nổi bật của giống bí ngồi để khuyến cáo đưa vào sản xuất đại trà ở các vùng chuyêncanh rau 4 mùa [23].Bí Ngồi cũng như nhiều loại cây trồng khác muốn đạt năng suất và mang lạihiệu quả ki
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ở nước ta hiện nay việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, chọngiống mới, luân canh tăng vụ, đã góp phần tăng năng suất bí một cách vượt bậc
Bí Ngồi (Cucubita pepo L.) là loại giống mới được du nhập vào Việt Nam vài
năm trở lại đây Những năm gần đây nông dân đã triển khai trồng giống bí ngồi HànQuốc tương đối rộng rãi, giống được sử dụng phổ biến tên là Bulam House
Đây là giống bí không đẻ nhánh, bí mọc thẳng cao 30 - 40 cm, bí ngồi sinhtrưởng mạnh và kháng sâu bệnh tốt, trồng được trên chân đất khô, đất cát pha chủđộng tưới, tiêu nước Giống có năng suất, chất lượng cao, thường cho thu nhập 80triệu đồng / ha / vụ [18]
Bí ngồi có hàm lượng dinh dưỡng cao, quả bí thường dùng để ăn non các bộphận được sử dụng để nấu canh, luộc, xào, làm bánh mứt, phơi khô để ăn dần, dễchế biến, ăn ngon miệng nên được người tiêu dùng ưa chuộng
Bí có khả năng cất giữ và có thể góp phần giải quyết tình trạng giáp vụ rau Trong quả bí rất giàu nước, quả non chứa 90,7 % nước, 0,7 % đạm, 0,2 %chất béo, 6,3 % chất bột đường, 1,5 % chất xơ, 0,6 % chất khoáng, VitaminC( 5-22mg), prôtêin 1% và potasium 230 (mg) Tỉ lệ chất dinh dưỡng cao, quả non có tácdụng phòng chống bệnh tật rất tốt được xem là loại rau lợi tiểu, giúp cơ thể loại bỏchất độc hại, giúp hệ tiêu hóa hoạt động có hiệu quả [19]
Trong y học bí được coi là dược liệu chữa bệnh sốt, nhuận tràng, lợi tiểu,…
có tác dụng rất tốt với hệ tiêu hóa, tăng cường sự tiết dịch của dạ dày, tăng sức sống,chống độc, mát ruột [4]
Để góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuấthàng hóa, hướng sử dụng đất, thâm canh đạt giá trị sản lượng cao cho các vùng sảnxuất rau chuyên canh ở nước ta Tiến Sĩ Phạm Văn Hà đã nêu được những đặc điểm
Trang 2nổi bật của giống bí ngồi để khuyến cáo đưa vào sản xuất đại trà ở các vùng chuyêncanh rau 4 mùa [23].
Bí Ngồi cũng như nhiều loại cây trồng khác muốn đạt năng suất và mang lạihiệu quả kinh tế cao đòi hỏi phải đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết như: Nhiệt độ,ánh sáng, nước, phân bón cho quá trình sinh trưởng, phát triển
Bên cạnh đó, phân bón có vai trò rất quan trọng trong việc thâm canh tăngnăng suất, bảo vệ cây trồng và nâng độ phì nhiêu của đất Để có một nền nôngnghiệp bền vững chúng ta phải chuyển từ nông nghiệp truyền thống "Dựa vào đất"sang nông nghiệp thâm canh "Dựa vào phân bón"
Vì vậy chúng ta cần sớm ứng dụng một số giải pháp bền vững cho nông nghiệp,bằng cách sử dụng các loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, phân vi sinh) Côngnghệ phân bón mới này đã làm phong phú và thay đổi hệ thống phân bón cho cây trồng,vừa bảo vệ cây trồng ít bị nấm bệnh, vừa cải thiện và bảo vệ đồng ruộng, làm phong phú
hệ vi sinh vật đất và ảnh hưởng tốt đến đời sống cây trồng [9]
Để tăng sử dụng phân bón có hiệu qủa phải xác định được liều lượng, tỷ lệ giữacác loại phân, phù hợp với từng loại cây trồng, trên từng loại chân đất khác nhau
Đối với cây bí ngồi cũng như các loại cây trồng khác phân chuồng đóng vaitrò rất quan trọng trong sự phát triển của bộ rễ, thân cây, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu và
sự tổng hợp các chất dinh dưỡng có ở trong quả
Số quả đạt trên cây nhiều hay ít, to hay nhỏ còn phụ thuộc vào yếu tố thâmcanh, điều kiện sinh thái khí hậu của từng vùng
Ở nước ta diện tích trồng bí ngày càng tăng nhưng năng suất vẫn còn thấp vàkhông ổn định, so với năng suất trung bình của thế giới thì năng suất bí ở nước ta chỉđạt 40 - 45% Trong những năm gần đây, để tăng sản lượng bí cho nhu cầu trongnước và chế biến xuất khẩu, bên cạnh không ngừng mở rộng diện tích, sử dụng cácgiống mới cho năng suất cao, trồng bí trái vụ, thì việc sử dụng các loại phân bón
Trang 3đặc biệt việc sử dụng phân chuồng hoai mục có ảnh hưởng rất lớn và đóng vai tròquan trọng để tăng năng suất của bí.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài ‘‘Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất bí ngồi vụ Xuân 2008”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất giống bí ngồi Hàn Quốc F1 TN220
- Xác định liều lượng bón phân chuồng thích hợp mang lại năng suất và manglại hiệu quả kinh tế cao
3 Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến
một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống bí ngồi Hàn Quốc F1TN220
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến sâu bệnh củagiống bí ngồi Hàn Quốc TN220
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến các yếu tố cấuthành năng suất và năng suất chất lượng của giống bí ngồi Hàn Quốc F1TN220
CHƯƠNG 1
Trang 4TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cở sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Phân chuồng làm tăng năng suất cây trồng, giúp cây hấp thu dinh dưỡng tốthơn, tăng hiệu lực phân hóa học, cải tạo đất, giữ pH đất ở mức độ trung hòa hợp lý,tăng chất mùn cho đất, chứa các kích thích tố giúp rễ cây phát triển nhanh hơn, chứacác chất kháng sinh, các vi sinh vật đối kháng hay các vitamin để tăng khả năngchống chịu của cây trồng trong những điều kiện bất lợi
Phân chuồng là nguồn dinh dưỡng phong phú của cây trồng, trong phân chứa cácchất hữu cơ có trong thành phần của cây Ngoài ra trong phân có đầy đủ các yếu tố đalượng, vi lượng, trung lượng và trung bình có chứa 0,3% N, 0,2 % P205, 0,4% K205 Nếubón phân với lượng 10 tấn/ha sẽ cung cấp cho đất 30 kg N, 20 kg P205, 40 kg k20 [7]
