1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN quan hệ liên nhân cách và vấn đề xây dựng mối quan hệ qua lại trong tập thể quân nhân

23 267 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tâm lý học xã hội vấn đề nhân cách cũng mang một số nét đặc trưng riêng. Ở đây, nhân cách cần phải được nghiên cứu trong sự giao tiếp của cá nhân này với cá nhân khác, nhân cách phải được đặt trong hoàn cảnh cụ thể của một nhóm xã hội nào đó. Tâm lí học xã hội nghiên cứu nhân cách ở nhiều khía cạnh khác nhau như khái niệm, bản chất nhân cách;

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nhân cách là vấn đề trung tâm của tâm lý học đồng thời là một trongnhững vấn đề quan trọng nhất trong hệ thống khoa học xã hội và nhân văn, nócũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau Mỗi một lĩnhvực khoa học nhất định đều nghiên cứu nhân cách với góc độ tiếp cận củariêng mình, song đều hướng tới mục tiêu chung là xây dựng và phát triểnnhân cách con người đáp ứng yêu cầu của thời đại

Trong tâm lý học xã hội vấn đề nhân cách cũng mang một số nét đặctrưng riêng Ở đây, nhân cách cần phải được nghiên cứu trong sự giao tiếp của

cá nhân này với cá nhân khác, nhân cách phải được đặt trong hoàn cảnh cụthể của một nhóm xã hội nào đó Tâm lí học xã hội nghiên cứu nhân cách ởnhiều khía cạnh khác nhau như khái niệm, bản chất nhân cách; những yếu tốảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách; định hướng giá trị nhâncách; sự thay đổi nhân cách; những con đường hình thành và phát triển nhâncách trong đó, việc nghiên cứu mối quan hệ liên nhân cách trong xã hội,nhóm, tập thể giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hình thành và phát triểnnhân cách xã hội

Hoạt động quân sự là hoạt động đặc thù, đòi hỏi cao tinh thần đoànkết, thống nhất giữa các quân nhân, “muôn người như một” Nói cách khác đóchính là mối quan hệ liên nhân cách đạt đến trình độ cao cả về liên hệ tâm lýcũng như hành vi của mỗi quân nhân

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Quan hệ liên

nhân cách và vấn đề xây dựng mối quan hệ qua lại trong tập thể quân nhân” làm đề tài viết tiểu luận.

Trang 2

NỘI DUNG

I Quan hệ liên nhân cách

I.1 Khái niệm nhân cách trong tâm lý học xã hội.

Mỗi chúng ta là một cá nhân đơn nhất Đây là một khẳng định mangtính triết học và lịch sử Con người cùng với tất cả các phẩm chất tâm sinh lýcủa mình, được hình thành và phát triển trong các mối quan hệ xã hội nhấtđịnh luôn là sản phẩm duy nhất, không lập lại, không trùng hợp theo qui luậtngẫu nhiên Để có thể hiểu những nhân cách đơn nhất của mình và để có thểhiểu rõ, có thể mô tả nhân cách con người chúng ta phải nhờ đến triết học,đến lịch sử, đến văn học, đến xã hội học và rất nhiều các khoa học khác trong

đó có tâm lý học nói chung và tâm lý học xã hội nói riêng

Tâm lý học xã hội là một chuyên ngành độc lập trong số các khoa họctâm lý, và đối tượng đang bàn ở đây chính là nhân cách trong tâm lý học xãhội Có thể nói, nhiệm vụ chính của tâm lý học xã hội trong việc nghiên cứunhân cách là phát hiện và tìm hiểu những qui luật của hành vi, ý thức và hoạtđộng của nhân cách nằm trong những nhóm xã hội nhất định nào đó

Khái niệm về nhân cách trong tâm lý học xã hội cũng được tiếp cậndưới nhiều góc độ khác nhau Có thể dẫn ra ở đây khái niệm nhân cách củaFreud: Nhân cách đó là những tình cảm, những cố gắng và những tư tưởng

phát sinh từ những mâu thuẫn của tính hiếu chiến của chúng ta, động cơ thúc đẩy việc tìm kiếm để thoả mãn nhu cầu một cách sinh học và sự kiềm chế xã hội chống lại chúng Theo Freud, nhân cách hình thành do những cố gắng giải

quyết mâu thuẫn cơ sở này, nỗ lực bày tỏ những sự thúc đẩy của cá nhân tiếntới sự thoả mãn trong phạm vi không phạm tội và bị trừng phạt Với quanniệm này Freud dường như đã coi nhân cách như là khả năng kiềm chế bảnnăng của con người

Trang 3

Một số nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như: Miashiev, Smirnov,Malưsev , đã giải thích nhân cách như là hệ thống của các mối quan hệ Một

số khác, như Ananhiev, Platônnôp, Merlin , khẳng định rằng nhân cách

không phải là tất cả con người mà chỉ là những phẩm chất xã hội. Họ khôngcoi nhân cách là chủ thể của hoạt động phương hướng này đã đưa đến việchiểu tính xã hội và tính sinh học của con người là các thành phần tương đốiđộc lập kết hợp với nhau theo những tỷ lệ khác nhau

Dựa trên quan điểm của Rubinshtein, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng

nhân cách là tập hợp các điều kiện bên trong, qua chúng các tự động bên ngoài được khúc xạ Theo định nghĩa này, các yếu tố bên trong, như nhu cầu,

kinh nghiệm, động cơ, đóng vai trò các yếu tố gây ra sự trả lời khác nhau củachủ thể đối với những kích thích giống nhau từ thế giới bên ngoài Từ đó,nhân cách chưa bộc lộ được những đặc thù của chính nó, bởi vì định nghĩanày còn có thể áp dụng đối với mọi sinh vật sống khác nữa

Ý thức được nhược điểm này K.K Platônôp đưa ra khái niệm: nhân cách là con người có nhận thức Mặc dù tính đặc thù của con người đã được

nhấn mạnh ở khái niệm trên, Platônốp vẫn mắc sai lầm, cụ thể là đã lảng tránhbản chất hoạt động xã hội của nhân cách; sự tác động tương đối của conngười và thế giới xung quanh Hai nhà tâm lý học Predvetmưi và Sherkhôvinacho rằng nhân cách là con người - chủ thể của hoạt động là nhân tố cải tạo thếgiới, là chủ thể có nhận thức và tự nhận thức

Reivald, một nhà tâm lý học Xô viết khác, cho rằng hoạt động là biệnpháp để hình thành và tồn tại nhân cách, nhân cách được thể hiện ra cũngtrong hoạt động Khi nghiên cứu các tổ chức tâm lý của nhân cách qua hoạtđộng, ông coi chúng là các hành vi có mục đích của hoạt động và tạo nên cácgiai đoạn trong cuộc sống của nhân cách

Trang 4

Dựa vào nguyên tắc hoạt động, các nhà tâm lý học Xô viết đã đưa ramột định nghĩa chung về nhân cách Theo họ, nhân cách là con người - chủ

thể của hoạt động xã hội và nhờ hoạt động mà con người có được một vị trí nhất định giữa những người khác Các đặc điểm tâm lý của nhân cách thể

hiện ở chỗ nhân cách tiến đến cái gì và chạy khỏi cái gì, cũng như mức độnhận thức, tổ chức, cường độ và kết quả của tính tích cực giải quyết cácnhiệm vụ sống thiết thực

Đứng trên lập trường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ ChíMinh và quan điểm của Đảng, các nhà Tâm lý học Việt Nam đã tiếp thu cóchọn lọc các lý luận về nhân cách của Tâm lý học Xô Viết và áp dụng linhhoạt, sáng tạo trong điều kiện thực tiễn Việt Nam

Theo Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc quan niệm: Nhân cách là hệ thốngthái độ của con người Là thước đo độ phù hợp của phẩm chất, năng lực conngười với yêu cầu xã hội, độ phù hợp càng cao thì nhân cách càng phát triển

Còn theo tác giả Lê Đức Phúc: Nhân cách là cấu tạo tâm lý phức tạpbao gồm nhiều thuộc tính tâm lý cá nhân, được hình thành và phát triển trongcuộc sống và hoạt động, quy định giá trị xã hội của mỗi người

Theo tác giả Trần Trọng Thủy: Nhân cách là toàn bộ đặc điểm phẩmchất tâm lý quy định toàn bộ đặc điểm và hành vi xã hội của cá nhân

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lý học nhân cách thì

ở nước ta, chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống Songcách hiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:

Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và nănglực hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động)

Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người

Trang 5

Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ,yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động.

Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của conngười Theo cách hiểu này, tác giả Nguyễn Quan Uẩn trong cuốn tâm lý họcđại cương (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2004) đã nêu lên định nghĩa nhân

cách như sau: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người

Trong từ điển tâm lý do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ biên có định nghĩa

về nhân cách như là tổng hoà tất cả những gì hợp thành một con người, một cánhân, với bản sắc và cá tính rõ nét, với các đặc điểm thể chất (tạng), tài năng,phong cách, ý chí, đạo đức vai trò xã hội Nhân cách là một cá nhân có có ý thức

về bản thân, đã tự khẳng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọihành vi Mặc dù đây là một định nghĩa khá đầy đủ về nhân cách, nó cũng vẫnchưa thoát ra khỏi khái niệm về các đặc điểm tâm lý của cá nhân

Trên cơ sở những nghiên cứu đó, các nhà Tâm lý học Quân sự ViệtNam (trong cuốn Tâm lý học quân sự xuất bản năm 2005) đã đưa ra khái

niệm về nhân cách: Nhân cách là tổng hoà các phẩm chất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong hoạt động và giao tiếp, phản ánh giá trị xã hội của cá nhân đó trong cộng đồng.

Như vậy, nhân cách là sự tổng hòa nhưng không phải tổng hòa nhữngđặc điểm của con người, mà chỉ là tổng hòa những đặc điểm quy định conngười như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị

và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Những quan điểm của các nhà Tâm lý học Việt Nam cũng đều thốngnhất thừa nhận, nhân cách là tính xã hội của con người, nhân cách mang bản

Trang 6

chất xã hội, nó không phải được sinh ra mà được hình thành và phát triểntrong quá trình con người tham gia hoạt động vào các mối quan hệ xã hội.

Nói tóm lại các khái niệm và định nghĩa về nhân cách thì có nhiều,nhưng nội dung của chúng chưa hẳn đã thật chính xác và mô tả được đầy đủcác đặc tính và những yếu tố đặc thù cho nhân cách Nhìn chung, các nhà tâm

lý học cũng như các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học nhân vănkhác hầu như đều cho rằng nhân cách là tập hợp các phẩm chất, đặc điểm sinh

lý, các đặc tính xã hội, các thuộc tính tâm lý của mỗi cá nhân Nhân cáchchính là những chủ thể đại diện cho các mối quan hệ xã hội

Tâm lý học xã hội nghiên cứu nhân cách trong các nhóm xã hội nhấtđịnh Tại đó, mỗi cá nhân mang những đặc điểm chung, đặc trưng cho nhóm

xã hội cụ thể và được gọi là nhân cách xã hội Điều đó có nghĩa là, nhân cách

xã hội tham gia vào một nhóm xã hội nhất định, mang những đặc điểm chung,đặc trưng cho nhóm xã hội đó và chính quá trình hoạt động và giao tiếp củanhóm chi phối các hành vi của nhân cách - đối tượng mà chúng ta quan tâm.nhóm chi phối các hành vi của nhân cách - đối tượng mà chúng ta quan tâm

I.2 Quan hệ liên nhân cách

a Khái niệm, bản chất quan hệ liên nhân cách

Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội, cũng có nghĩa là nghiên cứu

cá nhân trong các nhóm, trong các quan hệ xã hội Nói cách khác là nghiêncứu cá nhân trong hệ thống chung các mối quan hệ xã hội, trong một số “ngữcảnh xã hội” “Ngữ cảnh” này bao gồm hệ thống các mối quan hệ thực củanhân cách với thế giới khách quan Xác nhận các mối quan hệ có nghĩa làthực hiện nguyên tắc chung về phương pháp luận - nghiên cứu con ngườitrong sự liên hệ với môi trường xung quanh Nhưng nội dung, mức độ cácmối quan hệ của con người với thế giới khách quan lại rất khác nhau bởi vì

Trang 7

mỗi cá nhân lại là chủ thể của rất nhiều mối quan hệ khác nhau Trong sự đadạng đó có thể có thể chia ra làm hai loại mối quan hệ: quan hệ xã hội vàquan hệ “tâm lý” của nhân cách - quan hệ liên nhân cách.

Cấu trúc quan hệ xã hội được bộ môn Xã hội học nghiên cứu Trong lýthuyết của khoa học, Xã hội học đã đưa ra rất nhiều loại quan hệ xã hội: quan

hệ kinh tế, quan hệ pháp quyền, quan hệ chính trị Tổng hoà các mối quan hệnày tạo nên quan hệ xã hội Đặc trưng của quan hệ xã hội được biểu hiện ởchỗ, trong các mối quan hệ này không chỉ đơn giản là cá nhân “gặp gỡ” với cánhân hay cá nhân “quan hệ” với cá nhân khác mà những cá nhân này với tưcách là những người đại diện cho các nhóm xã hội nhất định (đại diện cho giaicấp nghề nghiệp, các tổ chức chính trị, đảng phái ) Do vậy, có thể hiểu:quan hệ xã hội là quan hệ giữa các cá nhân với tư cách đại diện cho một nhóm

xã hội, do xã hội quy định một cách khách quan vai trò của mỗi cá nhân trongnhóm Ví dụ: thầy - trò; người mua - người bán; thủ trưởng - nhân viên

Đặc trưng cơ bản của quan hệ xã hội là các mối quan hệ này được thiếtlập không phải dựa trên nền tảng có thiện cảm hay không thiện cảm của các

cá nhân mà dựa trên cơ sở về vị trí nhất định của mỗi cá nhân trong xã hội,trên cơ sở những chức năng, hành vi mà cá nhân phải thực hiện khi đứng ở vịtrí đó (gọi là vai xã hội) Bởi vậy, các mối quan hệ này được xã hội quy địnhmột cách khách quan Đây là mối quan hệ giữa các nhóm xã hội hay giữa các

cá nhân với tư cách là những đại diện các nhóm xã hội đó Điều này nói lênrằng quan hệ xã hội không có tính bản sắc Bản chất của các mối quan hệ nàykhông nằm trong sự tác động qua lại giữa các nhân cách mà nằm trong sự tácđộng qua lại giữa các vai trò xã hội

Trong thực tế, mỗi cá nhân đảm nhiệm không chỉ một vai trò mà lànhiều vai xã hội: Họ có thể là một giáo viên, một người bố, là một thành viên

Trang 8

một câu lạc bộ, là một trưởng họ Có những vai xã hội được quy định trướccho con người từ khi mới sinh ra (ví dụ là nam hay nữ), những vai xã hội khácđược hình thành trong cuộc sống Mặc dù vậy, bản thân vai xã hội khôngquyết định hoạt động và hành vi của mỗi người mà tất cả những điều đó phụthuộc vào nhận thức của cá nhân và sự nhập vai của cá nhân đó Sự nhập vaimang màu sắc cá nhân rõ rệt vì được xác định bằng hàng loạt các đặc điểmtâm lý cá nhân của người mang vai đó Bởi vậy các quan hệ xã hội, mặc dùthực chất là các quan hệ theo vai, không phải là quan hệ nhân cách, nhưngtrong thực tế, trong mỗi sự biểu hiện cụ thể vẫn có “sắc thái nhân cách” Trởthành nhân cách trong hệ thống các quan hệ xã hội, con người nhất định phảitham gia vào quá trình tác động qua lại, vào quá trình giao tiếp vì thông quacác quá trình đó những đặc tính cá nhân nhất định được biểu hiện Bởi vậymỗi vai trò xã hội không có nghĩa là sự định trước tuyệt đối của hành vi, mà

nó thường xuyên giữ lại một vài “phạm vi cơ hội” cho người thực hiện Ta cóthể ước lệ gọi đó là “phong cách nhập vai” Chính phạm vi này trở thành nềntảng để xây dựng các quan hệ khác bên trong của hệ thống quan hệ xã hội -quan hệ liên nhân cách

Khi tham gia vào các quan hệ với người khác, cá nhân, một mặt có thểthực hiện vai xã hội do mối quan hệ đó quy định Khi đó cá nhân đang tiếnhành mối quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân có thể quan hệ với người kháckhông phải trên cơ sở của vai xã hội mà chủ yếu dựa trên cơ sở của tình cảm,xúc cảm của quan hệ mang tính tâm lý Khi đó cá nhân đang thực hiện quan

hệ liên nhân cách

Quan hệ liên nhân cách là quan hệ cá nhân với cá nhân trên cơ sở tâm

lý, tình cảm và sự đồng nhất với nhau ở mức độ nhất định

Trang 9

Như vậy, nói đến quan hệ liên nhân cách là nói đến quan hệ mang tínhngười - người, nói đến nội dung tâm lý của quan hệ đó chứ không nói đến nộidung “công việc” của quan hệ đó.

