Khóa luận tốt nghiệp ngành Y Đa khoa: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật u xơ tử cung tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương với mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh nhân u xơ tử cung được điều trị bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Nhận xét kết quả phẫu thuật của bệnh nhân u xơ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Trang 1VŨ ĐÌNH ĐỀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U XƠ TỬ CUNG
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH Y ĐA KHOA
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: VŨ ĐÌNH ĐỀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT XƠ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, em
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
Ban chủ nhiệm, thầy cô giáo Bộ môn Sản phụ khoa, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ban giám đốc bệnh viện, Phòng Kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
Đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong hội đồng khoa học thông qua đề cương, hội đồng khoa học bảo vệ khóa luận đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong quá trình nghiên cứu, hoàn chỉnh khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành y đa khoa
Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ nhân viên Khoa khám bệnh, đặc biệt là Khoa điều trị theo yêu cầu Bệnh viện Phụ Sản Trung ương đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu khóa luận
Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:
PGS.TS Vũ Văn Du, người thầy kính yêu đã tận tâm dìu dắt, giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
ThS Mạc Đăng Tuấn, thầy đã luôn quan tâm, hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo
ân cần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ với em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2018
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Em là Vũ Đình Đề, sinh viên khoá QH.2012.Y, ngành y đa khoa, Khoa
Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Du và ThS Mạc Đăng Tuấn
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2018
Tác giả
Vũ Đình Đề
Trang 5TM Thiếu máu
VBVBMTSS Viện Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý của tử cung 3
1.1.1 Giải phẫu tử cung 3
1.1.2 Phương tiện giữ tử cung: 4
1.2 Bệnh u xơ tử cung 4
1.2.1 Định nghĩa 4
1.2.2 Dịch tễ học 5
1.2.3 Cơ chế bệnh sinh 5
1.2.4 Phân loại u xơ tử cung 5
1.2.5 Vị trí, số lượng, kích thước của khối u xơ 6
1.2.6 Chẩn đoán u xơ tử cung 7
1.2.7 Tiến triển và biến chứng 10
1.2.8 Các phương pháp điều trị u xơ tử cung 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 21
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 21
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 21
2.3.3 Các biến số nghiên cứu 22
2.3.4 Sơ đồ nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 7Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 29
3.3 Tỉ lệ các phương pháp phẫu thuật và kết quả điều trị 34
Chương 4: BÀN LUẬN 39
KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số biến số nghiên cứu 22
Bảng 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi của bệnh nhân trong nghiên cứu 27
Bảng 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp 28
Bảng 3.3 Tiền sử sản phụ khoa 29
Bảng 3.4 Triệu chứng lâm sàng vào viện 30
Bảng 3.5 Kích thước tử cung trên lâm sàng 31
Bảng 3.6 Đặc điểm u xơ trên siêu âm 32
Bảng 3.7 Phân loại thiếu máu 33
Bảng 3.8 Tỉ lệ các phương pháp phẫu thuật theo tiền sử can thiệp vào cơ tử cung 35
Bảng 3.9 Thời gian phẫu thuật trung bình theo phương pháp phẫu thuật 36
Bảng 3.10 Chỉ định ngoại khoa xử trí u xơ tử cung và kết quả 37
Bảng 3.11 Tỉ lê các nguyên nhân thất bại của các phương pháp phẫu thuật 38
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Đặc điểm nơi ở của đối tượng nghiên cứu 28
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các phương pháp phẫu thuật chung 34
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
U xơ tử cung (UXTC) là loại u lành tính thường thấy nhất ở tử cung U
xơ tử cung gặp ở 50,0% - 60,0% phụ nữ, tăng tới 70,0% ở phụ nữ tuổi 50 [41] Khoảng 20,0% các phụ nữ trên 35 tuổi có u xơ tử cung, nhưng rất nhiều trường hợp trong số đó không có triệu chứng lâm sàng [4]