Phân chuồng bón vào liên tục phân giải nhả khí CO2 vào bầu khí quyển sátmặt đất có lợi cho quang hợp của thân cây bò và thân thấp Phân chuồng còn đưavào đất một số hoocmon có tác dụng kích thích sự phát triển của rễ và quá trìnhsống của cây
Trang 5Ngoài các nguyên tố đa lượng, phân chuồng còn có các nguyên tố vi lượng, tỉ
lệ các nguyên tố vi lượng biến động nhiều theo thành phần đất đai và kỹ thuật chănthả gia súc từng vùng [13]
Phân chuồng không những là nguồn dinh dưỡng của cây trồng mà còn lànguồn thức ăn dồi dào cho vi sinh vật đất Bón phân chuồng rất giàu vi sinh vật 10gphân chuồng có 90 – 109 cá thể vi sinh vật, khi bón vào đất đã bổ sung cho tập đoàn
vi sinh vật một khối lượng đáng kể Phân chuồng có tác dụng làm hoạt tính của visinh vật cố định đạm, vi sinh vật amon hóa, nitrat hóa và một số loại khác
Phân chuồng bón đồng thời với phân hoá học tác dụng lẫn nhau rất rõ, phânhoá học thúc đẩy sự phân giải của phân chuồng, phân chuồng giữ cho phân hoá họckhỏi bị trôi mất và kích thích việc hút khoáng của cây làm tăng hiệu lực của phânhóa học
Từ những cở sở trên, có thể lấy đó làm cơ sở khoa học cho việc bón phân cânđối và hợp lí, để đạt được hiệu quả kinh tế cao
1.1.2 Cơ sở thực tiễn việc bón phân cho cây bí
Khi việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng được đẩy mạnh thì cây bí là cây manglại hiệu quả kinh tế cao, đem lại thu nhập đáng kể cho người dân, tuy nhiên năngsuất bí vẫn còn thấp và là một trong những nguyên nhân chính do việc bón phân tuỳtiện, không cân đối về tỷ lệ NPK
Mặt khác, trong điều kiện nhiệt độ cao, từ 25 – 30C như ở vụ Xuân của tỉnhNghệ An, quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh mẽ, đồng thời mưa bão kéo dài ra từgiai đoạn ra hoa tạo quả cho đến khi thu hoạch làm rửa trôi chất dinh dưỡng dẫn đếncây trồng bị thiếu chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kì cuối
Bón phân chuồng liên tục nhiều lần để làm tăng độ màu mỡ trong đất, tăngchất mùn, làm tơi xốp và giảm độ chua của đất
Phân chuồng cung cấp một lượng keo mùn lớn làm kết cấu của đất tơi xốphơn, bộ rễ cây trồng phát triển mạnh, tăng khả năng chống chịu của cây trồng với
Trang 6điều kiện ngoại cảnh bất thuận như rét, xói mòn, hạn, Vì vậy người ta gọi phânchuồng là phân cải tạo hóa lý tính đất [6].
Các chất dinh dưỡng trong phân chuồng 1 phần ở dạng dễ tiêu, cây trồng cóthể hấp thu trực tiếp, phần lớn được dự trữ trong phân ở dạng hữu cơ có thể cungcấp từ từ mà không bị trửa trôi đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các loại phânkhoáng và hiệu quả lâu bền [12]
Cây bí được trồng bằng phân chuồng phát triển rất tốt, vì phân chuồng luôngiữ cho đất tơi xốp và giữ được ẩm hơn Cây bí trồng xen phát triển tốt, cây dày chonăng suất cao, đất ẩm, ánh sáng ít nên hạn chế sâu bệnh, cỏ dại, thuốc trừ sâu vi sinhdiệt trừ được một số loại sâu bệnh Làm nông nghiệp theo phương pháp sử dụng bónphân chuồng là phương pháp tốt để cho ra các sản phẩm an toàn không độc hại,đồng thời phân chuồng không những làm cho đất màu mỡ, cây trồng khỏe mạnh màcòn bảo vệ sức khỏe con người và môi trường thiên nhiên xung quanh [24]
Cây bí cũng như các loại cây trồng khác, đều phải cạnh tranh nguồn phânchuồng với các cây trồng khác cùng thời vụ như ngô, lạc, đậu, vừng, Do đó việcxác định mức bón phân chuồng hợp lý cho năng suất cao, cải tạo đất, mang lại hiệuquả kinh tế là rất cần thiết
Khi gieo trồng, người dân thường bón ít phân chuồng, hoặc có hộ không bónphân chuồng Số hộ bón phân chuồng theo khuyến cáo còn rất thấp
Qua nghiên cứu, có thể tìm ra được sự cần thiết của phân chuồng, từ đó cóthể giúp người nông dân có công thức bón phân hợp lí nhằm giảm chi phí đầu vàonhưng có thể cho năng suất cao, nâng cao hiệu quả kinh tế
Đối với nhà cung cấp phân bón có thể làm căn cứ triển khai những nghiêncứu thêm về nhu cầu phân bón của địa phương, từ đó sản xuất loại phân bón cóthành phân thích hợp hơn đối với cây trồng, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tếcủa việc sử dụng phân bón
Trang 71.2 Tình hình nghiên cứu và tác dụng của phân chuồng đối với cây bí trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Trong các nguyên tố dinh dưỡng thì phân chuồng được coi là nguyên tố cóvai trò rất lớn đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây bí Hiệu lực của phânchuồng phụ thuộc vào loại đất trồng bí, lượng bón, tỷ lệ, phương pháp bón và dạngphân được sử dụng
Theo Teruo Higa (1980) ở Nhật Bản đã nghiên cứu về phân chuồng trongnhiều lĩnh vực như cây trồng, thuỷ sản, Nhiều nước đã sản xuất khối lượng lớnphân bón này để sử dụng trong nông nghiệp và được coi là giải pháp cho việc pháttriển nông nghiệp bền vững, tăng năng suất chất lượng cây trồng [22]
Tại Trung Quốc, kết quả nghiên cứu về tác dụng của việc bón phân chuồngtrên cây bí và các loại cây trồng khác cho thấy, năng suất tăng lên 10 – 20 % so vớikhông bón phân chuồng [32]
Trong những năm 1970 - 1989 Ở Châu Á có tới 75% sản lượng bí tăng lên là
do sử dụng lượng phân chuồng
Nghiên cứu hiệu quả của phân chuồng trên một số cây trồng ở Indonesia,G.N.Wididana và T.Higa (1995) [31] cho biết phân chuồng có ảnh hưởng rõ rệt đếnsinh trưởng phát triển, năng suất, phẩm chất của một số cây ăn quả và các loại raumàu như: cà chua, bầu bí, dưa chuột, khoai tây
Theo báo cáo của C.C.Ting, J.sami, A.B.Rahman và H.A.Sharfuddin (1995),tại Malaixia phân chuồng ảnh hưởng rất rõ rệt đến các giống lúa và rau màu như raucải, cà chua, bầu bí, dưa chuột, làm tăng năng suất lúa lên 10 -14 %, năng suất raumàu lên 26 % [29]
Jong Hoon Lee (1992) ở Hàn Quốc, khi nghiên cứu hiệu quả bón phânchuồng đối với bí ngồi, bí đỏ, bí đao, bí xanh đã đưa ra kết luận: Khi bón loại phân
Trang 8này làm cho cây sinh trưởng tốt hơn, sâu hại giảm, tăng độ Brix, tăng hàm lượngđường và làm tăng năng suất lên 20 - 40 % [30].
