Sự phát triển của nuôi trồng thủy sản nước lợ đã cho thấy sinh trưởng, năngsuất và sản lượng tôm nuôi không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố như diện tích, tômgiống, kỹ thuật nuôi, dịch bệnh
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, Khoa đào tạo Sau Đại Học
- Trường đại học Vinh, cùng toàn thể các thầy cô trực tiếp giảng dạychuyên nghành Sinh học Thực Nghiệm đã tạo mọi điều kiện để luận vănđược hoàn thành
Qua đây tôi cũng xin chuyển lời cảm ơn đến tập thể cán bộ – kĩ thuậtviên phòng Hoá Sinh Protein – Viện Công Nghệ Sinh Học Việt Nam, tậpthể cán bộ công nhân viên tại Hợp tác xã II – Xã Hưng Hòa – Thành phốVinh – Nghệ An
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã cổ vũ độngviên để tôi có thêm quyết tâm và nghị lực thực hiện thành công đề tài
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạnđồng nghiệp
Vinh, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Lê Văn Vĩnh
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 3
1.1.1 Khái niệm về môi trường 3
1.1.2 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến nuôi tôm 4
1.1.2.1 Độ đục của nước 4
1.1.2.2 Độ cứng của nước 5
1.1.2.3 Độ pH, độ kiềm 5
1.1.2.4 Hyđrô Sunfua(H2S) 6
1.1.2.5 Hợp chất của nitơ 7
1.1.2.6 Nhiệt độ của nước 8
1.1.2.7 Độ mặn 8
1.1.2.8 Oxy 9
1.1.3 Một số đặc điểm sinh học của tôm Sú (Penaeus monodon Fabricius) 11
1.1.3.1 Đặc điểm phân loại 11
1.1.3.2 Đặc điểm hình thái 11
1.1.3.3 Đặc điểm sinh thái 13
1.1.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng của tôm Sú 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực trạng nuôi tôm Sú trên thế giới 17
1.2.2 Thực trạng nuôi tôm Sú ở Việt Nam 21
1.2.3 Thực trạng nuôi tôm Sú ở Nghệ An 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .29 2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
Trang 32.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 29
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 29
2.2.2.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 31
2.2.2.3 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng 31
2.2.2.4 Phương pháp xác định tỷ lệ sống 33
2.2.2.5 Phương pháp xác định protein tổng số và các axit amin của của tôm 33
2.2.2.6 Phương pháp đánh giá sản lượng 34
2.2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 35
3.1 Các yếu tố môi trường 35
3.1.1 Nhiệt độ 35
3.1.2 Độ pH 38
3.1.3 Hàm lượng Oxy hòa tan (DO) 41
3.1.4 Hàm lượng NH3 45
3.1.5 Hàm lượng H2S 47
3.1.6 Độ kiềm 49
3.1.7 Độ mặn 51
3.1.8 Hàm lượng COD và BOD 54
3.1.8.1 Hàm lượng COD 54
3.1.8.2 Hàm lượng BOD 55
3.2 Tốc độ tăng trưởng của tôm 57
3.2.1 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng 57
3.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng khối lượng trung bình của tôm nuôi 57
3.2.1.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng của tôm 58
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng về chiều dài thân 60
3.2.2.1 Tốc độ tăng trưởng trung bình chiều dài thân của tôm 60
3.2.2.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của tôm 61
Trang 43.3 Tỷ lệ sống của tôm trong các ao nuôi 62
3.4 Thành phần và hàm lượng các axít amin thiết yếu trong thịt tôm Sú 132 ngày tuổi 63
3.4.1 Hàm lượng protein tích luỹ trong thịt tôm Sú nghiên cứu 63
3.4.2 Thành phần, hàm lượng các axít amin trong thịt tôm Sú 64
3.4.3 Giá trị dinh dưỡng của protein thịt tôm Sú 66
3.5 Năng suất thu hoạch, hiệu quả kinh tế 69
3.5.1 Năng suất thu hoạch 69
3.5.2 Hạch toán kinh tế 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5DANH MỤC CÁC VI ẾT TẮT
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn
hóa của Liên Hợp Quốc.
nghiệp của Liên Hợp Quốc.
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại nước cứng 5
Bảng 1.2 Hàm lượng oxi và phản ứng của tôm 10
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi 14
Bảng 1.4 Sản lượng tôm ước tính tại Châu Á và Châu Mỹ La Tinh 20
Bảng 1.5 Năm tỉnh đướng đầu về nuôi tôm của Việt Nam năm 2008 26
Bảng 3.1 Sự biến động nhiệt độ trong các ao nuôi (0C) 35
Bảng 3.2 Sự biến động pH trong các ao nuôi 38
Bảng 3.3a Hàm lượng Oxy buổi sáng trong các ao nuôi (mg/l) 41
Bảng 3.3b Hàm lượng Oxy buổi chiều trong các ao nuôi (mg/l) 42
Bảng 3.4 Hàm lượng NH3 trong các ao nuôi (mg/l) 45
Bảng 3.5 Hàm lượng H2S trong các ao nuôi (mg/l) 47
Bảng 3.6 Sự biến động độ kiềm trong ao (mg/l) 49
Bảng 3.7 Sự biến động độ mặn trong ao (‰) 51
Bảng 3.8 Hàm lượng COD trong các ao nuôi (mg/l) 54
Bảng 3.9 Hàm lượng BOD trong các ao nuôi (mg/l) 55
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng khối lượng trung bình của tôm nuôi (gam/con) 57
Bảng 3.11 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng của tôm (gam/con/ngày) 58
Bảng 3.12 Tốc độ tăng trưởng trung bình chiều dài thân của tôm (cm) 60
Bảng 3.13 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của tôm (cm/con/ngày) 61
Bảng 3.14 Tỷ lệ sống trong các ao nuôi (%) 62
Bảng 3.15 Hàm lượng protein tổng số trong thịt tôm 64
Bảng 3.16 Thành phần, hàm lượng các axit amin trong thịt tôm 65
Bảng 3.17 Thành phần, hàm lượng các axit amin thiết yếu trong protein thịt sản phẩm tôm Sú nuôi trong các ao nuôi 66
Bảng 3.18 So sánh hàm lượng axit amin thiết yếu trong protein tôm Sú nghiên cứu với tiêu chuẩn của FAO 67
Bảng 3.19 Năng suất của các ao nuôi 69
Bảng 3.20 Hạch toán chi phí và lợi nhuận các ao nuôi 70
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1a Sự biến động nhiệt độ trong các ao nuôi vào buổi
3.1b Sự biến động nhiệt độ trong các ao nuôi vào buổi
3.2a Sự biến động pH trong các ao vào buổi sáng 39
3.2b Sự biến động pH trong các ao vào buổi chiều 39
3.3a Sự biến động hàm lượng Oxy vào buổi sáng trong
3.3b Sự biến động hàm lượng Oxy buổi chiều trong quá
3.5 Sự biến động hàm lượng H2S trong các ao nuôi 48
3.7 Sự biến động độ mặn trong các ao nuôi 52
3.8 Sự biến động hàm lượng COD trong các ao nuôi 54
3.9 Sự biến động hàm lượng BOD trong các ao nuôi 55
3.10 Tốc độ tăng trưởng trung bình khối lượng của tôm 58
3.11 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng của tôm
3.12 Tốc độ tăng trưởng trung bình chiều dài thân của tôm 60
3.13 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân của tôm 61
3.14 Tỷ lệ sống của tôm trong các ao nuôi 63
3.15 Biểu đồ biểu diễn năng suất các ao nuôi 69
Trang 8MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHON ĐỀ TÀI
Nuôi tôm Sú tỉnh Nghệ An nói chung ở xã Hưng Hòa – T.P Vinh nói riêngtrong những năm qua đã có bước phát triển đáng kể về diện tích, số lượng, giátrị và năng lực sản xuất trên mọi lĩnh vực như khai thác nuôi trồng và chếbiến Bên cạnh sự phát triển ấy nhiều vùng đang còn gặp những thất bại làmgiảm một sản lượng lớn tôm nuôi trong toàn tỉnh
Nguyên nhân cơ bản của hiện trạng này là ao đầm nuôi không được quyhoạch, mật độ nuôi quá cao, con giống nhiễm bệnh, môi trường nuôi bị ônhiễm làm bệnh lây lan Đó là bài học kinh nghiệm để có biện pháp phòngtránh ngay từ lúc bắt đầu phát triển
Hưng Hòa có hệ sinh thái vùng ven sông nên nuôi tôm Sú đã góp phần tolớn trong việc đáp ứng nhu cầu vật chất cũng như tăng thu nhập, cải thiện đờisống nhân dân
Tiềm năng phát triển của nghề nuôi tôm còn rất lớn như tăng diện tích nuôitrồng, về giống, khống chế dịch bệnh Trên thực tế trong quy trình nuôi, cácchủ đầm nuôi tôm ở hầu hết các địa phương đều chưa tuân thủ các nguyên tắc
“phát triển bền vững” từ đó ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và tác độngxấu tới môi trường
Sự phát triển của nuôi trồng thủy sản nước lợ đã cho thấy sinh trưởng, năngsuất và sản lượng tôm nuôi không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố như diện tích, tômgiống, kỹ thuật nuôi, dịch bệnh mà còn liên quan chặt chẽ tới thức ăn và môitrường sống Vì vậy với mong muốn đóng góp những dẫn liệu làm cơ sở cho việc
nuôi tôm đầm nước lợ nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của yếu
tố môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của tôm Sú (Penaeus monodon) tại ao nuôi xã Hưng Hòa – Thành phố Vinh – Nghệ An”.
