1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa: Tình hình sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

74 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận được nghiên cứu với mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh. Nhận xét hiệu quả sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi tại Khoa Nội Nhi - Bệnh viện Sản Nhi năm 2018.

Trang 1

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƯỢC

NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM

2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN

SẢN NHI BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH Y KHOA

Hà Nội - 2019

Trang 2

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

KHOA Y DƢỢC

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM

2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN

Trang 3

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự dạy bảo nhiệt tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè, sự động

viên to lớn của gia đình và người thân

Đầu tiên em xin bày tỏ sự tri ân và lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS

Phạm Trung Kiên – Phó chủ nhiệm Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội

người thầy mà em vô cùng kính mến và ngưỡng mộ Thầy đã luôn tận tình

hướng dẫn, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận,

thầy còn cho em những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình học tập để em

có được như này hôm nay

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến BS Trần Thị Thủy – Phó

trưởng Khoa Nội Nhi – Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh – người đã nhiệt tình giúp

đỡ em, đồng thời cũng đóng góp cho em nhiều ý kiến quý báu để em có thể hoàn

thành khóa luận

Em xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Y- Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Ban giám đốc Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, cùng toàn thể các thầy

cô bộ môn Nhi, các bác sĩ khoa Nội Nhi – Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh đã hết

lòng quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em thực hiện nghiên cứu và

hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng biết ơn và sự yêu thương đến gia đình, người thân và bạn bè, những người đã luôn ở bên cổ vũ, động viên và tạo

mọi điều kiện giúp đỡ em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài khóa luận

Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Văn Trường

Trang 4

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NKHHC Nhiễm khuẩn hô hấp cấp

TCYTTG Tổ chức Y tế Thế giới

VBVSKTE Viện Bảo vệ sức khỏe trẻ em

VTPQBN Viêm tiểu phế quản bội nhiễm

Trang 5

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới và độ tuổi 18

Bảng 3.2 Thời gian từ khi bị bệnh đến khi vào viện theo độ tuổi 18

Bảng 3.3 Đặc điểm triệu chứng thực thể theo nhóm tuổi 20

Bảng 3.4 Đặc điểm cận lâm sàng theo chẩn đoán 21

Bảng 3.5 Tần suất sử dụng nhóm kháng sinh theo chẩn đoán 22

Bảng 3.6 Số loại kháng sinh được sử dụng theo chẩn đoán 23

Bảng 3.7 Đặc điểm số loại kháng sinh được sử dụng theo tuổi 23

Bảng 3.8 Phối hợp kháng sinh sử dụng trong điều trị NKHHCT 24

Bảng 3.9 Thời gian điều trị trung bình của nhóm trẻ NKHHCT 25

Bảng 3.10 Thời gian điều trị theo chẩn đoán 26

Bảng 3.11.Thời gian điều trị của nhóm có dùng kháng sinh và không dùng kháng sinh trước ở nhà 26

Bảng 3.12 Kết quả điều trị theo chẩn đoán 27

Trang 6

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Triệu chứng lâm sàng của trẻ 19

Biểu đồ 3.2 Tình hình xử trí trước khi vào viện 21

Biểu đồ 3.3 Đường dùng kháng sinh 25

Biểu đồ 3.4 Thời gian điều trị trung bình bằng kháng sinh 27

Trang 7

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) ở trẻ em 3

1.2 Nguyên nhân gây NKHH ở trẻ em 4

1.3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của NKHH ở trẻ em 5

1.4 Tình hình sử dụng kháng sinh trong NKHH 6

1.5 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp và sử dụng kháng sinh điều trị NKHH ở trẻ em 8

1.6 Chương trình Phòng chống NKHH ở trẻ em 10

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.2 Phương pháp nghiên cứu 11

2.3 Phương pháp thu nhập và xử lý số liệu 16

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 17

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 18

3.2 Tình hình sử dụng kháng sinh 21

3.3 Kết quả điều trị 25

Chương 4 BÀN LUẬN 28

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 28

4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của NKHH 29

4.3 Tình trạng sử dụng kháng sinh trước khi vào viện và thời gian bị bệnh trước khi vào viện của trẻ 31

4.4 Đánh giá việc sử dụng kháng sinh 33

KẾT LUẬN 36

KHUYẾN NGHỊ 37

Trang 8

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC), chủ yếu là viêm phổi là bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước đang phát

triển Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) hàng năm có khoảng

14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó 4 triệu do NKHH[13] Ở Việt Nam,

theo nghiên cứu của chương trình Phòng chống NKHH Quốc gia, NKHH cũng

là nguyên nhân hàng đầu làm cho các bà mẹ phải đưa trẻ đến khám tại các cơ sở

y tế, trung bình mỗi trẻ mắc 4 - 6 lần/năm, tỉ lệ tử vong chung của trẻ dưới 5 tuổi

là 7‰, trong đó tử vong do NKHHC là 2,7‰ [13]

Nguyên nhân gây NKHH có thể là virus hoặc vi khuẩn, tuy nhiên ở các nước đang phát triển chủ yếu là do vi khuẩn Vi khuẩn gây NKHH thường gặp là

S pneumoniae, H influenzae, Chlamydia trachomatic, S aureaus, Mycoplasma

pneumoniae trong đó S pneumoniae, H influenzae có tỉ lệ cao nhất [3],[32]