U xơ thường được phát hiện tình cờ khi đi khám vì các triệu chứng: rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, chậm có thai, ra máu âm đạo hoặc tự sờ thấy khối u
ở vùng bụng dưới [2] Khi các triệu chứng thông thường của u xơ tử cung tăng lên sẽ dẫn đền nhiều biến chứng bao gồm có: chảy máu, chèn ép niệu quản, chèn ép trực tràng, nhiễm khuẩn, ung thư hóa,… [28] Ở lứa tuổi sinh
đẻ, u xơ tử cung gây chậm có thai, hoặc vô sinh [28] Nghiên cứu của Buttram năm 1981 cho kết quả 27,0% bệnh nhân mổ về u xơ tử cung bị vô sinh [69]
Nghiên cứu khác của P.Lopes ở những phụ nữ có UXTC cho thấy tỉ lệ thai kém phát triển là 3,5%, thai chết lưu là 1,75% [56] Phát hiện và điều trị sớm
u xơ tử cung là cần thiết nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người phụ nữ Phẫu thuật là một trong những phương pháp quan trọng được lựa chọn trong điều trị UXTC Theo nghiên cứu của Cung Thị Thu Thủy và cộng sự, chỉ riêng năm 2010 tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, có tới 985 trường hợp mắc u xơ tử cung có chỉ định phẫu thuật [31] Tuy nhiên, các yếu tố về tuổi, tiền sử sản khoa, vị trí, kích thước khối u
và biến chứng gây ảnh hưởng tới chỉ định phẫu thuật Chính vì vậy, thái độ xử trí cho từng trường hợp cụ thể còn nhiều vấn đề đặt ra đối với các thầy thuốc sản phụ khoa
Trong những năm gần đây, sự tiến bộ của y học trong chẩn đoán và điều trị các bệnh phụ khoa nói chung và u xơ tử cung nói riêng đã có những thay đổi và thu được những kết quả khả quan nhất định Tuy nhiên vẫn còn
Trang 10phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, em tiến hành đề tài: “Nghiên
cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật u xơ tử cung tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương” với các mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh nhân u xơ tử cung được điều trị bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
2 Nhận xét kết quả phẫu thuật của bệnh nhân u xơ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý của tử cung
1.1.1 Giải phẫu tử cung
Tử cung nằm trong chậu hông bé, giữa bàng quang và trực tràng; nó thông với vòi tử cung ở trên và liên tiếp với âm đạo ở dưới [35]
Tử cung hình quả lê, hơi dẹt trước sau Nó được chia thành hai phần là thân tử cung tạo nên 2/3 trên và 1/3 hẹp hơn ở dưới, ít dẹt mà có hình trụ, là
cổ tử cung, ranh giới giữa hai phần là một chỗ hơi thắt lại, ngang mức với lỗ trong giải phẫu Phần lồi tròn của thân ở trên chỗ đi vào của các vòi tử cung là đáy tử cung [35]
Khoang rỗng bên trong tử cung là một khoang hẹp so với thành dày của
tử cung Nó được chia thành buồng tử cung và ống cổ tử cung; hai phần này thông nhau qua lỗ trong giải phẫu, một lỗ nằm ngang mức chỗ thắt giữa thân
và cổ tử cung ở mặt ngoài [35]
Động mạch tử cung: tách từ động mạch chậu trong và đi qua ba đoạn:
(1) đoạn thành bên chậu hông; (2) đoạn trong nền dây chằng rộng, đi giữa hai
lá của dây chằng rộng, bắt chéo trước niệu quản ở cách cổ tử cung 1,5 cm; (3) đoạn bờ bên tử cung đi lên ngoằn ngoèo dọc bờ bên của tử cung, khi tới sừng
tử cung thì tận cùng bằng hai nhánh là nhánh buồng trứng và nhánh vòi tử cung, tiếp nối với các nhánh tương ứng của động mạch buồng trứng [35]
Trang 12Hình 1.1 Tử cung nhìn ngoài [8]
1.1.2 Phương tiện giữ tử cung:
Tử cung được giữ tại chỗ nhờ các yếu tố:
- Đường bám của âm đạo vào CTC
- Tư thế của tử cung
- Các dây chằng giữ tử cung gồm:
+ Dây chằng rộng
+ Dây chằng tròn
+ Dây chằng tử cung - cùng
+ Dây chằng ngang cổ tử cung
+ Dây chằng mu - bàng quang - sinh dục
1.2 Bệnh u xơ tử cung
1.2.1 Định nghĩa
U xơ tử cung là khối u lành tính của cơ tử cung, còn được gọi là u xơ
và cơ tử cung hay u cơ tử cung vì cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung [4, 28]
Trang 131.2.2 Dịch tễ học
Khoảng 20% các phụ nữ trên 35 tuổi có u xơ tử cung [4] Đối với phụ
nữ da màu (nhất là phụ nữ da đen) tỉ lệ này tăng từ 3 - 4 lần Nhìn chung bệnh
u xơ tử cung thường gặp ở lứa tuổi 35-50 tuổi, còn phụ nữ ở tuổi 20 gặp khoảng 3,0% [3]
Tại Cộng hòa Pháp, hơn 25,0% phụ nữ ngoài 30 tuổi mắc một hay nhiều u xơ Tuy nhiên tỉ lệ này còn cao hơn nhiều nếu tiến hành phát hiện bằng siêu âm [50]
1.2.3 Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh UXTC còn chưa biết rõ ràng, điều này lý giải đến nay vẫn chưa có điều trị căn nguyên [3, 28] Có nhiều giả thuyết được nêu lên:
- Thuyết về nội tiết:
Vai trò riêng rẽ của Estrogen và Progesteron chưa được xác định, vai trò của chúng có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các yếu tố tăng trưởng như EGF (Epidermal Growth Factor) và IGF1 (Insulike Growth Factor1) [42]
- Thuyết về di truyền:
Người ta tìm thấy có các rối loạn ở nhiễm sắc thể 6, 7, 10, 11, 14 trong
tế bào khối u [3]
1.2.4 Phân loại u xơ tử cung
- Dựa vào tương quan vị trí giữa đường kính ngang lớn nhất của khối u
xơ với cơ tử cung chia làm ba loại [3, 28]:
+ U xơ dưới thanh mạc: phát triển từ cơ tử cung ra phía thanh mạc tử cung, thường có nhân to, có thể thành một khối u có cuống gây xoắn và hoại tử
+ U xơ kẽ (u cơ tử cung): phát sinh từ lớp cơ tử cung, thường nhiều nhân và làm cho tử cung to lên một cách toàn bộ, gây rối loạn kinh nguyệt
rõ rệt, hay gây sảy thai, đẻ non
Trang 14+ U xơ dưới niêm mạc: là những u xơ có nguồn gốc từ lớp cơ nhưng phát triển dần vào buồng tử cung, đội lớp niêm mạc lên, có khi to chiếm toàn bộ buồng tử cung U xơ dưới niêm mạc đôi khi có cuống, có thể thò
ra ngoài cổ tử cung gây nhiễm khuẩn và chảy máu
- So với vị trí giải phẫu của tử cung chia làm 3 loại:
+ U xơ ở thân tử cung
+ U xơ ở eo tử cung
+ U xơ ở cổ tử cung
Hình 1.2 Các vị trí u xơ tử cung so với thành tử cung [67]
1.2.5 Vị trí, số lượng, kích thước của khối u xơ
Vị trí u xơ tử cung thay đổi tùy theo các phần khác nhau của tử cung
Vị trí thường gặp nhất là ở thân tử cung chiếm 96,0%, ở eo tử cung 3,0% còn
u xơ ở cổ tử cung rất hiếm gặp khoảng 1,0% [23, 49]
Về số lượng: Exacuostos và cộng sự trong nghiên cứu của mình thấy
Trang 15phát hiện trong 12,0% các trường hợp [43] Monnier và cộng sự thấy tần số gặp u xơ đơn độc cao gấp 3 lần loại nhiều u xơ [60]
Về kích thước của khối u: thay đổi từ bé như hạt đậu cho đến rất to hàng chục cm đường kính [23]
1.2.6 Chẩn đoán u xơ tử cung
1.2.6.1 Lâm sàng
Hầu hết UXTC khi còn nhỏ thường không có biểu hiện lâm sàng, được phát hiện do đi khám phụ khoa vì lý do vô sinh, chậm có thai hoặc u xơ tử cung được phát hiện trong chương trình phát hiện sớm ung thư phụ khoa hay qua siêu âm [28] Các triệu chứng của UXTC phụ thuộc vào vị trí, kích thước,
số lượng khối u
- Triệu chứng cơ năng
Ra huyết từ tử cung: đây là triệu chứng chính gặp trong 60,0% trường hợp [28], thường được thể hiện dưới dạng cường kinh và rong kinh Hầu hết
có phối hợp kinh mau và vòng kinh ngắn dần lại, ngày kinh dài ra (thường từ
10 - 25 ngày) Rong kinh đơn thuần hiếm gặp, chỉ chiếm 10,0% số trường hợp, mà thường là rong kinh, rong huyết làm cho người bệnh có cảm giác ra máu liên tục [19, 23, 29]
Ra dịch loãng như nước đặc biệt trước hành kinh thường gặp ở u dưới niêm mạc hoặc u có cuống [3, 13, 23]
Đau hoặc tức bụng kéo dài có thể do khối u chèn ép vào tạng bên cạnh
Đau dữ dội, đau chói là triệu chứng gợi ý đến biến chứng xoắn của khối u xơ
tử cung [3]
Một số triệu chứng khác: đái rắt, bí đái, táo bón mãn tính, phù chi dưới hoặc bệnh nhân có thể tự sờ thấy khối u ở vùng hạ vị là những triệu trứng liên quan đến mức độ phát triển khối u [3, 6, 23]
- Triệu chứng thực thể:
Trang 16Nếu khối u xơ nhỏ thăm khám ngoài sẽ không thấy bất thường ở ổ bụng
Nhưng khối u to, sờ nắn sẽ thấy một khối u ở vùng hạ vị, mật độ chắc [3, 28]
+ Đặt mỏ vịt Qua mỏ vịt có thể đánh giá tổn thương của cổ tử cung, khí hư hoặc máu
ở âm đạo hay từ buồng tử cung chảy ra, mức độ tổn thương và kích thước của polip (nếu có) [3, 13]
+ Thăm âm đạo kết hợp với nắn bụng:
Hạ vị có một khối to, mật độ chắc, bề mặt lồi lõm không đều do có nhiều nhân xơ, ấn không đau, di động cùng tử cung Tuy nhiên mức độ di động tùy thuộc khối u có dính hay không
+ U xơ phát triển trong cơ tử cung: hình ảnh siêu âm là khối âm vang
có bờ thưa hơn tổ chức cơ Tử cung có thể tích to hơn bình thường và thay đổi về hình dạng, có chỗ lồi lên nếu u phát triển ra ngoài, đường âm vang niêm mạc trong buồng tử cung cong vòng nếu khối u phát triển vào trong buồng tử cung
+ U xơ dưới niêm mạc: ít gặp chiếm 5,0% trong tổng số Những u xơ dưới niêm mạc rất khó tìm thấy khi siêu âm ổ bụng dưới nhưng lại dễ phát hiện được khi siêu âm bằng đầu dò âm đạo Trên siêu âm u xơ dưới niêm mạc có hình ảnh là một vùng âm vang đậm trong buồng tử cung, ranh giới