Trang 9II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở nghiên cứu : “Ảnh hưởng của yếu tố môi trường lên một số
chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa của tôm Sú (Penaeus monodon) tại ao nuôi xã Hưng
Hòa – T.P Vinh – Nghệ An”, nhằm góp phần cung cấp các dẫn liệu làm cơ sởkhoa học cho nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ tại Nghệ An
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu tôi thực hiện những nội dung sau:
- Theo dõi các yếu tố môi trường tại các ao nuôi khác nhau
- Theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của Tôm Sú tại các ao nuôi qua các lầnlấy mẫu
- Theo dõi tỉ lệ sống của Tôm Sú qua các lần lấy mẫu
- Phân tích protein tổng số và các axít amin thiết yếu
- Đánh giá năng suất, hiệu quả kinh tế của các ao nuôi
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm về môi trường
Khái niệm về môi trường đã được thảo luận rất nhiều và từ lâu.Nhìn chung có những quan niệm về môi trường như sau:
Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một cách
cụ thể, vì mỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một quầnthể, một quần xã lại có một môi trường rộng lớn hơn [16]
Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật.Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần thiết cho loài này nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống chungmột nơi, hơn nữa cũng có những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn tồn tại
và tác động lên cơ thể và ta không thể loại trừ nó ra khỏi môi trường tự nhiên
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo cóquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1,Luật Bảo Vệ Môi Trường của Việt Nam, 2005) [21]
Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng vàcác thực thể của tự nhiên , mà ở đó, cá thể, quần thể, loài có quan hệ trựctiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình (Vũ Trung Tạng,2000) Từ định nghĩa này ta có thể phân biệt được đâu là môi trường của loàinày mà không phải là môi trường của loài khác Chẳng hạn như mặt biển là môi trường của sinh vật màng nước (Pleiston và Neiston), song khôngphải là môi trường của những loài sống ở đáy sâu hàng ngàn mét và ngượclại [12]
Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theođịnh nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn
Trang 11bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữuhình (đô thị, hồ chứa ) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệthuật ), trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác cáctài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình.Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinhtrưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khungcảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người”.
Cấu trúc môi trường tự nhiên gồm 4 thành phần cơ bản (4 môitrường chính) như sau:
- Thạch quyển hoặc địa quyển hoặc môi trường đất (Lithosphere): baogồm lớp vỏ trái đất có độ dày 60-70 km trên phần lục địa và từ 2-8 km dướiđáy đại dương và trên đó có các quần xã sinh vật
- Thủy quyển (Hydrosphere) hay còn được gọi là môi trường nước(Aquatic environment): là phần nước của trái đất bao gồm nước đạidương, sông, hồ, suối, nước ngầm, băng tuyết, hơi nước trong đất vàkhông khí
- Khí quyển (Atmosphere) hay môi trường không khí: là lớp không khíbao quanh trái đất
- Sinh quyển (Biosphere) hay môi trường sinh vật: gồm động vật, thựcvật và con người, là nơi sống của các sinh vật khác (Sinh vật ký sinh, cộngsinh, biểu sinh ) [12], [16]
Trong luận văn này chủ yếu đề cập một số yếu tố của môi trường nướcnhư: Độ đục của nước, độ cứng của nước, độ pH, độ kiềm, hàm lượng khíhyđrô sunfua (H2S), hợp chất của nitơ…
1.1.2 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến nuôi tôm
1.1.2.1 Độ đục của nước
Độ đục của nước được xác định bằng đĩa Secchi, một cách đơn giản
ta kết luận là độ đục của nước ao thích hợp nếu đĩa Secchi được đọc ở trongkhoảng 25-40 cm Điều này có nghĩa là nếu độ đọc của đĩa Secchi dưới 25 cm
Trang 12thì nước ao quá đục, ngược lại nếu độ đọc của đĩa xa hơn 40 cm thì nước aolại quá trong, đồng nghĩa với nước quá nghèo chất dinh dưỡng [31].
Trong ao, độ đục thường do các phiêu sinh vật phát triển quá nhiều
Độ đục trong nước sẽ bất lợi nếu gây ra bởi chất sét hoặc các vật vô sinh vìcản trở sự xuyên qua của ánh sáng, làm giảm khả năng sản xuất của ao hồ.Nếu độ đục mà gây ra bởi các chất vô sinh mà quá cao thì tôm sẽ bị nghẹt bộphận hô hấp Ngoài đĩa Secchi người ta còn dùng kính hiển vi để đếm số tếbào phiêu sinh trong 1 ml để xác định sự phát triển của phiêu sinh trong aonhiều hay ít
1.1.2.2 Độ cứng của nước
Độ cứng của nước liên quan đến nồng độ ion canxi và magiê haytổng số nguyên tử của hai kim loại này là chủ yếu trong môi trường đó Độcứng của nước được tính bằng mg/l của canxicacbonnat (CaCO3) trongnước Các dạng nước cứng được gọi với cái tên khác nhau thể hiện ở bảngsau:
tố phót phát và các yếu tố chính khác cùng phối hợp
1.1.2.3 Độ pH, độ kiềm
pH là kí hiệu diễn tả mức độ chua (axít hoặc kiềm) của một dungdịch pH của một dung dịch liên hệ tới nồng độ của ion H hiện diện trongdung dịch đó, càng nhiều H thì độ axít càng cao pH đo được biểu diễn từ 1-
Trang 1314, nếu pH = 1 thì dung dịch đó rất chua, pH = 7 thì dung dịch đó trung tính,
pH = 14 thì dung dịch rất kiềm Ao hồ nuôi tôm mà có độ pH trong khoảng7,2-8,8 thì được coi là thích hợp Một thay đổi nhỏ của pH cũng gây ảnhhưởng rất lớn cho ao nuôi tôm [24]
Thí dụ: Mặt nước có pH = 5 thì có độ axít gấp 10 lần mặt nước có độ
pH = 6, vì vậy nếu môi trường nước có độ pH thích hợp và không thay đổi làđiều rất tốt cho việc nuôi tôm pH của mặt nước thiên nhiên chịu ảnh hưởngrất nhiều của khí cacbonic (CO2), khí cacbonic (CO2 ) có trong không khí vàđược tạo ra từ sinh vật trong ao trong quá trình hô hấp Độ pH của ao hồthường tăng về ban ngày và giảm về ban đêm, vì vậy cần đo độ pH ít nhất 2lần một ngày để có được chu kỳ trọn vẹn Nếu pH quá thấp, ta bón thêm vôicho ao hồ vào lúc chuẩn bị hoặc ngay khi đang nuôi tôm Tổng kiềm biểuhiện khả năng đệm của nước, hạn chế sự biến đổi quá lớn của pH Đối vớinước nuôi tôm giá trị tổng kiềm được xác định lớn 100 mg CaCO 3/l sẽ đảmbảo cho môi trường nước ít biến đổi lớn trong ngày Độ kiềm thích hợp chotôm phát triển là từ 90-150 mg/l [11]
1.1.2.4 Hyđrô Sunfua(H2 S)
Hyđrô Sunfua (H2 S) là một chất khí, được tạo thành dưới điều kiện
kỵ khí Cũng tương tự như Amôniac, Hyđrô Sunfua (H2S) trong nước tồn tại
ở 2 dạng là khí (H2S) và ion (HS-)