Trên cây bí phân chuồng được bón nhằm kích thích phát triển của bộ rễ, sựđậu hoa, quả, từ đó làm tăng năng suất cây trồng một cách đáng kể
Tác giả R.K Toora thuộc Đại Học Lincon, Centerbury và đồng nghiệp đãxem xét “Ảnh hưởng của các loại phân bón khác nhau đối với các liều lượng chấtchống oxi hóa chính trên cây “bầu bí” và đưa ra kết luận: hàm lượng chất dinhdưỡng trong bầu bí khi bón phân vô cơ thấp hơn 40% so với khi bón phân chuồng,phân hữu cơ, các chế phẩm sinh học [21]
1.2.2 Ở Việt Nam
Trong những năm qua Việt Nam đã có những cố gắng trong việc nghiên cứu
áp dụng khoa học kỹ thụât vào sản xuất bí, trong đó có những chương trình hợp tác
và tổ chức thế giới nhằm đánh giá tình hình sản xuất, tìm hiểu những hạn chế và cảitiến sản xuất
Việc sử dụng phân chuồng làm phân bón mang tính truyền thống trong quản
lý đất đai cho một nền nông nghiệp bền vững Phân chuồng sử dụng có hiệu quảnhất khi kết hợp với các biện pháp khác như luân canh, trồng cỏ phủ mặt đất để làmphủ xanh, sử dụng vôi bột và các nguyên liệu tự nhiên khác
Phân chuồng là loại phân bón cho các loại cây trồng rất tốt vì nó có đầy đủchất dinh dưỡng có tỷ lệ C/N cân đối, hợp lý từ 20 – 25% Nếu phối trộn thêm lượnglân, kali theo yêu cầu của từng loại cây trồng để bón lót hoặc bón thúc cho rau màu,cây ăn quả đều rất tốt, cho hiệu quả kinh tế cao [25]
Hiệu quả sử dụng phân chuồng không chỉ cung cấp trực tiếp dinh dưỡng chocây mà còn năng cao tính chất vật lý của đất tăng cường hoạt động của tập đoàn visinh vật trong đất, đồng thời tiết kiệm trong sử dụng các loại phân hóa học
Theo "Quy trình kỹ thuật trồng bí" một hec ta cần 15 - 20 tấn phân chuồnghoai và phân chuồng được bón lót vào hố trước khi gieo trồng [24]
Trang 9Kĩ sư Bùi Đình Dinh (1994) đã nghiên cứu ảnh hưởng của phân chuồng đến năngsuất lúa trên đất bạc màu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long kết quả cho thấy như sau [5].Bảng 1.1 Ảnh hưởng của phân chuồng đến năng suất lúa trên đất bạc màu
(tấn / ha) Tăng NS so với ĐC (%)
Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng được thể hiện ở bảng sau [7]
Bảng 1.2 Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng Đơn vị : % n v : % ị : %
Trang 10Sở khoa học và công nghệ tỉnh Nam Định đã giúp nông dân sử dụng rơm rạ ủtrong phân chuồng sau thời gian 1 tháng sẽ cho một loại phân bón rất tốt được bóntrước khi đem cây ra trồng, phân chuồng giúp giảm 20 - 30% lượng phân hóa học vàtăng năng suất cây trồng lên 5 - 7% [26].
Nguyễn Xuân Thúy, Nguyễn Văn Bộ, Bùi Huy Hiền (2001) Kết quả nghiêncứu cho thấy, bón phân chuồng cho cây bí làm tăng năng suất rất lớn, mức bội thuđạt 29 - 34 tấn/ha, 22 - 23 tấn /ha khi bón rơm rạ và bón kali 16 - 22 tấn/ha [23]
Theo báo cáo của sở Nông Nghiệp và PTNT Thành Phố Hà Nội (1997) khithử nghiệm bón phân chuồng ủ hoai trên các loại rau thuộc họ bầu bí có nhận xét,các loại rau có màu lá xanh hơn, hoa mơn mỡn và đậu quả nhiều hơn so với bón cácloại phân hóa học [15]
Phân chuồng không những có ảnh hưởng tốt đến các loại cây lương thực, raumàu mà còn có tác dụng tốt trên các loại cây ăn quả, hoa và cây cảnh
Ở Miền Nam, thí nghiệm ở trại Long Khánh ( 1963) và ở trại Eakmat (1964)thấy trên đất latosoi nâu đỏ, phân chuồng bón lượng 10 tấn/ha làm tăng năng suất 13
- 27% so với không bón phân [10]
Theo Hoàng Ming Châu, lượng phân chuồng tối thiểu cần duy trì hoạt độngtối ưu của đất là khoảng 3 - 5 tấn/ ha [2]
Theo PGS.TS Trần Đình Mấn, phó viện trưởng Viện CNSH cho biết khi sửdụng phân chuồng bón cho cây bí làm tăng năng suất lên 20 - 30% so với việc bóncác loại phân hóa học
Báo cáo thử nghiệm phân chuồng cho lúa qua 2 vụ năm 1998 Vũ Văn Liết,Nguyễn Văn Trung (1999) đã chỉ ra rằng sử dụng phân chuồng hoai mục có tácdụng làm tăng năng suất lúa từ 8 – 15,5% (giống CR203), và 3,4 – 18,5% (giốngC70) Đồng thời sử dụng phân chuồng hoai mục có thể làm giảm lượng phân bón vô
cơ mà không ảnh hưởng đến năng suất và có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng từ 5– 13 ngày (chủ yếu vụ mùa) [8]
Trang 11PGS.TS Lưu Hồng Mẫn (2005) khi bón phân chuồng thì năng suất khôngkhác biệt so với bón hoàn toàn phân hóa học mà tiết kiệm được nhiều chi phí Nếubón toàn bộ số phân chuồng ngay ở vụ đầu tiết kiệm được 40% lượng phân NPK/ha,nếu bón liên tục 10 vụ tiết kiệm 80% lượng phân NPK/ha [17]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năngsuất bí vụ Đông Xuân 2004 – 2005, Đào Châu Thu cho rằng khi bón loại phân nàylàm tăng năng suất bí từ 14,76 – 18,26 tạ /ha [11]
Năm 2004, Viện KHKTNN Việt Nam đã sản xuất thành công chế phẩm visinh vật chức năng và phân chuồng hoai mục trên cây bí Kết quả chế phẩm sinh vậtchức năng và phân chuồng hoai mục làm tăng năng suất bầu bí lên 15 – 20 %[17]
Trần Nga (2008) Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân chuồng đến họ bầu bí
ở Hải Phòng kết quả rút ngắn thời gian sinh trưởng của rau, thu hoạch sớm hơn 3 - 4ngày và tăng năng suất 15 - 20%, sản phẩm đẹp, chất lượng tốt, giảm từ 20 – 25%chi phí bón phân hóa học [16]
Các nhà nghiên cứu đã phân tích một số loại rau trong họ bầu bí có hàmlượng dinh dưỡng như sau[19]
Bảng 1 3 Thành phần hóa học thức ăn Việt nam (1990)
hấu
Dưa leo
Trang 121.3.Tình hình sản xuất bí trên thế giới và trong nước
1.3.1 Tình hình sản xuất bí trên thế giới
Trên thế giới, bí được trồng rộng rãi từ vùng nhiệt đới ẩm và nóng khô, tớivùng ôn đới tương đối ẩm và có nhiều mưa Cây bí không đòi hỏi nghiêm ngặt vềđất, thậm chí cả các loại đất bị rửa trôi thoái hóa vẫn trồng được bí, chỉ cần thànhphần cơ giới của đất tương đối nhẹ, có đủ độ ẩm và trong thời gian sinh trưởng củacây bí có đủ nhiệt độ và lượng mưa cần thiết Khoảng 80% diện tích trồng bí thế giớitập trung chủ yếu ở lục địa Á Phi, ở Châu Á (62,6%) và Châu Phi (15,8 %)
Theo số liệu thống kê của FAO (2007) diện tích trồng bí trên thế giới là 1.503.336
ha, năng suất đạt 13,50 tấn/ha, sản lượng đạt 20.296.443 tấn, trong đó có 2 nước tập trungtrồng bí nhiều nhất là: Ấn Độ đạt 360.000 ha, Trung Quốc đạt 328.000 ha
Trang 13(Tấn/ ha)
Sản lượng
( Nguồn: w.w.w.Fao org.stat) [27]
Qua bảng số liệu 1.5.cho thấy Trung Quốc là nước đạt năng suất cao nhất(631,50 tấn/ha), năng suất đạt thấp nhất Colombia (6,00 tấn/ha) trong năm 2007
Bảng1 5 Sản xuất bí toàn thế giới ( 2005 - 2007)Nước
Chỉ tiêu Australia Canada Chile China ColombiaDiện tích
( Nguồn: w.w.w.Fao org.stat) [27]
1.3.2 Tình hình sản xuất bí ở Việt Nam
Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có điều kiện thuậnlợi cho việc trồng bí Sản xuất bí được phân bố trên khắp các vùng sinh thái củanước ta, diện tích trồng bí chiếm khoảng 30% so với các loại cây trồng khác
Cây bí có tính thích nghi trên diện rộng và không đòi hỏi điều kiện chăm sócnên được người dân ưa thích và gieo trồng ở nhiều vùng khác nhau vì thế đã hìnhthành nhiều vùng tập trung trồng bí lớn ở Việt Nam
Năng suất bí ở nước ta nói chung còn rất thấp, chỉ khoảng 30% so với năngsuất của toàn thế giới Những tỉnh có diện tích trồng bí lớn: Hải Dương, Bắc Giang,
Trang 14Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Đồng,… đều là những nơi có năng suất khácao đạt trên 21 - 23 tấn/ ha.
