Tuy nhiên, đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là những quan điểm mang tính chủ quan, biệtlập với các trờng phái khác hay từ trên trời rơi xuống mà đạo đức củaNgời đợc hình thành dựa trên cơ s
Trang 1A Phần Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một trong những phẩm chất quan trọng trong đờisống tinh thần , là yếu tố để đánh giá nhân cách con ngời, là nhân tốbiểu hiện tính ngời cụ thể nhất, sâu sắc nhất Chính vì lẽ đó nên đạo
đức là yếu tố cốt lõi đợc Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và đặt lênhàng đầu trong việc rèn luyện nhân cách con ngời nói chung cũng nhrền luyện đạo đức cách mạng nói riêng Hồ Chí Minh là ngời đặt nềnmóng, xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức mới Tuy nhiên, đạo đức
Hồ Chí Minh không chỉ là những quan điểm mang tính chủ quan, biệtlập với các trờng phái khác hay từ trên trời rơi xuống mà đạo đức củaNgời đợc hình thành dựa trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống.Một trong những giá trị quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến sự hìnhthành t tởng Hồ Chí Minh là triết học Phơng Đông mà đặc biệt là t t-ởng Nho giáo, Phật giáo
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội có nội dung phong phú vàtính hệ thống rõ rệt đã tồn tại ở nớc ta hàng ngàn năm Các triều đạiphong kiến Việt Nam xem Nho giáo nh là một học thuyết trị nớc, là cơ
sở để xây dựng đạo lý làm ngời
Phật giáo là một tôn giáo thế giới Mặc dầu còn nhiều t tởng duytâm chủ quan, yếm thế nhng nếu gạn đục khơi trong ta sẽ tìm thấynhững hạt ngọc quý báu về đạo đức mà ở đó chứa đựng những t tởngnhân văn sâu sắc- Những t tởng mà bụi thời gian chẳng những khônglàm lu mờ những giá trị mà còn làm cho nó tỏa sáng trong thế giới hiện
đại
Trong quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc Nho giáo, Phật giáo
đã ảnh hởng sâu sắc đến thế giới quan, nhân sinh quan, nếp sống,phong tục tập quán của ngời dân Việt Nam Vì vậy ở một góc độ nhất
định nó không chỉ là một phần cốt lõi của truyền thống hơn thế nhữnggiá trị đó đã ảnh hởng lớn đến tình cảm, đạo đức của Hồ Chí Minh.Chính vì những lý do đó chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài: "ảnhhởng của triết học Phơng Đông đối với quá trình hình thành đạo đứccủa Hồ Chí Minh" nhằm đi sâu và làm rõ hơn những nhân tố kháchquan ảnh hởng đến quá trình hình thành đạo đức của Ngời Do nhiều
Trang 2nguyên nhân nên ở phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đề cập tới hai t ởng cơ bản là Phật giáo và Nho giáo.
t-2 Tình hình nghiên cứu đề tài
T tởng về đạo đức của Hồ Chí Minh đợc xem là một trong nhữngnội dung quan trọng, là chuẩn mực đạo đức chung nhất, có giá trị rấtlớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên hiện nay
T tởng Hồ Chí Minh nói chung, t tởng đạo đức của Ngời nóiriêng đã đợc các nhà khoa học có tên tuổi nghiên cứu;nhiều công trình
có giá trị khoa học cao đã đợc công bố và vận dụng vào thực tiễn giáodục thế hệ trẻ Song các công trình nghiên cứu về nguồn gốc hình thành
t tởng đạo đức Hồ Chí Minh cha nhiều - Nhất là những ảnh hởng củatriết học Phơng Đông đối với quá trình hình thành t tởng đaọ đức củaNgời
Vì vậy khi thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơnnhững nhân tố truyền thống đã góp phần không nhỏ trong việc hìnhthành đạo đức Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích :
Nghiên cứu lịch sử hình thành, đặc điểm của triết học Phơng
Đông để từ đó chỉ ra những ảnh hởng của nó đối với sự hình thành t ởng đạo đức của Hồ Chí Minh- Nhất là Nho giáo, Phật giáo
t-3.2 Nhiệm vụ :
Thứ nhất : Nêu đợc những ảnh hởng của triết học Phơng Đông,
đặc biệt là Nho giáo, Phật giáo đối với quá trình hình thành t tởng đạo
đức của Hồ Chí Minh
Thứ hai : Cố gắng tìm ra những giá trị của triết học Phơng Đông
mà Hồ Chí Minh đã tiếp nhận và những mặt Hồ Chí Minh phản bác
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu những nét cơ bản nhất của triết họcPhơng Đông Đặc biệt là những ảnh hởng của nó đối với quá trình hìnhthành t tởng đạo đức Hồ Chí Minh Các vấn đề khác đợc đề cập trongkhóa luận đều nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề trên
5 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 3Khóa luận chủ yếu sử dụng phơng pháp luận của triết học Mác
-Lê Nin, trong đó chú ý kết hợp phân tích với tổng hợp, lôgíc và lịch sử,quy nạp và diễn dịch, phơng pháp hệ thống hoá
6 ý nghĩa của khóa luận
Thứ nhất : Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những aiquan tâm đến mảng đề tài này
Thứ hai : Góp phần chỉ ra những cơ sở hình thành t tởng đạo đức
Hồ Chí Minh và khẳng định vai trò của hệ t tởng đó đối với việc xâydựng con ngời mới- Nhất là thế hệ trẻ trong giai đoạn cách mạng hiệnnay
7 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm phần mở đầu, kết luận và hai chơng
1 Lịch sử ra đời, phát triển của triết học Phơng Đông
Triết học phơng Đông đợc hình thành và phát triển rất sớm Trong quátrình hình thành và phát triển nền triết học này rất ít bàn đến vấn đề bản thểluận mà chủ yếu bàn đến vấn đề chính trị - xã hội Nếu có bàn đến vấn đềbản thể luận thì tiêu chí cuối cùng cũng để làm sáng tỏ những nội dung củaxã hội Trong đó vấn đề con ngời, số phận con ngời đợc đề cập nhiều.Trong đó có những t tởng của một số trờng phái thấm đẫm tính nhân văn sâusắc Nhất là Nho giáo của Trung Quốc và Phật giáo ấn độ
1.1 Lịch sử ra đời, phát triển và những t tởng cơ bản của Nho giáo
1.1.1 Lịch sử ra đời, phát triển
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội ra đời thời nhà Chu ở TrungHoa cổ đại Ngời sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử, về sau đợc Mạnh Tử,Tuân Tử và các bậc đại Nho khác nh Đổng Trọng Th (đời Hán), Chu Đôn
Hi, Trình Y Xuyên (đời Tống) hoàn thiện và phát triển theo những xu ớng khác nhau
Trang 4h-Khổng Tử (551 - 479 TCN) thuộc dòng dõi nhà Chu, ngời nớc Lỗ.Khổng Tử rất mến phục tài đức của Chu Công- Một trong những ngời sánglập ra nhà Chu, đã đem lại cho nớc Lỗ một nền văn hoá tốt đẹp, thừa kế tinhhoa của các đời Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn.
Tự hào là ngời nớc Lỗ, nơi coi trọng lễ giáo, tôn sùng tín nghĩa, giữ đợcphong tục của các tiên vơng, Khổng Tử cảm thấy đau lòng trớc sự suy thoáicủa xã hội đơng thời; là ngời u thời mẫn thế Ông nguyện suốt đời phấn đấu
để ngăn chặn những cảnh xấu xa tàn bạo đang diễn ra trớc mắt và mong làmthế nào để xã hội trở lại thái bình thịnh trị nh thời Văn vơng, Chu công
Sự suy tàn của nhà Chu đã bắt đầu từ hai thế kỷ trớc khi Khổng Tử ra
đời Uy thế của Thiên Tử nhà Chu ngày một sa sút Các vua ch hầu tranhchấp đất đai và quyền lực Nhà Chu chuyển kinh đô từ miền Tây (Tây Chu)sang miền Đông (Đông Chu) Từ đó xã hội càng hỗn loạn hơn, luật pháp vàtôn giáo bị coi thờng, trong nội bộ các nớc ch hầu diễn ra sự chém giết lẫnnhau đạo đức lễ, nhạc bị băng hoại
Trớc tình hình đó, Khổng Tử muốn nêu lên những tấm gơng của thời xa
để răn dạy ngời đời Ông ca ngợi vua Nghiêu: “Vĩ đại thay sự nghiệp vuaNghiêu, cao vòi vọi thì chỉ có trời, mà bắt chớc đợc trời thì chỉ có vuaNghiêu” (Tử Lộ - 19) Ông nói về vua Thuấn, vua Vũ: “Vòi vọi thay vuaThuấn, vua Vũ, làm vua cả thiên hạ mà không lấy làm yêu thích (Tử Lộ -18) Vua Vũ ta không chê trách vào đâu đợc, ăn uống thì đạm bạc, quần áothì thơng xâu, nhà cửa thì nhỏ hẹp” (Tử Lộ - 21)
Khổng Tử muốn lấy chuyện đời xa để giáo dục đời nay, ông muốn “ôncái cũ mà biết cái mới”, ông tuyên bố: “Ta chỉ thuật lại chứ không sáng tác,
ta chỉ tin và ham thích cái cũ mà thôi” (Thuật nhi - 1)
Vì không đủ bằng chứng để minh chứng cho lời nói của mình, Khổng Tử
đã dành nhiều công phu thu thập tài liệu lịch sử và di sản t tởng của ngày xa
để soạn lại kinh Thi, kinh Th, kinh Lễ và kinh Xuân thu T tởng của ông chủyếu tập trung trong tác phẩm “Luận ngữ”mà nội dung cơ bản là làm thế nào,làm cách gì để chấm dứt đợc tình trạng hỗn loạn của xã hội, sự suy thoái về
Trang 5Khổng Tử muốn đem chế độ chính trị và lễ giáo của nhà Chu áp đặt trởlại thời Xuân thu Nhng hoàn cảnh kinh tế - xã hội đã đổi khác, nhữngnguyên nhân kinh tế xuất phát từ lợi ích vật chất đang xâu xé xã hội và xâu
xé con ngời, những chuẩn mực đạo đức của chế độ nhà Chu không còn phùhợp T tởng "Ngô tòng Chu" chỉ còn là hoài niệm, mơ ớc Đến đầu nhà Hánhọc thuyết của Khổng Tử đợc khôi phục, đợc nâng lên thành quốc giáo vàtrở thành hệ t tởng chính thống của tất cả các triều đại phong kiến- khôngchỉ ở Trung Quốc mà còn lan tỏa ra các nớc đông á, đông, bắc á
1.1.2 Những t tởng cơ bản của Nho giáo
1.1.2.1 Đạo làm ngời.
Đạo làm ngời của Khổng Tử và Nho giáo là đạo làm ngời trong xã hộiphong kiến Đó là tam cơng, ngũ thờng, ngũ luân Trong đó vua ở vị trí caonhất: Thiên tử, bề tôi phải trung thành với vua Đó là ba sợi dây ràng buộccon ngời vào trách nhiệm lớn nhất của họ Vua là dây cơng của bề tôi, cha làdây cơng của con, chồng là dây cơng của vợ Khổng Tử nói: “Quân thần dã,phụ tử giã, phu phụ giã, huynh đệ giã, bằng hữu chi giao dã” (Trung dung).Trong tam cơng thì nghĩa quân thần là quan trọng hơn cả (vua tôi), thờvua là điểm cao nhất của đạo làm ngời, là yêu cầu đạo đức đầu tiên củanhững đại trợng phu, của bậc đại dũng, đại trí
Trong mối quan hệ vua tôi thì bề tôi đối với vua là phải hết lòng trungthành, vua bảo sống thì đợc sống, bắt chết thì phải chết, không đợc làm trái
ý vua Thánh chỉ của nhà vua không đợc ai làm trái lệnh - dẫu sai dẫu đúngcũng là lời vàng ý ngọc
Về mặt lý thuyết, Nho giáo có đề ra: “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha,con ra con”, ngụ ý rằng: vua có nên vua thì mới có thể đòi hỏi tôi phải ra tôi,cha có ra cha thì mới đòi hỏi con phải ra con Nhng trên thực tế thì đạo luậtnày chỉ để thi hành nghiêm minh đối với dân đen (bề tôi) chứ vua có làm saithì cũng chẳng phải chịu tội
Đạo làm con trong mối quan hệ gia đình: “cha ra cha, con ra con, anh raanh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là gia đạo chính” (Phụ phụ, tử
tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nho gia đạo chính) (Kinh dịch).Trong ba mối quan hệ (cha con, chồng vợ, anh em) làm nên cái gọi là “gia
đạo chính” ấy, thì quan hệ cha con, anh em tiêu biểu bằng chữ Hiếu và chữ
Đễ, đã đợc Nho giáo tôn lên rất cao, đặt vào một vị trí đặc biệt quan trọngtrở thành cốt lõi của các quan hệ trong toàn xã hội gồm 5 (ngũ) luân là: vua
Trang 6tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn và cả các mối quan hệ khác nữa nhthầy trò, lớn bé
Hiếu là: “nết đầu trong trăm nết” (Hiếu từ giã, bách bạch chi tiên) “hành
vi của ngời ta không gì lớn bằng chữ hiếu” (nhân chi hành mạc đại hiếu)[2.140]
Ngời con có ý thức đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với cha
mẹ, đó là sự biết ơn, cù lao chín chữ, “cha sinh ta, mẹ nuôi ta, thơng thaycha mẹ” (ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao) Đó là ý nguyện thờng xuyên làmsao để cha mẹ đợc luôn vui sớng, dù mình có phải ăn gạo xấu, uống nớc lãcũng thoả lòng (xuyết thúc, âm thuỷ, tận kỳ hoan, t chủ vị hiếu) [2.141] Đó
là sự giữ mình không làm điều gì gây phiền luỵ cho cha mẹ, “không ham mêsắc đẹp để làm cho cha mẹ phải tủi hổ, không làm những việc bạo tợn khiếncho cha mẹ phải nguy khốn”, “khi cha mẹ còn sống thì phận làm con chớ có
đi chơi xa để cha mẹ phải lo lắng ” đó là lòng ngời con “suốt đời yếu mếncha mẹ, noi gơng vua Thuấn, đến năm mơi tuổi mà vẫn luyến mộ cha mẹ nhlúc còn nhỏ” [2.141]
Theo Nho giáo: “làm cho cha mẹ đợc tôn trọng là bậc đại hiếu cao nhất,không làm nhục đến cha mẹ là bậc đại hiếu thứ hai, có thể nuôi cha mẹ làbậc đại hiếu cuối cùng” [2.141] Nuôi đợc cha mẹ, việc ấy cũng là tốt rồi,nhng phải bằng tấm lòng kính yêu chân thành chứ đừng nh “đời nay, hễ thấy
ai nuôi đợc cha mẹ thì đã khen là có hiếu Nhng chó ngựa thì ngời ta cũngnuôi, cho nên nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì khác gì nuôi thú vật”[2.142]
Tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa anh em vớinhau là những tình cảm tự nhiên, vốn có, thuộc về bản tính của con ngời Từ
đó suy ra, trong nhà có cha đứng đầu, trong nớc có vua Vì thế đạo làm ngờiphải tận hiếu với bố mẹ, tận trung với vua chúa “Trung với vua, hiếu với bố
mẹ là cùng một gốc vậy” (Lễ ký)
1.1.2.2 Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Để thực hiện tốt những mối quan hệ cơ bản của con ngời trong tam cơng
và ngũ luân Nho giáo yêu cầu mọi ngời phải đạt đợc ba đức tính toàn vẹn làTrí, Nhân, Dũng Theo Khổng Tử, biết đợc ba điều ấy thì biết cách sửamình, sửa ngời và sửa thiên hạ
Ba đức tính Trí, Nhân, Dũng mà Khổng Tử nêu lên về sau đợc Mạnh Tửthay đổi và Đổng Trọng Th nhà Hán bổ sung Mạnh Tử đã biến tam đức của
Trang 7Khổng Tử thành tứ đoan: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí Đến đời Hán, Đổng Trọng
Th lại bổ sung thêm một phạm trù mới là chữ Tín Từ đó ngời ta nói đến ngũthờng gồm có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Khổng Tử và học trò của ông xem chữ nhân nh một tiêu chuẩn cao nhấtcủa đạo lý làm ngời Khổng Tử giảng chữ “Nhân” cho học trò không lúc nàogiống lúc nào, nhng chung quy nội hàm cơ bản của chữ “Nhân” là lòng th-
ơng ngời, Khổng Tử nói: “Đối với ngời nh đối với mình, không thi hành vớinhững điều bản thân mình không muốn ai thi hành với mình cả Hơn nữa,cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho ngời, cái mình muốn đạt tới thìcũng phải làm cho ngời khác đạt tới, phải giúp cho ngời trở thành tốt hơn,
mà không làm cho ngời xấu đi” (Luận ngữ) Có thể nói chữ Nhân trong tinhthần nhân bản học là đặc tính quan trọng nhất của con ngời thể hiện mốiquan hệ nhiều vẻ mà nổi bật là những quan hệ trong tam cơng và ngũ luân.Theo Nho giáo đó là điều hợp với đạo trời và lòng ngời, thể hiện tình cảmsâu sắc của con ngời đối với vua, với cha, với chồng qua những đức tínhtrung, hiếu, tiết, nghĩa
“Nghĩa” là lẽ phải, đờng hay, việc đúng Mạnh Tử nói “Nhân là cái nhàcủa ngời, nghĩa là đờng đi của ngời” “ở với đạo nhân noi theo đờng nghĩa,tất cả mọi việc của bậc đại nhân là thế đó”
Nh vậy, nghĩa có quan hệ mật thiết với nhân Nếu nhân thể hiện tình cảmsâu sắc nhất của con ngời thì nghĩa là trách nhiệm để thực hiện tình cảm đócho nên tình vua tôi, cha con, vợ chồng cha đủ mà còn phải có nghĩa vụ nữa:Nghĩa vua tôi, nghĩa cha con, nghĩa chồng vợ Chính vì thế mà Nho giáonhấn mạnh vai trò nghĩa “Thấy nghĩa mà không làm, không phải là dũngcảm” (Kiến nghĩa bất vi, vô dụng dã - Luận ngữ)
Sau khái niệm Nhân, Nghĩa, ngũ thờng nêu lên ba đức tính: Lễ, Trí, Tín.Chữ Lễ đóng vai trò quan trọng trong việc đa nhân nghĩa trở thànhnhững quy tắc đi sâu vào tâm lý của mọi ngời và đợc áp dụng trong toàn xãhội Trong mối quan hệ giữa Lễ với Nhân thì Lễ là ngọn, Nhân là gốc Nóicách khác, Lễ là hình thức của Nhân, Lễ chủ yếu là để phục vụ cho Nhân
Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử lớn nhỏ mà đạo đức Nho giáo đòihỏi mọi ngời phải nhất thiết tuân theo Với chữ Lễ, Khổng Tử đã đề ranhững biện pháp giáo dục có hiệu quả nhất, tạo ra những sợi dây vô hìnhbuộc chặt nhân dân vào chế độ phong kiến Phơng Đông kéo dài chế độ ấy
đời này qua đời khác
Trang 8Khổng Tử yêu cầu phải rèn luyện con ngời những quy tắc đó ngay từthủa còn thơ ấu: Con ngời sinh ra vốn hiền hành và trong trắng, gần gũi vớitính tự nhiên của trời đất Chỉ bởi do tập quán mà ngời ta đi xa, đi chệch (Tính tơng cận, tập tơng viễn) Ông đòi hỏi phải xây dựng cho trẻ em nhữngkhuôn phép tốt để chúng suốt đời tôn trọng và làm theo Cho nên khẩu hiệucủa Nho giáo trong giáo dục là “Tiên học lễ hậu học văn” Trong
cuộc sống theo Khổng Tử cái gì không phải lễ thì không nhìn, không phải lễthì không nghe, không phải lễ thì không nói, không phải lễ thì không hành
động
Sự giáo dục của Nho giáo lấy Lễ làm biện pháp đã đạt tới mức độ sâu sắc
ở chỗ nó đã trở thành tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con ngời Nho giáo
đã huy động đợc d luận của toàn thể xã hội biết quý trọng con ngời có lễ vàkhinh ghét ngời vô lễ Vi phạm lễ là điều đáng sỉ nhục, thậm chí đến mứcthà chết chứ không bỏ lễ, không sai lễ
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các xã hội theo Nho giáo đã giữ đợc sự
ổn định trong gia đình và trật tự ngoài xã hội, củng cố vững chắc mối quan
hệ cơng thờng Lễ trở thành một điều kiện tiên quyết trong việc quản lý đấtnớc và gia đình Đó là bài học sâu sắc mà những nớc đã từng theo Khổnggiáo hôm nay đang thực hiện để ổn định chính trị xã hội và văn hoá trongquá trình không ngừng tăng trởng kinh tế
Trí là tri thức, là hiểu biết: Khổng Tử coi Trí là một điều kiện để Nhân
có cơ sở hợp lý về nhận thức và Dũng sẽ không trở thành mù quáng ông nói:Muốn Dũng mà không muốn học thì bị cái che mờ làm loạn hoặc có họcmới gần đợc Trí hay Trí là đức tính của con ngời không còn mê hoặc Trí là
đức tính thứ năm góp phần củng cố lòng tin cậy giữa ngời và ngời
Để hiểu biết thì Khổng Tử chủ trơng giáo dục mà sau này cha ông ta nóirằng: “Nhân bất học bất tri lý” (không học thì không biết gì cả) Mặc dầuchủ trơng Trí (hiểu biết) nhng cái Trí của Khổng Tử vô cùng hạn hẹp Nó chỉgói gọn trong quan hệ đạo lý, ứng xử, còn tri thức sản xuất, tri thức khoa họcthì bị gạt ra ngoài “Có một lần Phàn Trì hỏi Khổng Tử, tha thầy: làm ruộngthế nào cho tốt, Khổng Tử trả lời: ta không phải là ngời làm ruộng ta khôngbiết, Phàn Trì hỏi tiếp: Làm vờn thế nào cho tốt, Khổng Tử trả lời: ta khôngphải là ngời làm vờn ta không biết nhng khi Phàn Trì bớc ra ngoài thì Khổng
Tử nói với các môn sinh (học trò) nói rằng: tiểu nhân thay Phàn Trì là ngờiquân tử thì cần gì phải biết làm ruộng, làm vờn mà chỉ cần thông hiểu đạo lýthì ngời ta sẽ mang các thứ đến nuôi mình”
Trang 9Tín là lòng tin, tin ở ngời, tin ở bản thân mình Nho giáo nâng Tín lênthành điều kiện tiên quyết trong mọi quan hệ xã hội.
1.1.2.3 Xây dựng xã hội bằng đạo đức.
Nho giáo đề cao việc cai trị không chỉ bằng pháp luật mà trớc hết phảibằng đạo đức, bằng nhân nghĩa, bằng lễ giáo (Đức trị, Nhân trị, Lễ trị)
Cách đây hơn hai nghìn năm, Khổng Tử và học trò của ông đã sớm nhận
ra sức mạnh của đạo đức ở xã hội Trung Quốc cổ đại và ở các nớc Phơng
Đông thời ấy Chính vì thế mà học thuyết Nho giáo trớc hết là học thuyết
đạo đức, đề cao vai trò của đạo đức trong cuộc sống
Do vậy mà trong việc quản lý đất nớc và cai trị nhân dân, Nho giáo chủtrơng Đức trị, nghĩa là lấy đạo đức để răn dạy con ngời và từ đó ổn định xãhội, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân
Theo Khổng Tử thì pháp luật chỉ khiến ngời ta sợ mà không dám làm
điều ác Nếu có thể che dấu đợc để tránh sự trừng phạt, thì những kẻ xấu vẫn
cứ làm điều ác Đức trị thì khác, khi quyền lợi của giai cấp thống trị biếnthành đạo đức của nhân dân, thì họ sẽ không phạm tội nữa Không phải vì sợpháp luật là vì sợ xấu hổ trớc ngời khác, vì sợ bị cắn rứt bởi lơng tâm Nhogiáo cho rằng: dùng Đức trị thì không cần biện pháp giết ngời, vì “Đức ngờiquân tử nh gió, đức kẻ tiểu nhân nh cỏ, gió thổi qua thì cỏ rạp xuống” (Luậnngữ - Nhan Uyên -18)
Khổng Tử luôn ớc mong làm thế nào để xã hội quay lại cái thời NghiêuThuấn, cách xa ông gần ba nghìn năm Đó là cái thời kỳ những vua thánh,tôi hiền cai trị dân không phải bằng bạo lực mà bằng đạo đức
Để có thể đa xã hội quay trở lại cái thời hoàng kim ấy, Khổng Tử coi đạo
đức là phơng tiện hiệu nghiệm nhất Suốt đời, ông đã ca ngợi cuộc sống đạo
đức của thời xa đồng thời hoàn thiện mô hình đạo đức coi nh phù hợp nhấtvới đạo lý làm ngời Đó là một mô hình đạo đức đợc xây dựng một cách tinh
vi và hoàn chỉnh
Trong suốt quá trình đó chúng ta đã đợc những ngời xứng đáng là nhữnglơng đống của triều đình Đó là những "cây Tùng, cây Bách" có cốt cáchvững chải theo tinh thần của nhà nho: "Phủ quý bất năng dâm, bần tiện bấtnăng di, uy vũ bất năng khuất"
1.2 Lịch sử hình thành, phát triển t tởng triết học ấn Độ cổ đại
1.2.1 quá trình hình thành,phát triển
Trang 10T tởng triết học ấn độ cổ, trung đại đợc hình thành từ cuối thiênniên kỷ thứ hai đầu thiên niên kỷ thứ nhất trớc Công Nguyên Bắtnguồn từ thế giới quan thần thoại, tín ngỡng tôn giáo, các t tởng đó giảithích vũ trụ bằng hiện tợng các vị thần có tính chất tự nhiên, có nguồngốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân loại đến những t tởngtriết lý trừu tợng lý giải những nguyên lý chung nhất của thế giới cũng
nh giải thích bản chất đời sống tâm linh của con ngời, Từ đó dần dầnhình thành nên hệ thống triết học đa dạng, phong phú
Ngay từ thiên niên kỷ thứ II trớc Công nguyên, ngời ta đã thấymầm móng của những t tởng duy vật mộc mạc và những quan niệmduy tâm, tôn giáo trong những tài liệu cổ quan trọng ở ấn độ nh :Thánh kinh Ve Đa, kinh Upanishad, và những anh hùng ca cổ ấn độnổi tiếng Ramayana, Mahabharata, cũng nh trong các tài liệu cổ khác
nh : Bộ luật Manu, luận văn chính trị và đạo đức học Arthashatra củaCautilia Sau đó là sự ra đời của những học thuyết triết học tôn giáo
nh : Phật giáo, đạo Jaina, môn phái Sankhya, Vaisesika, Nyaya,Mimansa, Yoga và đặc biệt là phong trào tự do t tởng ở Đông ấn với trờng phải triết học duy vật triệt để Lokayata chống lại uy thế củakinh Veda, chống lại triết lý duy tâm của tôn giáo Balamôn, phản đốichế độ phân biệt đẳng cấp khắt khe ở ấn độ cổ đại
Các hệ thống triết học đó còn nhiều t tởng trái ngợc nhau nhng
họ đều có nhiều điểm chung về con ngời, về t tởng "giải thoát" trong đóPhật giáo có t tởng tiến bộ nhất, ảnh hởng nhiều nhất đến đời sống tinhthần của ngời Việt nói chung, Hồ Chí Minh nói riêng- Nhất là t tởng:nỗi khổ của con ngời có thể diệt đợc nhng không phải dựa vào lực lợngsiêu tự nhiên mà dựa vào sự nỗ lực của chính mình
Thích Ca Mâu Ni là ngời sáng lập Phật giáo Nhng phải chờ đếnLong Thọ Bồ Tát, Thế Thân Bồ Tát nó trở thành một tôn giáo mangtính triết học sâu sắc trên cả ba phơng diện: bản thể luận, nhận thứcluận, nhân sinh quan Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đề cập
đến t tởng nhân sinh quan- một t tởng thấm đẫm tính nhân văn, ảnh ởng sâu sắc nhất (trong các t tởng triết học ấn độ cổ đại) đến đời sốngtinh thần của ngời Việt nói chung cũng nh sự hình thành t tởng đạo đứccủa Hồ Chí Minh
Trang 11h-Trong xã hội ấn độ cổ đại, khi mà t tởng đẳng cấp khắc nghiệtcủa đạo Bà la môn thống trị trong đời sống tinh thần của ngời ấn thì t t-ởng không phân biệt đẳng cấp của Phật giáo mà nội dung cơ bản của nó
là "không có đẳng cấp trong những giọt nớc mắt cùng mặn nh nhau,không có đẳng cấp trong những dòng máu cùng đỏ nh nhau"đã nh mộtliều thuốc tinh thần khơi dậy bản tính nhân văn tiềm tàng trong mỗicon ngời mà bấy lâu nó bị che khuất bởi sự lừa gạt của giai cấp thốngtrị T tởng đó đợc tập trung ở học thuyết "tứ diệu đế"
Qua thực tiễn cuộc sống của thời đại mình mà Thích Ca Mâu Ni đãtừng trải và chứng kiến, Ngài đi đến kết luận: đời là bể khổ "Bể khổ"
ấy đợc Ngài tập trung lý giải ở học thuyết: "tứ diệu đế"
1.2.2 Những t tởng đạo đức cơ bản của phật giáo ở học thuyết “tứ diệu đế”
1.2.2.1 Khổ đế:
Cuộc đời của mỗi một chúng sinh là một chuỗi dài đau khổ bấttận Chuỗi đau khổ ấy nh một dòng chảy nớc mắt không bao giờ khôcạn Ngài nói:" nớc mắt của chúng sinh nhiều hơn nớc của bốn đại d-
ơng cộng lại" Nỗi khổ ấy nếu tính theo số lợng đợc gọi là "bát khổ".Nếu tính theo vị trí treo lơ lửng trớc mắt mỗi cuộc đời gọi là "khổ nhãntiền" Nếu tính theo sự tàn tạ của cơ thể gọi là "hoại khổ" Tất cả nhữngnỗi khổ ấy dới con mắt của Phật giáo không phải do số mệnh, cũngkhông phải do một lực lợng siêu tự nhiên tạo ra mà tất cả đều do chínhcon ngời tạo nên theo thuyết nhân quả với phơng châm "chủng qua đắcqua, chủng đậu đắc đậu" (trồng da đợc da, trồng đậu đợc đậu) mà Phậtgiáo gọi là tạo nghiệp Thuyết Nghiệp của nhà Phật bao trùm toàn bộcuộc đời của con ngời Mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động củacon ngời không mất đi mà bao giờ cũng để lại một hậu quả nhất định
Đó chính là tự nghiệp Không những thế trong cuộc sống có những việccon ngời không làm, thậm chí không hề biết nhng vẫn hệ lụy Đó làcộng nghiệp Cộng nghiệp và tự nghiệp là hệ quả tất yếu làm cho conngời không sao thoát khỏi vòng xoáy luân hồi dẫn tới nỗi khổ triềnmiên xuyên suốt từ kiếp này đến kiếp khác Để diệt đợc nỗi khổ Phậtgiáo chủ trơng đi tìm nguyên nhân của nỗi khổ
Trang 121.2.2.2.Nhân đế:
Nguyên nhân để con ngời hớng tới tạo nghiệp nói riêng cũng nhdẫn đến mọi nỗi khổ nói chung có rất nhiều, nhng Phật giáo chỉ tậptrung vào mời hai nguyên nhân cơ bản mà họ gọi là: "thập nhị nhânduyên"
Nhân là nguyên nhân, là cái bên trong để tạo ra quả Duyên là cáibên ngoài, là điều kiện để cho nhân biến thành quả Đó chính là nộinhân ngoại duyên
"Thập nhị nhân duyên" là 12 nguyên nhân đã gây ra nghiệp luânhồi Nhờ đó mà ta mới có thể lí giải rõ đợc hoạt động của nghiệp Nónằm trong 2 đế đầu của "tứ diệu đế" Theo Phật giáo, "Thập nhị nhânduyên" chỉ dùng để cắt nghĩa nguyên nhân sinh tử luân hồi Thật ra cáiluật ấy không phải chỉ riêng cho con ngời mà chung cho tất cả vạnpháp Mời hai nguyên nhân là:
Có sinh là vì có hữu, những chủng tử đợc huân tập ở A - lại - da
thức có một sức lực mạnh mẽ tồn tại và đang chuẩn bị cho một sự sống
mới Đó là nguyên nhân của sinh mệnh Chính đó là hữu Chẳng có cái hữu ấy thì làm gì có sự thụ sinh, mà cấu thành cái sinh mệnh của ngời
ta hiện giờ Có hữu là vì có thụ (tức là có sự lôi kéo về cho mình) Bởi
có lôi kéo về cho mình, mình mới bị sự vật ràng buộc lôi kéo lại Cái đó
gọi là thụ, nghĩa là tìm cách chiếm đoạt mà bị ràng buộc vào cảnh vật,
hay nói cách khác mình muốn chi phối sự vật lại bị sự vật chi phối Bởi
có sự chấp thụ ấy, mới có tạo ra nghiệp nhân; trái lại, nếu mình đừng
nắm giữ (chấp) mà lại không ruồng bỏ (xả) thì sự vật cũng sẽ buông thả
Trang 13mình ra, không đeo dính vào mình đợc Sự thực trong đời, hễ mình thathiết nắm giữ cái gì thì cái đó không phải còn là tôi tớ của mình nữa,
mà trở thành chủ nhân của mình biết buông bỏ nó đi thì mình mớilàm chủ đợc nó
Nhng làm sao có sự chấp thủ ấy? Là vì ái, tức là lòng tham muốn
(dục vọng): Nếu không có dục vọng thì sự vật làm gì lôi kéo, trói buộc
đợc ta Có đeo đuổi, ham muốn sắc đẹp thì mới bị sắc đẹp ràngbuộc Có ham muốn tiền bạc, công danh thì mới bị tiền bạc công danhtrói buộc Nếu không ham muốn lợi danh thì sẽ không bao giờ khổ vì
lợi danh Tại sao có ham muốn, có dục vọng, nghĩa là có ái? Là vì có
sự thụ hởng Thụ hởng tức là có cảm giác, có sự lãnh thụ các điều sớng
khổ Do đó cảm giác mới biết đợc sớng khổ mới thích đợc những cảmgiác khoái lạc và nhân đó mới sinh lòng a thích, đam mê: a cái sớng,ghét cái khổ
Nhng, cảm giác do đâu mà sinh ra? Do những sự tiếp xúc, va chạm (xúc) Xúc tiếp, va chạm với ngoại cảnh bằng những gì? Bằng
những giác quan (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý) gọi là lục căn Lục căn mà
gặp với cảnh vật, đó là lục nhập.
Lục nhập ấy lại do danh sắc mà có Danh sắc, tức là sự phân biệt tâm và vật, những biến tớng của A-lại-đa thức Nh ta đã biết, căn thân
và thế giới cho đến các thức, (bảy thức) đều do các chủng tử ở
A-lại-đa mà hiện ra cả Mà A-lại-A-lại-đa la thức, cho nên biết rằng thức là nhân của danh sắc.
Thức đây là nhận thức sai lầm do hành mà có Hành, tức là những vọng động của cái "tâm sai biệt" do vô minh mà gây ra cả.
Nh thế, ta thấy rằng vô minh là cái gốc chính gây ra Sinh, Lão và
Tử Nếu chẳng còn vô minh nữa thì làm gì có ái, thủ, hữu để bị mắc
vào vòng dây luân hồi, sinh tử
Nhng vô minh là gì? Là chấp có một cái TA (chấp ngã) nên mới sinh ra cái tâm sai biệt Do vô minh nên có những hoạt động của ý chí,
những vọng đọng của Tâm Có Tâm vọng đọng mới phân chia ra
danh,sắc rồi nhờ có Lục nhập mới có tiếp xúc mà sinh ra cảm giác ớng khổ và ham mê khoái cảm (thụ) tức là lòng ham muốn sớng khổ.
Trang 14s-Bấy nhiêu đó khiến lòng sinh ra khao khát, ham muốn (ái)và níu kéo cả
sự vật về mình (thủ) để cung phụng cho lòng khao khát ấy Lòng ham muốn phát sinh thành ý chí, gieo rắc chủng tử ái, Thủ Các chủng tử ấy
đợc huân tập (lây nhiễm Chẵng hạn trà ớp sen lâu ngày sẽ có mùi sen)
lâu ngày biến thành những cái mà ta gọi là "hiện hữu"(hành) và do đó (hữu) mới có sinh ra, có già (lão) có chết (tử).
Tóm lại có vô minh và ái, thủ mới gieo đợc mầm chủng tử gây tạo đợc nghiệp quả Từ nghiệp quả tạo ra vòng xoáy "luân hồi" làm cho không bao giờ thoát khỏi "tiền oan nghiệp chớng".
1.2.2.3 Diệt đế:
Theo Phật giáo nỗi khổ của con ngời có thể diệt đợc, không phảidựa vào một lực lợng siêu nhiên mà phải dựa vào sự nỗ lực của chínhmình bằng cách truy tìm ra nguyên nhân của nỗi khổ để từ đó
xóa bỏ các nguyên nhân đó Nguyên nhân cơ bản và chủ yếu là do "vôminh" Từ vô minh sinh ra chấp ngã; từ chấp ngã sinh ra Tham,Sân ,Si.Cái tam độc nó đốt cháy tâm can con ngời Để tiêu diệt nguyên nhân đócon ngời phải phá tan chấp ngã, phải diệt tham, sân, si bằng câch xâydựng một cuộc sống hớng thợng, vô ngã; xóa bỏ cái trong ta, ngoài ta ;tạo dựng cái tâm vắng lặng để trở về với cái "không" tuyệt đối Đó làcảnh trí "Niết bàn" Nh một nhà nghiên cứu phơng Tây đã nhận định:Phật giáo đi từ chân không rồi lại trở về chân không bằng sự dẹp lắngcủa mọi khởi thảo hiện tợng
Trang 15đạo : Con ngời sinh ra ai cũng có quyền sống bình đẳng, mu cầu hạnh phúc
và từ tình thơng ngời, yêu đồng loại, đồng bào mình mà Hồ Chí Minh mơ ớc: Đất nớc đợc tự do, con ngời đợc giải phóng, ai cũng đợc sống bình th-ờng: Có cơm ăn áo mặc, đợc học hành tiến bộ Đó là yếu tố cốt lõi đầu tiêntạo nên nền tảng t tởng đạo đức của Bác Hồ Về sau, qua sự trởng thànhtrong cuộc sống, qua đấu tranh, rèn luyện, cùng với sự phát triển tri thức vềquá trình hình thành và phát triển của thiên nhiên, xã hội, nhất là quá trìnhtiến hoá của lịch sử loài ngời, ở Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan khoahọc và nhân sinh quan nhân đạo với phơng pháp biện chứng về cuộc sống,
-về cách mạng Yếu tố cốt lõi đó đợc phát triển thành một hệ thống t tởngriêng có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo hoàn chỉnh, lớn lao có tầm nhân loại
Đó là cái nẩy sinh từ chính Ngời
Trong lịch sử t duy nhân loại, các nhà khoa học tự nhiên, các nhàkhoa học xã hội cũng nh các nhà hoạt động chính trị, xã hội bên cạnh việcthể hiện năng lực cá nhân xuất sắc, họ còn chịu ảnh hởng khá sâu sắc các kếtquả của những ngời đi trớc hoặc các thế hệ đi trớc, Hồ Chí Minh cũng vậy
Trang 16Để hình thành nên t tởng đạo đức của mình Hồ Chí Minh đã kế thừa,tiếp thu có chọn lọc những t tởng lớn mà nhân loại đã để lại Đặc biệt lànhững t tởng gần gũi, ăn sâu, bén rễ với ngời phơng Đông nói chung, vớiViệt Nam nói riêng Đó là đạo đức Nho giáo, Phật giáo.
Cũng nh Khổng giáo luôn đề cao vai trò của đạo đức thì Hồ Chí Minhcoi đạo đức là gốc, lấy việc tu thân làm đầu
Nói về Khổng Tử, Hồ Chí Minh viết : "Học thuyết Khổng Tử có u
điểm là sự tu dỡng cá nhân" cả Hồ Chí Minh và Khổng Tử đều nhấn mạnh
điều đó : "Từ thiên tử đến dân đều phải coi tu thân là việc hàng đầu"[17.100]
“Đức là gốc, của là ngọn" (đức giã bán giã, tài giả mạt giả) "Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo ngời cách mạng phải có đạo đức, không
có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đợc nhân dân" "Cái gốc
đã h hoại mà cái ngọn lại tốt tơi lâu đâu có phải nh vậy" [17.100]
Trở thành một ngời quân tử theo Nho giáo hoặc trở thành một chiến
sỹ cách mạng theo chủ nghĩa Mác: Việc ấy không phải dễ dàng Nó đòi hỏirèn luyện công phu và bền bỉ Tăng Tử nói: "Kẻ sĩ cần phải có chí khí rộnglớn và cơng nghị Là vì gánh thì nặng mà đờng thì xa Đức nhân là tráchnhiệm mình phải gánh, há không nặng sao ? Đã làm điều nhân thì làm cho
đến chết mới thôi, nh vậy chẳng là đờng xa sao ?" [17.100]
Hồ Chí Minh cũng coi sự nghiệp cách mạng là gánh nặng và đờng xa,Ngời viết : "Sức có mạnh mới gánh đợc nặng và đi đợc xa Ngời cách mạngphải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành đợc nhiệm vụ mộtcách vẻ vang [11.236] Tu dỡng đạo đức, làm điều thiện, tránh điều ác làmột phơng diện khó khăn và vất vả Tục ngữ nớc Tần nói rằng :" Theo điềuthiện nh leo lên cao, theo điều ác nh sa xuống dốc" Còn
Hồ Chí Minh viết : "theo con đờng thiện thì khó nhọc nhng vẻ vang, theocon đờng ác thì dễ dàng nh lăn xuống hố" [10.391] Tu dỡng đạo đức là mộtquá trình công phu và bền bỉ : "Bậc quân tử nh ngời thợ chuốt ngọc cần phảidùi, phải mài" [17.100] Hồ Chí Minh lại viết: "Đạo đức cách mạng khôngphải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện hàng ngày, phát triển vàcủng cố Cũng nh ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"[5.248]
Trang 17Tu dỡng đạo đức đã khó, giữ đợc phẩm chất đạo đức trớc mọi thửthách lại càng khó khăn hơn nữa Cả Khổng Tử và Hồ Chí Minh đều đòi hỏiphải có nghị lực lớn để chiến thắng ngay bản thân mình, để vợt qua đợcnhững cảm dỗ về vật chất Khổng Tử đòi hỏi phải : "Khắc kỷ phục lễ" "Kẻ sĩnào chỉ mong đợc ăn cho sung sớng thì chẳng đợc gọi là kẻ sĩ vậy" [17.101].
Hồ Chí Minh trong “đờng cách mệnh” cũng viết : Phải giảm bớt ham muốnvật chất
1.1.1 Với phẩm chất trung với nớc, hiếu với dân:
Trung, hiếu là những khái niệm vốn có ở phơng Đông đã đợc Hồ ChíMinh sử dụng và đa vào nội dung mới
Quan niệm của Nho giáo về trung : Là trung quân, trung với vua,trung thành với vua cũng có nghĩa là trung thành với nớc, vua với nớc làmột,vua là nớc, nớc là nớc của vua Khổng Tử nói : "Vua khiến bề tôi phảigiữ lề, bề tôi thờ phải trung (hết lòng)" [17.30.] Khổng giáo quan niệm conngời ta phải trung với vua, theo tinh thần của Khổng giáo, phàm là lời nhàvua, dẫu sai, dẫu đúng đều là lời vàng, ý ngọc, là thánh chí các thần dân, dù
là quan đại thần hay các đệ nhất công thần, dù là tể tớng, t mã, nguyên soái,
đại tớng quân đều phải tuân mệnh Vua bảo sống đợc sống, bắt chết phảichết
Khổng Tử bảo ngời ta phải hành động theo phận, chính danh địnhphận, nếu anh mang danh vơng thì đợc cai quản thiên hạ, nếu anh là quanthì đợc cai quản trong nớc ch hầu của anh, còn nếu anh là dân đen thì anhphải phục tùng vua và quý tộc
Triết lý này của Khổng Tử, hoàn toàn trái ngợc với tinh thần và cái cốtlõi của chủ nghĩa Mác là t tởng cách mạng, không an phận, không cam chịu
Trên cơ sở tiếp thu những yếu tố tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh
đã khai thác triệt để những mặt tích cực phục vụ cho việc tuyên truyền cáchmạng và chủ nghĩa Mác T tởng trung với nớc theo Hồ Chí Minh là trọn đờitrung thành với sự nghiệp cách mạng, với tổ quốc, với Đảng, với giai cấp[14.621.]
Theo Hồ Chí Minh, trung không chỉ là hy sinh cho đến chết mà quantrọng hơn là phải đạt đợc kết quả, phải nhất định thành công : "Trung với n-
ớc, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vợt qua,
kẻ thù nào cũng đánh thắng"
Trang 18Nh vậy, trung với nớc là trung thành với sự nghiệp giữ nớc và dựng
n-ớc Nớc ở đây là nớc của dân, còn dân lại là chủ nhân của đất nn-ớc Khi HồChí Minh đặt vấn đề "bao nhiêu quyền hạn đều của dân", "bao nhiêu lợi ích
đều vì dân" "bao nhiêu quyền hành và lực lợng đều ở nơi dân" Đảng vàChính phủ là "đầy tớ nhân dân" chứ không phải "quan nhân dân, đè đầu cỡi
cổ nhân dân" thì quan niệm về nớc và dân đã hoàn toàn thay đổi khác về bảnchất so với trớc
Trung với nớc, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự
do của tổ quốc, và chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khókhăn nào cũng vợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, câu nói đó của ngời vừa
là lời kêu gọi hành động, vừa là định hớng chính trị, đạo đức cho mỗi ngờiViệt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh trớc mắt, mà còn cả lâu dài
về sau :
Đối với cán bộ Đảng viên, nh Hồ Chí Minh đã nói "điều chủ chốt
nhất" của đạo đức cách mạng là "Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng,cho cách mạng", và "tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân", là
"Trung với nớc, hiếu với dân", hơn nữa phải là "tận trung, tận hiếu" thì mớixứng đáng vừa là ngời lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân[14.313]
Chữ "Hiếu" là một khái niệm cơ bản của đạo đức Nho giáo - Khổng
Tử lấy 2 mối quan hệ luân lý là tình con đối với cha (hiếu) và tình máu mủruột thịt anh em để làm căn bản của chữ nhân
"Hiểu để dã giả, kỳ vì nhân chi bản d"? [17.74] Khổng Tử nói :
"Ngày nay ai nuôi đợc bố mẹ thì đợc gọi là có hiếu nhng nuôi bố mẹ cũnggiống nh nuôi chó, nuôi ngựa không có lòng thành kính thì làm sao gọi làhiểu đợc" [3.282]
Hiếu vốn là đạo đức tối thiếu của con ngời Nếu điều tối thiếu là
th-ơng yêu kính trọng ông bà bố mẹ mà không làm đợc, thì đừng nói gì đến đạo
đức công dân, ý thức trách nhiệm đối với quốc gia, xã hội ,nhân dân
Theo quan niệm của Nho giáo thì làm con phải hiếu thảo với cha mẹ,phải kính trọng cha mẹ, kính trên nhờng dới, Khổng Tử nói : "Thờ cha mẹ,nên nhỏ nhẹ khuyên can, nếu thấy cha mẹ không theo ý mình thì vẫn cungkính mà không xúc phạm cha mẹ, tuy khó nhọc, lo buồn, nhng không đợcoán hận" [17.313] Làm con thì không chỉ phụng dỡng, hiếu thảo với cha
Trang 19mẹ mà còn phải biết quan tâm đến sức khoẻ của cha mẹ Khổng Tử nói : "Tuổi của cha mẹ, không nên không biết, một là để mừng (vì cha mẹ sốnglâu), một là để lo (vì cha mẹ già yếu)" [17.314].
Nh vậy, theo quan niệm Nho giáo thì làm con luôn phải hết lòng
th-ơng yêu, phụng dỡng cha mẹ, kính trọng cha mẹ, đó là những giá trị đạo đứctruyền thống mà chúng ta cần phải nắm giữ
Không lấy làm lạ là giữa trăm ngàn điều xấu xa về các mối quan hệ
đạo đức xã hội đợc phán ánh trên báo chí gần đây thì những vụ ngợc đãi đày
đoạ bố mẹ, thậm chí giết bố mẹ để cớp tiền của là những điều nhức nhối đaulòng hơn cả và đó là những dấu hiệu nghiêm trọng nhất của suy thoái đạo
đức vì những phần tử đó đã bị tha hoá xuống hàng thú vật
Bên cạnh những giá trị đó thì quan niệm về chữ "Hiếu" của Khổng Tửcũng có những hạn chế nhất định, chữ "Hiếu" theo quan niệm của Nho giáochí bó hẹp trong phạm vi gia đình, là con đối với cha mẹ, anh chị em đối vớinhau, Khổng Tử nói "Cha còn thì xét chí hớng của ngời, cha mất rồi thi xéthành vi của ngời, ba năm sau mà không thay đổi khuôn phép của cha thì cóthể gọi là có hiếu [5.274]
Chính vì chữ "trung" và "hiếu" của Nho giáo chỉ bó hẹp trong phạm vi
là trung với vua, hiếu với cha mẹ cho nên Hồ Chí Minh coi t tởng Khổng Tử
và đạo đức của ông chỉ thích hợp với "một xã hội không bao giờ thay đổi".Ngợc lại t tởng chính trị và đạo đức của Hồ Chí Minh phán ánh sự vận độngcủa lịch sử, xu hớng tiến bộ của nhân loại, khả năng phát triển về mọi mặtcủa con ngời trong một xã hội không ngừng đổi mới
Khổng Tử đứng từ trên cao mà nhìn xuống nhân dân lao động, coi họ
nh những ngời ngu dốt và đáng thơng Họ chỉ nh đám cỏ lớt theo ngọn gió
đạo đức của ngời quân tử mà thôi Đạo Đức Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộphải coi mình nh ngời đầy tớ của nhân dân, hết lòng hiếu thảo với nhân dân,tạo điều kiện cho nhân dân vùng lên, tự giải phóng cho mình, tự mình làmchủ bản thân và làm chủ đất nớc
Nói về hiếu, Hồ Chí Minh mở rộng thứ tình cảm sâu sắc của con ngờimới gọi là hiếu đối với bố mẹ, mở rộng thành hiếu đối với nhân dân Ngờiviết "Hiếu là hiếu với nhân dân, ta thơng cha mẹ ta mà còn phải thơng cha
mẹ ngời, phải làm cho mọi ngời biết thơng cha mẹ [6.243]
Trang 20Kế thừa những giá trị tốt đẹp về chữ "Hiếu" của Nho giáo hết lòng
th-ơng yêu cha mẹ, anh chị Trong thời gian rời Tổ quốc đi tìm đờng cứu
nớc, kiếm sống chật vật, vất vả nhng Ngời luôn canh cánh bốn phận làmcon, mong đợc giúp đỡ bố bằng tiền tiết kiệm của mình nh Ngời đã làmnhiều lần Nỗi lo âu về gia đình tan nát niềm dai dẳng ám ảnh Ngời và trongkhoảng 1925 từ Quảng Châu và Hồng Kông Ngời đã gửi đợc những móntiền nho nhỏ cho ngời anh ở Trung Kỳ giữa khi ngời đang hoạt động bí mậttrong quốc tế cộng sản Tấm lòng của Ngời đối với bố mẹ là vô hạn, kế thừagiá trị đạo đức của Nho giáo về chữ "Hiếu" nhng không dừng lại ở đó màcòn vợt qua những hạn chế của nó Chữ "Hiếu" của Hồ Chí Minh không chỉ
bó hẹp trong gia đình mà còn hiếu đối với dân, với nớc Suốt đời mình HồChí Minh chỉ có một điều ham muốn là Tổ quốc đợc độc lập, nhân dân đợc
tự do, mọi ngời đợc ấm no học hành
Để phục vụ cho lý tởng đạo đức của mình là trung với nớc, hiếu vớidân, Hồ Chí Minh nêu cao ý chí đạo đức: "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,khó khăn nào cũng vợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng" [17.107]
T tởng hiếu với dân không chỉ dừng lại ở chỗ thơng dân với tính chất
là đối tợng cần phải dạy dỗ, ban ơn, mà là đối tợng phải phục vụ hết lòng,phải gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân,lấy dân làm gốc, bởi vì :
"Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Theo Hồ Chí Minh lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm,phải thờng xuyên quan tâm đến việc cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, đểnhân dân hiểu đợc quyền và trách nhiệm của ngời chủ đất nớc, quyền thì h-ởng, còn trách nhiệm thì phải làm tròn Có đợc cái đức ấy thì ngời cáchmạng, ngời lãnh đạo sẽ đợc dân tin yêu, quý mến, kính
trọng, nhất định sẽ tạo ra đợc sức mạnh to lớn cho cách mạng
Khi đất nớc đã độc lập, Hồ Chí Minh nói "Một trong những công việcphải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí”
Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân giàu nớc mạnh,
Mọi ngời Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình.
Trang 21Phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng Nhànớc, và trớc hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ" [16.420].
Khi Miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ngời nói: "chúng ta phảibiến một nớc dốt nát, cực khổ thành một nớc văn hoá cao và đời sống tơi vuihạnh phúc" [16.420]
Nh vậy, trên cơ sở kế thừa những giá trị đạo đức Nho giáo, Hồ Chí Minh
đã nâng lên một tầm cao mới, xây dựng nên một khái niệm "trung", "hiếu"hoàn toàn khác về chất so với khái niệm "Trung", "hiếu" theo quan niệm củaNho giáo
1.1.2 Lòng yêu thơng con ngời
Tình yêu thơng con ngời là một trong những yếu tố mà Nho giáo, Phậtgiáo luôn đặt lên hàng đầu, là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi con ngời.Nho giáo đã có những cố gắng to lớn, bền bỉ và những cống hiến tích cựctrong việc khuyên bảo, dạy dỗ con ngời, thơng yêu đồng loại, cho ngời vàngời có quan hệ tốt với nhau, sống yên vui hoà thuận với nhau Đạo đứcnhân nghĩa lễ trí; đạo đức hiếu, để ,trung, tín, đạo đức yêu ngời, yêu thơngrộng rãi mọi ngời Tuy có phần mơ hồ do sự hạn chế của những điều kiệnlịch sử và xã hội đơng thời, nhng đã biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lành,thiết tha mong muốn làm cho con ngời tránh đợc, bớt đợc đau khổ, cùngnhau sống trong "bốn biển đều là anh em" Phản đối, căm ghét chiến tranh,Nho giáo dùng giáo dục đạo đức để thuyết phục và cảm hoá lên trên chínhtrị và hình phạt và thờng mơ ớc đi tới cảnh tợng "thiên hạ đại đồng" trong đómọi chuyện bất công, bất bình, oan ức, tội lỗi sẽ không còn, và hạnh phúc,yên vui sẽ đến với mọi ngời
Khổng đề cao tình nghĩa tơng thân tơng ái giữa mọi ngời, đặc biệt lànhững ngời đồng đạo, theo tinh thần khuyến khích nhau về đạo đức và sựnghiệp, răn bảo nhau khi có lỗi lầm, cứu giúp nhau trong hoạn nạn, chămsóc giúp đỡ nhau khi ốm đau" [3.443]
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, tiếp thu tinh thần nhân văncủa Nho giáo, cùng với thể nghiệm của chính bản thân mình qua hoạt độngcách mạng thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thơng con ngời làmột trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất
Tình yêu thơng đó là tình cảm rộng lớn, trớc hết dành cho những ngờicùng khổ, những ngời lao động bị áp bức bóc lột Không kể họ là da đen,hay da vàng, là ngời Châu á hay Châu Phi Tấm lòng yêu thơng của Ngời là