Ba nữ nhà văn mang ba phong cách khác nhau nhưng họ đều là những nhà văn có duyên với truyện ngắn, sáng tác của họ đậm tính nữ, có hơi hướng màu sắc nữ quyền rõ nét và có nhiều điểm tươn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đoàn Đức Phương
Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Bích Thu
Phản biện 2: PGS TS Vũ Văn Sĩ
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại Khoa Văn học, trường ĐH KHXH & NV, ĐHQGHN
16 giờ 00 ngày 05 tháng 11 năm 2010
Có thể tìm hiểu luận văn tại
- Trung tâm thư viện ĐH Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi Việt Nam nói riêng trong giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay có nhiều khởi sắc Một trong những yếu tố làm nên sự phong phú, đa dạng của văn học giai đoạn này chính là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các cây bút nữ Bên cạnh những cây bút nữ tên tuổi một thời như Vũ Thị Thường, Dương Thu Hương là đội ngũ những cây bút trẻ trung hơn, sôi nổi hơn như Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, và gần đây là một loạt các cây bút trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Ngọc
Tư, Đỗ Hoàng Diệu Với những nỗ lực đáng ghi nhận, họ thực sự đã tạo ra cho
mình những “lối nẻo riêng”
Trong số những cây bút nữ nổi lên ngay từ những năm 1990 của thế kỉ XX, Nguyễn Thị Thu Huệ được xem là một gương mặt đáng chú ý, một ngòi bút có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn, chinh phục người đọc bằng ngòi bút tinh tế, giản dị mà cũng rất từng trải, thâm trầm Bước sang những năm đầu của thế kỉ XXI, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu lại là những hiện tượng văn chương độc đáo Văn của Nguyễn Ngọc Tư thấm đẫm chất Nam Bộ; trầm, buồn mà da diết yêu thương Chị tự ví văn của mình như trái sầu riêng - một đặc sản đối với người mê nó nhưng cũng buộc nhiều người phải bưng mũi ngửi Còn Đỗ Hoàng
Diệu - một nhà văn trẻ “phải đi một con đường vòng đến với độc giả”, thám hiểm
và khai phá nhiều vùng từng bị che lấp hay cấm kị trong văn học, đập vào mắt người đọc bởi bề nổi của câu chữ nhưng lại đụng đến những vấn đề của cả một thời đại, và do đó, nó đầy sức ám ảnh Ba nữ nhà văn mang ba phong cách khác nhau nhưng họ đều là những nhà văn có duyên với truyện ngắn, sáng tác của họ đậm tính nữ, có hơi hướng màu sắc nữ quyền rõ nét và có nhiều điểm tương đồng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật
Cùng với ngôn ngữ, kết cấu, giọng điệu, thì nhân vật cũng là một phương diện độc đáo góp phần tạo nên chất riêng, làm nên phong cách tác giả Nguyễn
Minh Châu đã từng cho rằng, “văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm
Trang 4mà tâm điểm là con người”, và ông không thể tưởng tượng nổi một nhà văn mà
lại không mang trong mình tình yêu cuộc sống, và nhất là tình yêu con người Tìm hiểu nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ trong truyện ngắn ba nữ tác giả chính
là chúng ta đi khám phá đời sống và bản chất con người ấy; cũng là tìm hiểu một trong những phương diện đặc sắc nhất thể hiện chất riêng, phong cách tác giả, thấy được những điểm tương đồng của ba nhà văn, đặc biệt là khi họ đứng trên quan điểm của giới mình, nhân danh giới mình viết về tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ một cách chân thực nhất Đây cũng là cách tiếp cận để chúng ta đánh giá, khẳng định ý thức lao động, sáng tạo nghệ thuật của ba cây bút được nhiều độc giả yêu mến này
