luận văn, khóa luận, chuyên đề, báo cáo, đề tài, thạc sĩ
Trang 1Nội dung 9
Chơng I : Văn hóa ấn Độ và sự lan tỏa của nó đối với các nớc xung quanh 9
1.1 ấn Độ một trong những trung tâm văn hóa thế giới cổ đại 9
1.1.1 Khái quát lịch sử ấn Độ cổ trung đại 9
1.1.2 Tôn giáo ấn Độ 13
1.1.3 Văn học ấn Độ 17
1.1.4 Nghệ thuật ấn Độ 20
1.1.5 Những thành tựu về khoa học – kỹ thuật 20
1.2 Quá trình lan toả của văn hoá ấn Độ đối với các nớc xung quanh 22
Chơng II : ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với Cămpuchia 27
2.1 Cămpuchia thời tiền sử 27
2.2 ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với Cămpuchia trên các lĩnh vực 30
2.2.1 Truyền thuyết lập quốc ở Cămpuchia 30
2.2.2 ảnh hởng của tôn giáo 32
2.2.3 ảnh hởng của chữ viết – văn học 38
2.2.4 ảnh hởng của kiến trúc - điêu khắc 43
Chơng III : ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối với Chămpa 51
3.1 ChămPa thời tiền sử 51
3.2 ảnh hởng của văn hoá ấn Độ trên các lĩnh vực 52
3.2.1 ảnh hởng về thiết chế chính trị và tổ chức xã hội 52
3.2.2 ảnh hởng của tôn giáo 55
3.2.3 ảnh hởng của chữ viết - văn học 59
3.2.4 ảnh hởng của kiến trúc - điêu khắc 63
Kết luận 70
Tài liệu tham khảo 72
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật, thời
đại văn minh hậu công nghiệp thì những gì thuộc về văn hóa lại đợc ngời tanâng niu, giữ gìn hơn bao giờ hết Có một thời ngời ta quên đi và chỉ lo về vấn
đề kinh tế - lo cuộc sống vật chất Những con ngời hôm nay buộc phải sốngvới hiện tại, nhng không thể quên đi quá khứ mà ông cha mình đã làm đợc,phải trân trọng giữ gìn những gì ông cha ta đã tạo ra và những gì mà ta đang lugiữ ngày hôm nay Điều đó hết sức đúng đắn và cần thiết
Văn hóa của mỗi nớc đều đợc các thế hệ kế thừa, phát huy và trở thànhtruyền thống của dân tộc Đối với các nớc Đông Nam á, khi bàn về vấn đề vănhóa phải kể đến tầm quan trọng của văn hóa ấn Độ ảnh hởng đến khu vực nàytrong thời kỳ hình thành nền văn hóa của dân tộc Đặc biệt, ảnh hởng của vănhóa ấn Độ đối với Cămpuchia, Chămpa Đây là vấn đề đợc nhiều sử gia quantâm, tìm hiểu Khi tìm hiểu về văn hóa Đông Nam á họ đã cho rằngCămpuchia và Chămpa là những nớc "ấn Độ hóa" Nhận xét nh vậy là cha thậtthỏa đáng Chúng ta đều biết ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với văn hóa haiquốc gia này là sâu rộng, nhng họ tiếp thu có chọn lọc những yếu tố phù hợpvới đặc điểm tâm lý của c dân mình và sáng tạo thêm Vì vậy, để tìm hiểu mộtcách toàn diện đúng đắn sự ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với Cămpuchia,Chămpa và c dân ở đây họ đã tiếp thu ảnh hởng ấy nh thế nào, đề tài này sẽgóp phần làm rõ điều đó
2 Lịch sử vấn đề
Văn minh ấn Độ là một nền văn minh rực rỡ, tỏa sáng thời kỳ cổ trung
đại và còn đợc lu giữ cho đến ngày nay Những thành tựu của nền văn minh ấy
đã từng đợc nhiều dân tộc trên thế giới ngỡng mộ Hào quang của nó khôngchỉ lan tỏa sang những khu vực xung quanh, mà nền văn minh ấy ảnh hởng
đến nhiều nớc trên thế giới Khu vực Đông Nam á, đặc biệt là Cămpuchia,Chămpa chịu ảnh hởng rất to lớn của văn hóa ấn Độ
Vấn đề này đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý do đó nhiều côngtrình đã ra đời nh:
Trang 3"Văn hóa hóa ba nớc Đông Dơng" của nhóm tác giả: Cao Xuân Phổ, NgôVăn Doanh, Phan Ngọc, Ngô Thế Phong, bàn về những nét văn hóa tiêu biểumang bản sắc dân tộc của ba nớc Đông Dơng ảnh hởng của văn hóa ấn Độ
đối với Cămpuchia, Chămpa trên một số mặt tiêu biểu nh kiến trúc, chữ viết,văn học
Trong cuốn "Văn hóa Đông Nam á" của Mai Ngọc Chừ đã nêu lên mộtcách tổng quát về văn hóa các nớc Đông Nam á, ảnh hởng của văn hóa TrungQuốc - văn hóa ấn Độ đối với các nớc này Tác giả cũng nêu lên việc các nớc
Đông Nam á đã tiếp thu một cách có chọn lọc - sáng tạo những tinh hoa vănhóa của hai nền văn minh Trung - ấn để xây dựng cho dân tộc mình nền vănhóa riêng
Trong cuốn "Lịch sử văn hóa Cămpuchia" của viện Đông Nam á đề cập
đến nền văn hóa truyền thống Cămpuchia - nghệ thuật tợng tròn - nghệ thuật
điêu khắc, trong đó có sự tiếp nhận ảnh hởng của nghệ thuật điêu khắc ấn
Độ và hàng loạt các bài viết trên báo, tạp chí, những tiểu luận, khóa luận,luận văn tốt nghiệp cả những luận văn nghiên cứu tìm hiểu văn hóa và giao lutiếp xúc văn hóa
Các tài liệu về văn hóa tơng đối phong phú, đa dạng nhng chủ yếu làxoay quanh các nền văn hóa lớn: văn hóa Trung hoa, văn hóa ấn Độ Nhiều, nhng đó là những chuyên khảo lịch sử văn hóa, những vấn đề về ảnh h-ởng, giao lu văn hóa giữa các nền văn hóa lớn này với các nớc, các khu vựcbên ngoài một cách tổng quát Cha đi sâu nghiên cứu sự ảnh hởng ấy ở từngkhía cạnh, từng vấn đề của từng mớc nh Cămpuchia hoặc Chămpa Đặc biệt là
sự ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với hai quốc gia này cha đợc chú ý đúngmức, những chuyên khảo về vấn đề này cha xuất hiện nhiều Do đó, chúng tôimạnh dạn chọn đề tài này
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là ảnh hởng văn hóa ấn Độ đối với cácnớc Cămphuchia và Chăm pa thời kỳ cổ trung đại
Vấn đề văn hóa và ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với các nớc trên thếgiới, đặc biệt là các nớc Đông Nam á hết sức rộng lớn, sâu sắc Tuy nhiên, do
sự hạn hẹp của thời gian và để đi sâu làm rõ một vấn đề nên trong đề tài này,
Trang 4Cămpuchia và Chămpa Với mong muốn sẽ tiếp cận đợc vấn đề một cách cụthể, rõ nét và toàn diện.
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Sự ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với Cămpuchia, Chămpa là hết sứcquan trọng Do vậy, khi đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này thể hiện trên từng mặt,còn phải nhận biết những nét sáng tạo và sự tiếp thu chọn lọc của mỗi dân tộc
Do đó ở đề tài này chúng tôi kết hợp giữa phơng pháp phân tích, tổng hợp vàkhái quát Mặc dù vậy, công việc của chúng tôi không phải là sự lắp ghép máymóc, sao chép từ những tài liệu có sẵn mà trên cơ sở các nguồn tài liệu chúngtôi tiếp cận đợc Chúng tôi suy ngẫm, khái quát lại một cách có hệ thống tạothành bài viết của mình Các tài liệu đó là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tàinày
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi phải quan sát các hiện vật,các công trình kiến trúc từ đó dùng phơng pháp so sánh, đối chiếu, rút ra kếtluận Nhng vì không có điều kiện để thực hiện điều đó mà chúng tôi chỉ có thểquan sát, tiếp cận các hiện vật đó qua các tranh ảnh, qua mô tả là chủ yếu
5 Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài này đợc sắp xếp theo chơng, mục sau đây:
Mở đầu
Chơng I: Văn hóa ấn Độ và sự lan tỏa của nó đối với các nớc xungquanh
Chơng II: ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với vơng quốc Cămpuchia
Chơng III: ảnh hởng của văn hóa ấn Độ đối với vơng quốc Chămpa
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Bài khóa luận là tâm huyết, là sự yêu thích của ngời làm nhng trongnghiên cứu khoa học, sự yêu thích và tâm huyết cha hẳn đã đủ nên bài viết nàykhông thể tránh khỏi những thiếu sót bởi thời gian còn hạn hẹp và năng lựccòn hạn chế
Đây là một luận văn mang ý nghĩa tập dợt, để tiếp cận đến phơng phápnghiên cứu nên đã đợc giúp đỡ, chỉ bảo của nhiều ngời Trớc hết là sự dẫn dắt
Trang 5của thầy giáo hớng dẫn - Dơng Văn Ninh, ngời đã tận tâm dẫn dắt ngời làm
từ bớc đi đầu tiên để tiếp cận và thực hiện một cách hoàn chỉnh Tiếp đến là sựgiúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - Trờng Đại Học Vinh tạo
điều kiện thuận lợi và khuyến khích động viên chúng tôi Sau cùng là sự giúp
đỡ của các cô, chú trong th viện và bạn bè thân thiết
Từ trong tâm khảm, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô vàcác bạn Sự tiếp sức của thầy cô và các bạn hôm nay là hành trang cho chúngtôi có đủ tâm trí để tiếp tục cho ngày mai Một lần nữa xin đợc tri ân tất cảmọi ngời