Ở dạng khí H2S là chất độc nó gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng vàphát triển của vật nuôi Độ pH có ảnh hưởng rất lớn đến hàm lượng H2Strong ao, thí dụ: Với ao hồ có độ pH = 5 và nhiệt độ 24 0C hàm lượng HyđrôSunfua tồn tại ở trạng thái khí chiếm 99,1 %, trong khi đó ở độ pH = 8 cùngnhiệt độ là 24 0C lại chỉ có 8 % Hyđrô Sunfua ở trạng thái khí [10] Sự hiệndiện của Sunfua với hàm lượng rất nhỏ (0,1 ppm) trong một thời gian liên tụcvẫn làm giảm sự sinh sản của tôm, cá Tuy nhiên, H2S là chất khí dễ bay nên
Trang 14chúng ta loại bỏ chúng ra khỏi ao hồ bằng máy sục khí hoặc dùng chất oxihóa chúng thành hợp chất không độc hại
1.1.2.5 Hợp chất của nitơ
Hàm lượng amôni: NH3 là dạng khí độc cho tôm cá, nó được hìnhthành từ quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ như thức ăn dư thừa, phânbón, xác phiêu sinh động thực vật, chất bài tiết của tôm… tăng lên trong aonuôi ngày càng cao vào cuối vụ, tạo điều kiện cho khí độc hình thành vàphát sinh
Trong các ao nuôi tôm có tới 85 % lượng Nitrogen trong phân tômchuyển sang dạng Amoni Đối với tôm Sú ngưỡng thích hợp là nhỏ hơn 0,03mg/l và hàm lượng lớn hơn 0,1 mg/l có thể gây chết [10] Hàm lượng amôni
NH
4 trong ao nuôi chịu ảnh hưởng của pH, nhiệt độ và độ mặn nhưng pHảnh hưởng quan trọng hơn cả Nếu độ pH tăng thêm một đơn vị thì sẽ tăng 10lần tỷ lệ NH3
Nitrit: Là chất rất độc đối với cá nhưng ít độc hơn đối với tôm Nitritgây độc chính yếu là tạo thành chất methemoglobin và giảm sự chuyểnoxygen tới tế bào Những hiểu biết về ảnh hưởng của NO
2 đến sự phát triểncủa tôm không được biết nhiều, theo khuyến cáo của các nhà khoa họcngưỡng an toàn được áp dụng là 0,1 mg/l Các kết quả thử nghiệm của Chen(1988) thấy rằng đối với ấu trùng tôm Sú là 13,6 mg/l và tôm Sú trọng lượng
5 g là 171 mg/l [30] Ngưỡng được ghi nhận an toàn đối với tôm Sú là nhỏhơn 1 mg/l
Nitrat: Độc tính của nitrat đối với tôm không cao Tôm vẫn có thểsống trong môi trường nước có hàm lượng nitrat lên đến 200 mg/l Tuy nhiên,theo khuyến cáo của các nhà khoa học hàm lượng nitrate trong môi trườngnuôi nên thấp hơn 60 mg/l
Như vậy, mặc dù con tôm có môi trường sinh thái khá rộng tuy nhiên
nó cũng đòi hỏi có môi trường nuôi khá sạch, các biến động môi trường nuôi
Trang 15đều có thể tác động tiêu cực đến hoạt động sinh trưởng và phát triển của contôm đặc biệt tôm nuôi với mật độ cao trong các ao nuôi tôm công nghiệp.
1.1.2.6 Nhiệt độ của nước
Tôm cũng như tất cả các loài động vật sống dưới nước thuộc loạimáu lạnh vì vậy nhiệt độ cơ thể của chúng thay đổi theo môi trường bênngoài, nhiệt độ thay đổi trên nhiều phương diện trong đời sống của tôm: hôhấp tiêu hóa, đồng hóa thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăngtrưởng… Nhiệt độ thay đổi theo khí hậu của mỗi mùa, vì thế ở Miền NamViệt Nam có thể nuôi quanh năm còn ở miền Bắc chỉ khai thác được vào mùanóng Muốn xác định chính xác nhiệt độ ao hồ nuôi cần đo nhiệt độ ao hồ ởnước bề mặt và nước đáy vào 2 lần mỗi ngày sáng sớm và chiều tối
Nhiệt độ cho tôm tại các ao hồ vùng nhiệt đới khoảng 28-30 0C Tôm
Sú (Penaeus monodon Fabricius) ở nhiệt độ 28 0C tôm lớn tương đối chậm,trên 30 0C tôm lớn tương đối nhanh nhưng dễ mắc bệnh, nhất là bệnh MBV(Monodon baculovirus) mà Đài Loan là nạn nhân của tình trạng này năm
1987 Các trại nuôi tôm ở Đài Loan năm đó đã đưa nhiệt độ nước lên 33 0C
để tôm lớn mau hơn, tuy mùa đó tôm có lớn nhanh hơn thật nhưng ngay sau
đó tôm đã bị bệnh rất trầm trọng và chết rất nhiều đến nỗi sau đó chính phủĐài Loan đã phải ra luật lệ cấm nuôi tôm với nhiệt độ nóng hơn 30 0C [1]
1.1.2.7 Độ mặn
Các loài giáp xác có khả năng thích nghi của chính bản thân theo sựthay đổi độ mặn của môi trường nước Trong chu kỳ sống của tôm Sú bảnthân nó có thể thích ứng với điều kiện môi trường thay đổi từ từ, tôm Sú cóthể sống được cả môi trường nước ngọt Trong tự nhiên khi tôm gần trưởngthành và trưởng thành chúng sẽ di chuyển tới vùng có điều kiện môi trườngtương đối ổn định hơn Ở nước ta thấy rõ điều này, độ mặn nước biển từVũng Tàu trở ra ổn định hơn, nên dọc bờ biển có xuất hiện tôm Sú trưởngthành quanh năm, những vùng có độ mặn thay đổi theo mùa thì tôm Sú phân
bố ít
Trang 16Trong tự nhiên tôm bột phân bố nhiều trong vùng môi trường có độmặn thấp, chứng tỏ yếu tố di truyền của chúng thích ứng được môi trườngthay đổi độ mặn rộng.
Độ mặn ký hiệu S ‰ (S viết tắt của chữ salinity – độ mặn) là tổnglượng các chất hòa tan chứa trong 1 kg nước tính theo đơn vị gram Hiểnnhiên là áp suất thẩm thấu tăng lên khi độ mặn tăng lên, nhu cầu về độ mặnthay đổi tùy theo từng loại tôm và thời điểm trong chu trình sống của mỗiloại, lúc còn nhỏ tôm dễ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi độ mặn một cách độtngột hơn là lúc tôm đã trưởng thành
Tôm Sú có thể chịu được sự biến thiên của độ mặn từ 3-45 ‰ nhưng
độ mặn lý tưởng của tôm Sú là 18-20 ‰ [38], tôm Penaeus vannamei có thểchịu độ mặn biến thiên từ 2-40 ‰ nhưng với độ mặn 32-33 ‰ thì tôm lớn rấtmau tại Hawaii
Vị đậm đà của thịt tôm mà ta cảm thấy được trong các bữa ăn, có thểchịu sự ảnh hưởng độ mặn của nước trong khi nuôi Khi tôm được nuôi trongmôi trường có độ mặn cao thì mức axít amin tự do trong các cơ thịt cao hơn,điều này làm cho tôm có vị đậm đà [33] Với ý thức đó, khi có nước biểnsạch (vùng nước biển xa bờ), người ta dùng nước này để rửa và chế biếntránh dùng nước biển tại các bến để rửa sản phẩm vì độ bẩn của nước biểntrong khu vực này rất cao
1.1.2.8 Oxy
Đây là yếu tố quan trọng nhất cần đặc biệt quan tâm trong kỹ thuậtnuôi tôm Lượng dưỡng khí trong ao thấp dễ gây cho tôm chết nhiều hơn cả
So với lượng oxy trong không khí là 200.000 ppm (1 ppm = 1 phần triệu) thì
số oxi hòa tan trong nước là rất ít, nhưng chỉ cần 5 ppm oxi trong nước là đủcho tôm hô hấp một cách an toàn Trong ao hồ, hiện tượng quang tổng hợpcủa các phiêu sinh vật là yếu tố chính tạo nên oxy hòa tan trong nước Vìhiện tượng này chỉ xảy ra trong ban ngày, dưới ánh nắng của mặt trời cònban đêm và những ngày thời tiết âm u kéo dài thì ao hồ không đủ oxy cho
Trang 17tôm Để giải quyết vấn đề này, người ta sử dụng máy sục khí hoặc thay lớpnước mới vào ao để tạo thêm oxy Tình trạng thiếu oxy cũng xảy ra khi thựcvật thủy sinh bị chết quá nhiều do việc sử dụng các hóa chất
Các triệu chứng của tôm khi ao hồ bị thiếu oxy: Tôm sẽ tập trung gầnmặt nước, gần vị trí dẫn nước vào ao hồ hoặc dọc theo bờ ao, tôm sẽ giảm dichuyển nhưng gia tăng tốc độ hô hấp, có thể dẫn đến hôn mê và chết Hàmlượng oxi và phản ứng của tôm thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2 Hàm lượng oxi và phản ứng của tôm.