Trang 17trong trường hợp u xơ dưới niêm mạc có cuống phát triển xuống dưới
Ngoài ra siêu âm còn phát hiện ra tình trạng tổn thương kèm theo của hai phần phụ, sự bất thường của niêm mạc tử cung và một số bệnh lý khác [6]
- Chụp buồng tử cung:
+ U xơ tử cung dưới niêm mạc ở trong buồng tử cung biểu hiện buồng tử cung to, bị choán chỗ, hình khuyết trong buồng tử cung có trên mọi phim bờ đều, rõ nét Phim chụp có lợi ích giúp hướng dẫn đường vào khi bóc tách u xơ Cho phép đánh giá độ lớn của u khi bóc tách [3]
+ U xơ kẽ biểu hiện biến dạng buồng tử cung, vết lồi đều nhô vào buồng tử cung Trong trường hợp nhiều u xơ sẽ cho hình ảnh bờ có nhiều khuyết vòng
+ U xơ tử cung dưới thanh mạc: đôi khi chỉ nhìn thấy dấu hiệu gián tiếp đó là tử cung bị đẩy lệch sang một bên, vòi trứng kéo dài ra Có thể phối hợp với UXTC ở các vị trí khác làm biến dạng buồng tử cung [3]
- Soi buồng tử cung:
Giúp quan sát được toàn bộ niêm mạc tử cung qua đó có thể làm sinh thiết chính xác các vị trí tổn thương, có thể nhìn rõ được UXTC dưới niêm mạc, polip buồng tử cung và có thể thực hiện được trong giai đoạn đang chảy máu Tuy nhiên, soi buồng tử cung không thể thực hiện được trong trường hợp chít hẹp cổ tử cung hoặc có triệu chứng viêm nhiễm Thủng tử cung và nhiễm khuẩn sau thủ thuật soi buồng tử cung là những tai biến có thể gặp chiếm khoảng1/1000 trường hợp [17] Có thể cắt polip nhỏ hoặc u xơ nhỏ nằm dưới nội mạc tử cung qua nội soi [10, 38]
- Các thăm dò bổ sung khác
Làm phiến đồ AĐ - CTC, soi cổ tử cung và sinh thiết cổ tử cung khi có nghi ngờ Trong trường hợp nếu có nghi ngờ ung thư thân tử cung hay ung
Trang 181.2.7 Tiến triển và biến chứng
1.2.7.1 Tiến triển của u xơ tử cung
Những UXTC nhỏ có thể tiêu đi sau thời kỳ mãn kinh mặc dù không điều trị gì Mặt khác u xơ cũng có thể to lên phát triển vào ổ bụng hoặc chèn ép vào trực tràng ở sau, làm thay đổi vị trí cổ tử cung ra trước chèn vào bàng quang gây bí đái cấp U xơ có thể phát triển ra trước, đẩy bàng quang, hay phát triển ra bên ở trong dây chằng rộng, có thể chèn ép vào tĩnh mạch và niệu quản hay bị
kẹp trong tiểu khung, đè ép vào các động mạch và tĩnh mạch chậu [3, 13]
1.2.7.2 Biến chứng của u xơ tử cung
- Biến chứng chảy máu
Là biến chứng hay gặp nhất của u xơ tử cung Theo Malbouli tỉ lệ này
là 57,7% [10] Theo Vũ Nhật Thăng tỉ lệ này là 60,0% [28]
Biến chứng chảy máu hay gặp trong u xơ tử cung dưới niêm mạc [3,
20, 28] Có thể bệnh nhân có nhiều rối loạn cùng một lúc, ra huyết nhiều lần dẫn đến thiếu máu nhược sắc mức độ nặng nhẹ được xác định qua huyết đồ, hemoglobin
Thiếu máu là tình trạng giảm lượng huyết sắc tố trung bình lưu hành ở máu ngoại vi dưới mức bình thường so với người cùng giới, cùng lứa tuổi và trong cùng một môi trường sống [1, 18]
Thiếu máu là khi huyết sắc tố dưới 120g/l, và có thể chia ra [34]:
+ Thiếu máu nhẹ: huyết sắc tố từ 90 tới dưới 120g/l
+ Thiếu máu vừa: huyết sắc tố từ 60 tới dưới 90g/l
+ Thiếu máu nặng: huyết sắc tố từ 30 tới dưới 60g/l
+ Thiếu máu rất nặng: huyết sắc tố dưới 30g/l
- Biến chứng cơ giới
+ Khối u xơ có thể chèn ép vào niệu quản đưa đến hậu quả ứ nước bể thận, chèn ép bàng quang dẫn đến đái rắt, đái khó, bí đái, chèn ép trực
Trang 19+ Xoắn khối u xơ dưới phúc mạc có cuống biểu hiện đau hố chậu dữ dội, kèm dấu hiệu kích thích phúc mạc như nôn, bí trung đại tiện, toàn thân suy sụp, mạch nhanh, choáng bụng chướng đau Một biến chứng sau
đẻ có thể gặp là tử cung bị xoắn theo trục dọc vì khối u phát triển dẫn đến đoạn eo bị kéo dài [28]
- Biến chứng nhiễm khuẩn
+ Biến chứng này có thể xảy ra tại khối u xơ, niêm mạc tử cung và vòi tử cung Sự liên quan này thường xuyên xảy ra làm xuất hiện viêm vòi
tử cung cấp tính hoặc mạn tính hay viêm phần phụ [3]
- Biến đổi thoái hóa của u xơ tử cung Các biến đổi lành tính
+ Hoại tử vô khuẩn: do thiếu máu cấp tính vì tắc nhánh động mạch tận nuôi dưỡng u xơ
+ U xơ có thể thoái hóa như: thoái hoá phù, thoái hóa mỡ, thoái hóa kính hoặc vôi hóa hoại tử [28]
Biến đổi ác tính
Ung thư hóa (sarcoma) tỉ lệ này rất thấp, theo tài liệu nước ngoài thì tỉ
lệ này thấp dưới 0,1% [38], chẩn đoán thường khó, về lâm sàng khối u trở nên mềm, ra huyết bất thường kéo dài, tình trạng toàn thân suy sụp nặng
- Biến chứng sản khoa:
Ảnh hưởng đến thai nghén