Trang 6Nội dung
Chơng I
Văn hóa ấn Độ và sự lan tỏa của nó đối với các
n-ớc xung quanh 1.1 ấn Độ một trong những trung tâm văn hóa thế giới cổ đại
1.1.1 Khái quát lịch sử ấ n Độ cổ trung đại.
ấn Độ nằm ở Nam á, hiện nay là nớc lớn thứ bảy thế giới và có dân số
đứng thứ hai thế giới Tên gọi ấn Độ - India, Hinđuxtan, đây là tên gọi do
ng-ời Ba T và ngng-ời Hylạp lấy tên sông ấn (Inđu) để gọi tên nớc này Còn tên gọitruyền thống mà c dân ấn Độ gọi nớc mình là Bharat. ấn Độ cổ đại rộng lớnhơn ấn Độ ngày nay, bao gồm bán đảo Hinđuxtan Nghĩa là bao gồm lãnh thổ
5 nớc hiện nay đólà ấn Độ - Pakistan - Butan - Nepan - Bangladet. ấn Độ đợcchia làm 3 miền rõ rệt, đó là vùng thuộc dãy Hymalaya, vùng đồng bằng sôngHằng - sông ấn và vùng cao nguyên Đêcan Nhà nớc ấn Độ cổ đại ra đời từ rấtsớm, đầu tiên là sự xuất hiện nền văn minh sông ấn, gắn liền với vai trò củangời Đraviđa Chính họ là chủ nhân của nền văn hóa này
Cho đến đầu thế kỷ XIX, hầu nh ngời ta cha biết gì về thời tiền sử và sơ
sử của ấn Độ Đầu thế kỷ XX nhiều công trình nghiên cứu, khai quật đã xác
định, ngay từ thời xa xa nhất ở ấn Độ đã có con ngời c trú Trớc khi ấn Độ
b-ớc vào thời kỳ nhà nb-ớc cổ đại đã xuất hiện một nền văn minh đô thị rực rỡ Đó
là văn minh sông ấn tồn tại từ đầu thiên niên kỷ III (TCN) đến giữa thiên niên
kỷ II (TCN) Đây là nền văn minh cổ xa và đạt đợc những thành tựu rực rỡ, làmột trong những thời kỳ quan trọng của lịch sử ấn Độ Nó đặt nền móng đầutiên và có ảnh hởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa sau này
Tiếp đến là thời kỳ Vêđa, đây là thời kỳ mà lịch sử ấn Độ đợc phản ánhtrong kinh Vêđa Trong kinh , ngoài việc tập hợp những nghi lễ chúc tụng thầnlinh là việc phản ánh những hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của ấn Độ từgiữa thiên kỷ II - I (TCN)
Đây là thời kỳ lịch sử diễn biến quan trọng phức tạp, phản ánh nhiềumặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ấn Độ Đó là quá trình xâm nhập
Trang 7của ngời Arian, qúa trình hình thành chế độ đẳng cấp Vacna và tôn giáoBàlamôn.
Cùng với chế độ đẳng cấp và tôn giáo ấy, công xã nông thôn xuất hiệntạo cho lịch sử ấn Độ trì trệ - kéo dài Đó là cội rễ dẫn đến sự chia cắt và luôn
bị đế quốc bên ngoài xâm lợc, thống trị
Cho đến nửa đầu thiên kỷ I (TCN), ở Bắc ấn đã xuất hiện nhiều vơngquốc nhỏ, giữa các vơng quốc ấy thờng xung đột lẫn nhau Thế kỷ VI (TCN),Bắc ấn có chừng 16 quốc gia, trong đó có hai quốc gia lớn tranh giành ảnh h-ởng là Magada và Vogada Chẳng bao lâu, Magada đã chinh phục đợc mộtvùng rộng lớn từ núi Hymalaya ở phía Bắc đến núi Vincia ở phía Nam
Từ thế kỷ VI (TCN) đến năm 28 (TCN) tồn tại vơng quốc Magada, trảiqua nhiều vơng triều trong đó vơng triều Môria là thời kỳ hng thịnh nhất Thế kỷ VI (TCN), đạo Phật ra đời Vơng quốc Magada muốn đấu tranhchống thế lực tăng lữ Bàlamôn để tăng cờng quyền lực quốc gia, đã dựa vàolực lợng Phật giáo ngày càng mạnh Thời Asoka, đạo Phật đợc tôn làm quốcgiáo
Khi Asoka từ trần (236 TCN) Vơng quốc Magada nhanh chóng suy yếu,
đất nớc bị chia cắt, bị ngoại tộc xâm lợc và thống trị Mãi đến thế kỷ IV (SCN)
ấn Độ mới đợc thống nhất và cờng thịnh dới vơng triều mới
Lịch sử ấn Độ thời phong kiến đợc quy định từ sau Công nguyên đến thế
kỷ XVII, với bốn thời kỳ sau:
Thời kỳ hình thành chế độ phong kiến với Vơng triều Gupta (đầu CN đếnthế kỷ VII)
Thời kỳ phong kiến phân tán (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII)
Thời kỳ Vơng triều hồi giáo Đêli thống trị (từ thế kỷ XIII đến XV)
Thời kỳ thống trị của Môgôn (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII)
Đến giữa thế kỷ XIX, ấn Độ trở thành thuộc địa của Anh bắt đầu từ đây
ấn Độ bớc vào thời kỳ cận đại
Văn minh ấn Độ đợc cấu thành bởi những yếu tố sau đây
Về đời sống kinh tế.
Trang 8Xuyên suốt lịch sử cổ trung đại của ấn Độ là sự phát triển của nền kinh
tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, kinh tế nông nghiệp Trong các làng xã tế bàokinh tế xã hội ấn Độ, ngời nông dân thờng ở trong những nếp nhà rơm rạ cổtruyền Đã bao đời ngời nông dân ấn Độ thờng vất vả với 3 vụ gặt chính cùng
3 loại cây ngũ cốc riêng
Bên cạnh đó, ấn Độ là nớc có truyền thống lâu đời về thủ công nghiệp.Ngay từ thời Harappa, Mônhegro - Đaro, đã có một số nghề thủ công truyềnthống phát triển cao nh đúc đồng, chạm khắc đá, nghề kim hòan, nghề mộc.Dệt là nghề thủ công nổi tiếng của ấn Độ, ngời ấn cũng nổi tiếng về nghệthuật làm đồ trang sức
Thơng nghiệp: Ngay từ thời cổ xa ấn Độ cũng đã có sự giao lu buôn bánvới những trung tâm kinh tế lớn nh BaT, Hylạp, Trung quốc
Về chính trị xã hội.
Ngay từ thời cổ xa, nét đặc trng nổi bật về chính trị - Xã hội ấn Độ, đó
là sự xuất hiện sớm và tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn Đồng thời là sựtồn tại của chế độ đẳng cấp Theo nghiên cứu của Mác thì công xã nông thôn
ở ấn Độ đợc coi là điển hình nhất Sự xuất hiện của công xã nông thôn đóngvai trò tích cực đối với sự phát triển của xã hội Nhng sự tồn tại dai dẳng của
nó lại trở thành yếu tố tiêu cực cho sự phát triển xã hội Sự tồn tại của công xãnông thôn làm cho kinh tế hàng hóa kém phát triển và duy trì nền kinh tế tựnhiên mang tính tự cấp tự túc Với một khuôn khổ chật hẹp và đóng kín củacông xã nông thôn nên đã cản trở sự phát triển mọi mặt và bảo tồn những tậptục lạc hậu một cách lâu dài, dai dẳng
Về chế độ đẳng cấp.
ở ấn Độ chế độ đẳng cấp xuất hiện sớm, ngay trong thời kỳ văn minhsông Hằng và vào loại khắcnghiệt nhất Nó đợc gọi là chế độ đẳng cấp Vacna.Theo chế độ này c dân tự do ấn Độ đợc phân thành 4 đẳng cấp có quyền lợikinh tế, xã hội hoàn toàn khác nhau
Đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn
Đẳng cấp thứ hai là tầng lớp vơng công vũ sỹ Ksatơria
Đẳng cấp thứ ba là những ngời bình dân Arial (đẳng cấp Vaixia)
Còn bộ phận c dân bản địa bị chinh phục gọi là Xuđra
Trang 9Một bộ phận c dân tận cùng của xã hội nh Xandala, Paria đợc xếp rangoài đẳng cấp, thân phận của họ đợc coi nh nô lệ Họ không có một quyềnlợi, kinh tế chính trị nhỏ nhoi nào.
Về gia đình.