5,0-6,0-7,0 Tôm khỏe mạnh và tăng trưởng
nhanh[11]
Khi trong môi trường nước có quá nhiều chất khí bão hòa thặng dư hòatan, tôm sẽ bị bệnh hoặc chết khi các chất khí này xâm nhập vào hệ thốngtuần hoàn tạo thành những hạt bong bóng còn gọi là emboli, làm cản trở sựlưu thông máu tạo ra bệnh “gas bubble diseas”
Chất khí thặng dư trong môi trường nước thường xảy ra trong nhữngtrường hợp sau đây:
- Quang tổng hợp của thực vật phiêu sinh quá nhiều đưa tới sự bão hòacủa oxi trong nước (đĩa secchi đọc được ở mức 10 cm hoăc ngắn hơn)
- Nhiệt độ nước nếu gia tăng nhanh cũng gây ra gas bubble disease vìkhả năng bền chặt của các chất khí trong nước tỷ lệ nghịch với nhiệt độ nước
Trang 18- Sự pha trộn giữa các chất khí và nước dưới một áp suất nào đó, khi
áp suất này giảm đi, các chất khí sẽ ra khỏi dung dịch nước và tạo thành
“bong bóng”
1.1.3 Một số đặc điểm sinh học của tôm Sú (Penaeus monodon)
1.1.3.1 Đặc điểm phân loại
Tên khoa hoc: Penaeus monodon
Tên địa phương : Tôm giang, tôm cỏ Tên tiếng Anh : Giant black tiger [33]
Hình dạng ngoài của tôm Sú (Penaeus monodon)
Trang 192), ba đôi chân hàm có chức năng giữ mồi, giúp tôm ăn hỗ trợ hô hấp và hỗtrợ cho hoạt động bơi lội của tôm, năm đôi chân bò giúp tôm bò trên mặt đáy
và lấy thức ăn Phần đầu ngực được bảo vệ bởi lớp giáp đầu ngực, phía trước
vỏ giáp đầu ngực là chủy dạng như lưỡi kiếm, cứng và có răng cưa Ở tôm
Sú, phía trên chủy có 7-8 răng và dưới chủy có 3 răng Mũi khứu giác, râu là
cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm
Phần bụng có 7 đốt , 5 đốt đầu mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còngọi là chân bụng Đốt thứ 6 dài đốt thứ 7 biến thành telson hợp với chân đuôiphân nhánh tạo thành đuôi giúp tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy Ởtôm đực, có 2 nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đựchình thành cơ quan sinh dục ngoài
Tôm Sú thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước to hơn conđực Khi tôm trưởng thành phân biệt rõ được đực cái, thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài
Tôm đực: Cơ quan sinh dục chính của con đực nằm ở phía trong phầnđầu ngực, bên ngoài có cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chânngực thứ 2, lỗ sinh dục đực mở ra hốc háng đôi chân ngực thứ 5 Tinh trùngthuộc dạng chứa trong túi
Con cái: Buồng trứng nằm theo dọc lưng ở phía trên, hai ống dẫn trứng
mở ra ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3 Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấmphồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm
Tôm Sú có màu xanh thẫm, có khoang trắng ở thân, có khoang vàng ởchân ngực, ngón đỏ hồng hoặc da cam
1.1.3.3 Đặc điểm sinh thái
Sự phân bố:
Trang 20Tôm Sú (Penaeus monodon) là loài phân bố rộng trên thế giới, chúngphân bố nhiều ở Ấn Độ Dương, qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, và phía TâyChâu Phi (Racek-1955, Holthuis và Rosa-1965, Motoh-1981, 1985) Nhìnchung tôm Sú phân bố từ kinh độ 30 E đến 155 E, từ vĩ độ 30 N tời 30 Sxung quanh các nước vùng xích đạo đặc biệt là Indonesia, Malayxia,Philippin Thái Lan và Việt Nam [11] Tùy vào từng giai đoạn phát triển màchúng phân bố ở những vùng biển khác nhau: Giai đoạn ấu trùng đến giaiđoạn hậu ấu trùng poslarvae 5 chúng sống ở ngoài khơi, vùng triều Ở giaiđoạn poslarvae 6 đến giai đoạn tiền trưởng thành chúng sống ở vùng cửasông và khi trưởng thành chúng di cư dần ra biển khơi
Đặc điểm thích nghi:
Nhìn chung tôm Sú (p.monodon) là loài rộng muối Tuy nhiên tùy vàotừng giai đoạn phát triển cá thể, chúng có nhu cầu và khả năng thích ứngkhách nhau Với điều kiện chuẩn hóa dần, tôm Sú có khả năng tồn tại và sinhtrưởng ở độ muối từ 0-40 ‰ Tôm giống và tôm thịt ưa thích độ muối từ 10-
25 ‰ Nếu độ muối của nước cao hơn 25 ‰ ta nên thêm nước ngọt vào Nếuthu hoạch hết tôm đạt kích thước thương phẩm trước khi ao bị ngọt hóa, cóthể thả lại ao để nuôi tiếp những con nhỏ hơn 15 g khi ao bị ngọt hóa hoàntoàn [31]
Nhiệt độ thích hợp đối với sự phát triển của tôm bột và tôm trưởngthành là 25-30 0C, nhiệt độ tốt nhất từ 28-32 0C [35] Nhiệt độ nướckhông phù hợp có thể làm tôm kém ăn, chậm sinh trưởng, chết dần hoặcmắc bệnh Để giữ nhiệt độ trong ao nuôi ổn định lúc lạnh hoặc lúc nóng,đồng thời tạo điều kiện cho tôm trú ẩn tốt cần phải tăng độ sâu của nước,thả chà, đào thêm rãnh, mương trong ao đầm Người quản lý ao tôm cần cónhiệt kế để đo nhiệt độ nước Tôm Sú là loài sống đáy, nền đáy thích hợpcho tôm Sú là đáy bùn cát
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi
Trang 21Yếu tố môi
trường
Khoảng chịuđựng
Khoảng sốngtốt
Khoảng tối ưu
Đặc điểm dinh dưỡng:
Tôm Sú là loài tạp ăn, đặc biệt thích ăn giáp xác, thực vật dưới nước,mãnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, nhuyễn thể loại hai mảnh vỏ, côn trùng Khikiểm tra trong dạ dày của tôm sống ngoài tự nhiên thấy có 85 % là giáp xác,nhuyễn thể loại hai mảnh vỏ, còn lại 15 % là cá, giun nhiều tơ, thủy sinh vật,mảnh vụn hữu cơ và cát bùn Điều này cho thấy, tôm Sú thích ăn các loạiđộng vật sống di chuyển chậm hơn là xác chết thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ.Tôm Sú trong ao nuôi, hoạt động bắt mồi mạnh vào lúc sáng sớm và chiềutối Chúng bắt mồi bằng càng, đẩy thức ăn vào miệng để gặm thức ăn, thờigian tiêu hóa thức ăn trong dạ dày tôm Sú là 4-5 giờ [5]
Trong điều kiện ao nuôi, Apud (1983) cho rằng ở mật độ nuôi 5000 con/
ha thì không cần thiết phải có nhiều thức ăn bổ sung khác nhau, với hình thức
ăn bổ sung chiếm tới 50-80 %, nuôi thâm canh trên 90 % Còn theo Benard(1992), nhu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp của tôm Sú là 35-40 %,Pascual (1988) đã xác định khá chi tiết về nhu cầu protein, lipit,hydratcacbon, khoáng, vitamin,… trong thức ăn của tôm Sú [9]