Hiện nay ở nước ta có 3 loại giống bí chủ lực được bà con áp dụng triển khairộng rãi đó là các giống bí xanh, bí ngồi, bí đao
Bên cạnh công tác nghiên cứu về giống thì việc áp dụng các biện pháp kĩthuật thâm canh như: thời vụ trồng, mật độ gieo, chế độ bón phân, chế độ tưới tiêu,
… cũng rất được quan tâm trong sản xuất Trong đó việc sử dụng phân bón đối vớicây bí đã trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc tăng năng suất, chấtlượng và nâng cao khả năng chống chịu của cây
Năm 2006, diện tích bí ngồi ở Hải Dương là 2.138 ha, năng suất đạt 21,1 tấn,sản lượng 45,169 tấn
Theo Tiến Sĩ Đào Xuân Thảng, phó Viện Trưởng Viện cây lương thực nước
ta cây bí ngồi rất phù hợp cả 2 vụ Xuân Hè và Thu Đông Giống cho năng suất cao,
vụ Xuân hè đạt 50 - 55 tấn/ ha, vụ Thu Đông 45 - 48 tấn/ ha, bí là cây trồng có giátrị kinh tế cao và có giá trị đa dạng về nhiều mặt [23]
Diện tích và sản lượng bí cũng tăng lên đáng kể và bí thường tập trung được
ở nhiều vùng khác nhau
1.2.3 Tình hình sản xuất bí ở Nghệ An
Qua bảng 1.7 ta thấy, năm 2002 diện tích bí ở Nghệ An chỉ đạt 40 ha, đếnnăm 2007 đã tăng lên 578 ha gấp 16 lần, điều đó cho thấy cây bí ngày càng đượcquan tâm và ưa chuộng Năng suất bí đạt 135tạ/ha (2002) đã tăng lên 150,67tạ/ha(2007) nhờ áp dụng các phương thức sản xuất tiến bộ và sự đầu tư của người nôngdân Nhìn chung so với diện tích trồng bí cả nước, Nghệ An là tỉnh trồng nhiều bívới diện tích 587ha
Với diện tích như vậy thì Nghệ An đã đạt được được sản lượng 8709 tấn,mang lại thu nhập lớn cho người nông dân và xuất khẩu của tỉnh
Trang 15Trong những năm gần đây, cây bí được trồng phân bố khắp các Huyện trongtỉnh như: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc.
Theo số liệu thống kê ở Nghệ An từ năm (2002 - 2007) như sau:
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến quá trình sinh trưởng,phát triển của bí ngồi Hàn Quốc F1TN 220
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến các yếu tố cấu thànhnăng suất và năng suất của bí ngồi Hàn Quốc F1TN 220
2.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Trang 16Giống bí ngồi Hàn Quốc F1TN 220: Là giống nhập nội từ Hàn Quốc đượcViện KHKTNN Việt Nam bồi dưỡng và chọn lọc từ 1995, được đưa vào sản xuất tạiNghệ An từ vụ Xuân năm 2000.
* Giống có đặc điểm
Giống không đẻ nhánh, thân đứng thẳng, sinh trưởng mạnh và kháng sâu bệnh tốt,trồng được ở chân đất khô, đất cát pha chủ động tưới tiêu, thích nghi với độ ẩm cao, trồngđược quanh năm Tỷ lệ đậu quả từ 5 - 7 quả, trọng lượng mỗi quả từ 2 – 3 kg
Thời gian sinh trưởng của giống từ 60 - 70 ngày, giống được gieo trồng1000m2 là 160 - 170g Giống có thể trồng được quanh năm, mức độ chịu rét cao, thíchứng rộng Thâm canh tốt, đầu tư cân đối cho năng suất 20 – 25 tấn/ha [18]
* Phân bón
Thí nghiệm sử dụng các loại phân bón
Phân chuồng hoai mục Là phân bò có nguồn gốc ở địa phương, sử dụng chấtđộn chuồng là rơm rạ, phân đã được ủ hoai hai tháng Thành phần của phân chuồngđược tính theo thành phần chung của trâu bò trong đó: nước chiếm 83%, chất hữu cơ14,5%, đạm chiếm 0,32%, P205 chiếm 0,25%, K20 chiếm 0,15% và 0,34% CaO [1]
Phân đạm urê: (NH2)2 CO
Phân lân: Super lân Ca(H2PO4)2
Phân kali: KCl
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành Tại Trại thực nghiệm Nông học - Xã Nghi Phong
- Huyện Nghi Lộc - Nghệ An
Đất đai: Thí nghiệm được tiến hành trên đất cát pha
Trang 17Thời gian tiến hành thí nghiệm.