ở ấn Độ gia đình cũng đợc coi là tế bào của xã hội Nhng điều hết sức
đặc biệt của ấn Độ trong giai đoạn đầu là vai trò, vị trí của ngời phụ nữ hếtsức quan trọng Nhng kể từ khi đạo Hồi xâm nhập vào ấn Độ thì vai trò của họ
bị hạ thấp về nhiều mặt
Về mặt nhà nớc
Giống nh các quốc gia phơng Đông cổ đại, nhà nớc ấn Độ cổ đại là nhànớc quân chủ theo ý thức cha truyền con nối Nhng trong đó vai trò của ngờihành đạo rất lớn Đây là một trong những yếu tố chi phối làm xã hội ấn Độthêm phức tạp
1.1.2 Tôn giáo ấ n Độ.
ấn Độ đợc coi là quê hơng của nhiều tôn giáo, đó là đạo Bàlamôn (rồisau đó đợc bổ sung, chuyển đổi thành đạo Hinđu), đạo Phật, đạo Giaina, đạoXích Ngoài ra ấn Độ còn tiếp thu một số tôn giáo khác nh đạo Hồi, đạo DoThái Nét đặc biệt ở ấn Độ là các tôn giáo này kết hợp rất chặt chẽ với triếthọc, nó trở thành những con thuyền chuyển tải t tởng
Đạo Bàlamôn
Trong thời kỳ đầu của Vêđa, tín ngỡng của c dân ấn Độ mang nhiều dấuvết của tín ngỡng nguyên thủy Nhng dần dần, với sự phân hóa giai cấp ngàycàng sâu sắc trong xã hội thì các tín ngỡng dân gian ấy dần dần đợc tập hợpthành một tôn giáo đợc gọi là đạo Bàlamôn
Đạo bàlamôn không có ngời sáng lập, tổ chức của nó cũng không chặtchẽ Đây là tôn giáo đa thần, trong đó cao nhất là thần Brama, đợc coi là thầnsáng tạo ra thế giới Nhng cũng có nơi coi thần Visa là thần cao nhất Cũng cónhững nơi quan niệm thần cao nhất là thần Visnu (Thần bảo vệ, thần ánhsáng, thần sắc đẹp) Do sự thiếu thống nhất nh vậy nên dần dần các tăng lữ
đạo Bàlamôn đã nêu ra quan niệm mặc dù là ba nhng thực chất là một Ngoài
ra, một số động vật khác cũng đợc coi là đối tợng sùng bái của đạo Bàlamôn
Trang 10Ngời ta giải thích rằng linh hồn của con ngời thực chất là một bộ phận củaBrama tạo ra Mà Brama lại tồn tại vĩnh hằng, nên mặc dù con ngời dù cósống, có chết nhng linh hồn thì mãi mãi tồn tại Nó tồn tại từ kiếp này sangkiếp khác, với những ai thực hiện đúng luật lệ của đạo thì kiếp sau sẽ đợc đầuthai làm những ngời cao quý Còn những ai đợc coi là tà đạo thì kiếp sau sẽ bị
đầu thai làm chó ngựa
Xét về xã hội, đạo Bàlamôn là công cụ bảo vệ đắc lực cho chế độ đẳngcấp ở ấn Độ Mà trong đó thực chất nhằm bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp tănglữ, quý tộc Bàlamôn Tôn giáo này thịnh hành trong xã hội ấn Độ mãi cho đếnthế kỷ VI (TCN) khi đạo Phật xuất hiện mới bắt đầu tàn lụi
Đến khoảng cuối thế kỷ VII, đạo Phật bắt đầu bị suy sụp ở ấn Độ thì đạoBàlamôn dần dần đợc phục hng Nó đợc bổ sung thêm một số đối tợng đểsùng bái, bổ sung thêm một số luật lệ cũng nh nghi thức để tế lễ Từ đây nó đ-
ợc gọi là Hinđu giáo hay ấn Độ giáo, bắt đầu từ thế kỷ VIII trở đi, phát triểnmạnh mẽ
ấn Độ giáo ra đời và phát triển đợc coi là tôn giáo hết sức đặc biệt Bởivì tôn giáo này không ảnh hởng ra ngoài biên giới Đối tợng sùng bái của nóvẫn chủ yếu là ba vị thần: Brama đợc biểu hiện bằng bốn cái đầu để nói rằngthần có thể nhìn thấy tất cả Thần Siva đợc biểu hiện có mắt trên trán Cònthần Visnu đợc quan niệm là đã từng giáng trần chín lần với hình thức là cáccon vật nh cá, lợn Ngoài ba vị thần nói trên một số loại động vật nh khỉ,
bò, rắn, hổ cũng đợc coi là thần của đạo Hinđu Trong đó quan trọng nhất
là thần khỉ, thần bò
Đạo Giaina
Theo truyền thuyết, ngời sáng lập ra đạo Giaina là một nguời xuất thân từtầng lớp Satơria Ông đợc các tín đồ gọilà Mihariva Đạo Giaina xuất hiện vàothế kỷ VI (TCN), nghĩa là cùng thời của sự xuất hiện của đạo Phật Tôn giáonày chủ trơng không thờ thợng đế vì họ cho rằng vũ trụ không phải do đấnghóa công nào sáng tạo ra Mà đó là cái có sẵn, tự nhiên, nhng họ lại chủ trơngthờ các thần thánh huyền thoại Họ quan niệm rằng vạn vật đều có linh hồn, vìvậy họ cũng thừa nhận thuyết luân hồi
Xét về giới luật đạo Giaina có 5 điểm cơ bản sau:
- Không giết bất cứ sinh vật nào
Trang 11- Tuyệt đối không đợc nói dối
- Không đợc lấy bất kỳ vật gì của nguời khác nếu không đợc coi là vật ban tặng
- Không đợc dâm dục
- Không đợc tích trữ của cải nhiều mà phải sống khổ hạnh
Theo quan niệm của đạo Giaina về thế giới, về nhân sinh nh vậy cho nêntôn giáo này đã kịch liệt chống lại Vêđa Từ đó chống lại luôn hình thức cúngbái của đạo Bàlamôn và đạo Hinđu sau này
Cũng giống nh đạo Phật, sau một thời kỳ phát triển tôn giáo này phânthành hai phái: Phái áo trắng và Phái áo Trời
Do đạo luật của nó quá khắt khe và lại đợc phát sinh cùng thời với đạoPhật, tôn giáo đợc coi là mở Do đó các tín đồ theo tôn giáo này không đông
đảo Hiện nay ở ấn Độ có 0,7 dân số theo tôn gáo này, chủ yếu tập trung ởmiền Tây Nam của đất nớc
Đạo Phật.
Đạo Phật là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay Điều
đặc biệt ấn Độ mặc dù là quê hơng của Phật giáo, nhng nay số tín đồ theo đạoPhật rất ít mà chủ yếu là ở các quốc gia Đông Nam á Trong đó có một sốquốc gia lấy đạo Phật làm quốc giáo nh Cămpuchia, Chămpa
Xét về hoàn cảnh ra đời, đạo Phật đợc ra đời trong bối cảnh khi mà ba
đẳng cấp bên dới nó là đẳng cấp vơng công vũ sỹ, cũng nh đẳng cấp bình dân
đang ngày càng chiếm u thế trong xã hội Họ đang đấu tranh chống lạiBàlamôn giáo
Mọi tôn giáo đều nêu lên vấn đề giải thoát Tuy nhiên, mỗi tôn giáo cónhững cách giải thoát riêng của mình Đức Phật đã đa ra một phơng pháp giảithoát cho chúng sinh thật là độc đáo và hấp dẫn Đó là thuyết "Tứ diệu đế"
- Khổ đế: đời là bể khổ Con ngời có 8 nỗi khổ gọi là 'bát khổ"
- Tập đế: chân lý về nguyên nhân của cái khổ, mà nguyên nhân sâu xa nhất là con ngời có quá nhiều tham muốn
- Diệt đế: Có thể tiêu diệt đợc cái khổ
Trang 12hiện "Bát chính đạo".
Xét về mặt thế giới quan, đạo Phật đề cập đến cả “vô tạo giả”, "Vô ngã"lẫn "Vô thờng", có nghĩa là nó vừa mang t tởng triết học duy vật, vừa mang ttởng duy tâm
Xét về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, bởi vìPhật quan niệm rằng nguồn gốc xuất hiện của con ngời không phải là điềukiện để đợc cứu vớt, mà tất cả những ai tuân theo Phật, hành đạo đúng lời Phậtdạy thì cũng đều đợc lên cõi niết bàn Nh thế, có nghĩa chủ trơng của đạo Phật
là không phải dựa vào luật pháp để trị nớc Không đợc chuyên quyền Độc
đoán, mà yếu tố có tính chất cơ bản nhất để xã hội bình yên đó chính là tínhthiện của mỗi con ngời
Về quá trình phát triển, cùng với quá trình phát triển của lịch sử, dần dần
đạo Phật phân thành hai phái: Phái tiểu thừa và phái đại thừa Nếu nh phái tiểuthừa chủ trơng giữ nguyên những giáo lý nguyên thuỷ, thì phái đại thừa chủ tr-
ơng bổ sung một số giáo lý để nhằm phù hợp với một số điều kiện và hoàncảnh mới
Nếu nh phái tiểu thừa chủ trơng thừa nhận một vị Phật duy nhất đó làPhật Thích Ca Mô Ni, thì phái đại thừa lại thừa nhận thêm nhiều vị Phật khácnhau: Phật ThíchCa, Phật Adiđà, phật Dilặc
Nếu nh phái tiểu thừa dần dần phát triển về phái Nam ấn, sau đó truyềnsang đảo Srilanca để từ đó đến với các nớc Đông Nam á Thì phái đại thừaphát triển về phía Bắc ấn sau đó truyền sang khu vực Trung á, và từ khu vựcTrung á ảnh hởng tới Trung Quốc, từ Trung Quốc truyền sang Nhật – TriềuTiên - Đại Việt
Nếu điện thờ của Phật tiểu thừa tĩnh lặng và chỉ thờ một vị Phật tổ làThích Ca thì phái đại thừa ngoài thờ Phật tổ còn thờ rất nhiều vị Phật khác vàcả Bồ tát, La hán nữa Cho nên ngôi chùa đại thừa nhộn nhịp, đông vui
Có thể nói rằng trong những ảnh hởng của văn hoá ấn Độ đối vớiCămpuchia và Chămpa thì Phật giáo có tác động mạnh nhất, để lại những dấu
ấn sâu sắc trong đời sống tinh thần, trong tâm thức, phong tục tập quán và nếpsống đạo đức của họ
Trang 131.1.3 Văn học ấ n Độ
ấn Độ từ thời cổ trung đại đã có một nền văn học phong phú, đa dạng ở
đây văn học, tôn giáo và triết học tồn tại song song bên nhau có quan hệ chặtchẽ với nhau [13 – 104]
Văn học ấn Độ rất phong phú, đồ sộ bao gồm nhiều thể loại thần thoại,thơ ca lịch sử, kinh truyện
Kinh Vêđa là một bộ kinh cầu nguyện, đồng thời là những tác phẩm vănhọc xa nhất Nội dung của nó lý giải về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc các loài
và thuỷ tổ của loài ngời Kinh gồm 4 bộ:
- RigVêđa: Ca tụng các thần linh
Mahabharata gồm 11 vạn câu thơ đôi, chia làm 18 cuốn, gấp 7 lần tổng
số của hai bộ Iliát và Ôđixê gộp lại Nội dung chính của tác phẩm phản ánhcuộc nội chiến xảy ra trong dòng họ Bharát Bộ sử thi miêu tả đời sống xã hộihồi đó, cảnh ăn chơi cung đình, những mối tình éo le Mahabharata ca ngợisức mạnh tinh thần nhất là về đạo đức, bổn phận, bài học chongời đời: ở hiềngặp lành, ác giả ác báo T tởng hoà bình thấm đợm trong toàn bộ tác phẩm.Nội dung chính mô tả cuộc chiến tranh chiếm 1/4 tác phẩm, và còn lànhững câu chuyện ngụ ngôn mang tính chất triết học Đây là bản tổng kết sâusắc, cô đọng quan điểm triết học, tôn giáo, đạo đức, là cuốn kinh của đạoHinđu Các lãnh tụ phong trào giải phóng ấn Độ đều nghiên cứu sâu sắc tácphẩm này tìm đợclý tởng phụng sự qua triết lý của nó Mahabharata tồn tạiqua hơn 20 thế kỷ, đợc ngời ấn truyền khẩu từ đời này sang đời khác
Ramayana là tác phẩm lớn thứ hai, tác phẩm kể lại công đức – sự nghệp
Trang 14thân thứ 7 của thần Visnu ở trần gian để khuyến thiện, trừ ác Ramayana có
ảnh hởng sâu rộng trong nhân dân ấn Độ qua nhiều thời kỳ lịch sử
Nếu Mahabharata nói lên ớc vọng tâm linh cao cả mang tính tôn giáo,triết học thì Ramayana thể hiện tâm hồn trong sạch, yêu thơng hết mình, chechở và an ủi khổ đau cho con ngời, đó là giá trị nhân văn của sử thi
Hai tác phẩm trên là niềm tự hào và cẩm hứng vô tận của các nhà thơ,nhà văn, nghệ sỹ ấn Độ từ thời cổ cho đến bây giờ
Tuy chịu ảnh hởng của tôn giáo, các nghệ sỹ vẫn thể hiện chủ nghĩa nhân
đạo cao cả, đề cao t tởng tự do, miêu tả cuộc sống con ngời với nội tâm củanó: Sự lo lắng, nỗi vui buồn, tình yêu lứa đôi, chống lại lễ giáo khắt khe, lên
án bản chất giả dối, lừa gạt của giai cấp thống trị
Đại biểu cho các nhà văn, nhà thơ này là nhà thơ Bơhaxa, Sudơvaba và
đặc biệt là Kaliđasa ngôi sao sân khấu và văn học ấn Độ Ông là tác giả củanhiều vở kịch nổi tiếng nh: “Lòng dũng cảm của Unavasi”, “Truyện mời ônghoàng” Trong đó vở kịch “Sơkutila” là niềm tự hào của nhân dân ấn Độ trongsuốt 15 thế kỷ qua
Ngoài ra còn nhiều tác phẩm chính luận sắc sảo, có giá trị về các đề tàikinh tế, xã hội nh: “Luận về đạo pháp”, “Luận về lạc thú”, “Luận về chínhtrị”, “Luật Manu”
Ngôn ngữ biểu đạt trong văn học ấn Độ là chữ Phạn (Sancrit) Đó làngôn ngữ có nguồn gốc từ ngữ hệ ấn - Âu và có quan hệ mật thiết với ngônngữ Ba t - Arập
Hiện nay ở ấn Độ có 16 ngôn ngữ chính thức đợc thừa nhận, tiếng Anh làngôn ngữ quốc gia bổ sung [13 – 104]
đầu cột đá ở Rampura )
Trang 15ở ấn Độ những chùa Phật, chùa hang đợc xây dựng rất nhiều và hết sứccông phu Cùng với kiến trúc điêu khắc, các lĩnh vực khác của nghệ thuật ấn
Độ nh mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu, lễ hội góp phần làm rực rỡ nền vănminh ấn Độ
1.1.5 Những thành tựu về khoa học – kỹ thuật.
Cũng giống nh Trung Quốc và các nền văn minh khác, ngay từ rất sớm
ấn Độ đã có những phát minh quan trọng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Thiên văn.
Ngời ấn Độ sớm nhận biết đợc 5 hành tinh kim – mộc – thuỷ – hoả thổ, cũng nh quy luật vận hành của một số sao Từ rất sớm ngời ấn Độ đãquan niệm quả đất cũng nh mặt trăng là hình cầu Họ cũng đã sớm làm ra lịch,lịch của họ một năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, mỗi ngày có
-30 giờ và cứ năm năm nhuận một lần
Toán học.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, đóng góp lớn nhất của ngời ấn
Độ là việc phát minh ra chữ số và số không Một nhà toán học ngời Pháp đãnói về cách viết chữ số của ngời ấn Độ :
Ngời ấn Độ đã dạy cho chúng ta các phép tính toán tài tình ấy, chỉ dùng
có 10 ký hiệu mà biểu hiện đợc mọi số lợng Mỗi chữ số đều nói lên một trị sốnhất định ở vị trí cố định Đó là một phát minh thần diều cực kỳ quan trọng.Chẳng qua ngày nay chúng ta dùng nó mãi, quen đi,trông nó đơn giản quá rồikhông thấy cái chân giá trị của nó nữa Nhng cũng chính vì cái tính chất đơngiản đó của các số chữ mà môn toán học ngày nay có thể xếp thành hàng đầutrong các phát minh có lợi nhất cho loài ngời Thành tựu vẻ vang đó của ngời
ấn Độ thời cổ đáng đợc mọi ngời khâm phụcvà biết ơn
Ngời ấn Độ cũng đã sớm tìm ra chữ số Pi, 3 , 1416 Ngoài ra các kiếnthức về hình học của ngời ấn Độ cũng rất phát triển
Về vật lý.
Từ sớm ngời ấn Độ quan niệm rằng vật chất đợc cấu tạo từ một yếu tố
mà họ gọi là Anu (phần tử nhỏ nhất Ngày nay ngời ta cũng tìm ra vật chất
Trang 16đ-ợc cấu tạo từ nguyên tử) Sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác là docách sắp xếp khác nhau giữa các Anu (phần tử nhỏ nhất)
Về y học
Trong lĩnh vực này ngời ấn Độ cũng đã thu đợc nhiều thành tựu Ngaytrong bộ Vêđa rất nhiều loại bệnh đợc nêu lên cùng với các loại thuốcđể chữatrị Ngời ấn Độ đã biết phẫu thuật từ rất sớm để chữa bệnh, ví dụ nh chắp x-
ơng sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai
Tất cả những thành tự văn hoá trên, là cơ sở hết sức quan trọng để từ đóphát huy ảnh hởng của mình đến các khu vực khác trên thế giới, mà trong đó
đây tìm vàng vì các tài liệu đó gọi đây là xứ sở vàng (Suvan nabhec mi) hay
đảo vàng (Savannadvipa)” [13 - 105]
Niddesa, một th tịch Phật giáo băng tiếng Pali đã kể tên các địa danh
ng-ời ấn Độ thờng qua lại: “Takkola (chợ đậu khấu), ở bắc Mã Lai, Kapuradvipa(đảo Long não), Nakikeladvipa (đảo Dừa) và đảo Vàng” [13 – 105] Nh vậy,
có khả năng ngoài tìm kiếm vàng, ngời ấn Độ còn đến đây để buôn bán cácsản vật quý, hơng liệu quý, đá quý với Đông Nam á để trao đổi với các xứ
sở khác
Sự lan toả và thâm nhập của văn hoá ấn Độ sang các nớc xung quanh nóichung, Cămpuchia và ChămPa nói riêng đợc thúc đẩy thêm một bớc Đó làsau đại hội Phật giáo (năm 242 TCN ) ở kinh đô Patalipura Sau đại hội nàyhoàng đế Asôca đã cho nhiều nhà tu hành đến truyền bá đạo Phật ở xứ sở
Đông Nam á, mà trong đó có Cămpuchia và ChămPa
Qua đây ta có thể khẳng định rằng văn hoá ấn Độ ảnh hởng vàoCămpuchia, ChămPa từ những thế kỷ TCN Bởi ngời ta đã tìm thấy những
Trang 17bằng chứng về điêu khắc, kiến trúc kiểu Phật giáo Amaravati ở óc eo (Nam bộ– VN), tợng Phật ở Đồng Dơng (Quảng Nam).
Từ thế kỷ I, II trở đi ảnh hởng đó mạnh mẽ hơn do từng đợt sóng di c từ
ấn Độ tràn sang phía đông và đông nam, đến Xây Lan, Xiêm, Cambodia,ChămPa một số khác đi ra biển Quá trình này diễn ra trong một thời giandài
Ngời ấn Độ di c trực tiếp, hoặc qua khâu định c trung gian đều do nhà
n-ớc tổ chức Tên các khu mà ngới ấn định c thờng là địa danh của ấn Độ cũ:
“tên nớc Cămpuchia (Cambodia) xa gọi là Kambja – một thành phố nỗi tiếngcủa ấn Độ cỗ xa ở vùng Tây bắc” [13 - 106] còn tên gọi ChămPa (đó là têncủa một loài hoa Ngọc Lan) và đây là tên gọi của một vùng địa danh ở ĐôngBắc ấn Độ
Nguyên nhân thúc đẩy sự lan rộng mạnh mẽ của văn minh ấn Độ đến
Đông Nam á nói chung và Cămpuchia, ChămPa nói riêng, trớc đó chính làmục đích đi tìm vàng của ngời ấn Độ Quá trình tìm vàng của ngời ấn đựơcthúc đẩy bởi các mục đích sau đây:
ở bán đảo Hindustan , chỉ có vùng Đông Bắc là vùng tơng đối trù phú.Còn Nam ấn và cao nguyên Đề can với khí hậu khô cằn, không đủ đáp ứngnhu cầu cho ngời ấn lúc bấy giờ Hơn thế nữa, ấn Độ luôn bị bọn ngoại tộcxâm lợc, nên một số c dân ngời ấn muốn tìm đến vùng đất mới để làm ăn sinhsống Trong bối cảnh ấy kỹ thuật hàng hải của ngời ấn đã tơng đối phát triển.Cho phép họ có thể chế tạo ra những con thuyền để đáp ứng mục đích của họ.Thậm chí có ngời còn cho rằng, một số vơng triều ở ấn Độ đã bắt c dân ấn vợt
ra ngoài biên giới để tìm vàng để phục vụ cho cuộc sông xa hoa của mình
Có ý kiến cho rằng: “sở dĩ giữa ấn Độ và Cămpuchia, ChămPa có sự giao
lu và ảnh hởng là do sự gần gũi về địa lý, sự tơng đồng của cơ tầng văn hoánông nghiệp cổ xa, sự giống nhau về phong tục tập quán, văn hoá dân gian vàcác di tích cổ xa ” [13 -106]
Một nguyên nhân nữa khiến văn hoá ấn Độ ảnh hởng đến Cămpuchia,Chămpa là do sự phát triển của văn hoá ấn Độ, sự phát triển của các tôn giáo,nhất là Phật giáo T tởng ấn Độ nói chung, của các tôn giáo ấn Độ và nhất làcủa Phật giáo nói riêng, đợc truyền bá thuận lợi do bản thân giáo lý của nó
Trang 18Trớc kia, ngời ấn theo Bàlamôn giáo rất sợ bị uế tạp vì phải tiếp xúc với các
“chủng tộc dã man”
Giáo lý Bàlamôn cấm bất kỳ một tín đồ ấn Độ nào vợt biển để tiếp xúcvới ngời nớc ngoài mà họ coi là “không trong sạch” Nếu ai vi phạm sẽ bị khaitrừ khỏi đẳng cấp Quy định ngặt nghèo đó đã cản trở đến sự xuất dơng của
họ Khi các tôn giáo khác ra đời ở ấn Độ đặc biệt là Phật giáo với t tởng cởi
mở của mình đã gạt bỏ những trở ngại về tâm lý đó Nhờ tinh thần truyền giáorộng rãi, không phân biệt đẳng cấp và không thành kiến về chủng tộc, mà tấtcả mọi ngời đều có quyền theo và gia nhập vào hội Phật giáo Phật giáo đã mở
đờng cho ngời ấn Độ đến các nớc xung quanh mà trong đó Cămpuchia,ChămPa cũng là những nớc đợc họ quan tâm Các tôn giáo khác đến vùng đấtmới phát triển rất thuận lợi Dần dần, cản trở tâm lý đối với việc “xuất dơng”mất đi Trong số những ngời ấn Độ đến Cămpuchia và ChămPa giai đoạn đầucòn thấy cả tu sĩ Bàlamôn
Nh vậy, nguyên nhân chính của việc truyền bá văn hoá ấn Độ ra bênngoài là do hoạt động của các thơng nhân, thuỷ thủ và sự truyền bá tôn giáo ởmiền ngoại ấn Sự tăng trởng giao lu kinh tế đã kéo theo việc đẩy mạnh giao l-
u văn hoá giữa ấn Độ với các nớc xung quanh
Sự du nhập văn hoá ấn Độ và Cămpuchia, ChămPa nói riêng và các nớcxung quanh nói chung chủ yếu bằng con đờng hoà bình Điều này khác với
ảnh hởng của văn hoá Trung Quốc Văn hoá ấn Độ ảnh hởng vào các nớc nàyqua sự giao lu, tiếp xúc lẫn nhau trên cơ sở tự nguyện C dân các nớc này cónhu cầu tiếp nhận nó
Cũng có một số ý kiến lại cho rằng, ảnh hởng ấy chỉ mang tính chất vôtình, có nghĩa là ngời ấn Độ không có mục đích và bản thân c dân Đông Nam
á cũng không có mục đích
Cămpuchia, ChămPa đợc các học giả phơngTây gọi là các quốc gia “ấn
Độ hoá” Cách nói nh vậy không thật thoả đáng, vì họ vẫn giữ đợc bản sắc vănhoá đậm nét của mình khi tiếp nhận nền văn minh khác ấn Chúng ta nên hiểuthuật ngữ “ấn Độ hoá” đó với ý nghĩa chỉ các quốc gia chịu ảnh hởng sâu sắcvăn hoá ấn Độ
Vậy thực chất của công cuộc “ấn Độ hoá” là gì? Đây không phải là cuộcxâm lợc bằng vũ lực để chiếm đất đai, di dân lập ấp Mà đó là sự thâm nhập
Trang 19hoà bình, sự lan toả của một nền văn minh rực rỡ, của dòng chảy văn hoá từchỗ cao đến chỗ thấp một cách hợp quy luật tự nhiên Các quốc gia “ấn Độhoá” đó không lệ thuộc gì vào ấn Độ, mà chỉ duy trì các mối liên hệ văn hoá,văn minh chung, quan hệ bình đẳng với ấn Độ Tuy nhiên, phải nói rằng ảnhhởng của văn hoá ấn Độ vào Đông Nam á nói chung, vào Cămpuchia,ChămPa nói riêng là hết sức rộng lớn và sâu sắc ảnh hởng ấy mang tính toàndiện, bất cứ khu vực nào từ đồng bằng đến miền núi và ven biển, đều ít nhiềuchịu ảnh hởng văn hoá ấn Độ , mỗi vùng, mỗi khu vực chịu sự ảnh hởng đậmnhạt khác nhau ở Cămpuchia, ChămPa sự ảnh hởng này hết sức đậm nét.Ngay thời vơng quốc Phù Nam – một đế quốc rộng lớn ở Nam Đông Dơng
và Cămpuchia phát triển ở đỉnh cao thời ăngCo Còn ChămPa đợc xem là
g-ơng phản chiếu của ấn Độ
Sự truyền bá rộng rãi của văn minh ấn Độ sang khu vực xung quanh, gópphần đẩy mạnh quá trình tan rã của chế độ công xã nông thôn, quá trình hìnhthành xã hội có giai cấp và nhà nớc đầu tiên ở đây Đồng thời ảnh hởng của nócòn tiếp tục cho đến ngày nay
Trang 20về dân tộc Cămpuchia còn quá ít ỏi, hơn nữa lịch sử Cămpuchia có nhiều biến
Động Nhng dẫu vậy, chúng ta vẫn biết đợc phần nào về Cămpuchia trong thờitiền sử
Cămpuchia là mảnh đất hấp dẫn các nhà khảo cổ trong việc truy tìm cộinguồn của con ngời Tuy phát hiện khoa học cha nhiều, nhng đầy hứa hẹn vàcho phép chúng ta có thể khẳng định: Cămpuchia là một trong những địa bànchứng kiến sự ra đời của con ngời Đây đó trong những hang động đá vôi ởCampốt những công cụ bằng đá thô kệch, những dấu tích xơng cốt cổ động vật
và cả răng ngời vợn đã đợc các nhà khảo cổ phát hiện Nh vậy, từ nhiều chụcvạn năm trứơc, ngời tối cổ đã từng c trú tại miền rừng núi Cămpuchia, lợidụng các hang núi làm nơi ở
Đời sống kinh tế của con ngời lúc này chủ yếu dựa vào những vật phẩm
có sẵn trong tự nhiên Đó là kinh tế khai thác, nh các nhà khoa học đã gọi.Tuy nhiên, do còn bị ràng buộc và chi phối to lớn của điều kiện tự nhiên, nênnền kinh tế của c dân Cămpuchia cổ mang những nét khác với những vùngkhác trên thế giới Rừng tuy phong phú về giống, loài, động, thực vật nhng lạirất phân tán về cây và con Trong rừng có vô số loại cây, con khác nhau nhngmỗi thứ có một ít Do vậy con ngời lúc bấy giờ khó có thể đinh hớng vào mộtloại vật phẩm chủ yếu nào Thức ăn của c dân Cămpuchia cổ mang tính chất
đa tạp Do địa bàn sinh sống của họ không có nhiều bầy đàn Động vật lớn,nên con ngời chú trọng tới hái lợm hơn săn bắn rất nhiều Thỉnh thoảng conngời cũng săn đợc những thú lớn nh têgiác, hơu, nai Trong các tàn tích thức
ăn phế thải, các nhà khoa học thấy đa phần là động vật nhỏ nh cầy, cáo, cá vàcác loại nhuyễn thể
Do phơng thức sinh sống, phơng thức khai thác nh vậy đã ảnh hởng phầnnào tới văn hoá của ngời Cămpuchia cổ
Trang 21Trong tiến trình văn hoá Cămpuchia thời tiền sử có một mốc đợc xem làquan trọng, đó là văn hoá Hoà Bình Đây là giai đoạn đặc trng cho toàn bộ vănhoá Đông Dơng và Đông Nam á lục địa Cũng nh giai đoạn trớc, ngời thờiHoà Bình chủ yếu chiếm cứ vùng rừng núi nhng họ bắt đầu men tới vùng đồngbằng và dọc các dãy núi tiếp cận với biển Môi trờng mà ngời Hoà Bình quantâm là vùng chân núi, thung lũng giữa các núi dọc sông, suối nhỏ Do vậy thời
kỳ này ngời ta còn gọi là văn hoá thung lũng Bớc tiến của ngời thời Hoà Bình
đạt đợc về nhiều mặt, nhng trớc hết việc định hớng của họ trong khai thácnguồn đạm động vật Họ đã nhận ra cái u ái, cái mạnh mà thiên nhiên bantặng họ Đó là nguồn đạm nhuyễn thể vô cùng dồi dào, phong phú và thờngxuyên cả dới sông, suối lẫn trên cạn Trong các tích tụ văn hoá Hoà Bình, th-ờng có tới vài ba mét chiều dài vỏ ốc các loại xơng cá Thói quen khai thácnguồn đạm động vật này đợc con ngời Hoà Bình mang ra biển, ở một số ditích ven biển phía nam Cămpuchia nh di tích cồn sò Tuy nhiên, chủ nhân củavăn hoá Hoà Bình không chỉ ăn ốc mà còn có các loại rau xanh Hiện nay, cácnhà khoa học còn đang nghiên cứu và tranh luận xét chủ nhân văn hoá HoàBình ở Cămpuchia đã biết làm nông cha?