Trang 22Trong các hệ thống nuôi tôm Sú công nghiệp, việc sử dụng các loại thức
ăn tổng hợp là một điều tất yếu Thức ăn phải đáp ứng đủ nhu cầu dinhdưỡng về hàm lượng protein, lipit, hydratcacbon, hàm lượng các axit amin,hàm lượng chất khoáng, các axit amin thiết yếu… và kích cỡ thức ăn
Tùy từng giai đoạn phát triển của tôm để sử dụng các loại thức ăn chophù hợp, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho tôm nuôi
Đặc điểm sinh trưởng:
Chu kỳ sống của tôm Sú phát triển qua 5 giai đoạn: Giai đoạn phôi,giai đoạn ấu trùng, giai đoạn tôm giống, thời kỳ tiền trưởng thành, giai đoạntrưởng thành
- Giai đoạn phôi: Thời gian phát triển của phôi phụ thuộc vào nhiệt độ.Phôi phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 25-30 0C Sau 12-15 giờ kể từ khi thụtinh trứng sẽ nở, ấu trùng khi mới nở gọi là Nauplius [31]
- Giai đoạn ấu trùng: Có 4 giai đoạn: Nauplius, Zoea, Mysis, Postlarlae + Nauplius: Có 6 giai đoạn phụ, tương đương với 6 lần lột xác Giai đoạnnày kéo dài 1,5- 2,0 ngày
+ Zoea: Có 3 giai đoạn phụ tương ứng với 3 lần lột xác Giai đoạn này kéodài 2,5-3,0 ngày
+ Mysis: Có 3 giai đoạn phụ tương đương với 3 lần lột xác Giai đoạn nàykéo dài từ 3,0-4,0 ngày
+ Postlarvae: Ấu trùng ngày thứ mấy của giai đoạn này Postlarvae (P) thìđược gọi tên theo ngày đó Thông thường người ta đem tôm P12-15 ương ở
ao, không nuôi trong trại nữa
Ở giai đoạn ấu trùng tôm không chủ động tìm mồi Dinh dưỡng hoàntoàn phụ thuộc vào tự nhiên Khả năng bơi lội độc lập và kèm theo đó là khảnăng chủ động bắt mồi chỉ xuất hiện ở cuối Postlarvae
Trang 23- Giai đoạn tôm giống: Ở giai đoạn này tôm sử dụng chân ngực để bò
và chân bụng để bơi theo dòng nước Chúng bắt đầu di chuyển vào vùng triều
để sống
- Thời kỳ tiền trưởng thành: Ở giai đoạn này tôm dần dần phát triển để
có thể phân biệt được đực cái Khi hoàn toàn trưởng thành về sinh dục thìtôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực Một số tôm cái nhận túi tinh từ conđực Thời kỳ này tôm di cư từ đầm ra khơi
- Giai đoạn trưởng thành: Tôm hoàn toàn thành thục sinh dục và tham gia sinh sản Tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8trở đi Xác định sự thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh
ở cơ quan sinh dục phụ Phương pháp xác định thành thục ở con đực khóhơn, chỉ khi nào tìm thấy tinh trùng ở cuối ống dẫn tinh Hormone điều khiển
sự thành thục sinh dục (GIH – gonal inhibiting hormone) được sản xuất bởi
tế bào thần kinh trong cơ quan X của cuống mắt, vận chuyển tới tuyến giápsinap đưa vào kho dự trữ khi nào cần thiết thì tiết ra Sự thành thục sinh dụccủa tôm Sú thông qua tác động của tuyến nội tiết, khi cắt mắt tức là thúc đẩyquá trình lột xác dẫn đến sự thành thục mau chóng hơn
Số lượng trứng đẻ của tôm nhiều hay ít phụ thuộc vào chất lượngbuồng trứng và trọng lượng cá thể, trọng lượng lớn thì cho trứng nhiều Khicon cái thành thục ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 100-300 g cho 300.000-1.200.000 trứng Nếu cắt mắt nuôi vỗ trong bể xi măng, thành thục và đẻ, cho
số lượng trứng từ 200.00-600.000 trứng [2] Tôm cái đẻ trứng vào ban đêm(thường từ 22 giờ đến 2 giờ sáng hôm sau) trứng sau khi đẻ được 14-15 giờ,
ở nhiệt độ 27-28 0C sẽ nở thành ấu trùng (Nauplius) Tôm Sú đẻ quanh nămnhưng tập trung vào hai thời kỳ chính là tháng 3-4 và tháng 7-10 Tuổi thọcủa tôm Sú đực khoảng 1,5 năm, còn con cái khoảng 2 năm [37]
Sinh trưởng là sự gia tăng chiều dài và khối lượng của tôm trong mộtđơn vị thời gian Ở những điều kiện khác nhau sự sinh trưởng của tôm Súkhông giống nhau, nó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố môi trường và các
Trang 24yếu tố kỹ thuật Ở từng giai đoạn khác nhau thì tốc độ tăng trưởng cũng khácnhau Sinh trưởng của tôm Sú tăng lên nhờ quá trình lột xác, có sự tăngtrưởng về kích cỡ, tuy nhiên sự tăng trưởng về khối lượng là liên tục hơn.Tốc độ tăng trưởng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển, giới tính, điều kiệnmôi trường và chế độ dinh dưỡng Tôm con có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn,càng về sau sự tăng trưởng càng chậm và dần đạt đến kích thước của loài
Trong hệ thống nuôi tôm, tăng trưởng của tôm nuôi phụ thuộc vàocông nghệ nuôi tôm, các yếu tố chăm sóc và quản lý ao nuôi Khối lượng tômnuôi tăng khi độ sâu mực nước tăng, khối lượng tôm nuôi giảm khi hàmlượng khí độc trong ao vượt quá ngưỡng thích hợp, khối lượng tôm nuôi tỷ lệnghịch với mật độ thả nuôi… Ở mật độ nuôi 10 con/m2, tôm đạt khối lượng
39 g/con sau 120 ngày nuôi, trong khi chỉ đạt 35 g và 31 g ở mật độ nuôi 20
và 30 con/m2 trong cùng thời gian nuôi [28]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng nuôi tôm Sú trên thế giới
Tôm Sú (Penaeus monodon) là đối tượng thủy sản có giá trị thươngphẩm cao và cũng là đối tượng nuôi quan trọng của một số nước đang pháttriển ở Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Việt Nam…
và Nam Mỹ (Ecuador) Nghề nuôi tôm không chỉ góp phần lớn làm tăngkim ngạch xuất khẩu thủy sản cho xã hội mà còn cải thiện đời sống chongười nuôi
Quá trình nuôi và phát triển tôm đã dẫn đến tác động xấu đến môitrường và tài nguyên: sử dụng không hợp lý nguồn tài nguyên đất, nước, sinhvật, thải chất gây ô nhiễm môi trường Phát triển nuôi tôm có tác động đếnmôi trường là gián tiếp làm mất môi trường sinh sống của sinh vật
Hiện tượng phát triển bùng nổ nghề nuôi tôm sau đó bị phá sản đã diễn
ra như một quy luật ở nhiều quốc gia Đầu tiên xảy ra ở Đài Loan (1988), ởTrung Quốc (1994) Các quốc gia có nghề nuôi tôm phát triển khác như: Thái
Trang 25Lan, Indonesia và Ecuador cũng xảy ra hiện tượng tương tự Sự thất bại trongnghề nuôi tôm của các nước nêu trên là do trong quá trình nuôi gây tác độngxấu đến môi trường và không kiểm soát được dịch bệnh [23].