- Ngày 12/2/2008: Tiến hành triển khai làm đất
- Ngày 1/3/ 2008: Đem cây con ra trồng
- Ngày 6/5/2008: Ngày thu hoạch
2.2.3 Thời tiết khí hậu trong vụ
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển các loại cây trồng nói chung và cây bí ngồinói riêng đều ảnh hưởng điều kiện khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, chế độ nước
Khí hậu cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ,tạo năng suất cho cây trồng, có đến 90 - 95% chất hữu cơ của cây trồng là do quátrình quang hợp với sự cung cấp năng lượng của ánh sáng mặt trời, cơ cấu cây trồngtận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và kinh tế cao nhất
Thời tiết khí hậu là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nôngnghiệp, cây bí sinh trưởng, phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ 25 - 300C
Trong thời kỳ nảy mầm của cây bí, yêu cầu nhiệt độ thích hợp của bí là 25
-300C tối đa 30 - 350C, nhiệt độ dưới 200C hoặc trên 350C đều ảnh hưởng tới quátrình nảy mầm, kéo dài thời gian sinh trưởng hoặc ngừng sinh trưởng
Nhiệt độ, lượng mưa và ánh sáng là yếu tố cực kỳ quan trọng và là nguyên nhântrực tiếp ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của bí sau này
Ngoài ra nước là yếu tố ảnh hưởng đến các giai đoạn sinh trưởng của cây bí Ởgiai đoạn từ khi trồng đến khi ra hoa cây cần có đủ lượng nước để giữ độ ẩm cho đấttạo điều kiện cho cây sinh trưởng, phát triển mạnh, tăng năng suất sau này vì vậy sovới các thời kỳ khác thì cây bí cần lượng nước nhiều nhất ở giai đoạn này
Diễn biến khí hậu ở Nghệ An rất phức tạp, khí hậu vụ Xuân 2008 có nhữngbất lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất bí nói riêng
Đầu vụ (mọc mầm đến cây con): Trời rét kéo dài, nhiệt độ và độ ẩm thuận lợinên thời gian mọc mầm nhanh và tỷ lệ mọc mầm khá cao Giữa vụ (thời kỳ ra hoa,
Trang 18hình thành quả): nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi cho quá trình hình thành quả sau này
Thời kỳ thu hoạch thời tiết bất lợi tạo điều kiện nhiều loại sâu bệnh phá hại
Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ Xuân 2008
Chỉ tiêu
Tháng
Nhiệt độ (ºC) Lượng
mưa(mm)
Ẩm độ ( %) Số
ngàymưa
Nguồn: Đài khí tượng Thuỷ Văn Bắc Trung Bộ [28 ]
Số liệu diễn biến khí tượng thuỷ văn thu được qua các tháng có ảnh hưởng tớicây bí như sau:
Về nhiệt độ: Nhiệt độ tăng dần từ tháng hai đến tháng năm là điều kiện thuậnlợi cho cây bí sinh trưởng và phát triển Từ tháng 3 đến tháng 4 thời kì cây bí ra hoa
và hình thành quả nhiệt độ trung bình 25,2ºC là điều kiện thuận lợi để cây bí hìnhthành quả cho năng suất sau này
Về lượng mưa và độ ẩm: Lượng mưa từ tháng 2 đến tháng 3 khá lớn ảnhhưởng đến tốc độ ra hoa của bí
Số ngày mưa ở tháng thứ 2 kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của bí,nhưng từ tháng thứ 3 trở đi số ngày mưa giảm dần tạo điều kiện cho bí sinh trưởng,phát triển thuân lợi
2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.1 Công thức thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí gồm 5 công thức, với 3 lần nhắc lại theo kiểu RCB (theo
khối ngẫu nhiên hoàn toàn)Công thức I: 0 tấn PC/ha + 20 kg N/ha + 185 kg P205/ha + 45 kg K20/ha
Công thức II: 8 tấn PC /ha + 20 kg N/ha + 185 kg P205/ha + 45 kg K20/ha
Trang 19Công thức III: 12 tấn PC/ha + 20 kg N/ha + 185 kg P205/ha + 45 kg K20 /ha.Công thức IV: 16 tấn PC/ha + 20 kg N/ha + 185 kg P205/ha + 45 kg K20 /ha.Công thức V: 20 tấn PC/ha + 20 kg N/ha + 185 kg P205/ha + 45 kg K20 /ha.
2.3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB)
Bảng 2.2 Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB)
S ơn vị : % đồ bố trí thí nghiệm ố trí thí nghiệm b trí thí nghi m ệ An
2.4.1 Chuẩn bị giống trước khi gieo
Giống là khâu quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng
Trang 20Vì vậy chúng ta phải chuẩn bị hạt giống cẩn thận trước khi gieo bao gồm cáckhâu sau:
- Phơi hạt giống
- Chọn hạt giống: Chọn giống khoẻ mạnh, sạch sâu bệnh, năng suất cao
- Chọn cây đủ tiêu chuẩn, trước khi đem trồng cần phun phòng bằng thuốcsâu và thuốc bệnh trong giai đoạn vườn ươm
- Xử lý hạt giống: Ngâm hạt bí vào nước lạnh khoảng một tiếng vớt ra góivào túi vải mỏng, chỉ sau 24 tiếng đồng hồ là hạt bật mầm
Dặm bí lúc 4 - 6 lá (21 ngày sau gieo) tiến hành dặm bí để đảm bảo mật độ
Bí trước khi dặm được xử lý theo phương pháp “ Một sôi hai lạnh”, nhữnghạt đã nứt nanh mới đem ra dặm
2.4.4 Kỹ thuật bón phân
Lượng phân bón được bón theo các công thức thí nghiệm
Bón phân được chia làm 3 đợt
Trang 21Bón lót: Sau khi rạch hàng, bón phân trực tiếp vào rãnh, bón toàn bộ phânchuồng, 50% đạm, toàn bộ lân, 50% KCl sau đó lấp đất để đảm bảo cho bí khi gieotránh tiếp xúc với phân.
Bón thúc lần 1: Sau trồng 20 - 25 ngày, bón phân lúc này cung cấp dinhdưỡng kịp thời cho cây con sinh trưởng, phát triển Bón 50% N + 30% KCl (bónquanh gốc theo hình chiếu của tán lá)
Bón thúc lần 2: Sau trồng 35 - 40 ngày Bón 50% N + 20% KCl (kết hợp tưới nước)
* Buộc cây, tỉa cành, thụ phấn bổ sung
Buộc cây nhằm hạn chế quả bí nằm sát mặt đất gây thối quả và ảnh hưởngcủa các loại bệnh sinh ra từ đất
Tỉa cành, giữ một thân cây chính và 1 thân cây phụ phát triển từ nhánh mọcđến hoa thứ nhất để khi có quả bộ lá có tác dụng che nắng không cho quả bị rámnắng, những cành bị vàng lá tỉa bỏ hết
Thụ phấn bổ sung: Ở bí ngồi, hoa đực và hoa cái riêng biệt, nở không đồngloạt nên khi gặp điều kiện không thuận lợi như thiếu ong bướm, mưa gió, các loạicôn trùng, sẽ ảnh hưởng đến đậu quả và năng suất, vì thế ta phải thụ phấn bổ sung
Trang 22Khoảng 7 - 9 giờ sáng, hái hoa đực mới nở, ngắt bỏ hết cành, cầm hoa đựcxát nhẹ lên đầu nhụy hoa cái.