Và tìm hiểu nhân vật trong truyện ngắn ba tác giả cũng là một hướng tiếp
cận để chúng ta giải thích được vì sao họ lại từng được xem là những “hiện tượng văn học” của nước nhà
2 Lịch sử vấn đề
Đã có khá nhiều bài viết về Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu và những tác phẩm của họ Song có thể khẳng định rằng, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đi sâu vào truyện ngắn của họ một cách cụ thể, có hệ thống Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại dưới dạng giới thiệu, nhận xét sơ bộ, trình bày cảm xúc về một truyện ngắn hoặc một tập truyện ngắn nào đó của từng tác giả
Với Nguyễn Thị Thu Huệ, đáng chú ý là những lời giới thiệu và nhận định của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng
Với Nguyễn Ngọc Tư, độc giả đặc biệt chú ý đến tập Cánh đồng bất tận
(2005) - tập truyện làm nên tên tuổi của chị Vì vậy, có rất nhiều bài viết xoay quanh tác phẩm này Trần Hữu Dũng - một độc giả quan tâm và yêu mến tác phẩm của chị đã lập hẳn một trang web http://www.viet-studies.info/NNTu thu
thập những bài viết về Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm của chị
Với Đỗ Hoàng Diệu, độc giả yêu văn đặc biệt quan tâm đến tập truyện ngắn
Bóng đè (2005) Đây cũng là tập truyện ngắn duy nhất của chị được phát hành
Trang 5cho đến thời điểm này Sau khi Bóng đè ra đời, đã có hàng chục bài viết đề cập
đến tác phẩm trên các trang báo lớn như An ninh thế giới, Tuổi trẻ, Văn nghệ trẻ, Hợp Lưu, Talawas,… Nhà văn Nguyên Ngọc và nhà phê bình Phạm Xuân
Nguyên đã có những lời khen ngợi dành cho tác phẩm
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu về nhân vật trong truyện ngắn của ba tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu, đặc biệt là những
nhân vật nữ để thấy rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong xây dựng nhân
vật của ba tác giả được xem thuộc hai thế hệ nhà văn nữ khác nhau và mang những phong cách hoàn toàn khác nhau, cũng như sự gặp gỡ ở những nét đổi mới, tiến bộ của các tác giả khi đề cập đến màu sắc nữ quyền - một hiện tượng văn hoá, xã hội của thời hiện đại
Luận văn tập trung khảo sát nhân vật trong các tác phẩm: Nguyễn Thị Thu
Huệ với các tập: Cát đợi (1992), Hậu thiên đường (1993), Phù thuỷ (1995), Nào ta cùng lãng quên (2003);
Nguyễn Ngọc Tư với các tập: Ngọn đèn không tắt (2000), Biển người mênh mông (2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005), Gió lẻ (2008)
Đỗ Hoàng Diệu với tập Bóng đè và các truyện ngắn Tình chuột, Những sợi tóc màu tang lễ, Cô gái điếm và năm người đàn ông, Ngày bất tận
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp khảo sát, thống
kê, phân tích, so sánh, phân tâm học cùng một số phương pháp thi pháp học
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn được triển khai trong 3
Trang 6CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN VÀ MÀU SẮC NỮ QUYỀN TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ
VÀ ĐỖ HOÀNG DIỆU
1.1 Thể loại truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn, sự hình thành và phát triển của thể loại
Có nhiều định nghĩa khác nhau về truyện ngắn Trong 150 thuật ngữ văn học thì truyện ngắn được xác định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường
được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [1, 359-360]
Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về sự ra đời của thể loại này Nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng, từ những năm 30 của thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam thực sự nở rộ với các tên tuổi: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao… sau đến là Đỗ Chu, Nguyễn Minh Châu cho đến Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ… và sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ có triển vọng của thế kỉ XXI như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu v.v… mang đến cho thể loại truyện ngắn những hình thức vừa cũ, vừa mới, vừa
lạ vừa quen, thể hiện sự đổi mới rõ rệt trong phong cách thể loại
1.1.2 Đặc trưng của thể loại truyện ngắn
Nhìn một cách khái quát thì sự khác nhau giữa truyện ngắn và tiểu thuyết cũng như những đặc trưng của thể loại truyện ngắn tập trung vào một số khía
cạnh như sau:
- Dung lượng tác phẩm
- Cách xây dựng kết cấu, cốt truyện
- Cách thể hiện tính cách, số phận nhân vật
Trang 71.2 Hiện tƣợng Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ, Đỗ Hoàng Diệu
và màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả
1.2.1 Hiện tƣợng Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ và Đỗ Hoàng Diệu
Thập niên 90 của thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI là khoảng thời gian được mùa của truyện ngắn và cũng là thời gian nở rộ của nhiều tên tuổi
nữ được bạn đọc mến mộ như Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lí Lan, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Hoàng
Diệu,… Đội ngũ sáng tác ấy khiến cho nền văn học của nước ta “đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm” (Bùi Việt
Thắng)
Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong những cây bút nổi lên ngay từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX Những năm 90, độc giả yêu văn chương đã thực sự sửng sốt và ngỡ ngàng khi xuất hiện một truyện ngắn mà tác giả của nó chưa có tên
tuổi: Hậu thiên đường Và cho đến thời điểm này, trên văn đàn Việt Nam hiện
đại, cái tên Nguyễn Thị Thu Huệ đã không còn lạ, thậm chí chị đã tạo được một phong cách riêng độc đáo, không lẫn với bất cứ nhà văn nào Truyện ngắn của chị gợi lên biết bao trăn trở trong mỗi người về con người và cuộc đời này
Xuất hiện kịp thời khi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương
đã thay đổi từ sau đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ có dịp đi vào những vấn đề rất đỗi dung dị, bình thường nhưng không hề tầm thường là vấn đề gia đình và những mâu thuẫn, xung đột xoay quanh tình yêu, những bi kịch tình yêu, bi kịch
xã hội, những cái tưởng chừng vụn vặt nhưng lại có tác động ghê gớm tới hạnh phúc gia đình…Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã đụng chạm đến những vấn đề cấm kị của văn học, tình yêu đã chớm mang màu sắc nhục thể nhưng đằm thắm, kín đáo, nhẹ nhàng Đây lại là điểm mà các nhà văn trẻ sau này như Nguyễn Ngọc Tư, và đặc biệt là Đỗ Hoàng Diệu khai thác một cách mạnh bạo, công khai hơn
Trang 8Tự ví văn mình như trái sầu riêng, “có người ăn khen ngon, có người bưng mũi quay đi vì chê nó nặng mùi”, Nguyễn Ngọc Tư đã sớm định hình một phong
cách viết khá ấn tượng Nổi tiếng ở miền Nam nhưng xuất hiện muộn hơn ở
miền Bắc với tập truyện Cánh đồng bất tận (2005), Nguyễn Ngọc Tư đã mang
đến cho người đọc nhiều cảm xúc rất trong trẻo và đậm chất nhân văn Xuyên suốt những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư là con người Nam Bộ với những suy