Trên thế giới nghề nuôi tôm xuất hiện từ rất lâu, song nó mới thực sựbắt đầu phát triển từ những năm 1940 Fujinaga được coi là cha đẻ của nghềnuôi tôm trên thế giới, sau thành công của ông về việc cho đẻ và ương nuôi
ấu trùng tôm He ở Nhật Bản vào năm 1942 Năm 1964 quy trình này đượcxem là nền tảng và được ứng dụng phổ biến khắp thế giới làm cơ sở cho cáccông trình nghiên cứu sau này Từ những năm 1980 thế giới đã sản xuất được
số lượng lớn hậu ấu trùng tôm biển và từ đó nghề nuôi tôm công nghiệp pháttriển mạnh cho tới ngày nay
Dựa vào mức độ đầu tư và năng suất nuôi có thể chia hình thức nuôitôm thành 3 loại chính sau: Nuôi quảng canh, nuôi bán công nghiệp (bánthâm canh), nuôi công nghiệp (nuôi thâm canh) Nuôi công nghiệp là hìnhthức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn công nghiệp bên ngoài, chủ yếu là thức
ăn viên có chất lượng cao, thức ăn tự nhiên đóng vai trò rất nhỏ Mật độ thảtrên 20con/m2 , diện tích ao nuôi từ 0,5-1 ha tối ưu là 0,7 ha Ao xây dựngrất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước chủ động, có đầy đủ thiết bị và phương tiện
để phục vụ cho sản xuất Hiện nay nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vàosản xuất đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học vào nuôi tôm công nghiệpnên hiện nay nó đã trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu tôm nuôi chủ yếutrên thị trường thế giới
Nuôi tôm công nghiệp cung cấp hơn 1/3 sản lượng tôm trên toàn thếgiới, nhưng diện tích nuôi chỉ chiếm khoảng 5 % trong tổng diện tích nuôitôm Điều này cho thấy hình thức nuôi tôm công nghiệp có hiệu quả sử dụngđất rất cao với hình thức nuôi quảng canh và bán công nghiệp (Nguyễn VănHảo, 2001) [5]
Tùy vào điều kiện của từng vùng, từng quốc gia mà có hình thức nuôiphù hợp Với một số nước như Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc lấy hình thức
Trang 26nuôi quảng canh và bán thâm canh là chính, năng suất ở đây chỉ đạt
500-1000 kg/ha/vụ Còn đối với các nước Đông Nam Á có ngành nuôi tôm pháttriển thì hình thức nuôi thâm canh với năng suất 5-7 tấn/ha/vụ hoặc siêu thâmcanh với năng suất 10-13 tấn/ha/vụ
Trong các hình thức nuôi tôm, hình thức nuôi công nghiệp ra đời muộnnhất song những đóng góp của hình thức nuôi này vào sản lượng tôm nuôi làrất lớn Hiện nay, tại nhiều quốc gia trên thế giới nuôi Tôm Sú đã được côngnghiệp hóa và đã có nhiều mô hình nuôi tôm Sú năng suất cao với việc quản
lý môi trường nuôi chặt chẽ như mô hình Zero exchange concept (nuôi tômsạch theo mô hình nhà kính) mà các nhà sản xuất tôm Mỹ đang áp dụng, vớimật độ thả nuôi lớn hơn 125 con/m2 , mô hình nuôi tôm trên ao nuôi tạiTrung Quốc đã giúp nước này có sản lượng tôm nuôi rất lớn trong thời gianqua Các quốc gia như Thái Lan, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Venezuela lànhững quốc gia dẫn đầu về nuôi tôm Sú công nghiệp
Sản lượng của một số nước nuôi tôm trên thế giới thông qua bảng sau:
Trang 27Bảng 1.4 Sản lượng tôm ước tính tại Châu Á và Châu Mỹ La Tinh
(Đơn vị: tấn; không bao gồm tôm nước ngọt)
có tổng sản lượng chiếm khoảng 80 % toàn thế giới Các quốc gia có sản
Trang 28lượng tôm lớn là: Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Philippin, ĐàiLoan, Việt Nam, Bangladesh, Nhật Bản Tại các nước Tây bán cầu sản xuấtkhoảng 20 % số tôm còn lại, trong đó 99 % có xuất xứ từ Châu Mỹ La Tinh,đứng đầu là Ecuador chiếm tới 71 %, sau đó là Colombia, Mexico, Peru vàBrazil [4].
Xét về năng suất bình quân, những quốc gia có tổng diện tích nuôi tôm
ít (nhỏ hơn 2500 ha) thường đạt được năng suất cao (lớn hơn 2000 kg/ha/vụ)như: Venezuela, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Đài Loan, Malaysia Các nước này cónền khoa học kỹ thuật tiến bộ và khả năng đầu tư công nghiệp cao Trong khi
đó các nước có diện tích nuôi lớn, các hình thức nuôi quảng canh, bán thâmcanh chiếm tỷ lệ lớn nên năng suất bình quân thấp
Theo đánh giá gần đây cho thấy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tôm trênthế giới đang ở mức cao Điển hình là Mỹ, chiếm 60 % thị trường thế giới,trong khi khả năng sản xuất chỉ đáp ứng được 25 % và phải nhập khẩu 75 %
từ nước ngoài Tiếp đến thị trường EU, Nhật Bản là những thị trường nhậpkhẩu tôm quan trọng trên thế giới Trong đó tôm Sú vẫn là mặt hàng nhậpkhẩu chủ yếu của các quốc gia này Thị trường Mỹ chủ yếu nhập khẩu tômnguyên con và bóc vỏ, thị trường Nhật Bản nhập khẩu tôm nguyên con chiếm63,5 % thị phần Điều này đặt ra cho các quốc gia nuôi tôm Sú trên thế giớinhiều cơ hội phát triển để thu hút ngoại tệ
1.2.2 Thực trạng nuôi tôm Sú ở Việt Nam
Song song với việc phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS),nghề nuôi tôm của Việt Nam trong nhiều năm vừa qua đã có những bướcphát triển rất lớn cả về chất và lượng, tăng cao vượt bậc kể cả về diện tích,năng suất, sản lượng Có được điều này là do điều kiện tự nhiên của ViệtNam rất phù hợp cho việc nuôi tôm Với 3.260 km bờ biển, hệ thống sôngngòi dày đặc (trung bình 20km bờ biển có một cửa sông), với 660.000 hadiện tích vùng triều và nhiều đầm phá, eo vịnh lớn nhỏ cùng diện tích lớnrừng ngập mặn có thể đưa vào sử dụng để NTTS, điều kiện khí hậu nhiệt đới,
Trang 29nguồn lực con người dồi dào Bên cạnh đó trong những năm qua cùng với sựđào tạo đội ngũ kỹ thuật lành nghề phục vụ cho ngành NTTS thì chính phủViệt Nam cũng đã có rất nhiều chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy ngành nuôitôm phát triển.
Theo nội dung chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999-2010 của
bộ thủy sản, hướng chủ yếu của giai đoạn này là thay đổi phương thức nuôi:giảm diện tích nuôi quảng canh, tăng diện tích nuôi công nghiệp từ 15-20 %tổng diện tích nuôi NTTS nước lợ (tương ứng 65.000-80.000 ha) bình quântăng từ 4.000-5.000 ha/năm Năng suất bình quân đạt 2,0-2,5 tấn/ha, phấnđấu đến 2010 đáp ứng 70-80 % sản lượng tôm xuất khẩu là tôm nuôi Cụ thể
là tổng diện tích nuôi tôm Sú 260.000 ha (trong đó 60.000 ha nuôi côngnghiệp, 100.000 ha nuôi bán thâm canh, 100.000 ha nuôi mô hình cân bằngsinh thái – nuôi luân canh, xen canh) đạt sản lượng 360.000 tấn, giá trị xuấtkhẩu đạt 1.400 triệu USD Trước hết là tập trung nuôi ở những khu vực cótiềm năng, có điều kiện, nhất là các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nam
Bộ sau đó mới mở rộng ra các tỉnh lân cận và các tỉnh phía Bắc
Đánh giá kết quả chương trình phát triển NTTS giai đoạn 1999-2010như sau: Chương trình đã hoàn thành cơ bản các mục tiêu đề ra, trong đó cónhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu từ NTTS là3,5 tỷ USD (đạt 125 % so với kế hoạch), giải quyết được 3,5 triệu việc làmcho người lao động (đạt 175 % chỉ tiêu đề ra) Diện tích NTTS cả nước năm
2010 là 1.096.722 ha (đạt 109,68 %) Sản lượng NTTS là 2.828.622 tấn (đạt141,4 %) Về cơ bản đã sản xuất đủ giống đáp ứng cho nhu cầu nuôi thươngphẩm, đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ là 4,5 tỷ con(đạt 128,6 % so với kế hoạch) [20]
Nghề nuôi tôm ở Việt Nam thực sự phát triển vào giữa những nămcủa thập niên 80 thế kỷ XX khi Trường Đại Học Thủy Sản cho sinh sảnthành công giống tôm Sú Năm 1989-1991 nước ta đã nghiên cứu thànhcông kỹ thuật nuôi phát dục thành thục và góp phần giải quyết nguồn tôm
Trang 30giống bố mẹ cho sinh sản nhân tạo và được áp dụng rộng rãi trong sản xuấtgiống tôm Sú trong cả nước Hiện nay kỹ thuật này hoàn thiện hơn vàđược coi là khâu kỹ thuật quan trọng nhất trong công nghệ sản xuất giốngtôm Sú nhân tạo [2], [30].
