt đầu cho một sự diễn giải về lịch sử và văn hóa Ông muốn đi sâuvào tận cùng sự hài hòa với thiên nhiên của con người Việt Nam, cội nguồntâm tính Việt Nam, nhằm biểu hiện cho được cái sức mạnh tiềm tàng nhưngmãnh liệt của dân tộc Từ cái nhìn về đạo Mẫu, với sự phổ biến của nó trongđời sống của nhân dân, lịch sử hiện lên trong hình dáng của thông sử, dã sử,

huyền sử, với sự khác biệt so với diễn ngôn phương Tây Trong Mẫu Thượng

Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đã từ bỏ dòng sự kiện chính sử, hướng tới một

lôgic lịch sử của những điều thường nhật, ông muốn hướng tới một cách diễngiải cá nhân về quá khứ dân tộc Đấy là những điểm độc đáo trong cách tiếp

cận lịch sử của tác giả trong Mẫu Thượng Ngàn.

Với tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, người đọc có dịp ngẫm nghĩ về

những thân phận người Việt Nam, sẽ thấy các nhân vật đúng như trong lịch sửcủa giai đoạn này, với những hương lý, kỳ hào trong một làng, với những tâm

tư của nghĩa quân chống Pháp thất trận, với những người đàn ông, đàn bà yêuthương, ghen ghét, giận hờn, với những ông Tây đầy tâm trạng khi đến sốngvới những con người Việt thuần phác và khó hiểu một thời

Trong Mẫu Thượng Ngàn không chỉ là một câu chuyện về Mẫu, mà còn

là những câu chuyện về tình yêu, về những người phụ nữ, và cả văn hóa làng

Trang 26

nữa.Câu chuyện về những người nông dân nghèo, những người luôn có ý thứcgiữ gìn những bản sắc dân tộc Việt.

Mẫu Thượng Ngàn chứng tỏ nội lực văn chương, tri thức, kiến văn và

cả tư chất của một nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Khánh Thật đáng nể khimột cuốn tiểu thuyết như vậy được viết bởi tác giả đã gần bảy lăm tuổi Cuốntiểu thuyết là một tư liệu đáng quý mở đầu cho những ai muốn tìm hiểu vềđạo Mẫu, đặc biệt là văn hóa lên đồng của người Việt

Năm 2011, khi nhà văn đã gần 80 tuổi này lại cho ra mắt cuốn tiểu

thuyết dày hơn 800 trang, Đội gạo lên chùa Tác phẩm được khơi nguồn cảm

hứng trong một lần nằm bệnh viện “Khoảng năm 1976 - 1977, nghi bị ungthư, tôi vào điều trị ở Bệnh viện E Nằm cùng phòng có sư chùa Cả (NamĐịnh), sư lại có chú tiểu theo chăm sóc, chú tiểu nguyên là bộ đội, giải ngũ

về, vào chùa Suốt một tháng, tôi rỉ rả tâm sự với hai người Rút tỉa từ câuchuyện đó cùng với câu chuyện của làng Cổ Nhuế (Từ Liêm - Hà Nội) quêtôi, từ những người thân của tôi như ông bố vợ trong cải cách ruộng đất từng

bị đi tù trên Tuyên Quang, nguyên mẫu sư ông là người họ hàng làng CổNhuế” Tác phẩm viết về ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trong đời sống

người dân Bắc Bộ trong thế kỉ XX Tác giả đã mượn tứ câu ca dao cổ: “Ba cô

đội gạo lên chùa, Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư…” để viết cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa Cuốn sách đã dẫn dắt độc giả vào cuộc phiêu lưu kì lạ, vượt

qua quãng thời gian dài của cuộc kháng chiến chống Pháp đến đầu hòa bìnhlập lại sau 1954 Hai chị em chú bé An, sau một trận càn dữ dỗi của giặcPháp, cha mẹ đều chết, đã phải bỏ quê hương trốn chạy Họ trôi dạt đến mộtngôi chùa, được sư cụ dang tay cứu vớt Số phận An được gắn với chùa Sọ và

làng Sọ, quê hương mới của An Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được viết theo

lối cổ điển, mang tính luận đề về ảnh hưởng của đạo Phật Sống động và giàusức thuyết phục, tiểu thuyết khắc họa sâu sắc nét đẹp của văn hóa Phật giáo

Trang 27

trong mạch nguồn văn hóa dân tộc Đội gạo lên chùa vẫn là câu chuyện về

một làng quê, chỉ khác là được nhìn từ một ngôi chùa hằng gắn bó với sốphận người nông dân và văn hóa làng Ông cho rằng, sứ mệnh của vănchương phải nói được những tầng sâu ẩn ngầm của dân tộc chứ không phảichỉ là vấn đề của từng cá nhân