NKHH được chia thành các mức độ khác nhau như ho hoặc cảm lạnh, viêm

phổi, viêm phổi nặng, trong đó hay gặp nhất là ho hoặc cảm lạnh không kèm

viêm phổi Đối với mỗi phân loại khác nhau, sẽ có phác đồ và hướng xử trí

tương ứng, kháng sinh chỉ được sử dụng cho những trường hợp có kèm viêm

phổi hoặc viêm phổi nặng

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của các tác giả cho thấy tình hình sử dụng kháng sinh trong NKHH còn nhiều vấn đề bất cập, đặc biệt là việc lạm dụng

kháng sinh, phối hợp kháng sinh không đúng, đây là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ

kháng kháng sinh, dẫn đến tình trạng điều trị kéo dài, bệnh diễn biến nặng lên

Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Huế và cộng sự tại Bệnh viện Đa khoa

Trung Ương Thái Nguyên 71% bệnh nhân đã sử dụng kháng sinh trước khi đến

viện, trong đó 28% gia đình tự đi mua kháng sinh [9] Nghiên cứu của Nguyễn

Quỳnh Hoa cho thấy một nửa các đợt mắc nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ (528/1048)

và 62,9% trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp (392/623) được điều trị với kháng sinh

Việc dùng kháng sinh không hợp lý này là do cán bộ y tế chỉ định chiếm tới

82,0% [6] Theo Trần Thị Anh Thơ có 33,1 % bệnh nhân sử dụng kháng sinh

trước vào viện, trong đó 23,1% không có đơn thuốc.Tỷ lệ dùng kháng sinh sai

liều so với khuyến cáo là 148/187 chiếm 79,14% [20]

Trang 9

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Khoa Nội Nhi Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, hàng năm tiếp nhận hơn 17.000 bệnh nhi nhập viện, trong đó trên 50 % là NKHH Để giúp cho việc điều

trị và chăm sóc bệnh nhân NKHH, đặc biệt là việc sử dụng kháng sinh cho hiệu quả

và hợp lý, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tình hình sử dụng kháng sinh

điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi tại bệnh viện

Sản Nhi Bắc Ninh" với mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

2 Nhận xét hiệu quả sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp

ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi tại Khoa Nội Nhi - Bệnh viện Sản Nhi năm 2018

Trang 10

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) ở trẻ em

- Phân loại theo vị trí giải phẫu: lấy ranh giới từ nắp thanh quản trở xuống

là đường hô hấp dưới, phần trên nắp thanh quản trở lên là đường hô hấp trên ta

có:

Hình 1.1: Phân loại nhiễm khuẩn hô hấp

+ Nhiễm khuẩn hô hấp trên: bao gồm viêm họng, viêm Amidan, viêm

VA, viêm xoang, viêm tai giữa các bệnh này thường gặp hơn và hiếm khi gây

Trang 11

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

- Phân loại theo mức độ nặng nhẹ: thường được sử dụng để đánh giá và

+ Viêm phổi nặng: trẻ có nhịp thở nhanh và có rút lõm lồng ngực

1.2 Nguyên nhân gây NKHH ở trẻ em

Nguyên nhân gây NKHH rất đa dạng, có thể do vius hoặc vi khuẩn hoặc nấm Virus là nguyên nhân quan trọng, do phần lớn virus đều có ái lực với

đường niêm mạc đường hô hấp, khả năng lây lan của virus dễ dàng, tỉ lệ người

lành mang virus cao và miễn dịch của cơ thể trẻ với virus yếu và ngắn Trong

các virus gây NKHH hàng đầu là virus hợp bào hô hấp (RSV), tiếp đến là virus

cúm, virus á cúm, Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Cornavirus [3],[32].Tuy

nhiên ở các nước đang phát triển vi khuẩn vẫn là nguyên nhân quan trọng, vi

khuẩn hay gặp nhất là H.influenae, S.pneumoniae, S aureus, Bordetella,

Klebsiella peumoniae, Chlamydia trachomatis và các vi khuẩn khác Trong các

loại vi khuẩn thì H.influenzae và S.pneumonia là 2 nguyên nhân chính gây

NKHH ở trẻ em Kết quả chọc hút dịch phế quản ở một số nước cho thấy S

pneumoniae chiếm 45,5%, H influenzae 28,4%, S aureus 9,4%, vi khuẩn khác

16,7% [32]

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy 2 vi khuẩn chủ yếu gây

bệnh NKHH ở trẻ em là S.pneumonia và H influenzae Nghiên cứu vi khuẩn

gây NKHH trẻ em tại một số phường ở Hà Nội cho thấy: tỉ lệ dương tính với vi

khuẩn là 49,6%, trong đó S.pneumonia chiếm 57,6%, H.influenzae 20,4% Tại

Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, theo Nguyễn Thị Yến , vi khuẩn gây NKHH hàng

đầu là H.influenzae (37,1%), xếp thứ 2 là phế cầu (24,5%), nhưng các trực

khuẩn Gram (-) cũng rất đáng quan tâm, vì đây là những chủng vi khuẩn có độc

lực cao, và kháng nhiều loại kháng sinh [25]

Trang 12

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự phân bố khác nhau giữa các chủng vi

khuẩn theo nhóm tuổi S.pneumoniae và H.influenzae có thể gặp ở nhiều nhóm

tuổi, song phổ biến nhất từ 6-12 tháng tuổi, S.aureus và trực khẩn Gram (-) chỉ

gặp ở trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi, vi khuẩn Gram (-) là nguyên nhân chính gây

viêm phổi ở trẻ sơ sinh [1],[19],[25]

Tác giả Vũ Văn Thành tại Nha Trang nghiên cứu năm 2009 đã cho thấy kết quả vi khuẩn phân lập được tỉ lệ là 74,4%; trong đó: S pneumoniae chiếm