* Phòng trừ sâu bệnh
Bí ngồi ít bị sâu bệnh hại, chủ yếu bị một số sâu bệnh sau:
- Sâu đất hại khi bắt đầu cây mọc mầm đến 2 - 3 lá thật, biện pháp hữu hiệunhất là bắt giết vào lúc sáng sớm
- Bệnh sương mai hại chủ yếu trên lá Bệnh dễ lây lan nhờ gió, mưa, điềukiện thời tiết nóng ẩm, phòng trừ chủ yếu làm sạch cỏ dại, tỉa bớt nhánh, các lá giàlàm cho ruộng thông thoáng, tỉa các lá bị bệnh nặng hạn chế sự lây lan, khi bệnhxuất hiện phun thuốc kịp thời
- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng phun thuốc phòng trừ các loại sâu đục quả
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.5.1 Các chỉ tiêu theo dõi ngoài đồng ruộng
2.5.1.1 Các giai đoạn phát triển của bí ngồi.
+ Thời gian từ trồng đến ra hoa: Tính từ ngày trồng đến khi có 30% số câytrong ô thí nghiệm có số hoa nở
+ Thời gian từ trồng đến ra hoa rộ: Tính từ ngày trồng đến khi có 70 - 80% sốcây trong ô thí nghiệm có hoa nở
+ Thời gian từ trồng đến đậu quả: Tính từ ngày trồng đến khi có 70 - 80% sốcây trong ô thí nghiệm đậu quả đầu tiên
+ Thời gian từ trồng đến thu hoạch: Tính từ trồng đến 30% số cây trong ô thínghiệm có quả thu hoạch
2.5.1.2 Thời gian sinh trưởng
+ Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởngngọn, theo dõi 5 cây trên mỗi ô thí nghiệm Đo từ sau khi cây hồi xanh, sau đó 7ngày đo 1 lần
+ Số lá trên thân chính (lá) 7 ngày theo dõi 1 lần
Trang 23b: Trị số cấp bệnh của mỗi cấp tương ứng N: Tổng số lá theo dõi
T: Trị số cấp bệnh cao nhất
Trang 242.5.1.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Tỷ lệ đậu quả: Đếm số quả đậu trên cây (quả già, quả bánh tẻ, quả non).Đếm số hoa trên cây: Đếm cả số hoa cái, hoa đực
Đếm số quả hữu hiệu trên cây: Mỗi ô thí nghiệm theo dõi 5 cây
Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha) = (NSCT) x (mật độ) x 10.000 m2
.Năng suất thực thu (NSTT) (tạ/ha) = (Năng suất ô) x 10.000 m2 /10 m2
.
2.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi trong phòng thí nghiệm
Đo Brix : Mỗi ô thí nghiệm đo 5 quả bằng máy đo Brix
+ Xác định một số chỉ tiêu sinh hoá
- Hàm lượng chất khô (%): Sấy cân trọng lượng chất khô
- Hàm lượng đường tổng số (%)
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý bằng máy tính bỏ túi, STASTIC, EXCEL
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến các giai đoạn sinh trưởng của cây bí ngồi.
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây là kết quả của hàng loạt các hoạtđộng biến đổi sinh lí, sinh hóa trong cây cùng với sự phân chia của các mô tế bàolàm cho cây lớn lên
Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố về cấu trúc của tế bào, sự phân hóa các
mô trong tất cả các bộ phận thân, lá, rễ của cây Từ đó tăng nhanh về số lượng các tế
Trang 25bào, các mô, dẫn đến sự thay đổi về kích thước, thể tích kéo theo sự tăng nhanh vàsinh khối tức là quá trình lớn lên của cây.
Phát triển là sự biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây dẫn đến sựthay đổi về hình thái và chức năng của chúng
Bí ngồi cũng như các loại cây trồng khác để hoàn thành chu kỳ sống củamình phải trải qua các pha sinh trưởng và pha sinh thực Các giai đoạn sinh trưởngcủa bí dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đặc tính sinh vật học của giống, điều kiện ngoạicảnh, biện pháp kỹ thuật, Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng nhu cầu của bí về các yếu tốnhư: nhiệt độ, nước, ánh sáng, dinh dưỡng khác nhau
Nắm được các giai đoạn sinh trưởng của cây bí nhằm tác động các biện phápđiều khiển sinh trưởng phù hợp với yêu cầu thực tế sản xuất, tăng năng suất câytrồng, bố trí cơ cấu hợp lý nâng cao hệ số sử dụng của phân bón
Trong quá trình sinh trưởng của bí khi trồng gặp rét kéo dài, cuối vụ gặpmưa, thời kỳ ra hoa thụ phấn, thụ tinh gặp điều kiện không thuận lợi nhiệt độ cao,sâu bệnh phát triển mạnh, tỷ lệ đậu quả kém
Do đó việc rút ngắn thời gian sinh trưởng có ý nghĩa quan trọng nhằm giảmthiếu tối đa những ảnh hưởng xấu của sâu xanh ăn lá, sâu đục quả, bệnh virus phá hại
Tiến hành trồng cây con 15 ngày sau gieo, khi cây có từ 2 - 3 lá thật, câykhỏe mạnh, không sâu bệnh, phát triển tốt
Theo dõi thời gian sinh trưởng của bí qua các thời kỳ, thu được kết quả ởbảng 3.1 như sau
3.1.1 Thời gian từ trồng đến ra hoa
Thời gian từ trồng đến ra hoa bao gồm các giai đoạn Giai đoạn hồi xanh, giaiđoạn sinh trưởng sinh dục, phát triển thân lá, tích lũy chất dinh dưỡng để chuyểnsang các giai đoạn sinh trưởng Trong giai đoạn này mọi tác động đều ảnh hưởngtrực tiếp đến số lượng và chất lượng, cơ quan sinh trưởng, sự ra hoa là điều kiện tiênquyết đến hình thành quả sau này Việc giảm thời gian sinh trưởng sinh dưỡng có
Trang 26thể làm ra hoa hình thành quả sớm, có ý nghĩa trong vụ Xuân, tránh tác hại củanhững trận mưa sớm hoặc nhiệt độ cao.
Thời gian ra hoa được tính từ khi trồng đến khi có 30% số cây trong ô thínghiệm có hoa nở
B ng 3.1 nh h ản xuất bí ở Nghệ An Ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến thời gian sinh ưở Nghệ An ng c a li u l ủa liều lượng phân chuồng đến thời gian sinh ều lượng phân chuồng đến thời gian sinh ượng phân chuồng đến thời gian sinh ng phân chu ng ồ bố trí thí nghiệm đến thời gian sinh n th i gian sinh ời gian sinh
tr ưở Nghệ An ng c a bí ng i v Xuân 2008 ủa liều lượng phân chuồng đến thời gian sinh ồ bố trí thí nghiệm ụ Xuân 2008.
CT
Gieo đến
trồng (ngày)
Thời gian sinh trưởng từ trồng đến (ngày)
Rahoa
Ra hoarộ
Đậuqủa
Thuhoạch
Kết thúcthuhoạch
TổngTGST
Trong giai đoạn này do hoạt động của nhóm vi sinh vật đất đã làm tăng khảnăng hòa tan dinh dưỡng tạo điều kiện cho cây hấp thu trực tiếp phân chuồng đến sự
ra hoa của bí Các công thức có bón phân chưa thể hiện rõ sự sai khác
3.1.2 Thời gian từ trồng đến ra hoa rộ
Xác định được thời gian từ trồng đến ra hoa rộ có ý nghĩa rất lớn để bố trí thời
vụ hợp lý tránh thời kỳ ra hoa rộ không gặp những điều kiện bất lợi của thời tiết
Với liều lượng bón phân chuồng ở thời kỳ này biến động từ 37,33 - 39,67(ngày), công thức V có thời gian ra hoa rộ sớm nhất 37,33 (ngày) do lượng bón phânthích hợp, muộn nhất công thức đối chứng không bón phân 39,67 (ngày), nhìn
Trang 27chung các công thức bón phân đều có thời gian từ trồng đến ra hoa rộ ngắn hơn côngthức đối chứng không bón phân.
3.1.3 Thời gian từ trồng đến đậu quả
Đây là giai đoạn quan trọng để cây bí cho năng suất cao nhất sau này Giai đoạnnày thời tiết thuận lợi nhiệt độ khoảng 28ºC tạo điều kiện cho bí ra hoa, đậu quả
Qua bảng 3.1 ta thấy Các công thức bón phân từ trồng đến đậu quả biếnđộng từ 42,33 - 44,00 (ngày) so với công thức đối chứng là 45,67 (ngày)
Ảnh hưởng của phân chuồng ở các công thức trong giai đoạn này chưa thể hiện rõ
3.1.4 Thời gian từ trồng đến thu hoạch
Tỉ lệ quả chín lúc thu hoạch là một chỉ tiêu quan trọng, một trong các biệnpháp xác định thời gian thu hoạch của bí
Sau khi được hình thành, quả bắt đầu phát triển, các chất bắt đầu được vậnchuyển tích lũy vào quả đến khi đạt kích thước lớn nhất và đầy đủ chất cần thiết thìquả bắt đầu thu hoạch
Qua kết quả theo dõi cho ta thấy Các công thức có bón phân chuồng với liềulượng khác nhau đều làm rút ngắn thời gian sinh trưởng của các giống và giao động
từ 63,00 - 64,67 ngày so với công thức có thời gian dài nhất là 69,00 (ngày)
3.1.5 Thời gian từ trồng đến kết thúc thu hoạch
Xác định được các giai đoạn sinh trưởng từ gieo đến trồng, từ trồng đến kếtthúc thu hoạch và tổng thời gian sinh trưởng, từ đó có thể bố trí trồng bí hợp lý trongcông thức luân canh
Công thức V có thời gian kết thúc thu hoạch ngắn nhất 96,00 (ngày), ngắnhơn sovới đối chứng 8 ngày Các công thức còn lại có sự sai khác ít về chỉ tiêu này
Tóm lại, trong giai đoạn đầu sinh trưởng phân chuồng chưa có ảnh hưởngđáng kể đến thời gian sinh trưởng, phát triển của bí ngồi Khi bí bắt đầu ra hoa làthời điểm xuất hiện những sai khác đáng kể do ảnh hưởng của các mức phân chuồng
Trang 28khác nhau, các công thức bón phân chuồng khi bí ra hoa muộn hơn nhưng tổng thờigian ra hoa kéo dài hơn so với các công thức bón với mức phân chuồng thấp hơn,bón đầy đủ phân chuồng cũng có tác dụng tăng tỷ lệ đậu quả lúc thu hoạch
3.2 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến các chỉ tiêu sinh trưởng của bí ngồi 3.2.1 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến chiều cao thân chính
Chiều cao thân chính của bí ngồi phụ thuộc vào bản chất di truyền giống vàcác điều kiện cụ thể của môi trường trồng trọt (đất đai, khí hậu thời tiết, các biệnpháp kỹ thuật), Sự phát triển chiều cao cây và sự ra hoa kết qủa có mối quan hệchặt chẽ với nhau, các cơ quan sinh dưỡng nhanh và khỏe mạnh tạo điều kiện tiền đềcho cơ quan sinh dục phát triển Do vậy chiều cao cây là một chỉ tiêu quan trọngphản ánh trung thực sự sinh trưởng phát triển của cây và mối tương quan giữa sinhtrưởng sinh dưỡng với sinh trưởng sinh thực
Nếu thân chính có chiều cao lớn sẽ cho số lá và số cành trên cây nhiều tạotiền đề cho việc tập trung chất hữu cơ và hình thành số hoa trên cây Nếu chiều caothân chính sinh trưởng kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành quả sau này Vìvậy việc cung cấp chất dinh dưỡng để thân chính sinh trưởng tốt là điều cần thiết
Tốc độ sinh trưởng, phát triển chiều cao thân chính của bí ngồi thể hiện quacác thời kỳ khác nhau, thời kỳ cây con thân chính sinh trưởng chậm, thân chính sinhtrưởng, phát triển mạnh nhất vào thời kỳ bắt đầu ra hoa
Tuy nhiên với các công thức bón phân chuồng khác nhau, kết quả ảnh hưởngđến sự tăng trưởng chiều cao cây được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến chiều cao thân chính
Trang 29V 6,14 8,12 8,82 14,25 21,40 29,46 31,40
*Sự tăng trưởng chiều cao thân chính ở giai đoạn 15 – 22 ngày sau trồng:
Qua số liệu bảng 3.2 cho thấy: Giai đoạn 15 ngày sau trồng không thấy có sựsai khác về mặt thống kê của chiều cao cây so với đối chứng và giữa các công thức
có bón phân chuồng với liều lượng khác nhau
Ở giai đoạn 15 ngày sau trồng công thức II chiều cao cây đạt cao nhất (6,80cm) nhưng công thức V bón phân chuồng nhiều nhất mới đạt (6,14 cm)
Ở giai đoạn 22 ngày sau trồng: Chiều cao thân chính của giống đạt cao nhất ởcông thức IV (8,28 cm) Công thức V với mức phân chuồng bón nhiều nhất đạt(8,12 cm), công thức đối chứng không bón phân đạt thấp nhất (6,89 cm), thấp hơn
so với công thức cao nhất là (1,23 cm) Như vậy, thời kì này ảnh hưởng của phânchuồng đến chiều cao cây chưa biểu hiện rõ
Giữa các công thức có bón phân chuồng ở các liều lượng khác không có ýnghĩa về mặt thống kê
* Giai đoạn 29 - 43 ngày sau trồng (ra hoa - kết thúc hoa)
Ở giai đoạn này chiều cao cây bắt đầu có sự sai khác giữa các công thức, caonhất ở công thức V đạt (21,40 cm), cao hơn (7,41 cm) so với đối chứng không bónphân (13,99 cm) Đây là giai đoạn cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡngđến sinh trưởng sinh thực Nhưng ở thời điểm này các bộ phận sinh dưỡng (thân,cành, rễ, lá) mới chỉ đạt khoảng 25 - 30%, ảnh hưởng của phân chuồng chưa biểuhiện rõ ở chiều cao cây
Giai đoạn này thấy có sự sai khác về mặt thông kê giữa các công thức có bónphân chuồng so với công thức đối chứng không bón phân chuồng về chiều cao thânchính và giữa các công thức có bón phân chuồng với liều lượng khác nhau về chỉtiêu này
* Giai đoạn 50 – 57 ngày sau trồng (giai đoạn sau ra hoa)
Trang 30Khi thời gian sinh trưởng của cây ở giai đoạn 50 - 57 ngày sau trồng, bí ngồibước vào thời kỳ phát triển thân, lá, ra hoa, đậu quả nên trong suốt quá trình nàychiều cao cây tăng lên một cách nhanh chóng, các công thức có bón phân chuồngđều cho chiều cao cây tăng theo lượng phân bón so với công thức đối chứng khôngbón phân chuồng, sau trồng 50 ngày chiều cao cây đạt từ 22,55 - 29,46 (cm), thấpnhất công thức đối chứng không bón phân (22,55 cm), cao nhất công thức V (29,46cm), sau trồng 57 ngày chiều cao cây biến động 25,43 - 31,40 (cm), chiều cao câytăng theo liều lượng bón phân chuồng, đạt cao nhất ở công thức V (31,40 cm), đạtthấp nhất công thức đối chứng không bón phân (25,43 cm).