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã dành bốn năm miệt mài đọc, nghiềnngẫm hàng vạn trang sách về Phật giáo từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây.Bằng chính những trải nghiệm của một người ở tuổi “ xưa nay hiếm”, ông đãtái hiện và kiến giải lịch sử Phật giáo và lịch sử tu hành dòng đạo này ở ViệtNam, đặc biệt là sự biến đổi và hòa nhập của Phật giáo vào đời sống thế tục

và tâm linh của Phật giáo trong dòng chảy văn hóa Việt truyền thống Tiến sĩNguyễn Văn Tùng nhận xét: “Tác phẩm lôi cuốn người đọc bởi lối viết truyềnthống, ngôn ngữ nhuần nhuyễn, lời văn đẹp và trau chuốt, cùng với vốn kiếnthức lịch sử phong phú Thông qua các nhân vật với đời sống nội tâm đadạng, tác giả cũng gửi gắm những triết lí nhân sinh về cuộc đời Và cảm hứngtôn giáo là cảm hứng chủ đạo của tác phẩm Tác phẩm đã làm rõ vai trò củaPhật giáo trong những khoảng thời gian khó khăn của hai cuộc chiến tranh.Đạo Phật giống như ngôi nhà cho những số phận đau thương, mất mát, nơigiúp đỡ họ vượt qua mọi nỗi đau, vươn lên trong cuộc sống”

Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Xuân Khánh, Mẫu Thượng Ngàn

và Đội gạo lên chùa là hai tác phẩm sáng giá nhất Mẫu Thượng Ngàn nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội, 2006; Đội gạo lên chùa nhận giải

thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, 2010 - 2011 Hai tiểu thuyết này đã nhậnđược rất nhiều sự yêu mến của đông đảo độc giả và Nguyễn Xuân Khánh đãgiành được những lời đánh giá, nhận xét tốt đẹp từ các nhà văn, nhà phê bìnhvăn học trong và ngoài nước Như vậy, chỉ trong mười năm ông đạt ba giảithưởng lớn mà trong lịch sử văn học ít người đạt được Nguyễn Xuân Khánh

Trang 28

trở thành một “hiện tượng” của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XXI, một nhàvăn thành công trong sáng tác khi tuổi đã cao

1.1.1 Lý giải bản sắc văn hóa Việt - một nhu cầu nổi bật trong Mẫu

Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa

Bạn đọc biết đến Nguyễn Xuân Khánh với tư cách là một nhà văn hóanhạy cảm với các vấn đề phát triển của văn hóa Việt Nam Con người ấy sốnggiữa lòng Hà Nội nhưng vẫn mang trong mình cái chân chất, mộc mạc củamột con người chân quê, luôn đau đáu trong ân tình không thể dứt với baonền tảng văn hóa của dân tộc Ông luôn day dứt trước những biến đổi của xãhội khiến cho bản sắc văn hóa Việt đang dần bị mai một

Trong hai tác phẩm, Nguyễn Xuân Khánh cho chúng ta thấy sự lưu giữnhững bản sắc văn hóa, những sinh hoạt, phong tục văn hóa rất đẹp và có giá trịcủa người Việt Điều quan trọng mà nhà văn muốn gửi gắm cho chúng ta, đóchính là sự tiếp biến của văn hóa trong quá trình giao lưu với các nền văn hóa

khác và trong quá trình biến thiên của lịch sử Từ Mẫu Thượng Ngàn đến Đội

gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh đã dùng văn chương phác họa rõ nét về văn

hóa Việt Nhà văn rất cần phải làm văn hóa, nói về văn hóa Ở Mẫu Thượng

Ngàn, tác giả Nguyễn Xuân Khánh tỏ ra là người nắm chắc và có chủ ý riêng về

những thứ bây giờ chúng ta đang quan tâm: cái gốc rễ, cái bản sắc, cái câu hỏicho cả dân tộc đang ở đâu và đang đi về đâu Đưa vào bối cảnh câu chuyện đang

kể, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh như muốn lý giải lịch sử cận đại và hiện đạicủa dân tộc ta Những câu chuyện như ẩn chứa câu hỏi: “ngoại xâm” hay giaolưu văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng hay cách nhìn nhận tâm linh con người trongnhững thế giằng xé của những kẻ có quyền có thế, của kẻ đi chinh phục, đi khaihóa văn minh và những con người hiền như đất chỉ biết có niềm tin và thường làthua thiệt vì niềm tin… Thông qua nhân vật, diễn biến chuyện, tác giả có vẻ nhưmuốn chứng minh cuộc giao thoa trong đó có tiếp nhận, có đào thải và trải

Trang 29

nghiệm đớn đau Không có kiến thức, dĩ nhiên không làm nên gì cả, nhưng ởđây thấy rõ để viết nó, tác giả Nguyễn Xuân Khánh đã có một vốn sống dày dặn,một trường cảm xúc mạnh mẽ và bền bỉ.

Khi đọc tác phẩm này, người mới tiếp xúc với nó, đều có cảm nhậnrằng tác phẩm này viết về một vấn đề văn hóa Việt Ngay bản thân tên tácphẩm cũng đã hướng người đọc theo cảm nhận này Những câu chuyện huyềnthoại, những truyền thuyết, những câu hát chầu văn đến các sinh hoạt hàngngày đều mang đậm đà những nét văn hóa của dân tộc đã trở thành bản sắc.Trong những câu hát ca trù của nhân vật như chìm đắm vào một thế giới khác,thế giới của sự tĩnh lặng, tình yêu thương và chan chứa những tâm tư lắngđọng cần phải giãi bày từ các nhân vật Những bản sắc văn hóa ấy đã ngự trịtrong lòng mỗi người dân Việt tự bao đời nay cho đến lúc con người lâm vàocảnh đường cùng nó lại dấy lên thành một niềm an ủi như là một chỗ dựa tinhthần Cứ xem cái cách mà tác giả miêu tả cảnh Trịnh Huyền và Điều bẫy chim

cu, hay cái cảnh gội đầu của Nhụ, cách pha trà, cách thưởng thức hương vịmật ong…mới thấy rằng chính những lúc lịch sử biến động thì con ngườicàng trân trọng những gì thuộc về bản sắc văn hoá - đó chính là sự chiếnthắng của một dân tộc biết được giá trị đích thực của mình - những giá trị màcàng bị vùi dập thì càng được đứng lên và khẳng định một cách mạnh mẽ