Quan hệ xã hội và quan hệ liên nhân cách gắn bó rất chặt chẽ với nhau.Trong Tâm lý học xã hội có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề xácđịnh vị trí của quan hệ liên nhân cách với hệ thống quan hệ xã hội Đôi khiquan hệ liên nhân cách được coi như ngang hàng với quan hệ xã hội, mộtthành phần tạo nên các quan hệ xã hội, hoặc ngược lại quan hệ liên nhân cách

ở mức độ cao hơn quan hệ xã hội, hay quan hệ liên nhân cách là sự phản ánhtrong ý thức của quan hệ xã hội Theo quan điểm khác, bản chất của quan hệliên nhân cách có thể được hiểu đúng nếu như chúng không đặt ngang hàngvới quan hệ xã hội mà được nhìn nhận như một hàng quan hệ đặc biệt xuấthiện bên trong mỗi loại quan hệ xã hội và nó không thể nằm ngoài các quan

hệ này (ví dụ như “thấp hơn”, “cao hơn” hay “bên cạnh”)

Quan hệ liên nhân cách nằm trong quan hệ xã hội, chúng đan xen vàonhau Bất kì một quan hệ xã hội nào cũng bao hàm quan hệ liên nhân cách

ở một mức độ nhất định Ngược lại bất kì một quan hệ liên nhân cách nàocũng bao hàm một quan hệ xã hội nhất định Ví dụ, trong quan hệ tình yêu,thoạt nhìn đây là quan hệ có vẻ như là quan hệ liên nhân cách đơn thuầnnhưng thực tế nó cũng không thể thoát khỏi một kiểu quan hệ xã hội (mộtvai trò xã hội là nam giới và vai kia là nữ giới) Sự tồn tại quan hệ liênnhân cách bên trong các hình thức khác nhau của quan hệ xã hội như là sựthực hiện các quan hệ trong hoạt động của các nhân cách cụ thể, trong cáchoạt động giao tiếp và sự tác động qua lại Trong quá trình thực hiện đó,mối quan hệ giữa con người với con người (trong đó có môi quan hệ xãhội) một lần nữa được tái tạo lại Hay nói một cách khác, trong toàn bộ tiếntrình vận hành hệ thống khách quan các quan hệ xã hội có sự hiện diện củacác yếu tố thuộc về các cá nhân Chính vì vậy ở đây có sự giao thoa giữaquan hệ xã hội và quan hệ liên nhân cách

Trang 10

Bản chất quan hệ liên nhân cách khác với bản chất quan hệ xã hội đượcthể hiện ở nét đặc trưng quan trọng: quan hệ liên nhân cách được thiết lập trênnền tảng xúc cảm, tình cảm Điều đó có nghĩa là những quan hệ liên cách đóxuất hiện và hình thành trên nền tảng những tình cảm nhất định nảy sinh ởcon người trong mối quan hệ giữa con người với con người Chính vì vậyquan hệ liên nhân cách được xem như là nhân tố của bầu “không khí tâm lý”trong nhóm.

b Các yếu tố chi phối quan hệ liên nhân cách

* Giao tiếp trong hệ thống quan hệ liên nhân cách

Không thể có quan hệ người - người (bao hàm cả quan hệ xã hội vàquan hệ liên nhân cách) nói chung nếu thiếu giao tiếp Giao tiếp là phươngtiện là công cụ để thực hiện các quan hệ đó Do vậy, giao tiếp có một vị trítrung tâm trong hệ thống phức tạp các quan hệ của con người Hiểu chungnhất, giao tiếp như là sự tác động qua lại giữa hai hay nhiều người để trao đổithông tin, nhận thức hay tình cảm Trong cấu trúc của giao tiếp có nhữngphương diện sau: 1) Sự gắn kết, thành lập cộng đồng; 2) Sự trao đổi thông tin;3) Sự hiểu biết lẫn nhau Cả ba phương diện này của giao tiếp đều tác độngmạnh mẽ đến quan hệ liên nhân cách