+ Bệnh nhân có u xơ tử cung vẫn có thể có thai, UXTC và thai nghén cùng tồn tại, khi đó u xơ sẽ to lên và mềm đi U xơ làm cho thai nghén có nguy cơ bị sảy trong 3 tháng đầu Theo Glevin tần số sảy thai sớm thay đổi từ 4,0 – 8,0% [47]
+ U xơ tử cung làm cho thai chậm phát triển trong tử cung trong trường hợp UXTC quá to gây hạn chế lượng máu đến rau [55]
Trang 20+ U xơ tử cung làm thai chết lưu trong tử cung PLopes quan sát thấy 1,75% các thường hợp có thai bị chết trong buồng tử cung ở người bị u xơ
tử cung [56], tỉ lệ này của Diluca là 3,2% [40]
+ U xơ tử cung cản trở sự bình chỉnh của thai ở giai đoạn tháng thứ 6 làm cho ngôi bất thường, dễ dẫn đến đẻ non Theo Monnier thì tỉ lệ đẻ non
ở người có u xơ tử cung là 8,5% [61]
+ Đẻ khó: xảy ra khi u xơ biến thành u tiền đạo trong chuyển dạ
+ Chảy máu trong thời kỳ sổ rau: Thường do sót rau hoặc đờ tử cung Tỉ lệ này tăng gấp 2 lần theo Diluca [40]
- U xơ tử cung và vô sinh
+ U xơ tử cung là một yếu tố gây vô sinh Những phân tích trong y văn cho phép khẳng định điều này: u xơ tử cung gây bít tắc vòi tử cung, làm xoắn vặn, biến dạng buồng tử cung làm cho tinh trùng phải di chuyển trên một đoạn đường xa hơn để gặp trứng Khối u xơ tử cung cũng làm thay đổi sự tưới máu của nội mạc tử cung dẫn đến khó có thai [3, 13]
+ Theo Buttram thì 27,0% bệnh nhân mổ UXTC bị vô sinh [39]
1.2.8 Các phương pháp điều trị u xơ tử cung
Điều trị UXTC phụ thuộc vào tuổi, tình trạng thai nghén, sự mong muốn có thai trong tương lai, sức khỏe, triệu chứng, kích thước, vị trí khối u
Nếu UXTC nhỏ, chưa có biến chứng có thể theo dõi, kiểm tra hàng năm Nếu UXTC ngày càng lớn dần, gây các biến chứng đau vùng chậu, rong kinh, rong huyết, băng kinh, chèn ép bàng quang, khi có thai gây sẩy thai liên tiếp cần phải điều trị [3]
1.2.8.1 Điều trị nội khoa
Người ta chưa biết rõ nguyên nhân sinh ra u xơ, nên không có điều trị căn nguyên trong bệnh u xơ Tuy nhiên đã đặt ra giả thuyết do estrogen, nên
có thể dùng các thuốc có tác dụng kháng estrogen để điều trị, chống chỉ định
Trang 21Chỉ định điều trị nội khoa
Điều trị nội khoa chủ yếu là điều trị triệu chứng ra máu, dành cho các u xơ:
- Gây ra máu
- Chẩn đoán chắc chắn
- U có kích thước nhỏ hay vừa
- Ngoài biến chứng ra máu, không gây biến chứng nào khác
- Điều tri có thể làm u không to lên hay thậm chí bé đi
Phải ngừng điều trị thuốc khi bệnh nhân đã mãn kinh từ 4 - 6 tháng Nếu vẫn hành kinh đều, điều trị kéo dài 2 đến 3 năm cho đến khi tận mãn kinh nếu dung nạp điều trị tốt Khi bị ra máu trở lại mặc dù vẫn đang điều trị, thậm chí đã tăng liều, buộc phải mổ [3, 23]
+ Thuốc phối hợp estrogen-progestin
+ Androgen
+ Progestin
+ Thuốc tương tự LH-RH (Decapeptyl, Enantone, Suprefact, Synarel, Zoladex).Theo nghiên cứu của Felberbaum, liều LH-RH điều trị cho bệnh nhân là 60 mg tiêm bắp ngày thứ 2 của vòng kinh và bệnh nhân được tiêm nhắc lại với liều 30 mg hoặc 60 mg vào ngày 21 hoặc 28 của vòng kinh và sau 14 ngày siêu âm bằng đầu dò âm đạo thấy kích thước khối u giảm đi 31,3% [44]
+ RU 486 (Mifepristol) [53]
+ Thuốc đông y điều trị u xơ tử cung:
Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2005, Nguyễn Đức Vy và cộng sự cũng đã nghiên cứu thử nghiệm điều trị UXTC cho 42 bệnh nhân bằng thuốc viên chế từ cao khô Trinh nữ hoàng cung và bước đầu thu được kết quả đáng khả quan, 64,28% bệnh nhân có kích thước khối u nhỏ đi sau 2 đợt điều trị [36]
Trang 22Làm tắc động mạch tử cung là một phương pháp mới để điều trị khối u
xơ tử cung vì nó làm giảm lượng máu đến khối u, gây hoại tử và làm khối u
bé đi Đây là thủ thuật X-quang can thiệp qua da tiến hành dưới tác dụng của thuốc giảm đau và phong bế thần kinh hạ vị, giúp bệnh nhân có thể ra viện trong ngày [30, 32, 52]
Theo Millerjanet và cộng sự (2003), phương pháp làm tắc mạch u xơ tử cung làm giảm đáng kể triệu chứng cường kinh ở phụ nữ 79,0 – 93,0% trường hợp [59] Những nghiên cứu khác chỉ ra rằng triệu chứng đa kinh giảm đi sau
3 tháng làm tắc mạch khối u và giảm rõ hợp sau một năm [51, 54] Theo Ahmad và cộng sự, phương pháp làm tắc mạch không ảnh hưởng đến chức năng sinh lý bình thường của buồng trứng và là phương pháp an toàn trong điều trị UXTC ở bệnh nhân trẻ tuổi [37]
- Nội soi thắt động mạch tử cung
Theo nghiên cứu của Kirsten và cộng sự, nội soi thắt động mạch tử cung giảm chảy máu 50,0% trong 6 tháng Thể tích tử cung giảm 37,0%