Nghề nuôi tôm phát triển từ hình thức nuôi quảng canh đến quảngcanh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Năm 1997-1998, nuôi bán thâmcanh đã trở thành một hình thức kỹ thuật nuôi mới của nghề nuôi tôm ở nước
ta và đã phát triển nhanh chóng trong nhiều năm qua Phát triển nuôi bánthâm canh là hình thức tất yếu để có cơ hội du nhập công nghệ nuôi tôm tiêntiến của khu vực và thế giới vào Việt Nam Hiện nay có ba hình thức nuôiphổ biến là: nuôi quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến; nuôi bánthâm canh; nuôi thâm canh Việc lựa chọn hình thức nuôi tùy thuộc vào điềukiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, năng lực đầu tư, trình độ quản lý của người nuôi
ở địa phương
Diện tích chuyên nuôi tôm Sú thương phẩm trước đây chỉ có ở một sốtỉnh miền Trung nay phát triển và mở rộng ra khắp các tỉnh Bắc, Trung, Namvới nhiều hình thức nuôi như nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh vàthâm canh Trong quá trình phát triển kỹ thuật nuôi, từng bước được cải tiếnnhằm nâng cao năng suất và sản lượng Trong phát triển NTTS nuôi tôm Súxuất khẩu đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng góp phần xóa đói giảmnghèo sử dụng tiềm năng đất đai hoang hóa, kể cả vùng đất cát
Khu vực đồng bằng Sông Cửu Long có sản lượng tôm nuôi lớn nhất cảnước Năm 2005 sản lượng tôm nuôi nước lợ của khu vực này là 263.560 tấn(bằng 81,2 % sản lượng tôm cả nước), tăng gấp 4,5 lần sản lượng năm 1999.Tuy nhiên phương thức nuôi chủ yếu vẫn là quảng canh và quảng canh cảitiến nên năng suất trung bình không cao (năm 2005 có năng suất trung bình
là 492 kg/ha) [20]
Khu vực Đông Nam Bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 20.010tấn, tăng 1,67 lần so với năm 1999 [20]
Trang 31Khu vực các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ có sản lượng tôm nuôi năm
2005 là 21.600 tấn, thấp hơn năm 2004 do diện tích nuôi bị giảm (năm 2004
là 22.625 tấn) tăng hơn so với năm 1999 (năm 1999 là 11.211 tấn) [20]
Các tỉnh Bắc Trung Bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 12.390 tấn,tăng gấp 8,1 lần so với năm 1999 Năng suất trung bình đạt được năm 2005
là 905 kg/ha, trong khi đó bình quân cả nước là 537 kg/ha [20]
Các tỉnh đồng bằng Sông Hồng có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là15.750 tấn, tăng 13.247 tấn so với năm 1999 [20]
Sau năm 2000, diện tích nuôi tôm của Việt Nam tăng lên rất nhiều,song phần lớn sử dụng nuôi tôm theo hình thức quảng canh cải tiến, còn phầndiện tích chiếm tỷ lệ rất ít được sử dụng nuôi theo hình thức bán thâm canh
và thâm canh Do đó trong những năm vừa qua sản lượng tôm nuôi của ViệtNam có tăng, song năng suất bình quân trong cả nước tăng không đáng kể vàchưa xứng tầm với khả năng sẵn có Theo những thông báo gần đây ViệtNam có diện tích nuôi tôm Sú tăng lên nhưng nguồn tôm nguyên liệu vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, đặc biệt là vào thời điểm trái vụ
Phần lớn các khu vực nuôi tôm trong cả nước vẫn tồn tại hình thứcnuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, những hình thức này có vốn đầu tư
ít, sản lượng thấp, mức độ rủi ro cao, chỉ một phần diện tích nhỏ được nuôitheo hình thức công nghiệp và bán công nghiệp
Năm 2010 diện tích nuôi tôm Sú cả nước đạt 613.718 ha trong đó diệntích nuôi công nghiệp chỉ chiếm khoảng 10 %, điều đó có nghĩa hình thứcnuôi quảng canh và quảng canh cải tiến là chủ yếu Như vậy việc mở rộngđầu tư, phát triển hình thức nuôi tôm công nghiệp thay thế dần các hình thứcnuôi tôm năng suất thấp ở nước ta là rất cần thiết để đáp ứng đủ nguyên liệuphục vụ cho chế biến, xuất khẩu tăng nguồn thu nhập ngoại tệ và phát triểnkinh tế đất nước Nuôi tôm công nghiệp xuất hiện ở nước ta vào những nămcủa thập kỷ 90 ở thế kỷ XX, nhưng tỷ lệ chỉ chiếm 5 % so với 80 % số diệntích nuôi theo hình thức nuôi quảng canh (theo số liệu thống kê ADB 1996)
Trang 32Thời gian gần đây với nhiều chính sách phát triển của nhà nước, số diện tíchnuôi Tôm Sú công nghiệp tăng lên đáng kể đạt khoảng 61.372 ha trong tổng613.718 ha năm 2010.
Miền Trung là khu vực đi đầu trong lĩnh vực nuôi công nghiệp Tôm Sú
ở nước ta Năm 1996 nhờ áp dụng quy trình nuôi công nghiệp, một số môhình nuôi ở Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh đã đạt được 5 tấn/ha/vụ trongkhi năm 1995 chỉ đạt năng suất 415-1.144 kg/ha/vụ (Tạ Khắc Thường, 1996)[28] Năm 1997 mô hình nuôi công nghiệp của Thái Lan thử nghiệm thànhcông tại Ninh Thuận, Bình Thuận Các tỉnh thuộc khu vực phía Nam nơiđóng góp lớn nhất cho sản lượng tôm nuôi của Việt Nam, việc áp dụng hìnhthức nuôi công nghiệp cũng bắt đầu vào năm 1997, năng suất nuôi đạt 5tấn/ha/vụ ỏ Trà Vinh Năm 1998 đạt năng suất 7 tấn/ha/vụ tại Tiền Giang.Đây là những kết quả khởi đầu cho phong trào công nghiệp hóa nghề nuôitôm Sú ở Việt Nam
Hiện nay, phần lớn sản lượng tôm nuôi, đặc biệt là tôm Sú được sảnxuất tại từ các ao nuôi quảng canh cải tiến Tuy nhiên, xu hướng của các hệthống nuôi tôm mà các cơ quan khuyến ngư đang tích cực thúc đẩy là ngàycàng tăng cường mức độ thâm canh Khác với các nước Châu Á láng giềng,nơi chủ yếu nuôi tôm chân trắng, tại Việt Nam tôm Sú vẫn đang được chútrọng Nhờ vậy, Việt Nam là một trong số ít các nước vẫn đang sản xuất tôm
Sú cỡ to, chất lượng cao và có rất ít đối thủ cạnh tranh
Một số tỉnh đứng đầu về sản lượng nuôi tôm ở Việt Nam thể hiện quabảng sau:
Bảng 1.5 Năm tỉnh đướng đầu về nuôi tôm của Việt Nam năm 2008
Trang 333 Sóc Trăng 54.250
(Nguồn FiCEN/CIS)
Nghề nuôi tôm của Việt Nam hiện nay đang gặp một số trở ngại, trong
đó có tác động tiêu cực của việc phát triển nhanh chóng diện tích nuôi tômvùng nước lợ, thậm chí cách bờ biển tới 10 km, làm mặn hóa nước ngầm một
số khu vực, gây nghẽn bùn ở một số khu vực nội địa và giảm diện tích rừngngập mặn Hiện nay nghề nuôi tôm Sú ở nước ta vẫn phụ thuộc vào đánh bắttôm mẹ đã thành thục ngoài tự nhiên để sản xuất tôm giống Với nhu cầungày càng tăng trong khi số lượng khai thác ngày càng giảm, giá tôm Sú mẹ
có khi bị đẩy lên tới hàng chục triệu đồng một con Ngoài ra, người ta cũng
lo ngại rằng, việc đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi sẽ làm tăng số lượng tômnày ngoài tự nhiên do tôm thoát ra khỏi ao nuôi, và có thể truyền bệnh từ tômthẻ chân trắng sang tôm Sú và ngược lại, đặc biệt là bệnh vi rút đốm trắng
1.2.3 Thực trạng nuôi tôm Sú ở Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh nằm giữa Bắc Trung Bộ với diện tích 16487,29 km2
trải dài từ 180 35’B đến 200 00’ B Phía bắc tiếp giáp với Thanh Hóa, phíaNam giáp với Hà Tĩnh, phía tây giáp Lào, phía đông giáp Biển Đông Địahình Nghệ An gồm có núi, đồi, thung lũng Độ dốc thoải dần từ Đông Bắcxuống Tây Nam Hệ thống sông ngòi dày đặc, có bờ biển dài 82 km, có 6 cửalạch thuận lợi và là thế mạnh trong việc nuôi trồng thủy sản
- Khí hậu – Thời tiết: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sựtác động trực tiếp của gió mùa Tây – Nam khô và nóng (từ tháng 4 đếntháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 sangnăm) Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25 0C, lượng mưa trung bình năm là
17000 mm, độ ẩm trung bình 86,5 %
Trang 34Đến năm 2011 Nghệ An có 1770 ha nuôi tôm, trong đó có khoảng 15 %diện tích nuôi Tôm Sú phân bố ở các địa phương như huyện Nghi Lộc, DiễnChâu, Quỳnh Lưu, xã Hưng Hòa – Thành Phố Vinh.
Hiệu quả từ nghề nuôi tôm không phải bàn cãi Vấn đề đặt ra là làm thếnào để nghề này thực sự phát triển bền vững, hạn chế thấp nhất những rủi ro
do dịch bệnh và ô nhiễm môi trường Việc quản lý tôm giống, quy hoạchkhoanh vùng nuôi, giám sát môi trường dịch bệnh để phát hiện để đưa rabiện pháp xử lý kịp thời gặp rất nhiều khó khăn Ngay khâu xử lý môitrường, tránh việc ô nhiễm nguồn nước đến các vùng nuôi thì ở mỗi vùngnuôi cũng gặp phải khó khăn vướng mắc riêng
Khu nuôi tôm công nghiệp Hưng Hòa được đầu tư về cơ sở hạ tầng tươngđối tốt Cơ bản đã có ao chứa, ao lắng, ao xử lý nước thải, hệ thống kênhcấp, kênh thải riêng biệt Nhưng việc xây dựng ao đầm lại phân về cho các
hộ xã viên tự làm nên không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trong việc đào ao đắp
bờ, xây cống, thiết kế cao trình đáy Do đó khi đưa vào sản xuất đã nảy sinhcác vấn đề như nước trong ao luôn bị thẩm lậu từ ao này sang ao khác, ngấm
ra kênh thải Mặc dầu khu nuôi được đầu tư tương đối hoàn chỉnh và phùhợp cho ao nuôi thâm canh nhưng do đầu tư của các hộ còn thấp nên hệthống kênh cấp, kênh thải, ao chứa ao lắng, ao xử lý nước thải không pháthuy tác dụng
Trong suốt quá trình nuôi, nguồn nước cung cấp vào ao nuôi được lấy trựctiếp từ nước tự nhiên, chưa qua xử lý Hơn nữa do cùng một hệ thống cấpthoát nước nên một số ao bị nhiễm bệnh đã không xử lý nước trước khi thải rabên ngoài môi trường, nước chưa ra khỏi khu vực thì đã hòa vào nguồn nướccấp Chính vì thế chất lượng nước ao nuôi bị ô nhiễm nên đã tạo điều kiện chomầm bệnh phát sinh và lây lan trên diện rộng cho khu vực nuôi Bên cạnh đóviệc quản lý chăm sóc môi trường trong quá trình nuôi còn rất hạn chế, trongsuốt vụ nuôi đa số các hộ thực hiện chưa tốt quy trình kỹ thuật Chưa có đầu
tư về các trang thiết bị chuyên dụng như: máy đo oxy, dụng cụ đo độ trong,
Trang 35độ sâu, NH4+,PO43-, H2S, để kiểm tra môi trường nước và các loại vật tư khácnhư thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học (CPSH)
Chính vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường lên tôm tại vùngnày là rất cần thiết, từ đó đưa ra những khuyến cáo để người dân giảm thiểuđến mức thấp nhất tác động của môi trường đến sự sinh trưởng và phát triểncủa tôm
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 36Tôm Sú (penaeus monodon) tại một số ao nuôi của các chủ hộ ở xã
Hưng Hòa – Thành Phố Vinh – Nghệ An
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu tôi thực hiện những nội dung sau:
- Theo dõi các yếu tố môi trường tại các ao nuôi khác nhau
- Theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của tôm Sú tại các ao nuôi qua các lầnlấy mẫu
- Theo dõi tỉ lệ sống của tôm Sú qua các lần lấy mẫu
- Phân tích protein tổng số và các axít amin thiết yếu
- Đánh giá năng suất, hiệu quả kinh tế của các ao nuôi
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Ao 1 có độ sâu 2 m, mức nước 1,5 m, đã nuôi 4 vụ
- Ao 2 có độ sâu 1,7 m, mức nước 1,3 m, đã nuôi 10 vụ
- Ao 3 có độ sâu 1,8 m, mức nước 1,4 m, đã nuôi 4 vụ
- Ao 4 có độ sâu 1,7 m, mức nước 1,2 m, đã nuôi 10 vụ
Trang 372.2.2.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Ảnh hưởng của yếu tố môi trường lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa
của tôm Sú (Penaeus monodon) tại ao nuôi xã Hưng Hòa – T.P Vinh – Nghệ
An
- Theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng
- Theo dõi tỷ lệ sống
- Phân tích protein và axít amin thiết yếu
- Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế ao nuôi
Nhận xét –Kết luận – Kiến nghị
Trang 38TT Yếu tố
Đơnvịtính
Thời gian đo Thiết bị sử dụng
3 DO mg/l 7h và 17h hàng
4 NH3 mg/l 8h, 10 ngày/lần Sử dụng test đo NH3
5 H2S mg/l 8h, 10 ngày/lần
Phương pháp chuẩn độ Iodetheo tiêu chuẩn TCVN 6202-1996
6 Độ kiềm mg/l 8h, 10 ngày/lần Test so màu có độ chính xác
dicromat(K2Cr2O7) tiêu chuẩn
9 BOD mg/l 8h, 10 ngày/lần Phương pháp Oxy bão hoà
theo TCVN 6202-1996
2.2.2.3 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng
Tiến hành xác định tốc độ tăng trưởng của tôm từ ngày thứ 30 trở đi, 15ngày thu mẫu 1 lần bằng cách sử dụng chài, mỗi lần chài ngẫu nhiên 4 góc ao.Lấy ngẫu nhiên 30 cá thể cân khối lượng và đo chiều dài
- Khối lượng của tôm được xác định bằng cân Roberval
- Xác định chiều dài toàn thân sử dụng thước đo Panmer, độ lệch tiêu chuẩn là0,01 mm
- Phương pháp tính tốc độ tăng trưởng:
Trang 39+ Giá trị trung bình: X =1n
n i
Xi
1
Trong đó: X là giá trị trung bình
X i là giá trị thứ i của biến X.
n là số mẫu nghiên cứu.
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối chiều dài thân toàn phần của tôm(cm/con/ngày):
Ltb1 : chiều dài trung bình tôm đo lần trước (cm)
Ltb2 : chiều dài trung bình tôm đo lần sau (cm)
T2 – T1: khoảng thời gian giữa lần đo (ngày)
+ Tốc độ tăng trưởng tương đối chiều dài thân:
● Công thức tính: LL(%) = 100
1
1 2
tb
tb tb
L
L L
+ Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối của tôm (g/con/ngày)
● Công thức tính: DWG =
1 2
1 2
T T
Wtb1: Khối lượng trung bình tôm cân lần trước (g)
Wtb2: Khối lượng trung bình tôm nuôi lần sau (g)
T2 – T1: Khoảng thời gian giữa hai lần cân (ngày)
+ Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng tôm nuôi
TB tb
Trang 40Trong đó: WW(%): Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng của tômnuôi
Wtb1: Khối lượng trung bình tôm cân lần trước (g)
Wtb2: Khối lượng trung bình tôm nuôi lần sau (g)
2.2.2.4 Phương pháp xác định tỷ lệ sống
Sau 30 ngày thì bắt đầu xác định 1 lần, sau đó cứ 15 ngày thì xác định 1 lần
Số tôm đánh được bình quân trong một chài (con) x Diện tích
Tỷ lệ sống =
Diện tích chài ( m2) x ao( m2 ) x k
Trong đó : K là hệ số kinh nghiệm nếu :
- Nước sâu 1 m, chiều dài của tôm 6-7 cm, hệ số k = 1,4
- Nước sâu 1 m, chiều dài của tôm 8-9 cm, hệ số k = 1,2
- Nước sâu 1,2 m, chiều dài của tôm 6-7 cm, hệ số k = 1,5
- Nước sâu 1,2 m, chiều dài của tôm 8-9 cm, hệ số k = 1,3
2.2.2.5 Phương pháp xác định protein tổng số và các axit amin của tôm
- Xác định protein tổng số bằng phương pháp Kjeldalh theo tài liệu của Nguyễnvăn Mùi [13] trên máy phân tích đạm tự động – UDK 132 Semi automatic Steamdistilling Unit tại phòng hóa sinh – Protein Viện Công Nghệ Sinh học Việt Nam
- Xác định axit amin bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC) trên máyphân tích axit amin tự động HP – Aminoquan Series II (Do hãng Hewlett Packardcủa Đức cung cấp) bao gồm RP – 1090 WIN HPLC với Dio – Arrory Detector vớihai hệ bước sóng: 338 nm cho các axit amin bậc 1 và 262 nm cho các axit aminbậc 2 Phần mềm HP – Chemstation để điều khiển và phân tích số liệu tại phòngHoá sinh – Protein Viện Công Nghệ Sinh học Việt Nam
2.2.2.6 Phương pháp đánh giá sản lượng