38,8%; H influenzae chiếm 51,5% (H influenzae không vỏ là 96,1%, Hib là

3,9%) và M catarrhalis chiếm 31,5%; tỉ lệ vi rút phân lập được là 69,6%; trong

đó: vi rút cúm A là 15,6%, virus hợp bào hô hấp là 21,8%, Rhinovirus là 28,1%,

Adenovirus là 5,7% [19]

1.3 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của NKHH ở trẻ em

Triệu chứng thường gặp của NKHH là ho, sốt, khó thở; trong đó sốt là triệu chứng không đặc hiệu vì sốt có thể gặp trong nhiều bệnh cảnh khác và có

một số trường hợp bệnh nhân có NKHH nhưng không có sốt, đặc biệt là trẻ sơ

sinh non tháng hoặc những trẻ suy dinh dưỡng nặng [17] Nghiên cứu của Bùi

Bình Bảo Sơn và cộng sự trên đối tượng 90 trẻ có viêm tiểu phế quản cấp từ 2

tháng đến 2 tuổi nhận thấy triệu chứng cơ năng thường gặp là ho (100%), chảy

nước mũi (> 85%) và khò khè (> 78%), ít trẻ có sốt (< 70%) Triệu chứng thực

thể thường gặp là thở nhanh (> 84%), ran rít (> 90%), có dấu co kéo (> 78%),

ran ngáy (> 78%), rì rào phế nang giảm (> 61%) và rung thanh giảm; ít gặp dấu

hiệu ran ẩm (< 35%) [17] Nghiên cứu của Hoàng Thị Huế và cộng sự tại Bệnh

viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên trong 2 năm 2005-2006 trên đối tượng

300 trẻ được chẩn đoán NKHH cho thấy các triệu chứng: ho, sốt 33%, ho, sốt,

khó thở 26%, ho đơn thuần 4,7%, ho, sốt, tiêu chảy 4,3% [9] Nghiên cứu của

Nguyễn Thành Nhôm và cộng sự năm 2015 cho thấy các triệu chứng lâm sàng:

ho 127 (97,7%), sốt 110 (84,6%), chảy mũi 26 (20%), biếng ăn 28 (21%), ran

ngáy/rít 14 (10,8%), ran ẩm/nổ 116 (89,2%) [16] Nghiên cứu của Thanh Minh

Hùng và cộng sự trên 102 trẻ được chẩn đoán NKHHCT cho thấy các triệu

chứng ho chiếm 96,1%, trẻ có sốt chiếm 78,4%, trẻ chảy nước mũi 75,5%, trẻ

nôn 30,4%, biếng ăn 10,8%, chảy mủ tai 2,9%, dấu hiệu cánh mũi phập phồng

Trang 13

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

24,5% Trẻ có cơn ngừng thở chiếm 7,8%, mạnh nhanh là 24,5%, nhịp thớ

nhanh 13,7%, rút lõm lồng ngực 19,6%, khò khè 46,1% và có ran ở phổi chiếm

63,7% [10]

1.4 Tình hình sử dụng kháng sinh trong NKHH

1.4.1 Khái niệm sử dụng kháng sinh

Sử dụng kháng sinh là khái niệm chỉ việc chỉ định kháng sinh, liều lượng, đường dùng, thời gian dùng trong ngày, số ngày dùng kháng sinh

Hiện nay, trong điều trị NKHH tỉ lệ sử dụng kháng sinh là khá cao,việc lạm dụng kháng sinh cũng như sử dụng kháng sinh không hợp lý đang có xu

hướng gia tăng, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình điều trị, hiệu quả kinh tế và là

nguyên nhân dẫn đến kháng kháng sinh

1.4.2 Sử dụng kháng sinh tại cộng đồng

Theo một nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh trong NKHH cho thấy

tỉ lệ sử dụng kháng sinh tại nhà là 65,6%, trong đó chỉ có 25,2 % bệnh nhân

được bác sĩ khám và kê đơn, 8,7% do y sĩ hoặc y tá hướng dẫn sử dụng, đáng lo

ngại là có đến 31,8% bệnh nhân tự đi mua thuốc Kháng sinh được sử dụng

nhiều nhất là Amoxicilin, Ampixilin, Cephalexin và Gentamixin

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Văn Bàng năm 2007

Trang 14

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

29,3% không có đơn thầy thuốc, Cephalosporin là thuốc được sử dụng phổ biến

nhất (55,1%); có 4,7% trường hợp đã dùng phối hợp với aminosid [1]

Nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhôm trên đối tượng 130 trẻ có viêm phổi nặng từ 2 tháng đến 5 tuổi cho thấy số loại kháng sinh được sử dụng: 01 loại

70/130 (53,8%), 02 loại 50/130 (38,5%), 03 loại 08/130 (6,2%) và 04 loại

02/130 (1,5%) Trong đó, kháng sinh sử dụng nhiều nhất Cefotaxime 103/130

(79,2%), tiếp đến là Gentamycin 47/130 (36,2%) [16]

1.4.3 Sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện

Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo chỉ nên dùng kháng sinh trong điều trị NKHH có phân loại viêm phổi và viêm phổi nặng với một trong những kháng

sinh Procain, Ampicillin, Amoxicillin hoặc Cotrimoxazole Khi bị viêm phổi

nặng trẻ phải được điều trị trong bệnh viện, tuỳ theo nguyên nhân và lứa tuổi

của trẻ mà sử dụng một trong các công thức điều trị Benzyl Penixilin, Belzyl

Penixilin và Gentamycin, Chloramphenicol, Cloxacilin và Gentamycin (nếu do

tụ cầu khuẩn) [33] Thực tế lâm sàng và kháng sinh đồ thấy 3 loại kháng sinh có

tác dụng tốt trong điều trị NKHH là Penicillin, Bactrim và Chloramphenicol [3]

Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi, Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự thấy trong số 303 trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi vào điều trị, kết

quả 68,7% được điều trị bằng 1 loại KS; 30,3% được điều trị bằng từ 2 loại KS

trở lên KS điều trị ban đầu phổ biến nhất là Cephalosporin thế hệ 1 (48,5%), KS

thay thế chủ yếu là Cephalosporin thế hệ 3 (31,0%) Có 15,2 % trẻ được phối

hợp KS ngay khi nhập viện, giữa Cephalosporin với aminosid Thời gian sử

dụng aminosid trung bình là 6,0 ± 2,4 ngày, trong đó 55,8% được sử dụng kéo

dài trên 5 ngày [1]

Trong nghiên cứu trước đây tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, khi nghiên cứu việc sử dụng kháng sinh trong NKHH, các tác giả

thấy chỉ có 65% số bệnh nhân được sử dụng kháng sinh đúng phác đồ Nhóm

bệnh nhân điều trị không đúng phác đồ chủ yếu là dùng kháng sinh đắt tiền,

nhưng thời gian điều trị vẫn không được rút ngắn hơn so với nhóm kia

Trang 15

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

1.5 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp và sử dụng kháng sinh điều trị NKHH

Batda (Irắc) là 39,3%, ở Sao Paulo (Brazin) là 41,8%, ở Luân Đôn (Anh) là

30,5%, và ở Hers - Australia là 34% [ 32] Theo báo cáo tại Hội nghị về chống

NKHH lần thứ nhất tổ chức tại Washington (1991) tỉ lệ mới mắc viêm phổi hàng

năm trong 100 trẻ ở Gadchisoli-Ấn Độ là 13 trẻ, ở Basse-Gambia là 17 trẻ, ở

Bangkok-Thái Lan là 7trẻ Tại các nước phát triển thì tỉ lệ này thấp hơn, ở

Chapel Hill-Hoa kỳ là 3,6 trẻ và tại Seattle-Hoa Kỳ là 3 trẻ [29] Số trẻ vào

nhập viện vì NKHH rất cao, chiếm tỉ lệ 1/3 trong tổng số bệnh nhân nhập viện

chung, tại Darka-Bangladet số trẻ nhập viện vì NKHH là 35,8%, và tại

Rangun-Mianma là 31,5%, ở Ilamabat-Pakistan là 33,6%, ở Nadola-Zambia là 34% [

32] Cũng theo báo cáo tại Hội nghị Washington, hàng năm tại các nước đang

phát triển có 12,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó có khoảng 4,5 triệu

trẻ em tử vong do các bệnh phổi cấp tính [14] Ở các nước có tỉ lệ tử vong ở trẻ

dưới 1 tuổi trên 30‰ thì tử vong do NKHH chiếm từ 24,5%-72,1% , còn các

nước tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi thấp hơn 10‰ thì tử vong do NKHH dưới

10% so với tử vong chung Ở Trung Quốc năm 1984, tỉ lệ tử vong do NKHH là

24,5%, Papua New Guinea là 48,7%, Philippine là 29% Trong lúc đó ở

Australia là 1,9%, Hồng Kông là 5,9%, Nhật Bản 3,8% [ 32]

Nghiên cứu của Li Hui; Xiao-song Li và cộng sự trên đối tượng 750 trẻ em Trung Quốc được chẩn đoán NKHH, nhận thấy rằng trước khi cha mẹ trẻ tìm

đến dịch vụ chăm sóc y tế, 47% trẻ em được chuyển từ các bệnh viện huyện,

25% trong số đó ở các thị trấn và 18% ở thôn đã được sử dụng thuốc kháng sinh

có sẵn mà không cần đơn của bác sĩ Trong số những trường hợp lạm dụng

kháng sinh, căn nguyên virus được phát hiện sử dụng kháng sinh ở 37% các

trường hợp Theo nghiên cứu của Okoko năm 2017 có 105/237 bệnh nhân viêm

Trang 16

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Nghiên cứu của Arwa Aluram và cộng sự về yếu tố nguy cơ và yếu tố liên quan đến việc lạm dụng kháng sinh trên đối tượng trẻ em có NKHH ở Saudi

Arabia cho thấy: các yếu tố góp phần gây ra lạm dụng kháng sinh có thể bao

gồm các yếu tố tâm lý xã hội, như hành vi và thái độ (ví dụ như tự uống thuốc,

thuốc không kê đơn, áp lực của bệnh nhân/cha mẹ) và các yếu tố nhân khẩu học

như tình trạng kinh tế xã hội và trình độ học vấn [27]

1.5.2 Tình hình NKHH ở Việt Nam

Tại Việt Nam, NKHH là bệnh có tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong cao nhất, tỉ lệ mới mắc NKHH là 4-6 đợt/trẻ/ năm [21] Theo thống kê của Bộ Y tế năm 1998,

NKHH là một trong 10 bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất ở trẻ em, tỉ lệ mắc NKHH là

1131/100.000, hầu hết trẻ dưới tuổi đều mắc ít nhất một lần trong năm, trung

bình mỗi lần mắc 4-5 ngày Theo Chương trình Phòng chống NKHH Quốc gia

thì tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi là 7/1000, trong đó tử vong do NKHH (chủ

yếu là viêm phổi) là 2,7/1000 Như vậy theo ước tính hiện nay Việt Nam có

khoảng 7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tuổi thì ước tính mỗi năm có khoảng 25000

trường hợp tử vong do NKHH [21] Theo số liệu của Viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ

em (VBVSKTE) trong 16 năm (1960-1976) thấy số trẻ vào điều trị vì NKHH

chiếm 44% tổng số trẻ vào viện [trích từ 21]