tư, trăn trở rất người, với không gian sông nước, thuyền, ghe, với các món cá bông chua, canh súng… quá đỗi thân thiết với người con Nam Bộ Chị được xem
như là một “đặc sản Nam Bộ”
Xuất hiện gần như cùng thời điểm với Nguyễn Ngọc Tư thế nhưng văn của
Đỗ Hoàng Diệu lại mang một phong cách hoàn toàn khác lạ Xuất hiện trên văn
đàn Việt với tác phẩm Bóng đè cực kì gây choáng, Đỗ Hoàng Diệu đã làm xôn
xao giới văn nghệ nước nhà, khiến nhiều người phải giật mình Thế hệ chị có sự
“phá rào” bằng cách phần đông hướng vào tính dục, viết trần trụi hơn, có phần thô thiển, và có sự lạm phát yếu tố sex Đằng sau ngôn ngữ của họ là nhiều ẩn ý cần phải giải mã Đỗ Hoàng Diệu là nhà văn tiêu biểu không nằm ngoài xu hướng đó Nhiều người thích, nhưng cũng nhiều người chê, nhưng tất cả đều phải công nhận văn của chị là hơi thở mới trong văn chương đương đại Những thông điệp ráo riết, có phần quyết liệt được chị chuyển đến người đọc dưới cái
vỏ rất sex
1.2.2 Vấn đề nữ quyền và màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả 1.2.2.1 Vấn đề nữ quyền và văn học nữ quyền
1 Trong cái nhìn lịch sử, vai trò của nữ giới, mặc nhiên bị coi là vai trò lệ
thuộc và bị chi phối bởi nam quyền
Và cuộc chiến đấu để giành lại vị thế đã mất của nữ giới - vốn âm ỉ rất lâu trong lịch sử đã dần phát triển mạnh mẽ với tên gọi là chủ nghĩa nữ quyền hay nữ quyền luận (feminism)
Một cách khái quát nhất, “nữ quyền” được hiểu là “Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục Khái niệm “nữ quyền” ở
Trang 9cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ nữ trong thế tương quan với nam giới để đạt đến cái gọi là “nam nữ bình quyền” Ở cấp độ hẹp thì “nữ quyền” có mối liên quan tới với các khái niệm như “giới tính”, “phái tính” trong văn học Nếu như “giới tính”, “phái tính” là công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái (nam/nữ) thì khái niệm nữ quyền không chỉ dừng lại ở đó mà mục đích của nó hướng tới là sự bình quyền của nam - nữ, đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới” [58]
Về khái niệm văn học nữ quyền, có thể hiểu, không phải tất cả sáng tác của các tác giả nữ đều thuộc về dòng văn học nữ quyền và sáng tác của một tác giả nam lại có khi được coi là văn học nữ quyền Tiêu chí “văn học nữ quyền” ở đây không phải là giới tính của nhân vật văn học mà là nội dung sáng tác có liên quan đến việc bảo vệ, bênh vực quyền sống của phụ nữ, giải phóng phụ nữ, phê bình và nghiên cứu văn học, nữ tính phải trực tiếp đối diện với sáng tác văn học
do các nam nữ tác giả sáng tác, suy nghĩ về quan hệ của sáng tác của các tác giả nam nữ đối với sự sinh tồn và giải phóng phụ nữ
2 “Phải bước sang xã hội hiện đại, khi trình độ dân trí được nâng cao, phụ nữ được đi học, được tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia của phụ nữ thì cán cân công bằng về giới mới bắt đầu được hiện thực hoá” [13]
Vấn đề nữ quyền, cụ thể là làn sóng nữ quyền thịnh hành và phát triển rầm
rộ ở các nước phương Tây và ngày càng lan rộng ra các châu lục khác trên thế giới Tuy vậy, ở các nước thuộc khu vực Á Đông, đặc biệt là ở các nước đang phát triển thì vấn đề nữ quyền chưa thực sự có độ chín rõ nét để đẩy lên thành một phong trào, một làn sóng trên nhiều bình diện
3 Ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của làn sóng
tân thư, một số tác giả như Đạm Phương, Sương Nguyệt Ánh… đã bắt đầu bàn đến vai trò của người phụ nữ Phan Khôi cũng nhiều lần đòi sự bình quyền, kêu gọi phụ nữ phải có vị trí xứng đáng hơn trong gia đình và xã hội Một số nhà văn lãng mạn cũng đã đề cập đến vấn đề này trong tác phẩm của mình
Trang 10Sau năm 1945, văn học nữ tính có điều kiện để phát triển hơn do có tiền đề văn hóa và xã hội thuận lợi là sự ra đời của Hội Phụ nữ Việt Nam Vai trò của người phụ
nữ, cũng vì thế mà ngày càng được đề cao hơn
Đặc biệt là khi đất nước bước vào thời kì đổi mới từ 1986, sự khởi sắc của nền kinh tế cùng những nỗ lực tạo nên sự bình đẳng về giới đã tạo nên những tiền đề cơ bản để văn học nữ quyền có điều kiện phát triển Điều quan trọng nhất
là “ý thức về giới - một cách tự giác đã ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ những người cầm bút, tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học” [13]
Khi ý thức dân chủ ngày càng được nâng cao, thì cũng đồng nghĩa, trong văn học có sự xuất hiện ngày càng rầm rộ và đầy ấn tượng của các cây bút nữ Sự xuất hiện ấy đã đem đến cho văn học Việt Nam một diện mạo mới, một làn gió mới Nhiều cách tân ở thể loại truyện ngắn đương đại đã phần đông gắn với tên tuổi của các nhà văn nữ như: Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu v…v Nhiều người cho rằng, văn học đương đại Việt Nam “âm thịnh dương suy” Có thể khẳng định, chính các cây bút nữ đã góp công lớn cho nền văn học đương đại Việt Nam, đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn nam và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng của họ
Văn học nữ quyền - hay âm hưởng nữ quyền trong văn học đương đại Việt Nam, xét một cách khái quát, được thể hiện qua những phương diện: thái độ chủ động, quyết liệt đấu tranh để giành, giữ tình yêu, dám sống thật với chính mình
và dám đi đến tận cùng bản thể Trên trang viết của họ, chúng ta thấy hiện lên
“những người đàn bà khổ vì yêu, rút hết gan, hết ruột để yêu và hi sinh cho tình yêu bất cần những hệ luỵ sau đó” [16, 53]
Các nhà văn, nhà thơ nữ Việt Nam đã dần dần tự “cởi trói” cho mình, bắt đầu động chạm đến những vấn đề đã từng bị cấm kị trước đây Họ viết về tình dục với các cách thức khác nhau nhưng phải khẳng định là chưa bao giờ vấn đề này được khai thác mạnh mẽ, “khiêu khích” đến thế Hiện thực này chính là một
hiện tượng mới trên văn đàn: “Nhẹ nhàng, kín đáo trong truyện Nguyễn Thị Thu
Trang 11Huệ Trực diện, trần trụi trong truyện Y Ban Mãnh liệt, nhẩn nha đầy thâm thuý
và ẩn ý trong truyện Đỗ Hoàng Diệu “Quê mùa”, chất phác nhưng đằm như trong truyện Nguyễn Ngọc Tư…Dù ở mức độ nào thì họ cũng đã từng bước khẳng định tiếng nói của nữ giới trong văn chương” [58]
Nữ quyền không chỉ dừng lại ở việc đòi bình quyền trong việc khai thác các đề tài
“cấm kị”, nhạy cảm mà các nhà văn nữ còn tự chứng minh, biểu hiện thiên chức của
mình một cách trọn vẹn Và “đặc tính nổi trội nhất của người phụ nữ để xác lập sự tách biệt với nam giới là bản năng chăm lo, bảo vệ sự sống con người, thể hiện rõ nhất
là tình mẹ” [58] Bản năng làm mẹ của người phụ nữ thể hiện ở sự sinh nở và tình yêu
vô bờ dành cho người con yêu dấu của mình Đây cũng là thiên chức mà không có bất
cứ một người đàn ông nào có thế làm thay được
1.2.2.2 Màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả
Nằm trong mạch vận động và phát triển của văn học đương đại Việt Nam nói chung, sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu đã mang đậm màu sắc nữ quyền, đầy mới mẻ và hiện đại mặc dù chưa bao giờ trong sáng tác của mình lẫn trong thực tế, họ tuyên bố một cách trực tiếp về mục đích sáng tác là để khẳng định màu sắc nữ quyền ấy
Thực tế chứng minh cho màu sắc nữ quyền trong truyện ngắn ba tác giả trên
là khi khảo sát nhân vật trong truyện ngắn của họ, điều chúng ta dễ nhận thấy nhất chính là nhân vật người phụ nữ chiếm đa số với sự phong phú của những số phận, những cảnh đời Các tác giả đã nhân danh phái mình viết về tình yêu, sự khát khao tình yêu, khát khao hạnh phúc - dù là hạnh phúc rất đỗi giản dị nhưng không phải người phụ nào cũng được đón nhận
Truyện ngắn của họ xuất hiện những người phụ nữ nhiệt tình, mạnh mẽ, khát khao một tình yêu đích thực; ý thức cá nhân, yếu tố riêng tư bắt đầu cựa quậy để thoát ra khỏi những ràng buộc gia đình, xã hội Tính nữ quyền trong truyện ngắn của ba tác giả thể hiện rất rõ trong sự quyết liệt đấu tranh giành giữ tình yêu, sự bình quyền trong tình cảm và sự khẳng định của giới mình Họ chủ động trong đời sống, trong hạnh phúc của chính mình Họ cũng không cam chịu Nhân vật
Trang 12nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thường có những chiêm nghiệm chát
chúa từ những từng trải trong cuộc sống My (Thiếu phụ chưa chồng) đã quả quyết
rằng, “thời của tôi khác thời của chị rồi… Tôi muốn tự do và sung sướng Tôi muốn
là bà chủ” Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, một khi đã khao khát
trở thành cô đào hát nổi tiếng, cũng có nghĩa là họ sẽ quyết tâm thực hiện cho bằng được, kể cả nhiều khi họ phải đánh đổi cả gia đình của mình; họ tự đi tìm cho mình một hạnh phúc mới; Trong truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu, là những cô gái luôn tỉnh
táo, không thể chung sống với những người đàn ông như “một bầy cánh cụt, con nào con nấy mũm mĩm, phì phạch”, sẵn sàng từ bỏ người đàn ông tầm thường bên mình
để đi tìm cho mình người đàn ông đích thực Truyện ngắn của họ ít xuất hiện những người đàn bà với thói quen nô lệ cố hữu, và đã xuất hiện những người đàn bà nổi loạn
Cả ba đã công khai đề cập đến vấn đề tính dục với những màu sắc, cường độ khác nhau Các cây bút nữ, thậm chí đã gây xôn xao dư luận khi đề cập đến vấn
đề này Nguyễn Thị Thu Huệ thì nhẹ nhàng, kín đáo, kiểu như: “anh không nghe thấy tiếng thở dài tức ngực của người đàn bà chưa đến bốn mươi tuổi, da thịt mát lạnh, thơm tho của sự đầy đủ, nhàn hạ dần dần đang cần sự yêu chiều ve vuốt [24,255] Với Nguyễn Ngọc Tư, từ tập truyện đầu tay còn phảng phất chất
học trò như Ngọn đèn không tắt cho đến các tập truyện ngắn sau này, chị đã già
dặn hơn trong cách viết, dám mạnh dạn đề cập đến những rung động xác thịt Nguyễn Ngọc Tư viết về vấn đề này, theo như nhận xét của nhiều người, có phần
“quê mùa” (so với sự mạnh bạo của nhiều nhà văn khác) nhưng lại rất đằm thắm, dịu ngọt Những người yêu nhau trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không bao
giờ có những hành động “vượt rào”, nhiều lắm chỉ như “Nó ngồi sau lưng thầy…mà lòng nghe dịu ngọt lạ thường, chợt thèm đển rớt nước mắt được nép
vào lưng, được choàng tay ôm eo thầy…” [62, 56] Năm 2005, Cánh đồng bất tận
của chị được xem như một bứt phá ngoạn mục so với cách viết thật thà trước đó Cây bút nữ được yêu mến bởi những tác phẩm viết về nông thôn Nam bộ, với những