Quả vậy, nếu đi tìm một nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này hẳn ta

có thể khẳng định rằng đó là nền văn hóa Việt Để nắm bắt được “nhân vật”

vô cùng gần gũi và vô cùng kỳ ảo này Nguyễn Xuân Khánh phải thật sự đặt

nó vào hoàn cảnh nông thôn Bắc Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trongbối cảnh này bỗng bừng dậy một tôn giáo nảy sinh và thấm sâu âm thầm có lẽ

từ thủa mới hình thành của dân tộc - đạo Mẫu rất Việt, rất phương Nam, rấtdồi dào, bất tận, bất tử Đây là một cuốn sách hay về văn hóa Việt

Trang 30

Ở tác phẩm này, nhà văn đã tập trung bút lực trong việc khắc họa một

lễ hội văn hóa - lễ hội Kẻ Đình Một lễ hội thuần túy văn hóa, một không gianvăn hóa, không gian tràn ngập tình yêu thương của Mẫu, kết nối cả nhữngngười không cùng chủng tộc, không cùng một chiến tuyến Không phải ngẫunhiên, trong cuốn tiểu thuyết này đông đúc nhất và cũng đẹp nhất, đậm nhất,

mê nhất là những nhân vật nữ, có cảm giác như vô số vậy, từ bà Tổ Cô bí ẩnđến bà Ba Váy đa tình… cho đến cô Đồng Mùi, cô mõ Hoa khốn khổ, cô trinh

nữ Nhụ tinh khiết Hàng chục nhân vật nữ hết sức gần gũi, hiện thực, trữ tình,khát khao cho và nhận, nhận và cho… Một lần nữa lịch sử trở thành chất xúctác thổi bùng lên những giá trị văn hóa vốn ngủ yên trong lòng mỗi người.Điều này được thể hiện ngay trong lời nói của cha Puginer với Phillip: “XứBắc Kỳ và Trung Kỳ là nơi cội nguồn của văn hóa Việt… cuộc vật lộn ở đây

là cuộc vật lộn không khoan nhượng giữa Tây và Đông… bây giờ ta phảiđánh nhau với toàn dân tộc Việt Trong thâm tâm họ đã có kinh nghiệm bị sựthống trị của người Tàu, nay họ cảm thấy sắp bị chúng ta thống trị, cái kinhnghiệm xưa cũ ấy lại thức dậy trong họ” [34, 312]

Cuộc chiến tranh giữa hai đất nước về mặt chính trị và lãnh thổ đượcthay bằng cuộc chiến về mặt văn hóa Cuộc chiến văn hóa diễn ra ở bất cứnơi nào: trên chiến trường, trong cuộc sống, trong ánh mắt, ngôn ngữ… vàtrên cả những chiếc giường ngủ… Kết thúc tác phẩm là kết quả của cuộcchiến ấy dường như tất cả đã được hé mở thông qua lời của ông Lềnh vềnhững người Trung Hoa khi sang Việt Nam: “Nước chúng tôi là một nướcvăn hiến hơn xứ sở này; vậy tại sao rất nhiều người sang đây, lại không baogiờ quay trở về quê cũ, để cuối cùng trở thành người xứ sở ” Và câu hỏi ấyđược trả lời ngay sau đó: “Có thể nguyên nhân là người đàn bà chăng? ngườiđàn bà là Mẫu, là Mẹ – Người đàn bà là đất xứ sở Người đàn bà là vănhiến” Đấy là sự đồng hóa của văn hóa bản địa, bởi đó là sản phẩm của

Trang 31

người mẹ, mang dòng máu của một nền văn hóa Mẫu, văn hóa của tìnhthương yêu và sức sống vĩnh hằng.

Mẫu Thượng Ngàn quả là một cuốn sách hay Trong cuốn sách này, tác

giả đã lý giải một cách thuyết phục nhất về một vấn đề khó lý giải nhất xưanay là bản sắc văn hóa Việt Bản sắc không thể là thứ vay mượn được, vì thếbản sắc văn hóa Việt đâu phải xuất phát từ đạo Giáo, đạo Nho, đạo Phật đãhàng ngàn năm chế ngự trên xứ sở này mà khởi nguồn của nó là Đạo Mẫu,một thứ đạo dân gian, một thứ đạo bất thành văn, phi vật thể, nhưng nói theocách của nhà văn Nguyên Ngọc “ đã thấm sâu âm thầm có lẽ từ thưở mới hìnhthành của dân tộc Đạo Mẫu rất Việt, rất phương Nam, rất dồi dào, bất tận, bất

tử, như Đất, như Mẹ, như người Đàn bà” Như vậy, Đạo Mẫu là hiện tượngvăn hóa thuần Việt