Tại các tỉnh phía Nam, một điều tra tiến hành ở 5 tỉnh phía Nam cho thấy

số trẻ mắc NKHH là 47%, tỉ lệ tử vong do NKHH chiếm 40,8% so với tử vong

chung Tại Bệnh viện Nhi Đồng I - Thành phố Hồ Chí Minh (1981 - 1983), tử

vong do NKHH chiếm 15,9% so với tử vong chung [21]

Tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, trong 5 năm (1987-1991), bệnh nhân NKHH chiếm 47,9% (4440/9279) số bệnh nhân vào

viện, trong đó VPQ: 1745 (39,30%), VPQP: 2241 (50,48%), viêm thanh khí phế

quản: 104 (2,34%), Tụ cầu phổi màng phổi: 43 (6,97%), bệnh về hô hấp khác:

99 (2,23%) Nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhôm và cộng sự cho thấy độ nặng

viêm phổi: viêm phổi 108/130 (83,1%), viêm phổi nặng 19/130 (14,6%) và viêm

phổi rất nặng 03/130 (2,3%) Hình ảnh tổn thương/X quang ngực 59/130

(45,4%) [16] Theo Hoàng Thị Huế, Phạm Trung Kiên (2006), nghiên cứu về

tình trạng sử dụng KS ở trẻ có NKHH, tỉ lệ trẻ được chẩn đoán viêm phế quản là

Trang 17

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

42%, viêm phế quản phổi là 41,3%, viêm phổi thùy là 4,3% và nhiễm khuẩn

đường hô hấp trên là 12,4% [9]

Về tình hình sử dụng kháng sinh: nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy bệnh nhân có xu hướng không dùng kháng sinh theo khuyến cáo của TCYTTG mà

hay lựa chọn kháng sinh đắt tiền [16],[22] Nghiên cứu Hoàng Thị Huế, Phạm

Trung Kiên tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong 2005-2006 thấy

tỉ lệ sử dụng các phác đồ phối hợp Penicillin + Gentamycin (46,8%), tiếp đến là

Cefotaxim + Gentamycin (24,5%), Ampixilin +Gentamycin (8,4%) [9]

Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh là bệnh viện Đa khoa hạng II trực thuộc Sở

Y tế tỉnh Bắc Ninh, với quy mô 500 giường bệnh, được thành lập năm 2015

Bệnh viện đảm nhiệm công tác khám chữa bệnh và điều trị các trường hợp trong

và ngoài tỉnh cũng như đón nhận và cấp cứu các trường hợp từ tuyến dưới

chuyển lên Khoa Nội Nhi là một khoa trực thuộc Bệnh viện với quy mô 4 đơn

nguyên bao gồm: Sơ sinh, Nội Nhi tổng hợp, Nhi truyền nhiễm và Hồi sức cấp

cứu Nhi Hằng năm khoa đảm nhiệm công tác điều trị và dự phòng cho hàng

ngàn trường hợp trẻ mắc NKHH cấp tính Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào

đánh giá được hiệu quả công tác điều trị tại đây Vì vậy chúng tôi tiến hành đề

tài này

1.6 Chương trình Phòng chống NKHH ở trẻ em

Năm 1983, nhận thức tầm quan trọng của bệnh NKHH đến sức khoẻ và bệnh tật trẻ em, Tổ chức Y tế Thế giới đã triển khai Chương trình phòng chống

NKHH ở trẻ em trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là tại các nước đang phát triển

Tại Việt Nam, Chương trình quốc gia phòng chống NKHH đã được thành lập và chính thức hoạt động từ năm 1984 với sự tài trợ của UNICEF Cho đến

nay chương trình đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc, đã làm giảm tỉ lệ

mắc NKHH và giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi [21]

Nội dung chính của chương trình là giáo dục kiến thức cho bà mẹ biết cách phát

hiện sớm dấu hiệu của bệnh, đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời, huấn luyện cán bộ y

tế cơ sở biết chẩn đoán và điều trị đúng; cung cấp thuốc thiết yếu phù hợp và

hiệu quả điều trị viêm phổi

Trang 18

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân từ 02 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi được chẩn đoán NKHH tại khoa Nội Nhi Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

- Thời gian: Từ tháng 04/2018 đến tháng 08/2018

- Địa điểm: Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả

2.2.2 Mẫu nghiên cứu

- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức ước lượng cho một tỉ lệ: [4]

n = Z21 -  /2

p (1 - p)

d2 Trong đó:

n: số bệnh nhân cần có tham gia nghiên cứu

p: tỉ lệ trẻ NKHH tại cộng đồng (theo nghiên cứu của Mai Anh Tuấn là 40,7% [23].)

d: khoảng sai lệch cho phép (chọn d = 0,05) : mức ý nghĩa thống kê

Z1 -  /2: Giá trị tới hạn phân bố chuẩn, với  = 0,05 ta có Z1 -  /2 = 1,96

Theo công thức tính cỡ mẫu tối thiểu là 370 trẻ, trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu được 370 trẻ

- Chọn mẫu: chọn toàn bộ số trẻ được chẩn đoán NKHH vào điều trị trong thời

gian nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân như sau: bệnh nhân được chẩn đoán NKHH dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ARI (Acute respiratory infections) [3]

Trang 19

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

 Nhiễm khuẩn hô hấp trên: trẻ có sốt, ho, không rút lõm ngực, nhịp thở không tăng, nghe phổi không có ran