Đến thời đại đá mới, con ngời ở đây tràn từ rừng núi xuống chiếm cứ
đồng bằng, một nghề nông nghiệp trồng lúa thực thụ đợc nãy sinh Vào cuốithời đại đá mới cách ngày nay chừng 4 - 5 ngàn năm, hầu khắp các cánh đồng,
đồng bằng trung Cămpuchia đều có ngời tới khai phá Lúc này ngời làm nôngthờng c trú trên các đồi, gò, lợi dụng mùa nớc lên xuống để trồng lúa xungquanh Sau này, khi mật độ dân số tăng lên, nhng điều kiện kỹ thuật cha chophép trị thuỷ có hiệu quả, cha thể c trú ở các đồng bằng thấp thì đã xuất hiệnhình thức canh tác trên nơng, rẫy
Sự xuất hiện nghề trồng lúa nớc, với các quá trình kết hợp ruộng – rẫy,ruộng – nơng, ruộng – vờn, gắn với sự xuất hiện của rất nhiều thành tựu vănhoá khác ở Cămpuchia Vào thời kỳ này, nghệ thuật gốm, nghệ thuật đan lát
và sau nữa là nghệ thuật dệt rất phát triển Trên hết thảy những mảnh gốm đợckhảo cổ phát hiện ở hai địa điểm tiêu biểu là Somrong - Sen nằm ở hữu ngạnsông Stung Chinit và Mlu –Pri ở tỉnh Công pông thom Qua hai di chỉ nàykhai quật đợc rất nhiều hiện vật phong phú về loại hình, hoa văn trang trí
Điều đó thể hiện c dân Khơme cổ thời kỳ này đã có một nền văn hoá phát
Trang 22đồng và sắt nền nông nghiệp càng đợc củng cố Họ đã hình thành đựơc trungtâm văn hoá của mình ở vùng đồng bằng trung Cămpuchia Đây cũng là thời
kỳ mà họ biết dùng cày và sử dụng sức kéo gia súc
Tuy ở đồng bằng, hớng đến một nền nông nghiệp trồng lúa nhng họ vẫnhớng về miền núi, không từ bỏ miền núi, mà đó là một phần trong đời sốngcủa họ, rừng đợc coi là kho “vàng” vô tận của con ngời c trú vùng này
Về đời sống tinh thần của c dân ở đây, do có nền văn hoá nông nghiệplúa nớc – một nền văn minh trồng lúa nên hai biểu tợng văn minh trong tiềmthức của họ lúc bấy giời là mặt trời, với các biến dạng khác nhau của tục thờthần mặt trời và mặt trăng, với các lễ chải trăng, hội nớc, đua thuyền Mặt trờitoả chiểu trên trống đồng, lấp ló trên các hoa văn dệt hay chạm khắc trên nhàsàn mặt trời cũng là điểm tựa của nhiều lẽ hội nông nghiệp, mà hội mùa làtiêu biểu Trong suốt một mùa vụ, từ lúc làm đất tới lúc thu hoạch là mộtchuỗi những lễ hội thu hút từ mỗi gia đình đến mỗi cộng đồng
Một trong những biểu hiện tín ngỡng linh hồn của họ là tục thờ cúng tổtiên Họ quan niệm về cuộc sống sau khi chết rất cụ thể và sinh động Họ tinrằng cuộc sống không chấm dứt sau cái chết, đó là sự chia tay tạm thời củangời chết do vậy con cháu phải thờ cúng tổ tiên để làm cho ngời khỏi giận dữ
về sự thiếu thành kính của mình và mong muốn tổ tiên phù trợ cho NgờiKhơme họ còn thờ vua rắn gắn với tín ngỡng sùng bái núi
Tất cả những hình thức tín ngỡng dân gian đó tồn tại suốt một qúa trìnhlâu dài, đồng thời tác động rất lớn đến những tôn giáo từ bên ngoài tới Mộtnhà nghiên cứu đã nhận xét: “Sau khi Phật giáo và ấn Độ giáo du nhập vào
Đông Nam á, những quan niệm và nghi thức tôn giáo bản địa vẫn đợc duy trì
và có ảnh hởng sâu sắc đến hai tôn giáo kia và, trong quá trình tiếp xúc vớitôn giáo tín ngỡng bản địa chúng đã thay đổi khá nhiều” [7-64]
2.2 ảnh hởng của văn hoá ấ n Độ đối với Cămpuchia trên các
lĩnh vực.
2.2.1 Truyền thuyết lập quốc ở Cămpuchia
Bớc vào những thế kỷ đầu công nguyên, lịch sử thành văn ghi chép về đấtnớc này quá ít ỏi Do vậy, sự hiểu biết về các quốc gia cổ đại còn đầy khiếm
Trang 23khuyết Tuy nhiên, bằng những t liệu hiện có, chúng ta có thể hình dung đợcrằng vào những thế kỷ đầu công nguyên địa bàn Cămpuchia hiện nay đã từngtồn tại một số tiểu quốc mà tiêu biểu là tiểu quốc Phù Nam và Chân Lạp.Vơng quốc Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, cách Nhật Nam 7nghìn lý, cách Lâm ấp 3 nghìn lý, đóng đô cách biển 3 trăm lý.
Theo Khang Thái thì ông vua đầu tiên của Phù Nam là Koundinya(Trung quốc gọi là Hỗn Điền) là một tăng lữ Bàlamôn đến Phù Nam từ ấn Độ.Truyền thuyết kể lại rằng: “Koundinya từ đông ấn vợt biển đến đất Phù Nammang theo một chiếc nỏ thần và một đạo quân gồm một vạn hai nghìn ngời
đánh chiếm xứ Kốcthalốc (Kohthlok) Công chúa của nớc này tên là Sôma(Liễu Diệp) con vua Naga đã chống lại kẻ xâm lợc Nhng bị nỏ thần củaKoundinya bắn thủng chiến thuyền Sôma phải đầu hàng và lấy Koundinyalàm chồng Vì vậy, tăng lữ Bàlamôn Koundinya trở thành vua xứ Kốcthalốc,
đóng đô ở Vyadapura vào giữa thế kỷ đầu công nguyên Truyền thuyết nàygắn với công cuộc “ấn Độ hoá lần thứ nhất”” [14-57]
Đất nớc Phù Nam hng thịnh nhất dới thời trị vì của GiayaVacman I Đếnnăm 514 GiayaVacman I mất, nhiều văn bia ví ông nh “ mặt trời mọc và mặttrăng rằm” [16 – 61] để ca ngợi công lao của ông Vào năm 627 Phù Nam bịChân Lạp thôn tính, chấm dứt sự tồn tại của vơng quốc Phù Nam Nớc ChânLạp khẳng định vị thế của mình
Theo bia Bak – Seichamkrong ghi lại truyền thuyết lập quốc của ChânLạp nh sau: “một nhà tu hành ẩn sỹ tên là Kambu, gốc ngời ấn Độ, do thầnxui khiến, đã đi đến xứ sở này ông đợc thần Siva giúp làm mối xe duyên vớinàng tiên Mêra và lên làm vua Họ sinh con đẻ cái và lập nên một tộc mới.Con cháu của đôi Kambu – Mêra đợc gọi là Kambuja, mà ngời con và cháu
đầu đã lên kế ngôi vua, tên là Sơrutavacman và Sơrétthavacman” [14 – 63 &64]
Câu chuyện này cũng giống một huyền thoại của ngời Palava thuộc xứKanchi (ấn Độ) Bia lại thuộc về thế kỷ X và nói về một truyền thuyết Nhng
điều quan trọng là những con cháu của Kambu làm vua, nói ở trong văn bia, lànhững nhân vật lịch sử thuộc thế kỷ VI Thời gian hình thành tiểu quốcSơréttha Pura (Chân Lạp ) Sự tích này gắn với một hệ tộc có thật mà sau này
Trang 24tổ tiên của họ C dân ở đây tự gọi mình là Kambuja (Con cháu Kambu) và tựxng là Kambujaraja ( vua của ngời Kambuja) Do đó ngày nay có ngời chorằng tên gọi Campuchia là lấy từ tên nhân vật truyền thuyết “Kambu” mà đặtra.
Nh vậy, ngay từ thời lập quuốc của Campuchia văn hoá ấn Độ đã đợcxâm nhập, truyền bá vào đất nớc này Những ngời thành lập ra nớc Campuchia
đều có nguồn gốc từ ấn Độ
2.2.2 ảnh hởng của tôn giáo.
Tôn giáo vốn là một trong những nhu cầu của con ngời, trong cuộc sốngngoài nhu cầu vật chất, con ngời còn có nhu cầu tinh thần Các nhu cầu xoắnxít nhau không cái nào loại cái nào Trong nhu cầu tinh thần, tôn giáo đóngmột vai trò quan trọng vì tôn giáo hớng đến giải thoát con ngời Để giải thoátcon ngời khỏi cuộc sống khổ đau họ tìm đến với tôn giáo Chính tôn giáo xoadịu những nỗi đau khổ cho con ngời, đem đến cho họ cuộc sống tâm linh, h-ớng về tôn giáo
Đối với Cămpuchia, tôn giáo của ấn Độ ảnh hởng rất sớm, ngay từ thờilập quốc của mình Theo tài liệu văn bia, thời kì này đạo Bàlamôn thuộc giáophái Xiva thịnh hành ở Phù Nam vào hồi cuối thế kỉ V Sử Nam Tề ghi : “d ới
đời vua Kaudinga-Jayavacman phong tục đất nớc là tôn thờ thần Mahaxvasa.Thần luôn luôn ngự trị trên đỉnh núi Matan” Thần Mahaxvasa là một trongnhững tên gọi của thần Xiva, một vị thần của đạo Bàlamôn đợc truyền từ ấn
Độ sang và c dân Phù Nam đã tiếp thu ảnh hởng của tôn giáo này, tôn thờ thầnXiva, coi Xiva là thần bảo vệ che chở cho mình Ngọn núi Manta là ngọn núi
ở gần kinh đô thuộc vùng trung tâm của vơng quốc, nơi thực hiện sự giao cảmcủa trời đất
Thời kì này, cùng với Bàlamôn giáo đợc truyền từ ấn Độ sang thì Phậtgiáo cũng đợc truyền bá vào Phật giáo mang tính nhân bản cao cả Phật giáochủ trơng mọi quá trình tự giác ngộ hay sự khởi động tự nhận thức của chúngsinh, sự mở rộng của Phật giáo không kèm theo bất kì một điều kiện về kinh
tế, chính trị nào, không dùng vũ lực để truyền đạo Cho nên khi truyền đến, ờng không để lại nỗi lo sợ cho chúng sinh Do đó các nhà truyền bá Phật giáo
th-từ ấn Độ sang đợc c dân các nớc xung quanh tiếp thu một cách tự nguyện
Đặc biệt là đất nớc Phù Nam, thời kì này họ đã tiếp thu trọn vẹn ảnh hởng của
Trang 25Phật giáo Phật giáo rất thịnh hành ở đất nớc này, nhất là đời vua cuối cùngcủa Phù Nam Điều đó đợc thể hiện ở một số văn bia tán dơng đức từ bi củacác vị bồ tát
ở nớc Chân Lạp, cũng nh c dân Phù Nam, bên cạnh sùng bái những tínngỡng bản địa, c dân ChânLạp còn đi theo những tôn giáo lớn đợc truyền từ
ấn Độ sang nh Hinđu giáo và Phật giáo
Hinđu giáo đợc truyền bá sang đất Cămpuchia với các giáo lí đợc trìnhbày trong bộ kinh Brahamanas, họ coi ba vị thần Brama, Visnu và Xiva là mộtthể thống nhất, gọi là Trimurti, tức là “nhất vị tam thể” {16—77 &78}
ở Cămpuchia thần Brama chỉ tợng trng cho “t tởng tuyệt đối” có nghĩa là
về mặt triết lí hơn là về mặt tôn giáo, ít thấy các tợng thần Brama trong các
đền chùa Khơme Thần Visnu là đấng sáng tạo ra vũ trụ thờng đợc thể hiện ở
t thế đang nằm ngủ trên mỗi bức chạm nổi ở đền Ăngco Họ quan niệm rằng,khi thần thức dậy là kỉ nguyên vũ trụ mới bắt đầu Thế giới ra khỏi trạng tháihỗn Độn, để rồi trở lại trạng thái đó khi thần ngủ lại
Thần Xiva đứng ngôi thứ ba trong “nhất vị tam thể”, cũng nh thần Visnu
đợc ngời Khơme tôn thờ nhất mực Cũng nh ở ấn Độ, ở Cămpuchia thần Xiva
đợc thể hiện dới dạng thần tợng Linga tợng trng cho sự sinh sôi nảy nở củavạn vật, cỏ cây hoa lá và con ngời
C dân phù Nam sùng bái hai vị thần Visnu và Siva, đợc thể hiện dới dạngthần Harihara Đó là một pho tợng hai mặt 4 tay: hai tay bên phải của Xiva,một tay cầm tràng hạt Hai tay bên trái là của Visnu, một tay cầm tù và mộttay cầm chuỳ
Nh vậy, đạo Bàlamôn đợc truyền từ ấn Độ vào đất nớc của Cămpuchia,
đợc con ngời ở đây chấp nhận và tôn thờ Họ sùng bái các vị thần Xiva, Visnu,Brama của đạo Bàlamôn nh những ngời tối cao che chở cho cuộc sống của họ.Cùng với sự ảnh hởng của đạo Bàlamôn, ngời dân Cămpuchia còn chịu
ảnh hởng của đạo Phật, cũng đợc truyền từ ấn Độ sang Trong thời kỳ ChânLạp bên cạnh Phật giáo tiểu thừa, Phật giáo đại thừa chiếm vị trí hết sức quantrọng trong đời sống t tởng của c dân Chân Lạp Nguyên nhân chủ yếu là giáo
lý của Phật giáo đại thừa thoả mãn đợc nguyện ớc của chúng sinh hơn Ngời tuhành không phải chỉ để thành Phật và sống ở cõi niết bàn mà chủ yếu trở
Trang 26giáo lý giải thoát con ngời khỏi khổ đau nh vậy, nên Phật giáo ấn Độ đãnhanh chóng tìm đợc chỗ đứng trong lòng dân chúng Cămpuchia PhậtAvalokitexvara thờng gọi là Phật Lokexvara du nhập vào Cămpuchia hồi thế
kỷ VIII, tợng Lokexvara thờng ở t thế đứng hay ngồi xếp bằng trên đài sen.Sau này các nghệ nhân thời Ăngco thể hiện bộ mặt khổng lồ Lokexvara trênngọn tháp Bayon, ở Ăngco thom
Một điều cần nhấn mạnh trong đời sống tôn giáo của ngời Khơme là tấtcả những tín ngỡng tôn giáo nói trên, từ sự sùng bái Tôten cho đến Hinđu giáo
và Phật giáo du nhập từ ấn Độ sang đều hoà hợp nhau, không hề bài xích nhautrong nhận thức cũng nh trong cuộc sống của ngời Khơme thời kỳ cổ đại
Nh nhiều dân tộc khác ở Đông Dơng, ban đầu ngời Khơme tiếp nhận củacả hai tôn giáo là ấn Độ giáo và Phật giáo Nhng rồi họ đã kết hợp nhiều yếu
tố khác nhau lại thành hình tợng tôn giáo tốt đẹp ở ngay những thế kỷ đầu tiêncủa vơng quốc Harihara – một hình tợng kết hợp cả Xiva và Visnu (vị thầncủa phá hoại – huỷ diệt và vị thần của bảo vệ – xây dựng)
Việc vua Khơme là GiayvacmanII từ Gia va trở về, không chỉ đánh dấugiai đoạn kỳ diệu nhất trong lịch sử văn hoá của Cămpuchia thời kỳ Ăngco màcòn mở đầu cho sự ra đời một tôn giáo mới: thờ thần vua có nghĩa là lúc này
ảnh hởng của tôn giáo ấn Độ sang đất Cămpuchia không còn ở trạng tháinguyên vẹn, mà đã đợc ngời Khơme thời kỳ Ăngco sáng tạo thêm cho phù hợpvới tâm linh và tín ngỡng của họ Thờ thần vua, về mặt hình thức đây chỉ làmột khía cạnh trong siva giáo: thờ Linga Nhng ở đây Linga lại là cái bản ngãlinh thiêng của nhà vua trong việc thần Siva bảo trợ Theo họ tất cả mọi sự hngthịnh hay bại vong của vơng quốc đều phụ thuộc vào chiếc Linga đó của vơngtriều Đền thờ nơi đặt Linga phải đặt trên đỉnh một quả núi (có thể là núi nhântạo) hình ảnh của vũ trụ ở ngay giữa thủ đô Bia ký Xđốccácthom cho chúng
ta biết đợc rằng: “khi xây dựng thành phố Yasôtharapura, nhà vua đen thầnvua từ Hariharalai tới để đặt ở thủ đô mới Ông đã cho làm một quả núi chính
Vị t tế sivasrama đặt chiếc Linga linh thiêng lên giữa đỉnh núi đó” [7 – 70]
Nh vậy, cũng giống nh ở ấn Độ ở Ăngco các vị vua cũng tìm đến tín ỡng vua – thần Đây là một tín ngỡng bắt đầu từ sự sùng bái thần siva Nhng
ng-đồng thời đây cũng đợc xem là một sáng tạo của ngời Khơme trên cơ sở tiếpthu văn hoá ấn Độ Nghĩa là trong dân gian hình thành nên quan niệm thần
Trang 27Siva đợc hiện hình một cách cụ thể đó là ông vua, còn ông vua là một con
ng-ời cụ thể nhng lại có quyền lực và sức mạnh vô biên thần Siva
Tục lệ đặt tên thuỵ cho các vua Khơme quá cố là biểu hiện cụ thể củaviệc đồng nhất vua – thần Tên thuỵ đợc cấu thành bởi một cách nói tên vuavới chữ “Siva” hoặc “Nirva” Chẳng hạn nh tên thuỵ của vua Yasovacman I(889-900) là Paramasivaloka, tên thuỵ của Rajendravacman II (944-968) làSivakoka, tên thuỵ của SuryaVacmanIII (1002 – 1050) là Nirvanupuda, tênthuỵ của GiayaVacmanVII là Mahaparamasugata
Trong quản lý nhà nớc, hệ thống bộ máy nhà nớc cũng nh tên gọi của các
vị vua, các vơng triều đều rập khuôn theo một kiểu của ấn Độ Trong bộ máyquảnlý nhà nớc ấy, tẩng lớp tăng lữ Bàlamôn đóng vai trò, vị trí hết sức quantrọng Họ vừa là những giáo chủ chi phối hoạt động tôn giáo trong cả nớc, nh-
ng vừa là các đại thần nắm giữ các chức vụ quan trọng nhất của triều đình.Chính vì vậy, thông qua tầng lớp này, văn hoá ấn Độ tiếp tục đợc truyền básâu rộng trên đất nớc Cămpuchia
Bắt đầu từ GiayaVacmanII, mỗi vị vua Khơme thời Ăngco đều phải cótrách nhiệm xây dựng cho mình một đền núi để đặt Linga của vơng triều BởiLinga là hiện thân linh thiêng của chính vị vua đó Vì vậy, trên đất Cămpuchia
đã mọc lên những ngọn núi kỳ vĩ, những vinh quang chói ngời của đế chế
Ăngco trong đó các nhà vua đợc nghi lễ tôn thợng lên lông lẫy, uy nghi nhthần linh
Xét về thực chất, nh nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét, c dân Cămpuchiathời kỳ Ăngco thờ thần – vua, hay vua núi chính là biểu hiện của sự muốnthống nhất quốc gia của vua chúa Khơme Tất cả thần dân trong nớc đều tinrằng, mọi sự phồn vinh của đất nớc mà trớc hết là sự trù phú của mùa màng,gia súc đều phụ thuộc vào chức năng giao tiếp với thần linh của vị thần –vua ở đây có nhiều cái chung gần với hình thức ma thuật của Mật giáo Điều
đó khiến không ít nhà nghiên cứu nhận ra trong tục thờ thần – vua này củangời Khơme là do cả một cơ tầng tôn giáo ma thuật bản địa tạo nền móng chomột hình thức tôn giáo từ ấn Độ vào Tôn giáo của ấn Độ khi vào đây đã kếtnối, hoà quyện với tôn giáo bản địa tạo nên một tín ngỡng thần –vua cho ng-
ời Khơme thời Ăngco
Trang 28Trớc đây, ấn Độ giáo và Phật giáo đợc truyền bá, ảnh hởng đếnCămpuchia, hai tôn giáo này đều đợc ngời Khơme đón nhận, tiếp thu và nósong hành tồn tại Nhng thời kỳ đầu ấn Độ giáo xác lập đợc vai trò và vị tríquan trọng của mình, đợc các vị vua chúa tôn thờ và lấy làm quốc giáo Đếndới thời trị vì của GiayaVacman VII, vị vua lừng lẫy cuối cùng của vơng triều
Ăngco (1181-1219) đã cải giáo sang đạo Phật Tôn đạo Phật lên trên đạoBàlamôn Ông cũng xây dựng đền núi nh các vị vua trớc đền Bayon Nhng lạthay, các đền đài, miếu mạo do vị hoàng đế này dựng lên mang những ý nghĩabiểu tợng tốt đẹp Cả thủ đô ĂngcoThom với đền Bayon ở trung tâm là hình
ảnh khuấy biển sữa để lấy thuốc trờng sinh Đền Bayon với những nụ cời thần
bí là hình ảnh thiên thủ – thiên nhỡn của vị bồ tát cứu khổ cứu nạnAvalokitesvara Đến NiếcPan thể hiện bằng kiến trúc và điêu khắc cảnh vị bồtát đó biến thành ngựa trắng để cứu vớt những thơng nhân bị đắm thuyền.Hình tợng những vị bồ tát từ bi bác ái đó đợc lấy từ khuôn mẫu của ngời ấn
Độ truyền vào
Phật giáo ấn Độ vào Cămpuchia ngay từ buổi đầu cùng với ấn Độ giáo.Trong suốt 6 thế kỷ của vơng triều Ăngco, nó tồn tại song song cùng với tôngiáo thờ thần vua Nhng chỉ sau khi vơng triều Ăngco sụp đổ, sau khi cảHoàng gia xuống vùng đồng bằng phì nhiêu, đạo Phật mới hoàn toàn thay thế
ấn Độ giáo và trở thành quốc giáo của ngời Khơme Đến giai đoạn này vănhoá Khơme (trong đó có tôn giáo) khác thời Ăngco rất nhiều Nhng từ khiPhật giáo trở thành quốc giáo của ngời Khơme thì Phật giáo tiểu thừa trởthành tôn giáo của tầng lớp Hoàng gia lẫn dân chúng Phật giáo ấn Độ cùngvới giáo lý từ bi bác ái của nhà Phật, luồng không khí “dân chủ” đã xâm nhậpvào đời sống tinh thần của ngời dân ở đây Vị thần tối cao của mọi ngời giờ
đây là đức Phật chứ không phải thần vua nh xa nữa Ngôi chùa Phật bằng gỗtrở nên ấm cúng, gần gũi với ngời dân Khơme hơn là những đền núi bằng đá
uy nghi, lạnh lùng thời Ăngco
Nh vậy, cùng với tín ngỡng bản địa của mình ngay từ thời lập quốc ngờiKhơme đã đón nhận hai tôn giáo lớn từ ấn Độ truyền sang đó là ấn Độ giáo
và Phật giáo Hai tôn giáo này đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinhthần, tín ngỡng, tình cảm cũng nh thiết lập mối quan hệ trong xã hộiCămpuchia Điều đó góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng đất nớc – conngời Cămpuchia
Trang 292.2.3 ảnh hởng của chữ viết – văn học.
Về chữ viết.
Trớc thế kỷ VII chữ Phạn là văn tự thông dụng và chính thức trong triều
đình Chữ Phạn hay chữ Sankrit đợc sử dụng trong sáng tác văn chơng Dầndần với sự sáng tạo của ngời Khơme, từ thế kỷ VII trở đi trên cơ sở chữ Phạn
hệ thống chữ viết kiểu Khơme ra đời Chữ Khơme bắt nguồn từ chữ ở miềnNam ấn Độ Theo truyền thuyết khoảng vào thế kỷ II - nhng những văn bia
đầu tiên viết bằng chữ Khơme cổ là vào thế kỷ VI Nó có hai dạng, là dạngnghiêng để viết tài liệu và dạng tròn để viết các đề mục, các tài liệu quantrọng Chữ Khơme từ đó dần dần thay thế chữ Phạn
Trong các chữ viết gốc ấn Độ thì phụ âm đợc xem là chính và viết theothứ tự phát âm Trái lại, nguyên âm đợc xem là phụ và và bố trí khá tuỳ tiệnkhi đứng trớc, sau, trên, dới, khi thì đứng cả trớc lẫn sau bọc lấy phụ âm Cảvăn tự Hylạp lẫn văn tự ấn Độ đều xuất phát từ một gốc chung là văn tự Aicập cổ đại Nhng ngời Hylạp có một cái tài là kéo nguyên âm lên cùng mộtdòng với phụ âm và nguyên âm đặt trớc hoặc sau phụ âm theo thứ tự phát âm.Rồi sau đó các văn tự khác của Châu Âu đều bắt chớc, trong đó có chữ Latinh.Còn mọi văn tự Phơng Đông, trong đó có văn tự Khơme thì đều ở trong tìnhtrạng nguyên âm đợc bố trí bao lấy phụ âm
Văn tự ấn Độ là văn tự của ngôn ngữ không có thanh điệu lại rất ítnguyên âm Nhng khi ngời Khơme tiếp thu nó sáng tạo ra chữ Khơme thì văn
tự của họ có rất nhiều nguyên âm (37 nguyên âm), mặc dù không có thanh
điệu
Qua đây ta thấy đợc rằng, trong thời kỳ đầu ngời Khơme sử dụng chữviết của ấn Độ Nhng dần dần họ đã bản địa hoá nó bằng việc dựa trên chữPhạn để sáng tạo ra chữ Khơme mang những dấu ấn của ngời Khơme