Còn Đội gạo lên chùa là cuốn tiểu thuyết, ngay từ tiêu đề, đã tiết lộ một

dấu chỉ Phật giáo, vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri thức tiếp nhận thuộcchốn cửa thiền, một không gian văn hóa riêng biệt Tác phẩm viết về Phậtgiáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa - lối sống củacon người Việt Nam trong trường kì lịch sử Đây là cuốn tiểu thuyết viết vềPhật tính trong văn hóa Việt Bất cứ người Việt Nam nào, dù không tôn giáocũng đều mang chút tính cách, tâm hồn của đạo Phật Với người Việt, phậtgiáo là một lối sống Tinh thần Phật giáo thấm vào xã hội thông qua người

mẹ, người vợ người đàn bà ứng xử trong xã hội và dạy con cái ít nhiều theotinh thần Phật giáo Vì vậy mới nói, bất cứ người Việt nào cũng có chút Phậtgiáo trong người Từ một biến cố kinh hoàng trong cuộc đời hai chị emNguyệt và An - cha mẹ bị lính Pháp cắt cổ trong một trận càn - tác giả đưangười đọc tới làng Sọ, một làng quê mang đậm những nét đặc trưng của làngquê vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi có ngôi chùa làng vừa như là nạn nhân vừanhư là chứng nhân của những thăng trầm lịch sử Và điều quan trọng hơn, họ

Trang 32

được sống trong một khí hậu văn hóa đậm đặc Phật tính, được quan sát, trảinghiệm và rồi tự hình thành sự nhận biết cá nhân về khí hậu văn hóa ấy Qua

số phận hàng chục nhân vật ở một làng quê quanh chùa Sọ, tác giả miêu tảnhững biến động của xã hội Việt Nam suốt từ thời chống Pháp cho đến saungày đất nước thống nhất, đụng chạm rất nhiều vấn đề văn hóa - xã hội, triết

lý nhân sinh Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa và những nhà sư trong bốicảnh đó, lấy Phật giáo làm điểm nhìn để soi rọi, suy ngẫm về các sự kiện lịch

sử Các nhân vật không chỉ đối đầu với nhau theo kiểu “ địch - ta” mà mỗingười còn có cuộc đấu tranh gay go với lẽ sống, đạo lý của chính mình Chính

vì thế, Đội gạo lên chùa có ý nghĩa sâu rộng hơn, chạm đến những vấn đề

muôn thưở của kiếp người

Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam, tuy có lúc phát triển huyhoàng cũng có lúc lắng xuống, nhưng chưa bao giờ đứt đoạn Ở làng quê nàocũng có một ngôi chùa Ngôi chùa tồn tại trong cộng đồng làng Việt để gìngiữ một lối sống Người dân Việt Nam mang đậm tính cách Phật giáo, vừa cósức chịu đựng bền bỉ vừa có tính năng động Đó là sức sống và sự cân bằngtrong tính cách Việt Sức sống đó chủ yếu được người phụ nữ gìn giữ vàtruyền từ đời này sang đời khác

Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được viết theo lối cổ điển, mang tính luận

đề về ảnh hưởng của đạo Phật Sống động và giàu sức thuyết phục, tiểu thuyếtkhắc họa sâu sắc nét đẹp của văn hóa Phật giáo trong mạch nguồn văn hóa

dân tộc Đội gạo lên chùa còn là sự gợi mở về lối sống Phật giáo trong xã hội hiện đại ngày nay Theo Nguyễn Xuân Khánh, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa

vẫn là câu chuyện về một làng quê, chỉ khác là được nhìn từ một ngôi chùahằng gắn bó với số phận người nông dân và văn hóa làng

Có thể nói, hai tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa giúp

người đọc tiếp cận và khám phá nhiều điều thú vị, hấp dẫn về những vấn đề

Trang 33

văn hóa, lịch sử của dân tộc bằng ngôn ngữ của văn học Qua đó, độc giả cònđược biết đến một Nguyễn Xuân Khánh giàu lòng yêu quê hương, quý trọngnhững vốn di sản văn hóa của dân tộc Với hai bộ tiểu thuyết này, nhà vănNguyễn Xuân Khánh đã thổi một luồng gió mới góp phần làm tươi mới hơncho nền văn hóa của Việt Nam.

Tiểu kết chương 1

Nguyễn Xuân Khánh là một nhà văn sáng tác không nhiều nhưng hầuhết các tác phẩm của ông đều xoay quanh các vấn đề của lịch sử - văn hóa.Viết về bản sắc văn hóa Việt bằng cảm quan của người hiện tại chính là mộtcách nhìn nhận, một sự diễn giải, đánh giá về lịch sử - văn hóa của con ngườihôm nay với những tâm thế khác nhau Điều đó thể hiện rõ qua các tiểu thuyết

mới từ Hồ Quý Ly đến Mẫu Thượng Ngàn và mới đây là Đội gạo lên chùa.

Từ đó ông muốn gửi gắm quan niệm của mình và cái nhìn của bản thân ông

về lịch sử - văn hóa ấy, cùng với tác phẩm của mình là các vấn đề về sự pháttriển, biến thiên của văn hóa, sự tác động của các tư tưởng, văn hóa, tôngiáo

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít những tác giả viết tiểuthuyết lịch sử - văn hóa gặt hái được những thành công ngoài mong đợi Ởngoài tuổi 70 trải qua những thăng trầm trong hoạt động nghề nghiệp và chỉtrong một thời gian ngắn xuất bản ba tác phẩm mà tác phẩm nào cũng đạt giảicao, gây được ấn tượng tốt đẹp trong công chúng bạn đọc vốn mỗi ngày một

ít đi Bản sắc văn hóa Việt được thể hiện sâu sắc trong tiểu thuyết của NguyễnXuân Khánh Ông quan tâm tới Đạo mẫu - một tín ngưỡng văn hóa thuần Việt

trong Mẫu Thượng Ngàn và tôn giáo Phật giáo ngoại nhập đã được Việt hóa trong Đội gạo lên chùa.

Trang 34

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI BẬT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT

TRONG HAI TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN

CHÙA

2.1 Đạo Mẫu - hiện tượng văn hóa thuần Việt

Trong đời sống tâm linh của người Việt đã từng tồn tại rất nhiều hìnhthức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Trước nhất là các tín ngưỡng, các tục thờ

cúng mang tính bản địa hay mang đậm màu sắc bản địa, như thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng ở các làng xã, thờ các vị Thần (tổ sư các nghề, các vị thần

linh bảo trợ, các anh hùng có công với dân với nước…) các tôn giáo du nhập

từ bên ngoài như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn giáo,Hồi giáo; một số tôn giáo mang tính địa phương, như đạo Cao Đài, Phật giáoHòa Hảo… Người Việt Nam chấp nhận mọi thứ tín ngưỡng tôn giáo, dù bảnđịa hay ngoại lai, miễn là nó phù hợp với nền tảng đạo đức Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín Các tôn giáo tín ngưỡng này không rạch ròi phân biệt, mà chúngthường thâm nhập và lồng vào nhau Người theo đạo Phật vẫn thờ cúng tổtiên, Thành Hoàng, Thờ Thần Mẫu… Các tôn giáo từ ngoài du nhập vàothường bị biến dạng để thích ứng với đời sống tâm linh con người Việt Nam,nên xu hướng dân gian hóa các tôn giáo là hiện tượng dễ thấy, như Đạo Phật,Đạo Khổng, Đạo Lão

Người Việt Nam theo nhiều đạo, nhưng không hướng về các giáo lý cao

xa hay cuồng tín si mê, mà chủ yếu là khai thác các mặt đạo lý, cách thức ứng

xử giữa con người với con người

Thoát thai từ đạo Thờ Thần và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đạo giáoTrung Quốc, Đạo Mẫu với tư cách là một biến thể của Đạo giáo Việt Nam đã

và đang thâm nhập và ảnh hưởng tới các tín ngưỡng tôn giáo khác Cùng một

Trang 35

loại hình Đạo giáo, Đạo Mẫu rất gần gũi với Đạo Thờ Tiên trong cả quan

niệm, thần điện và nghi thức thờ cúng Hơn thế nữa, vị thần chủ của Đạo Mẫu

là Liễu Hạnh đồng thời cũng là một vị Tiên tiêu biểu của Việt Nam Đạo Mẫu

là một tín ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng Việt Nam

2.1.1 Đạo Mẫu là đạo dân gian

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho rằng, “Đạo mẫu có từ lâu lắm rồi, làđạo dân gian nhưng bị tầng lớp thống trị coi thường Giá như có một nhà trithức thông tuệ nào đó thổi vào nó những triết lý, thì nó không khác gì tôn giáovới sức sống rất mạnh Trên đỉnh Tam đảo có đền Mẫu, trên đỉnh Ba Vì cũng

có đền Mẫu, ta có ông Hoàng Mười, ông Hoàng Bảy, Bà chúa Ba… đấy làchưa kể đến những ngôi chùa làng, những ngôi đền bao giờ cũng có nơi thờmẫu Đấy là sự hỗn dung tôn giáo Đạo mẫu có sức cuốn hút lớn không chỉhấp dẫn về mặt âm nhạc như hát xá, hát cờn, hát dọc… mà còn là chuyện tâmlinh, xoa dịu con người… Thực là bây giờ chúng ta nhìn những đền mẫu nổitiếng thì đâu cũng là Mẫu Thượng Ngàn hết…” [38]

Ở nước ta, đạo Mẫu thờ tứ phủ, tức bốn Mẹ: Mẹ Trời, Mẹ Đất, MẹNước và Mẹ Người Mẹ Trời là Mẫu Thượng Thiên, Mẹ Người là Mẫu Liễu

Mẹ Nước là Mẫu Thoải Mẹ Đất rừng là Mẫu Thượng Ngàn

Đền Mẫu nhiều lắm, ở khắp mọi nơi Đạo Mẫu là đạo dân gian Trừ mộtvài đền lớn, còn phần đông các đền thờ đều nhỏ, vì không được vua chúakhuyến khích, đỡ đầu, còn dân lại quá nghèo Thường thường dân tìm một nơiphong cảnh hữu tình, kỳ thú, rồi lập đền Có sông có núi, có cỏ cây hoa lá, lạithêm cái hồn của con người thành kính tỏa vào đó, các ngôi đền trở thành nơidung chứa những khát vọng và nỗi niềm của mọi người dân quê nghèo khổ,những nơi ấy tất trở thành chốn linh địa

Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, trong công trình Tục thờ mẫu và

những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam, cho rằng trong đời sống tâm

Trang 36

linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáokhác nhau Đó là các tục thờ cúng tổ tiên, rồi mở rộng ra là thờ thành Thành