 Viêm phế quản: trẻ sốt, ho nhịp thở không tăng, không có rút lõm ngực, phổi có ran rít/ngày, ran ẩm to hạt

 Viêm tiểu phế quản bội nhiễm: trẻ có biểu hiện viêm long đường hô hấp trên, sau đó trẻ có biểu hiện khó thở kiểu tắc nghẽn, khò khè như hen: nghe có nhiều ran rít, ran ngáy, co rút lồng ngực, tím tái,

ho, sốt

 Viêm phổi: sốt, ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím, phổi có ran

ẩm nhỏ hạt, ran nổ + Tiêu chuẩn loại trừ: những trẻ viêm phổi nặng phải thở máy tại Phòng Hồi sức cấp cứu, trẻ mắc viêm tiểu phế quản đơn thuần, trẻ có dị tật bẩm sinh

nặng, cha mẹ trẻ không đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện Khoa Nội Nhi có 4 đơn nguyên: Sơ sinh, Hồi sức tích cực, Nhi tổng hợp và Nhi truyền nhiễm Trong

thời gian nghiên cứu, chọn tất cả những bệnh nhi vào điều trị đáp ứng tiêu chuẩn

chẩn đoán NKHH, bao gồm NKHH trên (viêm họng cấp, viêm Amidan cấp,

viêm tai giữa cấp ), NKHH dưới (viêm phổi, viêm phế quản)

Trang 20

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

- Địa dư: bệnh nhi được chia thành 2 nhóm là nông thôn và thành thị

- Điều trị KS trước khi vào viện + Chưa điều trị

+ Tự điều trị tại nhà (tự mua)

Tất cả trẻ từ 02 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi có biểu

Trang 21

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

+ Điều trị tại các cơ sở y tế

- Triệu chứng cận lâm sàng: công thức máu, sự thay đổi bạch cầu đa nhân

trung tính và CRP, thiếu máu, hình ảnh X.quang

2.2.3.3 Tình hình điều trị kháng sinh

- Loại kháng sinh, phối hợp kháng sinh

+ Đánh giá sử dụng 1 loại kháng sinh khi trẻ chỉ sử dụng 1 nhóm kháng sinh, tính cả các trường hợp đổi thuốc cùng nhóm do hết thuốc trong kho dược

+ Đánh giá sử dụng 2 loại kháng sinh khi trẻ được đổi nhóm kháng sinh

sử dụng hoặc bổ sung thêm 1 nhóm kháng sinh mới

+ Đánh giá sử dụng 3 loại kháng sinh khi trẻ được đổi nhóm kháng sinh

sử dụng hoặc bổ sung thêm 2 nhóm kháng sinh mới

+ Đánh giá sử dụng trên 4 loại kháng sinh khi trẻ được đổi nhóm kháng sinh sử dụng hoặc bổ sung thêm 3 nhóm kháng sinh mới

Trang 22

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

2.2.3.4 Đánh giá kết quả điều trị

Kết quả điều trị của từng bệnh nhân: Đƣợc chia làm các mức độ

+ Khỏi có thay đổi kháng sinh

+ Khỏi không thay đổi kháng sinh

+ Nặng lên: Là những bệnh nhân nặng có nguy cơ tử vong cao và đƣợc

gia đình xin về và những bệnh nhân rất nặng đƣợc gia đình xin lên tuyến trên

+ Tử vong

2.2.4 Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số nghiên cứu

2.2.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng

- Cách tính tuổi: tính theo tháng, theo WHO [13]

- Sốt: khi nhiệt độ đo ở nách ≥ 37.5°C [28]

+ Sốt nhẹ khi nhiệt độ từ 37.5°C đến 38.5°C + Sốt cao khi nhiệt độ ≥ 38.5°C

+ Rút lõm lồng ngực chỉ có giá trị khi quan sát lúc trẻ nằm yên, xảy ra liên tục

- Ran phổi: ran ẩm nhỏ hạt, to hạt, ran nổ, ran ngáy, ran rít

- Tím: quan sát của thầy thuốc khi thăm khám thấy trẻ có tím môi, quanh môi, đầu chi, toàn thân

Trang 23

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

2.2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá cận lâm sàng

- X quang phổi X-quang phổi được chụp tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh bằng máy chụp Toshiba-Model DS-TA-5A Kết quả được đánh giá

bởi các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh

- Xét nghiệm huyết học Được thực hiện tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh bằng máy đếm, định lượng tự động XT 2000i của hãng Sysmex

Đếm số lượng BC và công thức BC máu ngoại vi bằng máy đếm tự động, công thức bạch cầu thay đổi theo tuổi [13]

+ Bạch cầu tăng khi > 17 G /1

+ Bạch cầu giảm khi < 4 G/l

- Xét nghiệm CRP Được thực hiện tại Khoa xét nghiệm trung tâm Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh,

CRP bình thường < 6mg/L

2.3 Phương pháp thu nhập và xử lý số liệu

Tham khảo hồ sơ bệnh án, thông tin ghi theo mẫu thống nhất

+ Các phân tích sẽ được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0 bao gồm:

Thống kê mô tả: số lượng; tỉ lệ phần trăm; mode; mean; độ lệch chuẩn Thống kê suy luận đều được thực hiện, với mức ý nghĩa thống

kê p < 0,05 sẽ được sử dụng trong thống kê suy luận

Trang 24

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu này được sự đồng ý và thông qua của Hội đồng Khoa học Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

- Nghiên cứu chỉ tiến hành quan sát trên quy trình điều trị NKHH ở các trẻ đến điều trị tại Khoa Nội Nhi – Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh

- Cha mẹ trẻ được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của cha mẹ đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu và cha mẹ trẻ được bảo mật Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

- Nguyên tắc đạo đức của Helsinki và ICH được áp dụng

Trang 25

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới và độ tuổi

Trang 26

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Nhận xét:

- Tỷ lệ trẻ bị bệnh từ 2 đến 3 ngày trước khi vào viện chiếm 53,8%

- Trẻ bị bệnh dưới 1 ngày trước vào viện chỉ chiểm 7,6%, tương ứng với các nhóm tuổi là 7,9%; 5,1% và 9%

Biểu đồ 3.1 Triệu chứng lâm sàng của trẻ

Trang 27

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Bảng 3.3 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng theo nhóm tuổi

- Ở nhóm trẻ 2 tháng đến dưới 12 tháng tuổi, triệu chứng thực thể gặp nhiều

nhất là ran ẩm gặp với tần suất 87,7%

- Có 2 trường hợp tím chiếm 0,5%

Trang 28

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Bảng 3.4 Đặc điểm cận lâm sàng theo chẩn đoán

Kháng sinh Thuốc khác Không xử trí gì

Biểu đồ 3.2 Tình hình xử trí trước khi vào viện

Nhận xét:

- Tỷ lệ trẻ được dùng kháng sinh trước khi vào viện chiếm tỉ lệ 57,6%

- Có 10,8% trẻ không xử trí gì trước khi vào viện

Trang 29

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Bảng 3.5 Tần suất sử dụng nhóm kháng sinh theo chẩn đoán

- Nhóm kháng sinh đƣợc dùng nhiều nhất là Cephalosporin thế hệ 3 đƣợc

dùng nhiều nhất trên trẻ VPQP với tỉ lệ là 68,1%, viêm tiểu phế quản bội nhiễm là 60%, viêm phế quản là 50%

- Đối với NHKHHT, kháng sinh đƣợc dùng nhiều nhất là Cephalosporin thế hệ 3 chiếm 54,8%

- Nhóm kháng sinh đƣợc sử dụng nhiều nhất trong VPT là Cephalosporin thế hệ 3 chiếm 50%, tiếp đó là Macrolide với 40%

Trang 30

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Bảng 3.6 Số loại kháng sinh được sử dụng theo chẩn đoán

Tổng 161 43,5 158 42,7 42 11,4 9 2,4 370 100 Nhận xét:

- Các trường hợp chỉ sử dụng 1 hoặc 2 loại kháng sinh để điều trị chiếm tỉ

lệ tương ứng là 43,5% và 42,7%

- Tỷ lệ dùng 3 loại kháng sinh gặp nhiều nhất ở nhóm VTPQ chiếm 30,0%

- Có 9 trường hợp VPQP phải dùng 4 loại kháng sinh chiếm 3,0%

Bảng 3.7 Đặc điểm số loại kháng sinh được sử dụng theo tuổi

Số KS Tuổi

Trang 31

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 32

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trang 33

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Bảng 3.10 Thời gian điều trị theo chẩn đoán

Thời gian Chẩn đoán

Trang 34

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

<5 ngày 5-10 ngày >10 ngày

Biểu đồ 3.4 Thời gian điều trị trung bình bằng kháng sinh

Nhận xét:

- Thời gian điều trị kéo dài 5-10 ngày chiếm tỉ lệ cao nhất 69,7%

- Nhóm có thời gian điều trị trên 10 ngày chiếm tỉ lệ thấp nhất 10%

- Kết quả điều trị khỏi chiếm tỷ lệ cao nhất 97%

- Có 11 trường hợp trẻ VPQP phải chuyển viện

- Không ghi nhận trường hợp nào tử vong

Trang 35

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 4 BÀN LUẬN 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1 Tuổi

Qua khảo sát theo dõi điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở 370 trẻ em

từ 02 tháng đến dưới 5 tuổi chúng tôi nhận thấy tần suất mắc nhiều nhất là ở

nhóm 02 tháng đến <12 tháng tuổi (54,9%) (bảng 3.1)

Kết quả này tương đương so với kết quả của Hà Văn Hiệu: nhóm trẻ dưới 1 tuổi có tỉ lệ mắc cao nhất (53,9%) còn nhóm trẻ từ 4-5 tuổi có tỉ lệ mắc

thấp nhất (28,27%) [5] Tác giả Đào Minh Tuấn nghiên cứu tại BV Nhi Trung

ương cho thấy tỉ lệ trẻ mắc nhiều nhất ở độ tuổi 6-12 tháng chiếm 44,7%, <6

tháng 28,2% [22] Tác giả Quách Ngọc Ngân nghiên cứu 196 trẻ từ 2 tháng

đến 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ cho thấy có 48% trẻ dưới 12

tháng [15]

Trẻ dưới 1 tuổi sức đề kháng của trẻ bị hạn chế do kháng thể từ mẹ sang trong thời kỳ bào thai đã suy giảm hoặc không còn, khả năng cung ứng

các kháng thể bề mặt cũng đã hết, khả năng tự đề kháng còn đang phát triển

và bị hạn chế Mặt khác, ở độ tuổi này thường có thói quen mút tay, gặm đồ

vật đây là nguồn lây nhiễm vi sinh vật gây bệnh cho trẻ Về cấu trúc đường

hô hấp ở trẻ ngắn nên khi viêm dễ lan toả rộng và lan xa nhanh vì thế bệnh

diễn tiến nhanh và nặng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc NKHH không giảm và vẫn còn khá cao khi trẻ từ 12 tháng đến <24 tháng (21,1%) , trẻ 24 đến 60 tháng tuổi