Giao tiếp là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Nó vừa là phương thức phát triển cá nhân vừa là phương thức để thống nhấtcác cá nhân Cần đặc biệt nhấn mạnh ý tưởng rằng, trong giao tiếp, cá nhânlĩnh hội các chuẩn mực, các giá trị xã hội, đồng thời biểu hiện sự gắn bó tìnhcảm, sự ghét bỏ, chối từ hay đơn giản là thờ ơ, lãnh đạm đối với các cá nhânkhác Cũng trong giao tiếp, các định hướng giá trị của cá nhân có thể xích gầnlại với định hướng giá trị của cá nhân khác hay theo chiều ngược lại là phânhóa rõ ràng hơn Chính điều này tác động đến quan hệ liên nhân cách

Trang 11

Hai hàng quan hệ của con người - quan hệ xã hội và quan hệ liên nhâncách được bộc lộ và thực hiện chính trong giao tiếp Vì vậy có thể nói, nguồngốc khởi thủy của giao tiếp được bắt nguồn từ hoạt động trong cuộc sống của

cá nhận Giao tiếp là thực hiện toàn bộ hệ thống các quan hệ của con người.Các mối quan hệ đa dạng của con người chỉ có thế thực hiện trong giao tiếp

Xã hội loài người không thể tồn tại nếu không có giao tiếp Nó vừa như mộtphương thức thống nhất các cá nhân vừa như là một phương thức phát triểncác cá nhân đó Chính vì vậy giao tiếp cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ:vừa thực hiện quan hệ xã hội và vừa thực hiện quan hệ liên nhân cách

Mỗi loại quan hệ vận hành trong các hình thức đặc trưng của giao tiếp.Giao tiếp với tư cách thực hiện quan hệ liên nhân cách được nghiên cứu rấtnhiều trong Tâm lý học xã hội Giao tiếp liên nhân cách được nảy sinh từ hoạtđộng cùng nhau của con người Vì vậy, nó được thực hiện trong các quan hệliên nhân cách đa dạng, có nghĩa là nó được hình thành trong trường hợp khiquan hệ giữa con người với con người mang tính tích cực và ngay cả khi quan

hệ đó mang tính tiêu cực

Giao tiếp khi thực hiện các quan hệ xã hội là giao tiếp giữa các nhómhay các cá nhân như là đại diện của các nhóm xã hội Trong trường hợp nàyhoạt động giao tiếp cần thiết phải được diễn ra thậm chí ngay cả khi có sự đốikháng giữa các nhóm Trong tác phẩm của mình, Mác đã viết rằng: giao tiếp

là người bạn đồng hành tuyệt đối của lịch sử nhân loại Theo Lêônchiev, giaotiếp cũng là người bạn đồng hành tuyệt đối trong hoạt động hàng ngày, trong

sự tiếp xúc hàng ngày của con người Như vậy, chúng ta có thể nghiên cứulịch sử thay đổi các hình thức của giao tiếp trong phạm vi phát triển xã hộicùng với sự phát triển các quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị và các quan hệ xãhội khác Với tư cách là người đại diện cho một số nhóm xã hội, con ngườigiao tiếp với đại diện của nhóm xã hội khác và cùng một lúc đã thực hiện

Ngày đăng: 14/07/2021, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Dũng (chủ biên), Tâm lý học xã hội, Nxb KHXH, H2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Vũ Dũng, Tâm lý học xã hội – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Từ điển Bách khoa, H 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
3. Nguyễn Đình Gấm, Những vấn đề tâm lý xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb CTQG, H 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tâm lý xã hội trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhà XB: Nxb CTQG
4. Trần Hiệp (chủ biên), Tâm lý học xã hội – Mấy vấn đề lý luận, Nxb KHXH, H 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội – Mấy vấn đề lý luận
Nhà XB: NxbKHXH
5. Trần Hiệp (chủ biên), Tâm lý học xã hội – Những vấn đề lý luận, Nxb KHXH, H 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội – Những vấn đề lý luận
Nhà XB: Nxb KHXH
8. Phương Kỳ Sơn, Tâm lý học xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG, H 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội - Một số vấn đề lý luận và thựctiễn
Nhà XB: Nxb CTQG
9. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Sự thật, H 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
6. Trần Ngọc Khuê (chủ biên) (1998), Xu hướng biến đổi tâm lý xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Đỗ Long (2000), Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w