(±18,0%) và thể tích khối u giảm 30,0% Nội soi thắt động mạch tử cung là một phương pháp mới hứa hẹn điều trị UXTC có triệu chứng với ít đau sau
mổ so với phương pháp nút mạch [54]
1.2.8.2 Điều trị ngoại khoa
* Chỉ định điều trị ngoại khoa trong u xơ tử cung khi có:
+ Rối loạn kinh nguyệt nặng nề Hầu hết là có cường kinh, rong kinh (được định nghĩa là mất trên 80 ml/tháng) [11]
+ U xơ tử cung có biến chứng cấp tính hay mạn tính chèn ép vùng tiểu khung như: đau bụng, bí tiểu, thường xuyên bị nhiễm khuẩn tiết niệu
+ UXTC không có triệu chứng nhưng dễ dàng sờ thấy ở trên bụng
+ Khuyến cáo cắt tử cung nếu tử cung có u xơ to hơn tử cung có thai
12 tuần dù là không có triệu chứng [11]
Trang 23* Tiêu chuẩn cắt tử cung vì u xơ theo hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG):
chỉ cần có 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:
- U xơ tử cung không có triệu chứng nhưng có kích thước to đến mức có thể sờ thấy khi khám trên bụng hay người bệnh tự sờ thấy
- Chảy máu âm đạo quá nhiều, biểu hiện:
+ Ra máu âm đạo ồ ạt, máu loãng lẫn máu cục, kéo dài trên 3 ngày
+ Thiếu máu do mất máu cấp hay mãn tính
- Khối u gây biến chứng ở tiểu khung:
+ Cấp tính hay mãn tính
+ Đau bụng vùng dưới hay đau lưng kéo dài
+ Đái rắt do khối UXTC đè ép vào bàng quang mà không do nhiễm trùng tiết niệu [11]
Điều trị ngoại khoa vẫn là hướng điều trị chính cho những bệnh nhân UXTC Đây là phương pháp điều trị tích cực, đem lại kết quả tốt nhất Việc điều trị nội khoa hiện nay hầu hết đóng vai trò điều trị hỗ trợ trước phẫu thuật [3]
Điều trị phẫu thuật bao gồm: cắt u xơ dưới niêm mạc qua soi buồng tử cung, bóc nhân xơ tử cung, phẫu thuật cắt tử cung bán phần và cắt tử cung hoàn toàn
- Phẫu thuật bóc tách nhân xơ
Phẫu thuật bóc tách u xơ được chỉ định cho những bệnh nhân còn trẻ tuổi, chưa có con hoặc mới chỉ có một con Đồng thời việc chỉ định còn phụ thuộc vào kích thước, vị trí và số lượng của u xơ
Theo báo cáo của Nguyễn Bá Mỹ Nhi và cộng sự (2005) đã thực hiện bóc nhân xơ tử cung bằng nội soi trên 81 bệnh nhân với tổng số 88 nhân xơ
Kết quả là các khối u được bóc triệt để không có bệnh nhân nào phải mổ lại vì tai biến chảy máu ngoại trừ 12 trường hợp sốt kéo dài sau mổ (14,8%) sau đó tất cả đều ổn định Gần 70,0% bệnh nhân trở lại sinh hoạt bình thường 24 giờ
Trang 24sau mổ Đa số các bệnh nhân xuất viện 72 giờ sau mổ, chỉ có 2,5% bệnh nhân nằm lại viện hơn 3 ngày [25]
Cắt bỏ u xơ tử cung qua soi buồng tử cung được thực hiện với u xơ tử cung dưới niêm mạc, u nằm hoàn toàn trong buồng tử cung hoặc đường kính lớn nhất của u nằm trong buồng tử cung, khi đó góc nối giữa nhân xơ với thành tử cung phải là góc nhọn, đường kính nhân xơ dưới 4 cm [10]
Tuy nhiên, phẫu thuật có thể làm giảm khả năng thụ thai dẫn đến vô sinh vì dính sau mổ [58] Tùy từng phương pháp bóc tách mà tỉ lệ dính buồng
tử cung sau mổ khác nhau Theo Buttram biến chứng dính sau mổ chiếm 50,0 – 90,0% với phương pháp bóc u xơ qua đường rạch bụng, dưới 50,0% với phương pháp cắt bỏ u xơ bằng nội soi ổ bụng và thấp hơn nữa nếu việc bóc tách được thực hiện bằng phương pháp nội soi buồng tử cung [39] Phẫu thuật bóc u xơ cũng có thể gây vỡ tử cung trong thai kỳ với tỉ lệ gặp là 3,0%, nguy
cơ này giảm đi khi sẹo mổ không mở vào buồng tử cung [64]
Theo nghiên cứu của Garcia, UXTC là một nguyên nhân gây vô sinh, phẫu thuật cắt bỏ u xơ dưới niêm mạc qua soi buồng tử cung là cần thiết, tỉ lệ
có thai sau cắt bỏ u xơ dưới niêm mạc là 62,0%, với u xơ kẽ tỉ lệ có thai cũng được cải thiện sau cắt bỏ u xơ U xơ dưới thanh mạc ít gây biến chứng do vậy với u xơ nhỏ không cần điều trị Tuy nhiên nếu u xơ dưới thanh mạc có cuống gây biến chứng xoắn đòi hỏi cần phải xử trí cấp cứu [46]
Sự tái phát của u xơ tử cung sau phẫu thuật bóc nhân xơ là 15,0% theo Buttram [39] Theo Monnier tỉ lệ này là 27,0% và sau phẫu thuật bóc tách nhiều nhân xơ tỉ lệ này là 59,0% [60] Theo Ploszynski, tỉ lệ tái phát u xơ sau hơn 5 năm là 14,28% [64] Theo Elizabeth (2001), tỉ lệ tái phát sau bóc nhân
xơ 5 năm là 50,0% và nguy cơ mổ lại là 11,0% đến 26,0% [42]
- Phẫu thuật cắt tử cung + Phẫu thuật cắt tử cung không hoàn toàn
Trang 25Được đặt ra khi tình trạng cổ tử cung không có tổn thương, giải phẫu đáy chậu của bệnh nhân bình thường, vị trí cuả u xơ cho phép và còn phụ thuộc vào tuổi của bệnh nhân Phẫu thuật có thể kèm theo cắt một phần phụ (vòi tử cung, buồng trứng) hoặc cả hai phần phụ tuỳ theo từng trường hợp