Hoàng (được coi là tổ tiên làng xóm) gồm các nhân thần tức là những con

người có thật, có nhiều công đức với dân, như các anh hùng trong lĩnh vực

chiến đấu, các vị lập ra làng xóm, các tổ nghề… Cũng có thể là các nhiên thần

tức nhân vật tượng trưng cho các thế lực thiên nhiên hoặc do óc tưởng tượngcủa con người tạo ra nhân một sự kiện xã hội, nhân sinh nào đó Từ tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần, đặc biệt ở người Việt có tín ngưỡng thờ Mẫu.Một số nhà nghiên cứu muốn coi tục thờ Mẫu cũng là một đạo, một tôn giáodân gian sơ khai Mẫu là Mẹ Tục thờ Mẫu có thể là dư âm của tục thờ NữThần thời cổ đại Dù sao đến thời trung đại, Mẫu đã được thờ ở các đền, phủ.Trong thần điện của “Đạo” này có các hàng Đứng đầu là “hàng Mẫu” với cácMẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Liễu Hạnh Hai vị trên có nguồn gốc làcác nữ thần núi rừng và sông nước Vị dưới được chỉ định cụ thể là một phụ nữquê ở Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, sống khoảng thế kỷ thứ 16nhưng là con gái của Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới, nên có nhiều phép

thuật li kỳ Dưới hàng Mẫu là các “ hàng” Quan (quan lớn Triệu Tường, quan lớn Tuần Tranh…), Chầu (Chầu Đệ Nhất, Chầu Đệ Nhị…), Ông Hoàng (Hoàng Đôi, Hoàng Mười….), Cô (Cô Bơ, Cô Chín….), Cậu (Cậu Bơ, Cậu Bé…), rồi Ngũ Hổ, rắn (Ông Lốt)… gọi chung là Chư vị.

Vì chưa phát triển thành một tôn giáo mà còn ở dạng một tập tục thờcúng nên đạo Mẫu chưa được điển chế hóa như Phật giáo, Thiên Chúa giáocho nên mỗi thời, mỗi vùng việc thờ cúng có sự khác biệt Như gọi là TamTòa Thánh Mẫu, nhưng có người lại nêu là bốn tòa: Mẫu Thiên, Mẫu Địa,Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và coi bà Liễu Hạnh chính là Mẫu Thiên.Hoặc gọi là ngũ vị quan lớn nhưng rồi có nơi lại cho là những mười vị Nơithờ các Mẫu cùng các hàng quan, hàng chầu,… gọi là đền Nhưng tùy từng

Trang 37

địa phương, thần điện được bổ sung thêm, nào là Trần Hưng Đạo, Phạm NgũLão, Bà Chúa Kho, các ông quan lớn Tuần Tranh, Triệu Tường và nhiềuQuan, nhiều Cô, Cậu khác nữa… Đền nào mà chủ thể thờ cúng chính là bàLiễu Hạnh thì gọi là Phủ, Phủ nổi tiếng nhất là Phủ Dày ở ngay làng quê của

bà (Nam Định) Đền thờ Mẫu mà đặt trong khuôn viên chùa thì gọi là điện

Mẫu Ngoài ra trong nhiều gia đình cũng có các tĩnh, các am để thờ Mẫu Tục

thờ Mẫu và Chư vị vốn phát sinh ở miền Bắc Vào đến miền Nam, “đạo” này

đã đưa vào thần điện của mình các nữ thần trong tín ngưỡng thờ cúng địaphương, như Thánh Mẫu Y-a-na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)…Trong thực tế thờ cúng của “đạo” Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiềutôn giáo khác, chủ yếu là Đạo giáo Ngày nay, vì được coi là tín ngưỡng bảnđịa nên nhiều đền, phủ vốn bị hư hỏng, đổ nát trong chiến tranh, nay đangđược phục hồi, sửa chữa và hoạt động trở lại

Đất nước ta hình thành trên cơ sở một nền nông nghiệp lạc hậu chịuảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp Bị các thế lực ngoạibang xâm chiếm, cảnh nội chiến phân tranh đã đẩy dân tộc đến chỗ bế tắc bịkìm hãm triền miên… Trước hoàn cảnh bất thuận ấy, người Việt cổ cùng cácthế hệ kế tiếp đã có sự đấu tranh sinh tồn; vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, sángtạo ra nền văn hóa, văn minh riêng trong đó có tục thờ Nữ thần nông nghiệp.Việc thờ Phật ở Việt Nam cùng một số nước Đông Nam Á cũng có sự ảnhhưởng của tục thờ Mẫu bản địa, cụ thể là sự xuất hiện của Phật Bà Quan Âm,một dung hợp màu sắc giữa Phật giáo Việt Nam với Ấn Độ, Trung Hoa, TriềuTiên Còn Man Nương trong huyền thoại Tứ Pháp là nét riêng của dân tộcViệt với sự hài hòa của xứ đạo Thiên Trúc Riêng tục thờ Thánh Mẫu LiễuHạnh là nét độc đáo mang bản sắc của dân tộc vùng lúa nước, vùng châu thổsông Hồng và các tỉnh trong cả nước có mối liên quan Từ trên năm thế kỷnay, tục thờ Mẫu Liễu Hạnh song song tồn tại cùng Đạo Phật, cũng như tín

Trang 38

ngưỡng thờ Thành Hoàng, thờ danh nhân, danh tướng có công với đất nước.Tâm thức dân gian tôn vinh Mẫu Liễu Hạnh trong hàng “tứ bất tử” Việt Nam,công đức lớn lao như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử tiên ông và TảnViên Sơn Thánh là những bậc thánh thần cao đạo, đức trọng, công lớn vớinước, với hậu thế từ buổi bình minh lịch sử, mãi mãi tồn tại trong đời sốngtinh thần dân tộc Người xưa đã ghi nhận hiện tượng nữ thần Liễu Hạnh công

chúa là một sự kì lạ, qua sách Truyền kỳ tân phả do nữ sĩ tài danh Đoàn Thị Điểm viết Nguyễn Công Trứ viết Liễu Hạnh công chúa diễn âm cùng nhiều

tác giả viết một số bài về Thánh Mẫu Liễu Hạnh… Song trong ý niệm dângian thì lai lịch của Mẫu trên lãnh thổ Việt Nam vô cùng phong phú Nókhông bó hẹp trong thư tịch Hán Nôm, bi ký mà lan rộng trong truyền thuyếtkhắp các lũy tre xanh, trong các bài văn chầu, thơ ca cùng những hoạt độngtín ngưỡng, lễ hội… Nó không chỉ thể hiện ở Phủ Dầy - Nam Định, SòngSơn, Phố Cát, Phủ Tây Hồ, Lạng Sơn, Ninh Bình… mà xuất hiện khắp mọinơi Hình bóng bà chúa Liễu như cây tùng, cây bách bao trùm cho tất cả các

vị thần linh khác, giúp các vị âm thần, dương thần dựa bóng Mẫu để âm phùcho nước cho dân, cứu chữa cho dân gian khỏi bệnh tật, đói nghèo… Dângian tôn vinh Mẫu là mẹ của thiên hạ, sánh cùng Hưng Đạo Đại Vương thờiTrần, hoặc Bát Hải Vua cha là những danh thần, danh tướng hơn Mẫu hàngtrăm, hàng ngàn tuổi

Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện khi xã hội có đủ yếu tố chủ quan, khách quancủa tâm thế xã hội Nó biểu hiện truyền thống tín ngưỡng văn hóa nguyênthủy của dân tộc Nó cùng thể hiện xu hướng bài trừ “vọng ngoại” do đó màdiện mạo tục thờ Mẫu Liễu Hạnh vừa phong phú, đa dạng, vừa có ý nghĩa độclập tự chủ Và mặc dù dân chúng đã, đang cảm nhận sự hư hư, thực thực, có

sự bán tín bán nghi với thần tượng Mẫu Liễu mờ mờ ảo ảo Ấy vậy mà theodấu vô hình vẫn tìm hương sắc, tiềm ẩn một sử thi vĩnh cửu văn hóa Việt

Trang 39

Nam Đạo Mẫu xuất phát từ tín ngưỡng dân gian nguyên thủy, với sự tiếpnhận văn hóa nhân loại, biến thành một tôn giáo bản địa, cùng các tôn giáokhác song song tồn tại nhằm đấu tranh đòi quyền sống, đòi sự công bằng,bình đẳng trong xã hội nên được dân chúng bảo tồn, đời đời bất tử

Từ việc nghiên cứu, người ta kết luận Đạo Mẫu, một hiện tượng văn

hóa dân gian tổng thể Người ta thường nói các hiện tượng văn hóa dân gian

vốn là hiện tượng văn hóa tồn tại và phát triển dưới dạng nguyên hợp, tổnghợp, bởi thế, khi tiếp cận chúng cũng phải có cách tiếp cận tổng thể và hệthống Đạo Mẫu chính là một trong các hiện tượng văn hóa dân gian như vậy

Về bản chất, thờ Mẫu là một hiện tuợng tín ngưỡng với các thần tích,điện thần, các nghi lễ thờ cúng Yếu tố tín ngưỡng này là yếu tố chủ đạo, yếu

tố tạo hệ thống của toàn bộ sinh hoạt Đạo Mẫu Cùng với các nghi lễ ĐạoMẫu đã nảy sinh và tồn tại các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo, đó là

âm nhạc và hát chầu văn, đó là hình thức hát bóng rối và múa bóng ở Nam

Bộ Đó còn là diễn xướng hầu bóng với tính chất như một loại hình sân khấutâm linh

2.1.2 Vẻ đẹp tín ngưỡng thờ Mẫu trong Mẫu Thượng Ngàn

Vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở trong Mẫu Thượng Ngàn thì khác Đây là

lúc Phật giáo suy tàn, đạo Khổng bị gạt bỏ, thực dân Pháp muốn sử dụng Thiênchúa giáo như một vũ khí tinh thần nhằm nô dịch và mê hoặc nhân dân AnNam Song khi được lan tràn trong xã hội, tôn giáo ấy đã vượt ra ngoài sự kiểmsoát của những người đứng đầu mà phụ thuộc vào chính lập trường của ngườidân Đến cuối tác phẩm tác giả đã thể hiện sự toàn thắng thuộc về tín ngưỡngcủa dân tộc niềm tin vào một nữ thần duy nhất: Mẫu Chọn địa điểm là mộtngôi làng miền núi, Nguyễn Xuân Khánh muốn thể hiện sức lan tỏa mạnh mẽcủa tín ngưỡng thờ Mẫu, được coi là sản sinh từ xã hội có yếu tố thương nghiệpcủa vùng đồng bằng Bắc Bộ Và khi đã có vị trí ở vùng sơn cước, tín ngưỡng

Trang 40

này có sức lây lan và thẩm thấu sâu vào cộng đồng, đến mức lấn lướt cả niềmtin cổ xưa về tín ngưỡng đa thần Về tín ngưỡng này, Nguyễn Xuân Khánh đã

