1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của nho giáo, phật giáo ở phương diện lý giải số phận con người trong truyện kiều nguyễn du

52 1,4K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo ở phương diện lý giải số phận con người trong truyện Kiều Nguyễn Du
Người hướng dẫn ThS. Thạch Kim Hơng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học Trung đại Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 243,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vấn đề: ảnh hởng của Nho, Phật giáo đối với Truyện Kiều ở phơng diện lý giải số phận con ngời đã đợc đề cập đến rất nhiều ở các côngtrình nghiên cứu nhng vấn đề đặt ra trong khoá

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn

- -Khoá luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: văn học trung đại việt nam

ảnh hởng của nho giáo, phật giáo ở phơng diện lý giải

số phận con ngời trong truyện kiều của nguyễn du

Giáo viên hớng dẫn: ThS. Thạch Kim Hơng

Sinh viên thực hiện: Hồ Thị Ngọc

Lớp: 47B4 Ngữ văn– Ngữ văn

Vinh - 2010

Trang 2

A.phần Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Trung đại Việt Nam đợc tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Đây

là giai đoạn hình thành và phát triển rực rỡ của nền văn học dân tộc Nói tớivăn học Trung đại Việt Nam chúng ta không thể không nhắc đến Nguyễn Du

với kiệt tác Truyện Kiều Có thể nói Truyện Kiều đã nâng Nguyễn Du từ một

thi sĩ dân tộc lên tầm danh nhân văn hoá thế giới Tuy Nguyễn Du khiêm tốnxem tác phẩm của mình là “Lời quê chắp nhặt rông dài – mua vui cũng đợc

một vài trống canh” nhng qua bao biên cố thăng trầm của lịch sử, Truyện

Kiều ngày càng khẳng định đợc giá trị cả về mặt nội dung lẫn nghệ thuật

Đ-ợc viết dới “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” vàvới tất cả tâm huyết “nh có máu chảy ở đầu ngọn bút, nớc mắt thấm qua tờ

giấy”, Truyện Kiều là sự thể hiện tập trung nhất nỗi đau nhân tình của

Nguyễn Du

Truyện Kiều đã, đang và sẽ là đối tợng nghiên cứu thu hút rất nhiều sự

quan tâm của đông đảo độc giả trong và ngoài nớc

Bản thân ngời thực hiện khoá luận này, mặc dù rất yêu thích Truyện

Kiều nhng do thời gian học tập trên lớp có hạn nên chúng tôi cha có cơ hội

tìm hiểu nhiều về tác phẩm Thực hiện đề tài này,chúng tôi sẽ có dịp tìm hiểu

sâu hơn về Truyện Kiều và sẽ có cơ hội hiểu thêm về “một hồn thơ chồng

chéo những khối mâu thuẫn”

Về mặt khoa học, lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều đã trải qua gần hai thế kỉ Mặc dù vấn đề: ảnh hởng của Nho, Phật giáo đối với Truyện Kiều ở

phơng diện lý giải số phận con ngời đã đợc đề cập đến rất nhiều ở các côngtrình nghiên cứu nhng vấn đề đặt ra trong khoá luận của chúng tôi hầu nh ch-

a đợc trình bày một cách cụ thể, trực tiếp và có hệ thống Đề tài này cha đợcxem là một đối tợng nghiên cứu chính mà nó chỉ đợc đề cập đến khi các nhànghiên cứu bàn đến các vấn đề có liên quan

So với những tác phẩm thuộc Văn học Trung đại thì Truyện Kiều là tác

phẩm đợc đa vào giảng dạy với nhiều đoạn trích nhất Thực hiện đề tài này,chúng tôi sẽ có cơ hội tốt để tích luỹ kiến thức làm hành trang phục vụ choviệc giảng dạy sau này và cũng mong rằng sẽ góp một phần nhỏ vào phơng

pháp giảng dạy các đoạn trích của Truyện Kiều ở trừơng phổ thông

2 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận của chúng tôi sẽ đi vào phân tích sự ảnh hởng của