Giai đoạn này không thấy có sự sai khác về mặt thống kê giữa các công thức
có bón phân chuồng về chiều cao thân chính và giữa các công thức có bón phânchuồng với liều lượng khác nhau về chỉ tiêu này
Nhìn chung các công thức có bón phân chuồng đều có chiều cao cây hơn hẳncông thức đối chứng trong cùng điều kiện theo dõi, chứng tỏ sự hoạt động của cácnhóm vi sinh vật hữu hiệu có trong phân chuồng mà chủ yếu là hoạt động của nhóm
vi sinh đất đã tổng hợp nên các chất này được hấp thu trực tiếp do vậy thúc đẩy sựtăng trưởng chiều cao cây
Sự tăng chiều cao thân chính trong suốt quá trình sinh trưởng phát tiển của bíngồi được thể hiện ở biểu đồ 3.1
Trang 31Biểu đồ3.1 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến chiều cao thân chính
của bí ngồi
Tóm lại, phân chuồng có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng chiều cao cây, chiềucao cây tăng tỉ lệ với lượng phân bón Tuy nhiên ở các thời kì đầu, sự tăng trưởngchiều cao cây ở các công thức bón nhiều phân chuồng chậm hơn so với các côngthức bón phân chuồng ở mức trung bình
3.2.2 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến sự phát triển số lá trên thân chính
Cùng với chiều cao thân chính, số lá thật trên thân chính cũng là một chỉ tiêuquan trọng đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của bí Lá có nhiệm vụ quanghợp, biến năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học Bộ lá có ảnh hưởng đếnnăng suất Nếu cây có bộ lá phát triển tốt thì tổng hợp được nhiều chất hữu cơ đểnuôi cây và thúc đẩy qúa trình sinh trưởng, phát triển của bí Ngược lại bộ lá pháttriển kém ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của bí sau này Các lá sau thời kỳ rahoa có nhiệm vụ cung cấp chất hữu cơ cho quá trình hình thành và phát triển quả
Quả bí thời kỳ chín bị ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào sẽ gây tổnthương, quả dễ bị nứt hoặc thối nếu không được lá che phủ Số lá thật trên thânchính phụ thuộc chủ yếu vào bản chất của giống và biện pháp kỹ thuật canh tác
Theo dõi sự ra lá qua 7 thời kỳ, số liệu thu được ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân chuồng đến số lá trên thân chính
Đơn vị: Lá
CT Sau trồng đến (ngày)
Trang 32* Giai đoạn 15 ngày sau trồng
Qua số liệu ở bảng 3.3 ta thấy: Số lá trên thân chính tăng có ý nghĩa khi bónphân chuồng với lượng 8 - 20 tấn phân chuồng/ha so với công thức đối chứng khôngbón phân chuồng
Ở giai đoạn này số lá trên thân chính đạt cao nhất 5,67 lá khi bón 20 tấn phânchuồng/ha, số lá đạt thấp nhất công thức II đạt 5,06 lá khi bón 8 tấn phân chuồng/ha
Giữa các công thức có bón phân chuồng với liều lượng khác nhau không thấy
có sai khác thống kê về chỉ tiêu này
* Giai đoạn 22 - 29 ngày sau trồng
Đây là thời kỳ cây con mà rễ bí phát triển mạnh nhất, hấp thu được nhiều chấtdinh dưỡng, các bộ phận trên cây bí bắt đầu xuất hiện
Số lá trên thân chính công thức đối chứng không bón phân chuồng đạt thấpnhất (8,27 lá) và đạt số lá cao nhất (9,20 lá) khi tăng lượng phân bón lên 20t PC/ha
Số lá tăng lên có nghĩa khi lượng bón ở mức 20 tấn phân chuồng/ha so vớicông thức đối chứng không bón
Giữa các công thức có bón phân chuồng với liều lượng khác nhau ít thấy có
sự sai khác về mặt thống số lá trên thân chính trong giai đoạn 22 ngày sau trồng
* Giai đoạn 36 - 43 ngày sau trồng
Số liệu ở bảng 3.3 cho thấy: Trong giai đoạn từ 36 - 43 ngày sau trồng chúngtôi thấy tốc độ ra lá tăng nhanh Các công thức có bón phân chuồng tăng với lượngphân bón 16 - 20 tấn phân chuồng/ha không có sự sai khác số lá trên thân chính so
Trang 33với công thức đối chứng không bón phân chuồng ở giai đoạn 36 - 43 ngày sau trồngnhưng có sự sai khác giữa công thức bón phân chuồng 20 tấn phân chuồng/ha so vớicông thức đối chứng ở công thức 36 ngày sau trồng Không có sự sai khác giữa cáccông thức có bón phân chuồng với liều lượng khác nhau về số lá trên thân chính ởgiai đoạn 36 - 43 ngày sau gieo nhưng có sai khác về công thức bón 16 tấn phânchuồng /ha so với công thức bón phân chuồng về số lá trên thân chính.
* Giai đoạn 50 - 57 ngày sau trồng
Nhìn vào bảng số liệu 3.3 ta thấy: Ở giai đoạn này số lá tăng nhanh và đếngiai đoạn 57 ngày sau gieo thì tốc độ ra lá cũng ngừng lại
Có sự sai khác về mặt thống kê về số lá trên thân chính của các công thứcbón phân chuồng từ 8 - 20t PC/ha so với công thức đối chứng không bón phân ở giaiđoạn 50 ngày sau trồng và có sự sai khác giữa các công thức có bón phân từ 12 - 20tPC/ha so với công thức đối chứng không bón phân ở giai đoạn 57 ngày sau trồng
Giữa các công thức có bón phân chuồng với liều lượng khác nhau cũng khôngthấy có sự sai khác về số lá trên thân chính ở giai đoạn 50 - 57 ngày sau trồng
Vậy, khả năng ra lá của bí ngồi ảnh hưởng tốt đến số lá thật trên thân chính Ảnh hưởng phân chuồng ở giai đoạn này đã biểu hiện rõ về chỉ tiêu này
3.2.3 Ảnh hưởng liều lượng phân chuồng đến số lá xanh còn lại trên thân chính sau thu hoạch
Số lá xanh còn lại trên thân chính sau thu hoạch là một chỉ tiêu quan trọngphản ánh khả năng quang hợp của cây bí sau ra hoa và ảnh hưởng đến các yếu tố cấuthành năng suất Nếu số lá xanh còn lại trên cây bí ít thì việc tổng hợp chất dinhdưỡng nuôi quả thấp, ảnh hưởng đến năng suất Ngược lại số lá xanh trên cây quánhiều chất dinh dưỡng chủ yếu tập trung nuôi lá, hạn chế sự tập trung dinh dưỡng đểnuôi quả làm ảnh hưởng đến chất lượng quả sau này Vì vậy số lá xanh còn lại trênthân chính có ý nghĩa quan trọng đến năng suất và chất lượng quả
Số lá xanh còn lại trên thân chính của cây bí khi thu hoạch được kết quả ở bảng 3.4