đề cập đến sự hấp dẫn, thu hút của nó đối với đám đông vì những phép lạ hiệnhữu, hơn thế nữa, ông cũng đề cao sự an ủi, sự cứu rỗi, giá trị thanh tẩy cao quýcủa nó thông qua trải nghiệm của những người trong cuộc Trước hết, quyền uycủa đạo Mẫu hiện lên trong niềm tin tuyệt đối của chính người kể chuyện: “Cósông, có núi, có cỏ cây hoa lá, lại thêm cái hồn của con người thành kính tỏavào đó, các ngôi đền thành nơi dung chứa những khát vọng và nỗi niềm củamọi người dân quê nghèo khổ, nơi ấy trở thành chốn linh địa” Rồi “cái tôngiáo dân gian ấy đó an ủi bao tâm hồn cay cực của nông dân” [34, 421] Trongcon mắt của một nhà nho, cụ phó bảng Vũ Huy Tân, đạo Mẫu được coi nhưmột chốn giải thoát: “Ngồi đồng là gì? Là làm cho lòng ta đạt tới chỗ tâm hư,

để hòa đồng cùng thế gian Thần thánh cũng ở trong ta Phàm tục cũng ở trong

ta Tất cả thế gian đều là một Điều ấy Lão Trang gọi là đắc nhất… Vả lại,khắp nước ta, nơi nào chả có người ngồi đồng thờ Mẫu” [34, 695] Niềm sùngkính đạo Mẫu cũng được thể hiện qua sự ngưỡng vọng ngây thơ của Nhụ, một

cô gái quê non nớt tin bằng kinh nghiệm của người khác “Còn Nhụ, em chỉ hátnhững lời ca về Mẫu từ thưở ấu thơ, em chưa bao giờ đi lễ ; tuy nhiên cứ mỗilần nghĩ về Mẫu, lòng em lại thấy rưng rưng Cứ như thể Mẫu đối với em rấtthân thiết, gần gũi, mặc dù em chưa bao giờ giáp mặt ” [34, 422], qua sự linhnghiệm về việc cầu tự của bà Cả Cỏn “Bà Cả rước chân nhang ở đền Mẫu vềthờ vào đầu năm, cuối năm linh nghiệm liền Bà sinh con trai thứ hai đặt tên là

Ly Cậu ấm quý như hòn vàng…” [34, 534], qua sự mê đắm của con nhang đệ

tử “những con nhang đệ tử ai đã vào đây đều như vậy Họ đã mang sẵn căn địa,tâm thế của lòng sùng tín Họ sẵn sàng đến để nhập cuộc, mê đắm, sẵn sàng rũ

bỏ tục lụy thường nhật để dấn thân vào những cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó

ta trở về với ta tức là ta trở về với mẹ, ở đó là sự yên bình, niềm an ủi, cái diệu

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (2007), “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2007
2. Đào Duy Anh(2010), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Bakhin.M (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhin.M
Năm: 1992
5. Hòa Bình (2006), “Mẫu Thượng Ngàn- nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh”, Việt Báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Thượng Ngàn- nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh”
Tác giả: Hòa Bình
Năm: 2006
6. Hòa Bình, “Mẫu Thượng Ngàn” - cơ duyên của Nguyễn Xuân Khánh”, http:// vtc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Thượng Ngàn” - cơ duyên của Nguyễn Xuân Khánh”
7. Nguyễn Thị Bình (1999), “Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”, Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới”, "Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1999
8. Hoàng Cát (2000), “Tiểu thuyết “Hồ Quý Ly”. Thưởng thức và cảm nhận”, Tạp chí Sách, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết “"Hồ Quý Ly"”. Thưởng thức và cảm nhận”, Tạp chí "Sách
Tác giả: Hoàng Cát
Năm: 2000
9. Nguyễn Diệu Cầm, “Tiểu thuyết lịch sử đang hấp dẫn trở lại”, http://www1.laodong.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử đang hấp dẫn trở lại”
10.Quỳnh Châu, “Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới”. http: // www.vnca.cand.come.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới”
11.Văn Chinh (2007), “Nơi bắt đầu Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh”, Báo Tiền phong cuối tuần, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nơi bắt đầu "Mẫu Thượng Ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh”, Báo "Tiền phong cuối tuần
Tác giả: Văn Chinh
Năm: 2007
12.Văn Chinh (2012), “Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt qua tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh”, Văn nghệ, (6 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt qua tiểu thuyết "Đội gạo lên chùa" của Nguyễn Xuân Khánh”, "Văn nghệ
Tác giả: Văn Chinh
Năm: 2012
13.Châu Diên (2006), “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc”, Báo Tuổi trẻ v.n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc”
Tác giả: Châu Diên
Năm: 2006
14.Phạm Vũ Dũng (2006), Hỏi và Đáp về cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và Đáp về cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
15.Đoàn Ánh Dương (2010), “Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh”, Nghiên cứu Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong "Mẫu Thượng Ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2010
16.Đoàn Ánh Dương (2011), “Kiến giải về dân tộc trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh”, Văn nghệ, (27) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến giải về dân tộc trong "Đội gạo lên chùa "của Nguyễn Xuân Khánh”, "Văn nghệ
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2011
17.Phạm Đức Dương (2000), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
18.Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
19.Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1974
20.Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w