Phẫu thuật cắt tử cung không hoàn toàn được J.L.Fauvre thực hiện đầu tiên năm 1897, H.A.Kelly đã áp dụng năm 1900 trên tử cung có u xơ
+ Phẫu thuật cắt tử cung hoàn toàn
Cắt tử cung hoàn toàn có thể thực hiện qua đường mở bụng, qua đường
âm đạo hay qua nội soi ổ bụng Theo Lambaudie nghiên cứu 1.604 bệnh nhân được cắt tử cung hoàn toàn thì tỉ lệ cắt qua đường bụng là 10,2%, tỉ lệ cắt qua đường nội soi là 11,9% và cắt qua đường âm đạo là 77,9% [55] Theo Hoàng Văn Kết nghiên cứu 590 bệnh nhân được cắt tử cung vì u xơ tại Viện Bảo vệ
Bà mẹ Trẻ sơ sinh (nay là Bệnh viện Phụ sản Trung ương) năm 2002 thì tỉ lệ cắt tử cung qua đường bụng là 97,1%, đường nội soi là 0,7% và đường âm đạo là 2,2% [16]
Nếu âm đạo rộng, mềm, tử cung di động tốt, chiều cao tử cung không vượt quá 12 cm và không bị viêm dính, đồng thời khối u xơ tử cung không quá to thì có thể cắt tử cung hoàn toàn qua đường âm đạo [5] Thuận lợi của phương pháp này là làm giảm một nửa tỉ lệ biến chứng so với phương pháp cắt bỏ tử cung bằng đường bụng với thời gian nằm viện gần 2 ngày, thời gian phục hồi là 3 - 4 tuần nên rất có lợi cho bệnh nhân Tuy nhiên nó đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm, cẩn thận và việc lựa chọn bệnh nhân phải hết sức chặt chẽ [24]
Trong những năm gần đây cắt tử cung hoàn toàn còn được thực hiện qua phẫu thuật nội soi và đã thu được những kết quả rất khả quan Trong phẫu thuật cắt bỏ tử cung, việc cắt bỏ hoặc bảo tồn hai phần phụ tùy thuộc vào tuổi của bệnh nhân và tổn thương phần phụ kèm theo Nếu phải cắt bỏ
Trang 26cả hai phần phụ ở bệnh nhân còn trẻ có thể dùng hormon điều trị thay thế sau phẫu thuật [3]
Cũng như các phẫu thuật khác, phẫu thuật cắt bỏ tử cung cũng có những nguy cơ, biến chứng sau phẫu thuật như:
1.2.8.3 Các nghiên cứu về điều trị ngoại khoa u xơ tử cung
Nghiên cứu trên thế giới
- Tác giả Härkki-Sirén nghiên cứu đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của phẫu thuật nội soi trong khoảng thời gian 2 năm khi kỹ thuật mới này được giới thiệu với một số bệnh viện ở Phần Lan Nghiên cứu trên 1165 trường hợp cắt tử cung qua nội soi được thực hiện từ tháng 1 năm 1993 đến tháng 12 năm 1994 Các trường hợp được chỉ định do u xơ tử cung (54,0%), rong kinh (27,0%), đau bụng kinh (8,0%), lạc nội mạc tử (2,0%), và các lý do khác (9,0%) của 68 bác sĩ phụ khoa tại 30 bệnh viện thì tai biến phẫu thuật có
tỉ lệ 10,2% trong đó: nhiễm khuẩn 5,6%, tổn thương hệ tiết niệu 2,7% tai biến chạm vào mạch máu 1,2%, tổn thương ruột 0,4% [48]
- Tác giả Schwartz đã nghiên cứu về biến chứng của phẫu thuật nội soi cắt tử cung trên 45 trường hợp, kết quả cho thấy có 11,0% các tai biến trong
mổ, gây mê 7,0%, sau mổ 16,0% và do dụng cụ phẫu thuật chiếm nhiều nhất 56,0% [65]
- Năm 2004, Toma và cộng sự thực hiện nghiên cứu Tiến cứu về cắt tử cung ở một cơ sở y tế của Canada trên 372 bệnh nhân năm 2004, cho kết quả
Trang 27- Nghiên cứu của YAO và cộng sự năm 2005 về cắt tử cung trên 216 bệnh nhân u xơ tử cung bằng nội soi, cho kết quả tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 45,5 ± 4,45 tuổi [70],
- Nghiên cứu của Shin JW và cộng sự năm 2011 Tiến cứu trên 168 bệnh nhân u xơ tử cung là 44,51 ± 6,35 tuổi [66]
Nghiên cứu trong nước
- Năm 2001, tác giả Nguyễn Bá Mỹ Nhi và cộng sự đã nghiên cứu áp dụng cắt tử cung bằng phẫu thuật nội soi, nghiên cứu trên 680 trường hợp đầu tiên triển khai, có 650 trường hợp phẫu thuật thành công và 30 trường hợp chuyển mổ mở Thời gian trung bình phẫu thuật là 60 - 80 phút [25]
- Năm 2006, Nguyễn Văn Giáp đã nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật cắt tử cung hoàn toàn qua nội soi tại BVPSTƯ Nghiên cứu trên 122 trường hợp, thời gian mổ trung bình 62,9 ± 24,5 phút Có 5 trường hợp tổn thương tiết niệu chiếm 4,1% và nhiễm khuẩn mỏm cắt có 2 trường hợp chiếm 1,6% [9]
- Năm 2010, tác giả Nguyễn Quốc Tuấn nghiên cứu Tiến cứu mô tả gồm
111 trường hợp cắt tử cung qua nội soi Kết quả: tuổi trung bình 46,88 ± 6,62 tuổi, có 5 bệnh nhân dưới 39 tuổi Có 1 bệnh nhân chưa có con chiếm 1,3%
105 trường hợp mổ nội soi thành công, 6 trường hợp chuyển mổ mở vì khó khăn Đa số bệnh nhân có kích thước tử cung nhỏ hơn tử cung có thai 12 tuần (88,3%) UXTC có kích thước trung bình 6,3 cm ± 2, đường kính lớn nhất chỉ