Trang 36

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Theo Đào Minh Tuấn nghiên cứu về thực trạng viêm phổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, tỉ lệ mắc viêm phổi lứa tuổi hay gặp nhất là từ 6 tháng đến

dưới 1 tuổi, chiếm tỷ lệ 44,7%; tỉ lệ trẻ nam (183/322) mắc nhiều hơn trẻ nữ

(139/322), tỉ lệ nam cao gấp 1,3 lần nữ [22] Theo Nguyễn Thị Hiền Lương, tỉ lệ

nam là 70,0% nữ là 30,0%, nam cao gấp 2,23 lần nữ [14] Theo Nguyễn Thị

Thanh Xuân, tỉ lệ trẻ nam (62,4%) mắc bệnh viêm phổi cao gấp 1,66 trẻ nữ

(37,6%) [24]

Trẻ nam mắc nhiều hơn trẻ nữ có thể do sự mất cân bằng giới tính ở Việt Nam hiện nay, thêm vào đó trẻ nam thường hiếu động hơn trẻ nữ nên dễ tiếp xúc

với các yếu tố nguy cơ gây bệnh hơn

4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của NKHH

4.2.1 Đặc điểm lâm sàng

Ho: dựa theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.3), triệu chứng ho

trước và khi vào viện gặp ở hầu hết các trẻ (93,2%) Kết quả này tương đương

với kết quả của các tác giả khác

Theo tác giả Nguyễn Thành Nhôm và cộng sự, hầu hết các trẻ đều có triệu chứng ho 127 (97,7%) [16] Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của

một số tác giả: Ông Huy Thanh là 98,5%, Đào Minh Tuấn là 100% [18],[22]

Điều này có thể lý giải bởi ho là triệu chứng thường gặp của viêm phổi, là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán NKHH và có thể kéo dài ngay cả khi lâm

sàng đã cải thiện

Sốt: sốt cũng là triệu chứng hay gặp ở trẻ, với 39,2% số trẻ khi nhập viện

có sốt Kết quả này tương tự kết quả của Đào Minh Tuấn năm 2008 tại Bệnh

viện Nhi Trung ương với 42,68%, và thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn

Thành Nhôm có 110 (84,6%) trẻ có sốt trong quá trình điều trị, tác giả Quách

Ngọc Ngân (72,9%) [15],[16],[22] Theo tác giả Okoko và cộng sự năm 2017, tỉ

lệ trẻ có sốt khi vào viện chiếm 95,4% [30]

Sốt là dấu hiệu cơ thể đáp ứng của cơ thể với sự nhiễm khuẩn, tuy nhiên

có tỉ lệ lớn trẻ đã được điều trị trước đó nên có sự đáp ứng một phần ,do vậy tit

lệ sốt giảm hoặc hết khi vào viện

Trang 37

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Dấu hiệu chảy mũi: dấu hiệu chảy mũi gặp ở 12,7% các trường hợp

trong nghiên cứu của chúng tôi Kết quả nghiên cứu này tương đương so với kết

quả của một số tác giả: theo tác giả Nguyễn Thành Nhôm, dấu hiệu chảy mũi ở

bệnh viêm phổi xuất hiện không thường xuyên chỉ có 26 (20%) [16] Theo tác

giả Quách Ngọc Ngân dấu hiệu chảy mũi là 38,8% [15] Điều này có thể lý giải

là do dấu hiệu chảy mũi thường xảy ra vào những ngày đầu của bệnh

Dấu hiệu rút lõm lồng ngực: trong nghiên cứu của tôi, tỉ lệ trẻ có rút

lõm lồng ngực gặp ở 6,2% các trường hợp Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so

với các tác giả Đào Minh Tuấn (100%) và tác giả Okoko (93,7%) [22],[30]

Điều này có thể là do nghiên cứu của các tác giả trên được tiến hành ở các bệnh

viện chuyên khoa tuyến cuối nên mức độ nặng của bệnh cao hơn so với nghiên

cứu của tôi

Ran phổi: ran ẩm là triệu chứng chiếm tần số cao nhất trong nghiên cứu

với 84,6% trường hợp có ran ẩm Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu

của Nguyễn Thành Nhôm và cộng sự vời tỉ lệ ran ẩm gặp ở 116 trẻ chiếm

89,2% và tác giả Đào Minh Tuấn (87,5%) [16],[22] Tần suất gặp ran phổi tương

ứng với tỉ lệ mắc VPQP và VPT trên lâm sàng

Triệu chứng khác: ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy xuất hiện

một số triệu chứng khác như thở rít là 1,1%, khó thở chiếm 1,1% và tím gặp ở

0,5% Kết quả này thấp hơn so với các tác giả Okoko, tác giả Đào Minh Tuấn do

nghiên cứu của các tác giả được tiến hành ở các bệnh viện chuyên khoa cuối nên

tình trạng bệnh của trẻ thường nặng hơn so với trong nghiên cứu của chúng tôi

[22],[30]

4.2.2 Cận lâm sàng

Bảng 3.4 cho thấy trường hợp có tăng số lượng bạch cầu (62,2%), tăng tỉ

lệ bạch cầu đa nhân trung tính (14,1%) và CRP khi vào viện (75,9%) Kết quả

nghiên cứu này tương tự kết quả của tác giả Nguyễn Thành Nhôm và khác so

với nghiên cứu của tác giả Đào Minh Tuấn với 17% trẻ viêm phổi nặng có số

lượng bạch cầu tăng trên 10.000/mm3

[16],[22]

Ngày đăng: 14/07/2021, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm