MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ TỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG ĐÀO Ở THÀNH PHỐ VINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY...69 3.1.. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đ
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa địa lý
-*** -ảnh hởng của quá trình đô thị hoá tới môi trờng nớc sông đào ở thành phố vinh giai đoạn hiện
nay
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành ĐịA Lý KINH Tế - xã hội
Giảng viên hớng dẫn: ThS Trần thị ngân hà Sinh viên thực hiện: Lê thị hoài thơng Lớp: 48A - Địa lý
Vinh – 2011
Lời cảm ơn
Lời đầu tiờn em xin bày tỏ lũng biết ơn chõn thành và sõu sắc nhất tới Cụ giỏo Thạc sĩ Trần Thị Ngõn Hà đó tận tỡnh giỳp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khúa luận tốt nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới cỏc Thầy, cỏc Cụ trong khoa Địa Lý trường Đại Học Vinh đó giỳp đỡ em trong quỏ trỡnh em thực hiện đề tài.
Trang 2Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ phòng Môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An, Trạm Quan trắc và phân tích môi trường Nghệ
An, Công ty Môi trường đô thị Vinh, Công ty cấp nước Nghệ An, Sở Lao động thương binh và xã hội Nghệ An đã giúp em trong quá trình thu thập tư liệu và nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng em xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do hạn chế về thời gian và nguồn tư liệu, lại lần đầu tiếp cận với nghiên cứu khoa học do đó không thể tránh khỏi thiếu sót Kính mong những ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 16 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Lê Thị Thương Hoài
Trang 3Lời cam đoan
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay của tôi dưới sự hướng dẫncủa Thạc sĩ Trần Thị Ngân Hà Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài củamình
Trang 4Các qui định viết tắt trong đề tài
KHCN&MT: Khoa học công nghệ và môi trường
LĐTB&XH: Lao động thương binh và xã hội
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lêi c¶m ¬n 0
Lời cam đoan 0
Các qui định viết tắt trong đề tài 0
MỤC LỤC 0
A MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Quan điểm nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đối tượng nghiên cứu 5
7 Giới hạn đề tài 6
8 Điểm mới của đề tài 6
9 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
10 Bố cục khóa luận 7
B NỘI DUNG 8
CH¦¥NG I C¥ Së LÝ LUËN VÒ VÊN §Ò §¤ THÞ HãA Vµ ¶NH H¦ëNG CñA QU¸ TR×NH §¤ THÞ HãA TíI M¤I TR¦êNG N¦íC 8
1.1 Khái niệm đô thị hóa 8
1.2 Các giai đoạn phát triển của quá trình đô thị hóa 8
1.3 Đặc điểm đô thị hóa hiện nay trên thế giới 9
1.3.1 Dân số đô thị không ngừng tăng nhanh 9
1.3.2 Số lượng và quy mô các đô thị ngày càng tăng thêm đặc biệt là các đô thị lớn10 1.3.3 Quá trình đô thị hóa tại các nước phát triển 10
1.3.4 Quá trình đô thị hóa tại các nước đang phát triển 10
1.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước 12
1.4.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường nước 12
Trang 61.4.2 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước 13
1.4.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước trên thế giới 13
1.4.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước ở Việt Nam 15
1.4.5 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước ở Nghệ An 21
Chương II ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG ĐÀO Ở THÀNH PHỐ VINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 26
2.1 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ VINH 26
2.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG ĐÀO (ĐOẠN ĐI QUA THÀNH PHỐ VINH) 32
2.2.1 Giới thiệu về sông Đào 32
2.2.2 Hiện trạng sử dụng và chất lượng nước sông Đào (đoạn đi qua thành phố Vinh) 34
2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG ĐÀO Ở THÀNH PHỐ VINH 47
2.3.1 Sự mở rộng về không gian đô thị trong quá trình đô thị hóa 48
2.3.2 Gia tăng quy mô dân số đô thị 50
2.3.3 Sự chuyển dịch dân cư nông thôn ra thành thị 58
2.3.4 Sự phát triển của các ngành kinh tế 60
Chương III MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ TỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG ĐÀO Ở THÀNH PHỐ VINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 69
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 69
3.1.1 Dựa trên kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa thành phố Vinh tới môi trường nước sông Đào 69
3.1.2 Dựa trên quan điểm phát triển của thành phố Vinh trong giai đoạn mới 70
3.1.3 Dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ và chức năng chủ yếu về phát triển kinh tế -xã hội của thành phố đến năm 2020 70
3.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 71
3.2.1 Giải pháp về kiểm soát quá trình đô thị hóa ở thành phố Vinh 71
Trang 73.2.2 Giải pháp giảm thiểu và khống chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường
lưu vực sông Đào 72
3.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực tổ chức, quản lí bảo vệ môi trường lưu vực sông Đào 73
3.2.4 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 74
3.2.5 Giải pháp sử dụng hợp lí tài nguyên nước 74
3.2.6 Đối với công tác tuyên truyền giáo dục 74
C KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà cònđối với các nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á Nền kinh tế càng pháttriển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóa gópphần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhândân
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phátsinh nhiều vấn đề cần giải quyết như sự phát triển mạnh mẽ của ngành côngnghiệp gây nhiều hệ lụy tới môi trường, sự phát thải nhiều nguồn chất độc hạihay hàng loạt vấn đề xã hội khác như việc làm cho nông dân bị mất đất, phươngpháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn dân… Nếu không
có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chúng ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và lúngtúng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh những vấn đề ngày càngphức tạp
Tốc độ đô thị hóa cao luôn đi kèm với nhu cầu ngày càng gia tăng vềnước và các dịch vụ vệ sinh Để đáp ứng các nhu cầu này, đô thị ngày càng
“vươn” tới những nguồn nước “sâu” hơn và “xa” hơn, gây ra tình trạng khai thácquá mức - thậm chí cạn kiệt - các nguồn nước tại chỗ cũng như các vùng liền kề
Vinh là một trong những thành phố có quá trình đô thị hóa diễn ra khámạnh mẽ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thành phố được nâng cấp lên đôthị loại I của cả nước Trong những năm qua, kinh tế thành phố Vinh phát triểnkhông ngừng Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường cũng được thành phố quantâm thích đáng Tuy nhiên, đây là sự nghiệp của toàn xã hội, không chỉ riêng củacác cơ quan quản lí nhà nước và các cơ quan chuyên sâu về lĩnh vực này
Một vấn đề môi trường cấp bách đang được đặt ra hiện nay cho ở thànhphố Vinh đó là nước thải sinh hoạt của dân và nước thải công nghiệp của doanhnghiệp, nhà máy Các nguồn nước thải này hầu hết đều không qua xử lý mà thải
Trang 9trực tiếp ra sông Điều này đã ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến đời sốngcũng như sản xuất của các hộ dân.
Sông Đào chảy qua hai huyện Nam Đàn và Hưng Nguyên và thành phốVinh Sông này cấp nước sinh hoạt cho các huyện (Nam Đàn, Hưng Nguyên,Nghi Lộc) và thành phố Vinh Trong những năm gần đây, do quá trình ĐTH,công nghiệp hoá nên việc khai thác tài nguyên nước ở đây đang bị quá tải; môitrường bị ô nhiễm ngày càng rõ rệt hơn Nước thải sinh hoạt và sản xuất khôngqua xử lý, rác thải rắn (nhất là túi ni lông), tồn dư thuốc BVTV đang làm chochất lượng nước xuống cấp, đa dạng sinh học suy giảm Cư dân ở lưu vực sôngphải hứng chịu gần như toàn bộ lượng nước thải ra (cả nước thải sinh hoạt vànước thải công nghiệp) Sinh kế của dân cư các xã chủ yếu dựa vào nghề nông,nguồn nước phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp là nguồn nước lấy từ hệ thốngkênh mương dẫn từ sông chảy qua các xã, ô nhiễm nước khiến năng suất câytrồng giảm, chất lượng lương thực bị ảnh hưởng
Vấn đề ngày càng trở nên cấp bách hơn khi dân số tăng nhanh (cả về tựnhiên và về cơ học), tuy nhiên do thiếu kinh phí nên các cấp chính quyền chưa
có các hành động cụ thể để giải quyết vấn đề Chưa có nghiên cứu cụ thể nàoliên quan đến vấn đề này (như xác định mức độ ô nhiễm sông, mức độ ảnhhưởng đến đời sống dân cư, các giải pháp ) được thực hiện một cách căn bản
Vì vậy các cấp chính quyền cũng như người dân nơi đây chưa ý thức được mộtcách đầy đủ sự nghiêm trọng của vấn đề, do đó chưa có sự quan tâm đúng mức
để có được các biện pháp giải quyết cần thiết
Nhận thức được vấn đề đó, nên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:
“ Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước sông Đào ở thành phố Vinh giai đoạn hiện nay” Đây là một đề tài rộng mang tính khái
quát cao, mặc dù rất cố gắng, song luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế.Kính mong các nhà nghiên cứu, các Thầy, Cô góp ý để luận văn được hoàn thiệnhơn
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá trình đôthị hóa thành phố Vinh tới môi trường nước sông Đào giai đoạn hiện nay Trênthực tế, đây là một vấn đề nan giải, đã tồn tại trong một thời gian dài, và nó càngtrở nên bức thiết hơn khi quá trình đô thị hóa ngày một nhanh chóng và mạnh
mẽ tại thành phố Vinh Đề tài “Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến môitrường nước Sông Đào ở thành phố Vinh giai đoạn hiện nay” nhằm điều tra cụthể vấn đề hiện trạng môi trường tại lưu vực sông (đoạn chảy qua thành phốVinh), xác định mức độ ảnh hưởng đến đời sống dân cư do tác động của quátrình đô thị hóa để tử đó có thể đề xuất những giải pháp khả thi nhằm giải quyếtvấn đề một cách căn bản, có đầy đủ luận cứ khoa học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước sôngĐào ở thành phố Vinh
- Nghiên cứu thực trạng quá trình đô thị hóa ở Vinh, ảnh hưởng tới môitrường nước sông Đào (đoạn chảy qua thành phố Vinh)
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hiện trạng môi trường nước sôngĐào do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa
4 Quan điểm nghiên cứu
4.1 Quan điểm hệ thống
Là quan điểm chủ đạo, bao trùm các quan điểm nghiên cứu khác Quan điểm
hệ thống xem tất cả các hợp phần có mối quan hệ hữu cơ trong hệ thống, chúng
là hợp phần của hệ thống cao hơn, đồng thời lại là hệ thống chứa đựng nhữnghợp phần nhỏ hơn Một hệ thống gồm cấu trúc tạo thành, đó chính là xươngsống của hệ thống
- Cấu trúc thẳng đứng: là các yếu tố, thành phần tạo nên hệ thống Ở đề tàinày chính là các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình đô thị hóa thành phố Vinh
- Cấu trúc ngang: ở đề tài này là mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, cụthể là môi trường nước sông Đào đối với quá trình đô thị hóa ở thành phố Vinhgiai đoạn hiện nay
Trang 114.2 Quan điểm lãnh thổ
Địa lí học gắn liền với lãnh thổ, đặc biệt sự phát triển kinh tế - xã hội ảnhhưởng mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên (cụ thể là nguồn nước) của đô thị, lãnhthổ Vì phát triển đô thị không thể thiếu nước, đảm bảo nguồn nước chất lượng
là một biểu hiện của đô thị hiện đại Quan điểm này giúp ta tìm ra sự phân hóalãnh thổ về nguồn gây ô nhiễm nguồn nước Sông Đào và mức độ ô nhiễm khácnhau trên các địa bàn của thành phố Từ đó, làm căn cứ để tìm ra giải pháp thíchhợp cho thực trạng ô nhiễm nước Sông Đào từ nguyên nhân chủ đạo là ảnhhưởng của quá trình đô thị hóa
4.3 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thõa mãn nhu cầu của thế hệ hiệntại mà không làm phương hại, ảnh hưởng đến quyền lợi của thế hệ tương lai.Quan điểm này nghiên cứu vấn đề không nhìn nhận bằng logic mục đích cầnhướng đến mà tôn trọng quy luật phát triển của tự nhiên, chia sẻ quyền lợi vànghĩa vụ trong vấn đề sử dụng tài nguyên
Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tớimôi trường nước sông Đào ở thành phố Vinh giai đoạn hiện nay, đề xuất một sốgiải pháp khắc phục hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Đào, sao cho hoạtđộng phát triển kinh tế xã hội không làm phương hại và gây những hệ lụy đángtiếc đến môi trường, đảm bảo cho sự phát triển của các thế hệ tương lai, đó làmột sự phát triển mang tính bền vững
4.4 Quan điểm sinh thái - môi trường
Quan điểm này được áp dụng để xây dựng các mô hình, cơ cấu sinh họctương tự môi trường tự nhiên, tồn tại và phát triển thuận lợi, có hiệu về kinh tế
và môi trường trong quá khứ và hiện tại, đồng thời loại bỏ những thành phầnkhông thuận lợi hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường như mongmuốn
Trong đề tài này, quan điểm sinh thái – môi trường được thể hiện ở việc xâydựng các chính sách phát triển, việc quy hoạch đô thị phải là sự kết hợp hài hòa
Trang 12giữa lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa mà không gây nguy hại cho môitrường nước sông Đào.
4.5 Quan điểm thực tiễn
Mọi vấn đề nghiên cứu đều phải xuất phát từ thực tiễn và quay lại phục vụthực tiễn Quan điểm này được vận dụng để đánh giá thực trạng quá trình đô thịhóa thành phố Vinh ảnh hưởng tới môi trường nước sông Đào Trên cơ sở đó đềxuất các giải pháp phù hợp với thực tế phát triển của thành phố
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu được tiến hành cho các hoạt độngtìm kiếm thu thập thông tin, nguồn tư liệu có liên quan như tìm hiểu lịch sửnghiên cứu vấn đề, lịch sử quá trình đô thị hóa, các nhân tố ảnh hưởng tới quátrình đô thị hóa ở thành phố Vinh, thu thập thông tin về ô nhiễm nguồn nướcsông Đào đoạn chảy qua thành phố Vinh…
vi, giới hạn Sông Đào đoạn đi qua thành phố Vinh Từ đó có cái nhìn tổng quát
về vị trí địa lí của đoạn sông, xác định ý nghĩa của nó trong quá trình quy hoạch
đô thị, cụ thể là việc cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho toàn thành phố Vinh
6 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa ởthành phố Vinh tới môi trường nước Sông Đào
Trang 137 Giới hạn đề tài
Đề tài này chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trườngnước sông Đào ở thành phố Vinh giai đoạn hiện nay Các vấn đề khác như ảnhhưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường đất, nước, sinh vật nói chung…không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
Do số liệu được thu thập, thống kê trong phạm vi các phường, xã thuộc nộithành nên đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khu vực nội thành thànhphố Vinh
8 Điểm mới của đề tài
- Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về quá trình đô thị hóa để xác định ảnhhưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước sông Đào
- Đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóathành phố Vinh tới môi trường nước Sông Đào
9 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở nước ta, những vấn đề liên quan tới đô thị hóa đã được nghiên cứu từnhiều năm nay Đô thị hóa với các vấn đề kéo theo nó như dân cư đô thị, quyhoạch đô thị, ô nhiễm môi trường đô thị… luôn là đề tài được các nhà khoahọc và công chúng quan tâm Các cơ quan nghiên cứu chuyen ngành như ViệnĐịa Lý, Viện Quy hoạch và phát triển đô thị, Sở tài nguyên môi trường… đã
có những chương trình, đề tài lớn nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa Đặc biệt,vấn đề ô nhiễm nước ở đô thị luôn là đề tài nóng tại nhiều diễn đàn Có rấtnhiều dự án trong và ngoài nước đã điểu tra nghiên cứu về mối quan hệ giữa
đô thị hóa và vấn đề nước sạch… Tất cả đều chứng minh cho một thực tế, pháttriển đô thị không thể thiếu nước
Tuy nhiên nghiên cứu về đô thị hóa ở Nghệ An chưa nhiều Thực tếchúng ta chưa có những giải pháp thực sự khả thi và thỏa đáng cho vấn đề đôthị hóa Sự phát triển đô thị không theo quy hoạch hoặc quy hoạch với dự ántreo tạo nên những góc nhìn lệch lạc trong chiến lược phát triển một số đô thịđầy tiềm năng của Nghệ An như thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò, Thị xã TháiHòa…
Trang 14Nghệ An đang hòa mình vào quá trình phát triển thay da đổi thịt từngngày của đất nước Trong tương lai khi thành phố Vinh ngày càng phát triển,một chiến lược phát triển đô thị khoa học, bền vững sẽ là yếu tố quyết định chodiện mạo của một đô thị hiện đại.
10 Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần, 3 chương, 86 trang, 3 bản đồ, 11 bảng số liệu, 12biểu đồ, 4 tranh ảnh
Trang 15B NỘI DUNG CH¦¥NG I C¥ Së LÝ LUËN VÒ VÊN §Ò §¤ THÞ HãA Vµ ¶NH H¦ëNG CñA QU¸ TR×NH §¤ THÞ HãA TíI M¤I TR¦êNG N¦íC
1.1 Khái niệm đô thị hóa
Theo nghĩa rộng, ĐTH là quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô thịtrong sự vận động phát triển của xã hội Quá trình này, bao gồm những thay đổitrong sự phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong
cơ cấu lao động và nghề nghiệp, trong cơ cấu dân số, trong lối sống, văn hóa,trong tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng ĐTH là quá trình kinh
tế - xã hội, nhân khẩu và địa lý đa dạng dựa trên các hình thức phân công laođộng theo lãnh thổ đã hình thành trong lịch sử
Theo nghĩa hẹp, ĐTH là sự phát triển hệ thống thành phố đã hình thànhtrong lịch sử và nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội cũngnhư tăng tỉ trọng dân số đô thị Đó cũng là sự tập trung dân cư trong các thànhphố lớn và sự phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong toàn bộ mạng lướiđiểm dân cư
Như vậy, ĐTH là một bộ phận quan trọng của các quá trình phát triểnkinh tế - xã hội Nó được thể hiện thông qua quá trình chuyển dịch các hoạtđộng của dân cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất côngnghiệp hoặc dịch vụ Từ đó diễn ra sự chuyển dịch các điểm dân cư nông thônsang điểm dân cư đô thị với quy mô khác nhau ĐTH là sự phản ánh nhữngchuyển biến sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và trong đời sống xã hội Quá trìnhĐTH gắn liền với sự hình thành và phát triển công nghiệp, là “người đồng hành”với quá trình công nghiệp hóa Giữa công nghiệp hóa và ĐTH có mối quan hệnhân quả khăng khít với nhau
1.2 Các giai đoạn phát triển của quá trình đô thị hóa
Có nhiều cách phân đoạn quá trình đô thị hóa Ở đây, tôi xin trích dẫn cáhphân loại của Ray.M.Northam, trong cuốn “Địa lí đô thị” đã chia quá trình ĐTHthành 3 giai đoạn như sau:
Trang 16Giai đoạn đầu: ở giai đoạn này, dân cư chủ yếu là dân nông thôn theo đuổinghề nông và còn phân tán Tỉ lệ dân cư sống trong đô thị chiếm dưới 25% tổng
số dân
Giai đoạn hai: là giai đoạn ĐTH tăng tốc Tỉ lệ dân số trong các thành phốngày càng tăng nhanh, từ 25% lên đến 70% tổng số dân Đây là giai đoạn thayđổi căn bản cơ cấu của nền kinh tế với sự tập trung hoạt động công nghiệp vàdịch vụ các đô thị
Giai đoạn cuối: Là giai đoạn dân cư đô thị chiếm trên 70% Đây là giaiđoạn phát triển cao của nền kinh tế và nhìn chung khá ổn định
1.3 Đặc điểm đô thị hóa hiện nay trên thế giới
Cho đến nay, quá trình ĐTH đã và đang diến ra trên phạm vi toàn thế giớivới quy mô rộng lón và nhịp độ nhanh chóng Tuy nhiên trong quá trình pháttriển luôn có sự phân hóa, cũng như sự khác biệt về mức độ, tính chất Chungquy lại, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của quá trình ĐTH hiện nay trênthế giới như sau:
1.3.1 Dân số đô thị không ngừng tăng nhanh
Từ khi đô thị xuất hiện trên thế giới, tỉ lệ dân số đô thị không ngừng tănglên với tốc độ nhanh chóng và thời gian tăng cũng càng được rút ngắn lại Tốc
độ tăng tỉ lệ dân số đô thị trên thế giới trung bình hằng năm từ giai đoạn 1800
-1850 là 0,07%, giai đoạn -1850 – 1950 là 0,22%, giai đoạn 1950 – 2000 là 0,32%
và từ năm 2000 – 2002 là 2,7% Từ 2007 đến 2050, số người sống ở các vùng đôthị ước tính tăng thêm gần 3,1tỷ người, từ 3,3 tỷ người năm 2007 lên 6,4 tỷngười năm 2050 Đến giữa thế kỷ 21 dân số thành thị trên thế giới sẽ bằng tổngdân số thế giới năm 2004 Điều đó cho thấy tốc độ gia tăng dân số đô thị trên thếgiới ngày càng tăng
Thời gian gia tăng ngày càng rút ngắn lại Trong vòng 50 năm từ đầu
1800 – 1850 dân số đô thị tăng thêm 270 triệu người, với tốc độ là 3,7%; từ
1850 – 1900 tăng thêm 436 triệu người Cũng trong vòng 50 năm, nhưng từ
1900 – 1950 con số này tăng thêm một cách chóng mặt 891 triệu người, gấp 2lần so với 50 năm đầu, và gấp 4 lần 50 năm trước đó Trong vòng 50 năm từ
Trang 171950 – 2000, dân số thế giới tăng thêm 3.529 triệu người, nghĩa là gấp 13 lần sovới giai đoạn đầu Giai đoạn 2025 - 2050, dân số đô thị trên toàn cầu sẽ tăng 1,8
tỷ người (Nguồn: Báo cáo Triển vọng đô thị hóa thế giới của Liên Hợp Quốc,
có 8 đô thị có dân số trên 5 triệu dân, nhưng đến năm 1975 con số này đã gấp tới
10 lần, nghĩa là có 50 đô thị Đặc biệt các siêu đô thị, các đô thị cực lớn, đanggia rất nhanh Đến năm 2025 thế giới sẽ có 27 siêu đô thị Trong 19 siêu đô thịhiện nay, Châu Âu có 2 đô thị đó là Matxcova (Nga) và Istanbul (Thổ Nhĩ Kì).Tôkyô vẫn sẽ là thành phố đông dân nhất thế giới với 36,4 triệu người Châu Phihiện nay chỉ có một siêu đô thị đó là Cairo (Ai Cập), nhưng đến năm 2025 sẽ cóthêm Kinshasa (CHDC Conggo) và Lagos (Nigieria) Các chùm đô thị lớn trênthế giới phải kể đến là Chùm đô thị Tokyo – Yokohama – Kawayaki, Mehicocity – Xaopaolo – New York…
1.3.3 Quá trình đô thị hóa tại các nước phát triển
Hầu hết tại các nước có nền kinh tế phát triển, quá trình công nghiệp hóadiễn ra sớm nên quá trình ĐTH cũng bắt đầu từ sớm Đặc trưng cho quá trìnhĐTH ở những nước này đó là tỉ lệ dân thành thị rất cao, tốc độ gia tăng tỉ lệ dânthành thị cao, việc tăng cường các nhân tố nền cho quá trình hình thành các siêu
đô thị cũng khá dễ dàng
Hiện nay, tỉ lệ dân số đô thị ở các nước có nền kinh tế phát triển rất cao là77,1% Tất nhiên vẫn không thể tránh khỏi yếu tố phân hóa trong nội bộ cácnước này Các nền kinh tế rất phát triển hiện nay như Austraylia, New Deland,Tây Âu, Bắc Mĩ… có mức độ ĐTH cao bậc nhất thế giới, tỉ lệ dân thành thị hiệnnay đạt từ 80% trở lên
1.3.4 Quá trình đô thị hóa tại các nước đang phát triển
Trang 18Gần như ngược lại với các nước có nền kinh tế phát triển, ĐTH tại cácnước có nền kinh tế đang phát triển diễn ra muộn hơn, nhưng tốc độ cũng ồ ạtkhông kém, có thể xem là “ hội chứng bùng nổ đô thị” Đặc điểm quá trình ĐTH
ở đây là sự gia tăng nhanh chóng dân cư nông thôn ồ ạt di chuyển vào thànhphố Nguyên nhân là do nhu cầu sức lao động của các thành phố, mặt khác, khátvọng đổi thay với hi vọng tìm được một cuộc sống khá giả ở chốn “phồn hoa đôhội”, hay thời gian nông nhàn khi chuyển vụ mùa nông nghiệp Tất cả đã khiếnlực lượng lao động nông thôn di chuyển vào thành phố ngày một đông đảo
Khoảng 1/2 đến 2/3 dân số của phần lớn các đô thị thuộc các nhóm nước
có nền kinh tế đang phát triển bị đẩy tới những khu ngoại ô lụp xụp, hoặc nơinhững người chiếm đất xây dựng, họ thường bất chấp sự ngăn cấm từ phía chínhquyền Các nhóm người không chính thức này thường có ít hoặc không cóquyền lợi sử dụng các dịch vụ công cộng như nước sạch, vỉa hè, vận chuyểnrác… Trong số các khu nhà mới xây dựng do những người dân đô thị mới này,chỉ có khoảng 20% xây dựng theo luật, phần còn lại là do phát triển không chínhthức
Các đô thị của Châu Á, Phi, Mĩ Latinh chưa hoàn thiện về cơ cơ sở hạtầng, vật chất kĩ thuật, mạng lưới giao thông, điện nước… vấn đề sử dụng cácphương tiện giao thông công cộng hiện đại còn rất hiếm hoi do quá trình côngnghiệp hóa chỉ mới phát triển gần đây Cấu trúc đô thị cũng như văn hóa lốisống đô thị còn có sự chênh lệch rất lớn với đô thị Tây Âu và Bắc Mĩ
Có thể nhận thấy một số đặc trưng chung của đô thị hóa tại các nước đangphát triển là sự di dân lâu dài từ các vùng nông thôn vào các thành thị làm chodân số thành thị tăng thêm nhanh chóng Trong khi đó, sự phát triển của cơ sởvật chất hạ tầng đô thị chưa tương xứng đã khiến nhiều hệ lụy xảy ra như thấtnghiệp, thiếu việc làm, tệ nạn xã hội… Đô thị trở nên quá tải
Một số đô thị còn trong thời kì tiền công nghiệp, chỉ có các trung tâmthương mại hay các chợ có quy mô trung bình Ở đây vắng bóng các trung tâmcông nghiệp còn giao thông công cộng thì rất hiếm hoi Mặt khác, một số đô thị
Trang 19lại phát triển quá lớn theo hướng tự phát dẫn đến giao thông luôn quá tải và làvấn nạn khó giải quyết trong tương lai gần.
Hiện nay, sự bùng nổ dân số đô thị là một hiện tượng phổ biến ở các nướcđang phát triển Dân số đô thị ở các nước đang phát triển tăng nhanh, trung bìnhmỗi năm tăng 3,5 – 4%, tức là chỉ sau 25 năm dân số đô thị tại các nước này sẽtăng lên gấp đôi
Một số nước có tỉ lệ dân số đô thị cao như Mehico, Brazil… với nhiềuthành phố lớn và cực lớn như: Mehico city, Xaopaolo, Mumbai… Bên cạnh đócòn rất nhiều nước, đặc biệt là các nước chậm phát triển, lực lượng sản xuất thấpkém, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế, mức độ chuyể dịch cơ cấu kinh tếcòn chậm như Ru-an-đa (5%), Đông-ti-mo (8%), Căm-pu-chia (16%)
Hiện nay, xu hướng phát triển của ĐTH tại các nước đang phát triển vẫnđang trong giai đoạn tăng tốc Đặc biệt nhiều nước đang đẩy mạnh công nghiệphóa gắn kiền với ĐTH do đó ĐTH sẽ tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa Đồngthời khoảng cách về mức sống, vật chất và tinh thần vẫn còn khá lớn do nhiềuluồng di cư tự phát của dân nông thôn vẫn ồ ạt kéo vào đô thị Vì vậy, theo đánhgiá của Liên Hợp Quốc, đến cuối thập kỉ này, 2/3 dân cư đô thị sẽ tập trung ởcác nước đang phát triển
Như vậy, qua phân tích trên đây ta thấy rằng, ĐTH hiện nay ở các nướcphát triển và đang phát triển có sự chênh lệch về mức độ và tính chất Sự khácbiệt này do nhiều nguyên nhân đan xen Đó cũng chính là bức tranh nhiều mảngmàu của nền kinh tế xã hội thế giới hiện đại
1.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước
1.4.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường nước
Nước là sự sống, là nguồn tài nguyên quý giá, có khả năng tự tái tạonhưng không phải là vô tận Tuy nhiên, hiện nay ô nhiễm môi trường nước làmột vấn đề nan giải và cần được sự quan tâm của tất cả mọi người trên thế giới
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự có mặt của một hay nhiều chất lạ trongmôi trường nước, làm thành phần và tính chất của nước thay đổi, gây ảnh hưởngđến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật khi sử dụng nước
Trang 20Hiến chương Châu Âu định nghĩa: “Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủyếu do con người gây ra đối với môi trường nước, làm ô nhiễm nước và gây hạicho việc sử dụng nước cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giảitrí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại”.
Ô nhiễm nước không còn là vấn đề xa lạ đối với chúng ta Những thảmhọa về ô nhiễm môi trường nước gây ra đã làm cho loài người đặc biệt quan tâmnghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp thích hợp nhất cho vấn đề này
1.4.2 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước
Các nguồn gây ô nhiễm nước rất đa dạng Ô nhiễm nguồn nước do các tácnhân sau:
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, mưa rơi xuốngkéo theo chất bẩn từ khu công nghiệp, mái nhà…rơi xuống sông hồ gây ô nhiễmmôi trường nước sông, hồ…
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: chủ yếu do xả nước thải từ các khudân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, phân bóntrong nông nghiệp… vào môi trường nước gây ô nhiễm nước
Trong hai nguồn gây ô nhiễm trên đây, ô nhiễm nguồn nước do nhân tạo
là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường nước hiện nay
1.4.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước trên thế giới
ĐTH là một biểu hiện quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội hiện đại.Không thể phủ nhận những tác động tích cực tới đời sống kinh tế - xã hội của nótuy nhiên những tác động tiêu cực cũng không hề nhỏ Một trong số đó là làmsuy giảm chất lượng môi trường ĐTH gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ củacác hoạt động sản xuất công nghiệp Do đó, lượng chất thải từ các hoạt động sảnxuất và sinh hoạt đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường, môi sinh, cảnhquan Lượng phát thải quá nhiều trong khi xử lí rác thải chưa tương xứng vàhiệu quả đã gây ô nhiễm nguồn đất, nước, không khí… ngày càng nghiêm trọng
Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu về cácảnh hưởng của quá trình ĐTH tới môi trường nước, cách nhìn tổng quan nhất
Trang 21Có thể khẳng định, phát triển đô thị không thể thiếu nước Tại các đô thịviệc chiếm dụng đất công, san lấp mặt bằng, sông ngòi, lấn chiếm lòng đềđường để làm nhà và xậy dựng trái phép diễn ra hàng ngày làm cản trở đến việctiêu, thoát nước và chất thải đô thị Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng khôngđáp ứng đủ, đường xá giao thông tắc nghẽn, nguồn nước ngầm và các dòng sông
bị đe dọa nhiễm bẩn nghiêm trọng vì chất thải…
ĐTH với nhu cầu nước ngày càng tăng trong sản suất và sinh hoạt đangdẫn con người tới nguy cơ thiếu nước ngọt nghiêm trọng
Dân cư đô thị tăng, dẫn đến nước thải sinh hoạt ngày càng nhiều Trong
xã hội nguyên thủy, con người chỉ cần 5 – 10 lít nước/người/ngày Hiện nay, con
số này tăng lên hàng chục lần Ở các đô thị của Mĩ là 380 – 500 lít/người/ngày,Pháp là 200 – 500 lít/người/ngày, Việt Nam là 150 – 200 lít/người/ngày Trongnước thải sinh hoạt do tổng hợp từ rất nhiều dạng khác nhau nên chứa nhiều vikhuẩn và virut gây bệnh nguy hiểm cho người và sinh vật
Ở các nước đang phát triển, có đến 80 – 90% bệnh tật và 1/3 số ca tử vong
do nước nhiễm khuẩn hay nhiễm độc gây ra Tính bình quân mỗi ngày trên TráiĐất có 25.000 người lớn và cứ 8 giây có 1 đứa trẻ chết vì các bệnh có liên quan
về nước bẩn Việc thu hẹp đất sản xuất, chuyển đất sản xuất sang đất chuyêndụng và thổ cư, sự mở rộng quy mô đô thị đã tạo đà cho việc sử dụng quá liềulượng hóa chất, phân hóa học trong trồng trọt gây ô nhiễm nguồn nước mặt vànước ngầm
Các quốc gia sử dụng nhiều nước nhất lại là các nước nông nghiệp dohoạt động trồng trọt chăn nuôi chiếm vị trí chủ đạo Tính ra, lượng nước màTrung Quốc và Ấn Độ sử dụng lớn hơn rất nhiều các nước trong khối EU, Mĩ,Nga, Nhật cộng lại Thiếu nước là một vấn nạn luôn ám ảnh các nước đang pháttriển nơi mà quá trình đô thị hóa đang ở giai đoạn tăng tốc, vượt lên, kéo theo nó
là sự ô nhiễm nguồn nước trầm trọng do sản xuất ở trình độ còn thấp
Như vậy, có thể thấy rằng ĐTH đã tác động không nhỏ tới môi trườngnước Phát triển đô thị không thể thiếu nước và một đô thị phát triển phải đảmbảo không những cung ứng đủ nước mà còn phải là nguồn nước có chất lượng
Trang 22Hơn hết hướng tới sự phát triển bền vững để nguồn nước không chỉ là yếu tốsinh tồn mà còn là một biểu hiện của xã hội văn minh – xã hội đô thị hóa.
Trang 231.4.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước ở Việt Nam
1.4.4.1 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Ở nước ta, ĐTH hình thành và phát triển cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị của đất nước Nhìn lại quá trình ĐTH
có thể phân biệt ra các giai đoạn sau đây:
- Thời kì sơ khai: thành Cổ Loa được coi là đô thị đầu tiên ở nước ta, làkinh đô của nhà nước Âu Lạc Tiếp theo, là sự xuất hiện của Thăng Long (thế kỉ XI), rồi đến các đô thị trẻ hơn như Phú Xuân, Hội An, Đà Nẵng, PhốHiến (thế kỉ XI – XIII) Các đô thị sơ khai này thường được hình thành thôngqua những hoạt động trên các thương cảng, các lâu đài hay chốn kinh đô… nơi
có vị trí địa lý thuận lợi, với các chức năng hành chính quân sự
- Thời Pháp thuộc: nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, côngnghiệp chưa phát triển Nền công nghiệp thực dân chỉ dừng lại ở khai thác than
và sửa chữa Do đó, hệ thống đô thị chưa có điều kiện để triển Chính sách
“chia để trị” của thực dân Pháp đã tổ chức các tỉnh, huyện quy mô nhỏ vớimạng lưới đô thị mang tính chất hành chính, quân sự, dân số ít ỏi, cơ sở vậtchất nghèo nàn… Vào những năm 30 của thế kỉ này, công nghiệp được mởmang, một số đô thị tương đối lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… đượchình thành
- Từ sau cách mạng tháng Tám: ngay từ những ngày đầu của cuộc cáchmạng, chúng ta đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến, nên hầu như không còn các
đô thị ở vùng tự do Các đô thị ở vùng tạm chiến trở thành các điểm tập trungdân cư, không có gì thay đổi trong quá trình ĐTH
- Thời kì 1975 đến nay: sau khi đất nước thống nhất, ở Miền Nam tỉ lệdân thành thị tụt xuống thấp do dân cư hồi hương từ các thành phố lớn trở vềnông thôn và do quá trình điều động dân cư đi xây dựng vùng kinh tế mới ỞMiền Bắc, tỉ lệ dân thành thị không có biến động lớn
- Sau công cuộc đổi mới đến nay, quá trình ĐTH đã diễn ra hết sứcnhanh chóng, đặc biệt trong 10 năm trở lại đây chúng ta đã chứng kiến một quá
Trang 24trình đô thị hóa với tốc độ cao chưa từng có ở các thành phố lớn như Hà Nội,
Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận
Hiện nay, dựa theo các tiêu chí như số dân, chức năng, mật độ dân số, tỉ
lệ dân phi nông nghiệp… mạng lưới đô thị nước ta được chia làm 6 loại, trong
đó có 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài rathuộc tầm quản lí cấp Trung Ương có 5 đô thị đó là: Hà Nội, thành phố Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ Các đô thị loại I, II, III, IV thuộcquyền quản lí của tỉnh Nhìn chung, các đô thị vừa và nhỏ được phân bố tươngđối đồng đều từ Bắc vào Nam
1.4.4.2 Đặc điểm đô thị hóa ở Việt Nam
Qua phân tích quá trình đô thị hóa ở nước ta, có thể rút ra một vài đặc điểm sau đây:
a Quá trình đô thị hóa diễn ra còn chậm chạp, trình độ đô thị hóa còn thấp
Tỉ lệ dân thành thị nước ta có xu hướng tăng nhưng tăng chậm và vẫncòn thấp hơn mức trung bình của thế giới Hiện nay, tỉ lệ dân thành thị thế giới
là 48%, các nước đang phát triển khoảng 41%, các nước phát triển là trên 77%,thậm chí nhiều nước, tỉ lệ dân thành thị là 100%
Ở Việt Nam, theo Điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân cư ở khu vựcthành thị là 25.436.890 người, chiếm 29,6%; dân cư nông thôn là 60.410.101người, chiếm 70,4% Dân thành thị trung bình tăng 3,4%/năm, dân nông thôn
trung bình tăng 0,4%/năm (Nguồn Tổng điều tra dân số ngày 1/04/2009).
Tỉ lệ dân thành thị thấp, tốc độ tăng tỉ lệ dân thành thị còn chậm vàkhông đều theo thời gian, điều này phản ánh trình độ ĐTH còn chậm và chưagắn liền khăng khít với công nghiệp hóa như quy luật vốn dĩ phải đồng hànhcủa nó Chúng ta mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, tức làgiai đoạn chuyển dịch lao động từ khu vực I (nông – lâm – ngư), sang khu vực
II (công nghiệp và xây dựng) và khu vực III (dịch vụ)
b Về quy mô và chức năng đô thị
Mặc dù chúng ta đã có mạng lưới đô thị phân bố rộng rãi trong cả nướcnhưng các đô thị nước ta lại chủ yếu là đô thị vừa và nhỏ, được hình thành chủ
Trang 25yếu do chức năng hành chính, văn hóa hơn là chức năng kinh tế Vì thế, khôngphát huy được hết vai trò trung tâm, động lực phát triển của tỉnh hay huyện nên
dễ bị xuống cấp nhanh chóng và ít được chú trọng đầu tư
Hiện nay, nước ta chỉ mới có hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, khoa học kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, giao thông thương mại với tỉ lệ laođộng phi nông nghiệp rất lớn và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đất nước
đó là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tiếp đến là một số đô thị lớn quantrọng như Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Nam Định, Vinh, Biên Hòa,Quy Nhơn… Còn lại là các đô thị nhỏ, phân bố phân tán theo từng địa phươnglàm hạn chế khả năng đầu tư và phát triển kinh tế
c Sự phân bố đô thị ở nước ta cũng như trình độ phát triển ĐTH ở nước
ta không đồng đều
Điều này là do trình độ phát triển kinh tế, trình độ công nghiệp hóa ở cácvùng trong nước còn có sự chênh lệch rõ rệt, tương ứng với sự chênh lệch đó,ĐTH cũng có sự phát triển với trình độ khác nhau Về số lượng đô thị và mật
độ đô thị ở nước ta cũng có sự phân bố không đều
Bảng 1.1 Phân bố đô thị và mật độ đô thị giữa các vùng
trong cả nước năm 2008
Vùng
Số lượng đô Thị
tích vùng (km2)
Mật độ
đô thị (số đô thị / 1000km)
Thành phố
Thị xã
Thị trấn
56 49 138
47 11 9 13
3 2 6
47 6 9 9
6 5 12
617 122 136 150
47 42 120
331150,4 2106,5 95346 95894,9
5440,3 23605,5 40602,3
2,14 6,6 1,64 1,79
1,02 2,08 3,40
( Niêm giám thống kê Việt Nam 2008)
Trang 26Có thể nhận thấy rằng, Đồng Bằng Sông Hồng là vùng có mật độ đô thịlớn nhất 6,6 đô thị/1000 km2 Tiếp đến, là Đồng bằng sông Cửu Long 3,04 đô thị/1000 km2 Mật độ đô thị thấp nhất tại Tây Nguyên 1,02 đô thị/1000 km2,thấp hơn nhiều mức trung bình cả nước (2,14) Tuy nhiên chỉ số này chưa phảnánh được chính xác, đầy đủ về trình độ đô thị hóa ở tất cả các vùng và còn phụthuộc vào nhiều yếu tố khác như quy mô đô thị, chức năng đô thị…
d Sự chuyển dịch của đô thị nước ta còn chậm, ranh giới giữa đô thị và nông thôn ở nước ta chưa rõ ràng
Nhìn chung các đô thị ở nước ta phần lớn mang tính chất hành chính –văn hóa, chức năng kinh tế còn hạn chế, đặc biệt là các đô thị loại IV, V Cơ sở
hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường các đô thị ở nước ta còn yếukém, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các
đô thị ở Miền Bắc và Miền Trung Điều đó đã làm cho các đô thị này luôn bịsức ép nặng nề của gia tăng dân số (tự nhiên và cơ học)
e Quy hoạch chưa hợp lí
Theo TS Đào Hoàng Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu môitrường và phát triển bền vững, Chủ nhiệm đề tài cấp bộ "Những vấn đề cơ bản
về môi trường đô thị nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam", quy hoạch đô thị
ở nước ta hiện còn nhiều vấn đề cần giải quyết Để thu hút các nguồn vốn, pháttriển công nghiệp phục vụ yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hằng năm,gần 10 vạn hécta đất nông nghiệp đã được thu hồi để xây dựng các khu côngnghiệp, dịch vụ, đường giao thông Khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thuhồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có 80% thuộc loại đất màu
mỡ cho hai vụ lúa/năm Điều đáng nói là sự dễ dãi và yếu kém trong quy hoạchcùng tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã dẫn tới tình trạng sử dụngđất tùy tiện, lãng phí Hầu hết các KCN, dịch vụ đều bám dọc các quốc lộhuyết mạch, vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn hécta đất “bờxôi ruộng mật” đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm,thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông thôn và hàng triệulao động nông nghiệp
Trang 27Cùng với đô thị hóa, từ năm 2001 đến nay, quá trình dịch chuyển cơ cấulao động diễn ra khá nhanh nhưng vẫn chưa tương thích và đáp ứng được yêucầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Năm 2007, giá trị nông nghiệp trong GDP đãgiảm xuống còn 19,6% trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn ở mứccao 52,8% Nghịch lý này phản ánh thực tế là công nghiệp, dịch vụ trên địabàn nông thôn chưa đủ sức tạo việc làm mới để thu hút lao động nông nghiệp.Ngoài một bộ phận không nhiều được tuyển vào các doanh nghiệp trên địabàn, phần đông lao động vẫn ùn đọng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn.Đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, đô thị hóa tất yếu dẫnđến sự dịch chuyển dân cư Ở một số vùng nông thôn, điển hình như khu vựcĐồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long xuất hiện dòng chuyển cư về thành thị,chủ yếu là về các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tình trạngtăng vọt dân số cơ học ở các thành phố lớn làm đậm thêm sự mất cân đối trongphân bố dân cư lao động trên phạm vi toàn quốc, khiến các thành phố lớn phảigánh chịu áp lực quá tải rất nặng nề về dân số, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
Về cơ bản, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 70,4% (2009)dân số sống ở vùng nông thôn, các đô thị ra đời và phát triển trên cơ sở của sảnxuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiêp, thương nghiệp, dịch vụ, hành chính rất
ít đô thị phát triển mạnh mẽ dựa vào sản xuất công nghiệp Tác phong và lốisống nông nghiệp vẫn còn phổ biến trong dân cư đô thị, nhất là các đô thị vừa
và nhỏ Mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị mang tính chất xen kẽ cả trong
Trang 28không gian đô thị cả về mối quan hệ kinh tế, kiến trúc, phong cách… Cho nên
đô thị nước ta chưa có ranh giới, khác biệt rõ ràng với nông thôn là như vậy
1.4.4.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước ở Việt Nam
Những năm qua, bên cạnh những đô thị tiếp tục được mở rộng, nâng cấp,ngày càng xuất hiện nhiều khu đô thị mới tập trung, trong đó có các thị trấn, thị
tứ, đưa số đô thị các loại ở nước ta lên đến trên 750 Làn sóng đô thị hóa tuy đãthổi luồng sinh khí mới vào nông nghiệp, nông thôn và đời sống người nôngdân, nhưng cũng bộc lộ bất cập
- Hệ lụy về môi trường do quá trình đô thị hóa
Ô nhiễm môi trường nước đô thị cũng rất đáng báo động Các kết quảnghiên cứu mới nhất cho thấy, tại các đô thị lớn, nguồn nước ngầm đang códấu hiệu cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn Mực nước của các tầng chứa nướcgiảm liên tục Nước thải đô thị chưa qua xử lý đổ ra các sông là nguồn phátthải gây ô nhiễm nghiêm trọng Ngày càng có nhiều mương, ao, hồ nội đô trởthành nơi chứa nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, đặc biệt là ở HàNội
PGS, TS Hà Huy Thành, Viện Nghiên cứu môi trường và phát triển bềnvững cho biết, các khu đô thị tuy chỉ chiếm 28,5% dân số của cả nước nhưng
có đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (gần bằng 50% tổng lượng chất thảicủa cả nước) Nguyên nhân chính là do dân số tập trung cao, nhu cầu tiêu dùnglớn, sức ép lên môi trường ngày một nặng nề
- Nguy cơ thiếu nước sạch do quá trình đô thị hóa
Với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, dự báo đến năm 2025 dân số đô thị của Việt Nam lên tới 52 triệu người và sẽ là thách thức lớn cho lĩnh vực cung cấp nước sạch, cũng như việc thoát nước và xử lý nước thải
Cả nước mới có 240 nhà máy nước, công suất khai thác thực tế chỉ đạtkhoảng 4,5 triệu m3 ngày đêm, tỷ lệ thất thoát lên tới 30 - 40%
Hiện trong tổng số 750 đô thị ở Việt Nam mới có 450 đô thị có hệ thốngcấp nước, với tỷ lệ dân cư được cấp khoảng 76% Ngoài các dự án đang triểnkhai tại Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, các đô thị khác vẫn chưa
Trang 29có được hệ thống xử lý nước thải tập trung Riêng Hà Nội mỗi ngày thải ra500.000 m3 nước thải, trong đó chỉ có dưới 10% lượng nước thải được xử lý.
Tại 154 khu công nghiệp, tuy có 43 khu đầu tư xây dựng nhà máy xử lýnước thải tập trung và mới có một vài nhà máy xử lý hiệu quả, nhưng chínhquyền địa phương cũng rất ít thực hiện những biện pháp cưỡng chế đối với chấtlượng nước xả thải từ các nhà máy vào hệ thống nước mưa hay nước thải chung
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nguy cơ ngập lụt đã trở thành vấn nạntại Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố nằm tại khu vực Đồng bằng sôngCửu Long và các vùng duyên hải trũng thấp Việc thiếu các hệ thống thoát nướcđồng bộ, hệ thống chắp vá xuống cấp, các cơ sở chứa nước nghèo nàn, nước thải
và nước mưa thu gom chung và bãi thấm kém chất lượng là nguyên nhân chủyếu
Ngoài ra, chưa có cơ quan chuyên ngành thật sự có những kinh nghiệmthực tế trong công tác tư vấn thiết kế, thi công xây lắp, đặc biệt là quản lý vậnhành các công trình xử lý nước thải.Tiến sỹ Phạm Ngọc Thái, Hội Cấp thoátnước Việt Nam cho rằng các dự án thoát nước và xử lý nước thải ở đô thị lànhững dự án đặc biệt do phải đào bới rất phức tạp Đây là dự án đòi hỏi vốn đầu
tư rất lớn và không có khả năng trả nợ vì chủ yếu mang tính chất công ích Chỉtính việc xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn hàng năm phải cần đến trên 377 triệuUSD, nên phải dựa vào nguồn vốn ODA là chính
Để đạt được mục tiêu cấp nước và thoát nước - xử lý nước thải tại các đôthị theo định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,ngay từ bây giờ, Việt Nam phải tận dụng những dự án ODA, lựa chọn côngnghệ phù hợp cải tạo mạng cung cấp nước, mở rộng dịch vụ và chống thất thoátnước; xây dựng các hệ thống công trình thoát nước và mô hình quản lý vận hànhhiệu quả, bền vững
1.4.5 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước ở Nghệ An
1.4.5.1 Đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Nghệ An
- Khái quát lịch sử đô thị hóa tỉnh Nghệ An
Trang 30Vùng đất Nghệ An ngày nay đã được khai thác từ lâu đời Thời Tiền Lênơi đây thuộc đất Hoan Châu, Châu Diễn Về sau, hai vương triều Lí Trần đãđẩy mạnh công tác khai thác phát triển kinh tế ở đây.
Địa danh Nghệ An xuất hiện từ thế kỉ XI dưới triều Lí để thay thế chođịa danh Hoan Châu có từ trước đó Năm 1469, Vua Lê Thánh Tông thốngnhất bản đồ hành chính cả nước nhập Nghệ An và Diễn Châu lại thành ThừaTuyên Nghệ An gồm 8 phủ, 18 huyện, 2 châu Tuy nhiên, tại thời điểm này,mảnh đất Nghệ An chưa xuất hiện đô thị, dân cư thưa thớt, đất đai hoang sơ
Mầm mống đô thị ở Nghệ An xuất hiện khi Nguyễn Huệ chọn vùng đấtYên Trường thuộc châu Nghệ An để xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô.Theo nhận định của Nguyễn Huệ, đây là mảnh đất “có khí tượng tươi sáng,vừa khống chế trong Nam ngoài Bắc, tiện lợi cho việc đi lại, là nơi bắt đầu thắtlại của dải đất Miền Trung, một trong những yết hầu của con đường xuyênViệt”
Quá trình đô thị hóa ở Nghệ An gắn liền với những đổi thay trên conđường đô thị hóa của cả nước, đặc biệt là Miền Bắc nước ta
Giai đoạn đầu: Từ khi xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô cho
đến khi cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp đô thị ở Nghệ An gần nhưkhông có chuyển biến của sự phát triển Sự tồn tại của đô thị gắn liền với hoạtđộng quân sự, chính trị của Triều Nguyễn, đô thị nhỏ bé, kinh tế chậm pháttriển
Giai đoạn 2: Đô thị có nhiều nét chuyển biến tích cực Về cơ bản, sản
xuất nông nghiệp vẫn là ngành chính, các ngành thủ công thương nghiệp pháttriển với quy mô nhỏ, lẻ tẻ một vài nơi Nghệ An là một tỉnh nghèo Chínhsách “chia để trị” của thực dân Pháp làm cho đô thị Nghệ An cũng như cả nướckhông có cơ sở để mở rộng Các đô thị Nghệ An vẫn dừng lại ở chức nănghành chính, quân sự
Tuy nhiên, để phục vụ cho nền công nghiệp thực dân, một số cơ cở sảnxuất công nghiệp đã được xây dựng như nhà máy xe lửa Trường Thi Vinh(một trong ba nhà máy xe lửa lớn nhất Đông Dương), nhà máy diêm ,nhà máy
Trang 31cưa Bến Thủy, hãng rượu Xô-va… Mặc dù quy mô nhỏ, tuy nhiên nó là dấuhiệu đáng mừng của một đô thị đã mang phần nào dáng dấp của hoạt độngkinh tế phi nông nghiệp.
Giai đoạn 3: Từ sau cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống
Pháp Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, đô thị không có điều kiện đểphát triển Thậm chí cảnh tượng bom đạn tàn phá thảm khốc, thị xã Vinh – đôthị lớn nhất Nghệ An cũng hứng chịu cảnh hoang tàn
Giai đoạn 4: Miền Bắc được giải phóng Dân số đô thị tăng lên, do một
bộ phận tạm lánh về nông thôn nay trở lại thành thị Tại Nghệ An, khu côngnghiệp Vinh đã hình thành trên cơ sở tập trung đông dân cư và lao động Cơ sở
hạ tầng được nâng cấp nhiều nơi đã giúp cho bộ mặt đô thị được hồi sinhnhanh chóng Ngày 10/10/1963, Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ CộngHòa kí quyết định số 148-CP về việc thành lập thành phố Vinh trực thuộc TỉnhNghệ An Dựa trên những điều kiện sẵn có về vị trí địa lí, dân cư và sự pháttriển kinh tế đã cho phép Vinh trở thành một thành phố bề thế ở Bắc Trung Bộ
Tuy nhiên thời kì từ 1965 – 1972, Nghệ An cùng chung tay với cả nướctrong cuộc kháng chiến chống sự phá hoại của đế quốc Mĩ Vì vậy nhìn chung
tỉ lệ dân thành thị không có biến chuyển nhiều Sau năm 1975, Miền Namđược giải phóng hoàn toàn, vùng đất Xứ Nghệ lại hòa cùng khí thể mới củaphong trào di cư đến các vùng kinh tế mới như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,đồng bằng Sông Cửu Long, vì vậy dân số thành thị không những không tăng
mà có xu hướng giảm
Từ những năm cuối thế kỉ 80 đến nay, công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước đã thúc đẩy tiến trình phát triển đô thị theo hướng mới và chuyển sangnền kinh tế thị trường Điều này đã tạo điều kiện cho đô thị Nghệ An có nhiều
cơ hội phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn
- Một số đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Nghệ An
Ở Nghệ An, quá trình ĐTH diễn ra chậm Dân đô thị chủ yếu là ngườidân từ các huyện lân cận nhập đến Năm 1990, Nghệ An mới có 152.000 người
Trang 32sống trong đô thị, chiếm gần 6,1% dân số Đến năm 1995, có 266.000 ngườichiếm 9,8% dân số Đến năm 2008, dân số đô thị mới vượt mức trên 15%.
- Chức năng đô thị
Các đô thị Nghệ An chủ yếu mang tính chất hành chính và thương mạinhỏ, trong khi đó các chức năng công nghiệp và dịch vụ chưa thể hiện rõ nét.Trong các đô thị của tỉnh Nghệ An chỉ có thành phố Vinh có chức năng côngnghiệp tương đối rõ, thị xã Cửa Lò có chức năng du lịch khá nổi bật
Về cơ bản, các đô thị Nghệ An ra đời và phát triển trên nền tảng của sảnxuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp từ lâu đời nên cho đếnhiện nay tính chất của nó này vẫn còn đậm nét trong hoạt động kinh tế
Chính chức năng đô thị bị hạn chế nên tính chất đô thị chưa thực sự rõnét, vẫn mang tính nông thôn, đan cài xen lẫn tính chất thị thành, và biểu hiệnngay trong không gian đô thị, kiến trúc đô thị, lối sống – sinh hoạt, tập quánsản xuất và các mối quan hệ kinh tế
Cơ sở hạ tầng đô thị còn yếu kém Ngay như thành phố Vinh, đô thị loại
I cũng biểu hiện nhiều tồn tại như về kiến trúc nhà ở, hệ thống cung cấp nướcthiếu khoa học Đó là biểu hiện của quy hoạch đô thị còn nhiều vướng mắc.Môi trường đô thị là một vấn đề nhức nhối khi mà sức ép về dân cư lên cơ sở
hạ tầng ngày một nặng nề Hiện tượng họp chợ vô tổ chức, các khu nhà ổchuột, các hộ dân cư trú bất hợp pháp ven sông… tất cả tạo nên bức tranh phatrộn nhiều mảng màu sáng tối của đô thị Nghệ An
1.4.5.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường nước ở Nghệ An
Như đã nói ở trên, đô thị hóa ở Nghệ An còn tồn tại nhiều vấn đề cầnđược giải quyết Một trong số đó là hệ lụy do tác động tiêu cực của đô thị hóalên môi trường, cụ thể ở đây là môi trường nước
Nghệ An có mạng lưới sông suối dày đặc với mật độ sông suối từ 0,6 –0,7 km/km2 Nghệ An có nguồn tài nguyên nước mặt khá phong phú Lượngnước rơi ở Nghệ An khoảng 18 tỷ m3/năm, nếu kể cả nước chảy từ nơi khác về,con số này là 22 tỷ m3/năm Tổng lượng nước mặt của Nghệ An khoảng28x109 m3 trong đó 24,4x109 là nước mặt (Đào Khang, 2003).
Trang 33Ngoài lượng nước trên các sông thì lượng nước ở các ao hồ, đập nướccũng rất phong phú Cả tỉnh có 520 ao, hồ, đập nước, với diện tích 36988 ha.Sông ngòi ao hồ dày đặc là cơ sở để phát triển giao thông thủy lợi, tưới tiêutrong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi thủy sản, phục vụ phát triển côngnghiệp, nhu cầu sử dụng của dân cư…
Mặc dù có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, tuy nhiên hiện nay đãxuất hiện một số khu vực bị ô nhiễm nguồn nước
Ở các đô thị như thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, thị trấn Hưng Nguyên,Nghi Lộc… nguồn nước mặt bị ô nhiễm bởi chất thải sinh hoạt và vệ sinh môitrường kém Các ao hồ trong đô thị thậm chí bốc mùi hôi thối khó chịu, khôngthể sử dụng trong tưới tiêu Một số vùng ven biển nước bị nhiễm mặn và ranhgiới xâm nhập mặn ngày một lan rộng Ranh giới này có thể lan hết địa giớithành phố Vinh Thành phố Vinh phải lấy nước từ Sông Đào để cấp nước sinhhoạt và sản xuất cho toàn thành phố
Tóm lại, Nghệ An là một tỉnh có nguồn tài nguyên nước mặt và nướcngầm khá phong phú, tuy nhiên nguồn nước đó đang có dấu hiệu bị ô nhiễm
Do đó, những giải pháp kịp thời và hợp lí cần được sớm triển khai có ý nghĩađặc biệt với sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ đang có tốc độ
đô thị hóa nhanh như Nghệ An hiện nay
Trang 34Chương II ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG ĐÀO Ở THÀNH PHỐ VINH GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
2.1 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ VINH
Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Nghệ An và đãđược Chính phủ quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùngBắc Trung Bộ Thành phố Vinh hiện là một trong 6 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnhcủa Việt Nam
- Lịch sử quá trình hình thành và phát triển thành phố Vinh
Năm 1788, Vinh được Quang Trung – Nguyễn Huệ chọn làm nơi đóng
đô, thành Phượng Hoàng Trung Đô ra đời từ đây Dù rằng công trình chưa đượcxây dựng hoàn tất do sự nghiệp nhà Tây Sơn ngắn ngủi, nhưng nó cũng là dấumốc trên chặng đường phát triển hơn 200 năm của thành phố Vinh
Dưới thời Pháp thuộc: Từ năm 1899, người Pháp đã cho thành lập 6 đô thị
ở Miền Trung trong đó nổi bật là 3 đô thị Vinh – Huế - Đà Nẵng Vinh với nhiềulợi thế sẵn có, là đầu mối giao thông xe lửa nối với thủ đô, có tuyến đường bộ số
7 và 8 nối với Lào, có sân bay, cảng Bến Thủy nên sớm trở thành đô thị nhộnnhịp Nhờ vào vị trí thuận lợi, thực dân Pháp đã đầu tư ở Vinh một số cơ sởcông nghiệp như Nhà máy diêm cưa Bến Thủy, Nhà máy xe lửa Trường Thi –Vinh… Cảng Bến Thủy là cảng lớn thứ hai của Miền Bắc và lớn nhất Bắc Trung
Bộ, là cửa ngõ thông ra biển với Vương quốc Lào
Trong thời gian này, nông dân Nghệ Tĩnh vẫn lấy nông làm gốc, Vinhkhông phải là ngoại lệ Vinh là trung tâm buôn bán, trao đổi hàng hóa nhưngkhông phải là trung tâm sản xuất hàng hóa
Đến cuối thế kỉ XIX, hoạt động buôn bán trao đổi khá phát triển, đã biếnVinh thành một trung tâm tiêu thụ các loại sản phẩm hàng hóa của hai tỉnh Nghệ
- Tĩnh Tuy không có những cơ sở sản xuất quy mô lớn nhưng Vinh đã có nhữngtiền đề ban đầu để dễ dàng chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong chế độ thuộc địa nửathực dân
Trang 35Trong thời gian vận động khá dài (1804 – 1899), trung tâm đô thị Vinhchính thức được thành lập Đây là trung tâm đô thị được hiểu theo nghĩa hiện đạicũng là sản phẩm của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất Dưới conmắt của người Pháp, những con người của nền công nghiệp, Vinh thật sự làvùng đất đầy tiềm năng, thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm Mặt khác, đâycũng là bàn đạp để người Pháp tiến hành mở rộng diện khai thác thuộc địa sangtận Lào thông qua hai tuyến đường 7 và 8 Do vậy, chúng ta có thể thấy rằngquy mô, vị trí của Vinh không bó hẹp trong phạm vi là trung tâm kinh tế chínhtrị của Xứ Nghệ mà còn mang vị trí chiến lược trong khu vực Bắc Trung Bộ vàVương quốc Lào.
Từ đó, Vinh đã trở thành một mắt xích quan trọng đối với chính quyềnthuộc địa về kinh tế - chính trị - văn hóa và thu hút sự đầu tư của tư bản Pháp.Kết quả đã hình thành nên các trung tâm công nghiệp ở phía Nam và ĐôngNam
Trên một khoảng không gian địa lý không vượt quá 20km2, đã tồn tạisong song ba khu trung tâm là Vinh – Bến Thủy – Trường Thi Với các chứcnăng chuyên biệt như Vinh chuyên về hành chính, Trường Thi là vùng côngnghiệp cơ khí sửa chữa, Bến Thủy với công nghiệp diêm cưa… Tuy nhiên, tựutrung lại, chúng đã trở thành những “thanh nam châm” có lực từ mạnh, có khảnăng thu hút đông đảo các tầng lớp dân cư vùng phụ cận tới định cư, sinh sống.Vinh được biết đến như một đô thị với những nhà máy, xí nghiệp, bến cảng,hãng buôn, nhà băng nổi tiếng của người Pháp, Hoa Kiều, Ấn Kiều Vinhcũng là thành phố của thợ thuyền với hàng vạn công nhân Đó là biểu hiện củaquá trình tăng lên về quy mô dân đô thị - một đặc điểm của đô thị hóa
Đầu những năm 30 của thế kỉ XIX, Vinh là cái nôi của phong trào yêunước và cách mạng “Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước ” Cao trào cách mạng
1930 - 1931 Xô Viết Nghệ Tĩnh được châm ngòi từ đây
Từ sau khi Miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa (1954 – 1965),hòa chung khí thế của dân tộc, thành phố Vinh được khôi phục với tốc độ nhanhhơn Các trung tâm chính trị, trung tâm thương mại được xây dựng lại Dân di
Trang 36tản quay lại thành phố đã khiến dân cư Vinh tăng lên nhanh chóng, khoảng 4 – 5vạn dân trên địa bàn.
Giai đoạn 1965 – 1974, Giặc Mỹ leo thang chiến trang phá hoại MiềnBắc, thành phố Vinh bị tàn phá nặng nề, các cơ quan, nhà máy phải sơ tán vềnông thôn
Từ sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng (1975), thành phố Vinh với sựgiúp đỡ của CHDC Đức đã tiếp cận với mô hình của một đô thị trẻ, bước đầuđược hiện đại hóa Các khu chức năng, trung tâm được xây dựng bám theo cáctuyến phố quan trọng theo kiến trúc kiểu bàn tay xòe Tuy nhiên, kiểu đô thị nàykhông đạt hiệu quả như mong muốn bởi nền sản xuất nhỏ không hỗ trợ được cơcấu đô thị hiện đại Đất nước mới độc lập, nền kinh tế quốc dân non trẻ chưa thể
đủ sức vực dậy một đô thị bị tàn phá nặng nề như Vinh
Với nền sản xuất nhỏ, kinh tế hộ gia đình vẫn giữ vị trí trung tâm là néttiêu biểu của kinh tế Vinh Lúc này, yếu tố môi trường chưa được quan tâm,khoảng cách tới các vị trí trung tâm luôn là yếu tố “thiên thời địa lợi” do hìnhthức buôn bán nhỏ và dịch vụ là ngành vượt trội Các hoạt động kinh tế côngnghiệp, tài chính, du lịch gần như trầm lắng Do vậy, vô hình chung, thiên nhiênvắng bóng trong các hoạt động kinh tế - xã hội, và điều tất nhiên, sự ô nhiễmmôi trường còn là điều xa lạ với thành phố ven dòng Lam xanh
Từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành (1986), cả nước đi những bướcchậm của nền kinh tế thị trường còn khá lạ lẫm, thành phố Vinh cũng đứngtrước những bỡ ngỡ của luồng gió mới; tốc độ phát triển kinh tế chậm lại, đờisống của các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn
Giai đoạn từ 1991 – 1995, thành phố Vinh đã có lịch sử phát triển hơn
200 năm đang chuyển mình cùng những luồng sinh khí mới Năm 1993, thànhphố Vinh lên đô thị loại II, một dấu mốc quan trọng Thành phố có sự mở rộng
về không gian, các khu dân cư và dịch vụ được liên kết thành một khối, tiêu biểu
là Quán Bánh – Vinh – Nghi Xuân Các KCN ban đầu đã được manh nha Tuynhiên, do xuất phát điểm thấp, di chứng thực dân vẫn còn in đậm trong cơ chếquản lí, điều tiết vĩ mô Do đó, nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như công nhiệp
Trang 37phân tán nhỏ lẻ, thiếu tính thống nhất, đô thị chưa được quy hoạch,vấn đề dãndân vẫn còn khá lạ lẫm… Tất cả tạo nên sự dở dang trong tiến trình đô thị hóa,khi mà công nghiệp hóa chỉ mới dừng lại ở nhịp khởi động.
Từ năm 1995 đến nay, đô thị phát triển nhanh, tổ chức không gian đô thị
có nhiều thay đổi Các khu nhà chia lô, các khu chức năng được quy hoạch vớimật độ dày hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của dân cư Các KCN cũng đã đi vàoguồng quay của sự phát triển mới Đô thị xung quanh các khu trung tâm bắt đầutăng nhanh về bán kính, và nhu cầu đương nhiên là sự hình thành những hạtnhân mới Lúc này, sức hút từ Cửa Lò đang tăng lên, Vinh – Cửa Lò có điềukiện kết nối để trở thành tuyến du lịch – nghỉ dưỡng – tham quan hấp dẫn Tuynhiên, hệ lụy không thể tránh khỏi của sức bật mới đó là những vấn đề về quá tảicủa điểm trung tâm, xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm môi trường, hay bất cập trongvấn đề quy hoạch, ì ạch trong tiến trình công nghiệp hóa… làm nên những bàitoán khó trong công tác quản lí đô thị
Tháng 10 năm 2008, thành phố Vinh vinh dự đón nhận là đô thị loại I trựcthuộc tỉnh Nghệ An Dấu son quan trọng trong lịch sử thành phố đã mở ra triểnvọng mới cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, trải qua những thăng trầm của lịch sử thành phố thơ mộng,thành phố có núi, ven bờ dòng Sông Lam đã hai lần bị san phẳng Lần thứ nhất
là tiêu thổ kháng chiến khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp(1946 - 1947); lần thứ hai là chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 - 1972).Chiến tranh đã đi qua, một luồng sinh khí mới đang thổi đến với thành Vinh.Không chỉ nổi tiếng là thành phố giàu truyền thống lịch sử và cách mạng, Thànhphố Đỏ anh hùng, Vinh như nó đã từng có mà còn được biết đến là một thànhphố công nghiệp và thương mại Hơn nữa Vinh là nơi hội tụ tinh hoa văn hoá xứNghệ và sớm hình thành những giá trị của văn hoá đô thị Từ trong hoang tàn đổnát của chiến tranh Vinh “đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn” (thơ ThạchQuỳ)
Trang 38- Một vài thành tựu kinh tế - xã hội của thành phố Vinh giai đoạn hiện nay
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, làn sóng công nghiệp hóa – đô thịhóa cùng sức lan tỏa của nó đã lan mạnh đến thành phố Vinh Thành phố đã đạtnhiều thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội
+ Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thành phố Vinh với vai trò là đầu tàu tăng trưởng của tỉnh Nghệ An, trongnhững năm qua kinh tế thành phố đã có những bước tăng trưởng khá nhanh vàtoàn diện Quy mô kinh tế tăng nhanh trong những năm gần đây Năm 2008,GDP đạt 3.140 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), tăng 16% so với năm 2007
và 2,8 lần so với năm 2000 Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 –
2005 đạt 11,9% Bình quân 3 năm đầu kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 tăng 15,4%/
năm, vượt gần 2% so với mục tiêu Đại Hội (Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh tế xã
hội năm 2008 HĐND, UBND thành phố Vinh).
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thành phố trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theohướng tích cực, tăng dần tỉ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng, giảm dần tỉtrọng các ngành nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp – xây dựng tăng từ 31%năm 2000 lên 39% năm 2008 Dịch vụ giảm từ 65,5% năm 2000 còn 57,9% năm
2008 Nông nghiệp giảm từ 3,4% năm 2000 giảm xuống còn 3,1% năm 2008
Bảng 2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Vinh giai đoạn 2000 - 2008
(Đơn vị: %)
Các chỉ tiêu kinh tế 2000* 2005* 2006* 2007 2008
Cơ cấu kinh tế GTTT 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Công nghiệp – xây dựng 31,0 37,5 38,5 38,9 39,0
Nông – Lâm – Ngư nghiệp 3,4 2,3 1,9 1,6 3,1
* Thành phố Vinh chưa mở rộng
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Vinh)
Tác động của cơ chế thị trường và kể từ khi thành phố Vinh lên đô thị loại I(năm 2008) đến nay đã có những thay đổi rõ rệt trong phát triển kinh tế - xã hội.Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng trong thời gian qua trên địa bàn thànhphố tăng khá nhanh: năm 2000 đạt 1182,8 tỷ đồng, đến năm 2005 đã đạt 1.631,7
Trang 39tỷ đồng, năm 2008 là 3.970 tỷ đồng, bình quân giai đoạn 2001 – 2008 tăng 15 –16%/năm.
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành giai đoạn 2006 - 2009
( Tính theo giá thực tế năm 1994)
Năm
Công nghiệp khai thác 463.074 544.954 650.150 805.403
Công nghiệp chế biến 5.103.603 6.125.483 7.474.144 9.490.594 Sản xuất và phân phối
( Nguồn: UBND thành phố Vinh)
Trong những năm gần đây kinh tế thành phố có nhiều chuyển biến tíchcực và phát triển theo chiều hướng đi lên do đó thu nhập bình quân đầu người vàđời sống nhân dân được cải thiện
Bảng 2.3 Thu nhập bình quân đầu người ở thành phố Vinh giai đoạn 1990 - 2008
(Nguồn : Phòng thống kê UBND thành phố Vinh)
Ngày nay, Vinh được biết đến là một thành phố được quy hoạch tốt “Một
không gian thông thoáng, đường phố rộng với nhiều toà nhà cao tầng, là những
ấn tượng đầu tiên khi về với Vinh Cốt cách của Vinh đã có từ xưa, một thànhphố đẹp với nhiều trường học, nhà máy, bến tàu ” Đó là nhận xét của giáo sư,nhà văn Hà Minh Đức về thành phố Đỏ hôm nay Trong công cuộc đổi mớiVinh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế xã hội, xây dựng hạ tầng vàquản lý đô thị Với diện tích 104 km2, dân số hơn 29 vạn người, thuận tiện vềgiao thông (đường sắt, đường bộ, đường không, đường thuỷ), lại giàu truyềnthống lịch sử, Vinh không những là tỉnh lỵ của tỉnh Nghệ An, mà còn là đô thịloại I, trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ
Trang 40Ảnh 1 Thành phố Vinh đang từng ngày đổi mới
2.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG ĐÀO (ĐOẠN ĐI QUA THÀNH PHỐ VINH)
2.2.1 Giới thiệu về sông Đào
2.2.1.1 Vị trí giới hạn, diện tích lưu vực sông Đào
Sông đào thường được gọi kênh Thấp, kênh Vinh nằm ở phía Đông NamTỉnh Nghệ An, thuộc huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên và Thành phố Vinh, đầutrên thông với Sông Lam qua cống Nam Đàn, đầu dưới thông với Sông Lam quacống Bến Thuỷ
Lưu vực Sông Đào có diện tích 287,34 km2, trong đó đồi núi có 31,79 km2,đồng bằng có 255,55 km2, tổng diện tích đất canh tác 12.109,7 ha, chiều dàiSông Đào 28,8 km (kênh Thấp 23,2 km, kênh Vinh 5,6km)
2.2.1.2 Nhiệm vụ của sông Đào
Có 3 nhiệm vụ chính:
- Tiêu úng, tháo lũ cho 287,34 km2 lưu vực đồi núi, đồng ruộng và dân cưNam Đàn, Hưng Nguyên, Thành phố Vinh qua cống Bến Thuỷ về Sông Lam vàqua kênh Gai về Cửa Lò