12 cm và trọng lượng lớn nhất là 500gram Thời gian phẫu thuật trung bình
55 ± 17,7 phút Kết luận: cắt tử cung qua nội soi là phương pháp an toàn, hiệu quả, giá trị thẩm mỹ cao [33]
- Năm 2012 nghiên cứu của Trần Thanh Hương tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 với 90 trường hợp được cắt tử cung bằng phẫu thuật nội soi, thời gian mổ trung bình là 79,3 ± 18,5 phút, thời gian nằm viện trung bình 4,5 ± 0,7 ngày, có 6 trường hợp tai biến trong và sau mổ [14]
Trang 28- Năm 2014 nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Lựu tại Bệnh viện 198 -
Bộ công an với 54 trường hợp PTNS cắt tử cung, thời gian mổ trung bình là
119 ± 35,8 phút, thời gian nằm viện trung bình là 5,28 ± 0,74 ngày Có 3 trường hợp tai biến và biến chứng sau mổ [22]
- Năm 2016 nghiên cứu của Nhữ Thu Hòa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương có kết quả: nhóm tuổi thường gặp nhất là từ 30 - 39 tuổi chiếm 63,6%, sản phụ có UXTC đơn độc chiếm 78,7%, u kẽ chiếm 83,3% thường gặp nhất
là u < 5cm chiếm 48,2% [12]
- Năm 2017 nghiên cứu của Nguyễn Văn Đồng tại Bệnh viện phụ sản Thanh Hóa cho kết quả độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 45,89 ± 4,43 tuổi, kích thước u xơ ≤ 5 cm chiếm 70,8%, thời gian phẫu thuật trung bình là 84,27 ± 7,73 phút [7]
Trang 29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán UXTC đã được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/12/2017 đến 31/12/2017
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Những bệnh nhân được chẩn đoán là UXTC đã được phẫu thuật có kết quả giải phẫu bệnh là u xơ tử cung Bao gồm:
- UXTC đơn thuần, tử cung xơ hoá lan toả
- UXTC kèm một số bệnh khác như lạc nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, quá sản nội mạc tử cung không điển hình hoặc có thai
- Hồ sơ ghi đầy đủ thông tin đáp ứng với tiêu chuẩn nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Không có kết quả giải phẫu bệnh lý sau phẫu thuật
- Có kết quả giải phẫu bệnh lý sau phẫu thuật không phải là UXTC
- Hồ sơ không đầy đủ thông tin
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phụ sản Trung ương
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 09/2017 đến ngày 05/2018
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Tiến cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Lấy mẫu nghiên cứu thuận lợi, trong thời gian nghiên cứu em thu thập được 92 đối tượng đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
Trang 302.3.3 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Một số biến số nghiên cứu
biến
PP thu thập
Định danh Hồi cứu
Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh nhân u
xơ tử cung được điều trị bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
4 Tiền sử sản khoa Số lần đẻ, số con
còn sống
Định lượng Hồi cứu
5 Tiền sử phụ khoa Thời gian phát
hiện uxtc đến vào viện, tiền sử điều trị nội khoa uxtc trước điều trị ngoại khoa, tiền sử phẫu thuật tử cung
Định tính Hồi cứu
6 Triệu chứng lâm sàng vào viện
Triệu chứng cơ năng khiến bệnh
Định tính Hồi cứu
Trang 31đi khám
7 Triệu chứng thực thể Khám sờ xác định
kích thước tử cung trên lâm sàng so với kích thước tử cung khi có thai
Định lượng Hồi cứu
8 Đặc điểm u xơ trên siêu âm
Số lượng, vị trí, kích thước uxtc trên siêu âm
Định tính, Định lượng
Hồi cứu
9 Xét nghiệm máu ngoại vi
Định lượng Hemoglobin trong máu ngoại vi sau
đó phân loại thiếu máu theo các khoảng giá trị Hemoglobin:
Định lượng Hồi cứu
Mục tiêu 2: Nhận xét kết quả phẫu thuật của bệnh nhân u xơ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
10 Các phương pháp phẫu thuật uxtc
Phương pháp phẫu thuật: Mổ mở, phẫu thuật nội soi,
Định tính Hồi cứu
Trang 32âm đạo
11 Thời gian phẫu thuật Thời gian trung
bình với từng phương pháp phẫu thuật cụ thể
Định lượng Hồi cứu
12 Thất bại Thất bại xảy ra ở
nhóm các phương pháp phẫu thuật (chuyển phương pháp khác, tai biến, tử vong, )
Định tính Hồi cứu
13 Các nguyên nhân thất bại
Các nguyên nhân gây nên thất bại ở nhóm các phương pháp phẫu thuật
Định tính Hồi cứu
14 Tai biến Tai biến xảy ra ở
nhóm các phương pháp phẫu thuật (chảy máu, tổn thương ruột, tổn thương bàng quang, tổn thương niệu quản )
Định tính Hồi cứu