Trang 3

Nho giáo và Phật giáo đối với Truyện Kiều trên cơ sở xem vấn đề ảnh hởng

đó là con đờng đi tìm lời lý giải cho số phận con ngời trong tác phẩm này

Từ việc phân tích riêng rẽ sự ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo, khoáluận sẽ cố gắng làm rõ sự giao thoa giữa hai t tởng Nho - Phật giáo trong tácphẩm trong việc lý giải số phận con ngời dới xã hội cũ của Nguyễn Du Từ

đó góp phần tìm hiểu một hồn thơ, “một khối mâu thuẫn”

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều đã trải qua gần hai thế kỷ Tơng truyền, sau khi viết xong Truyện Kiều Nguyễn Du đa tác phẩm của mình cho cụ

Phạm Quý Thích đọc Cụ Phạm rất thích, có cho sửa đôi chỗ rồi đa ra ngâmvịnh với học trò Sau đó, cụ cho khắc in ở Hàng Gai (Hà Nội) Theo các nhà

nghiên cứu, đây là bản Kiều in đầu tiên có tên là Kim Vân Kiều tân truyện Trong bản này có bài đề từ là bài thơ tổng vịnh Truyện Kiều, theo nhà nghiên

cứu Hoàng Xuân Hãn thì nó đợc viết vào khoảng năm 1805-1806

Từ khi ra đời đến nay, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử

Truyện Kiều vẫn luôn là đối tợng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu trong và

ngoài nớc Các công trình nghiên cứu về tác phẩm này ngày càng tăng về sốlơng và chất lợng Bạn đọc ngày càng gần hơn, hiểu hơn về một hồn thơ vĩ

đại

Có thể coi ngời đầu tiên đề cập đến vấn đề triết lý “tài mệnh tơng đố”

trong Truyện kiều là Phạm Quý Thích trong bài Đoạn trờng tân thanh đề từ

Bài đề từ này đợc in trong bản khắc Truyện Kiều bằng chữ Nôm lần đầu

tiên Tiên Phong Mộng Liên Đờng Chủ Nhân trong bài tựa Truyện Kiều nổi

tiếng năm 1820 cũng có chung cách nhìn trên, ông viết: “ trong trời đất đã

có ngời tài tình tuyệt thế tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình Tài mà

Trang 4

không gặp gỡ, tình mà không đợc hả hê đó là căn nguyên của hai chữ đoạntrờng vậy có tài mà không gặp đợc tài, có tình mà không đợc hả tình, tàitình đã tuyệt thế, gặp toàn bớc khảm kha, há không phải là con tạo ách ngờiquá lắm ru? ấy chính là truyện “Đoạn trờng tân thanh” vì đấy mà làm ravậy trong một tập thuỷ chung lấy bốn chữ “tạo vật đố tài” tóm cả một đờiThuy Kiều” [12 , tr 22-24].

Khi mà nghiên cứu văn học đã trở thành một bộ môn riêng biệt mang ý

nghĩa hiện đại thì việc nghiên cứu Truyện Kiều đã thu đợc nhiều thành tựu

lớn Trong rất nhiều hớng tiếp cận tác phẩm, rất nhiều tác giả đã gặp nhau ởhớng đi: tìm hiểu nội dung t tởng, chủ đề tác phẩm.Theo hớng tiếp cận này,

có những tác giả tiêu biểu nh: Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Hoàng NgọcHiến, Đặng Thanh Lê, Trần Đình Sử, Phan Ngọc

Đào Duy Anh trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều có viết: “

t tởng Nguyễn Du ở đây là t tởng “tài mệnh tơng đố” và nó làm nòng cốt chotoàn truyện ” [8, tr 19]

Trần Trọng Kim trong công trình nghiên cứu của mình cho rằng: “ Truyện Kiều lấy cái thuyết phổ thông của Đạo phật nói về nhân quả làm tínchỉ ” [7, tr 155-156]

Hiện tợng Nguyễn Bách Khoa-Trơng Tửu và hai cuốn sách Nguyễn Du

và truyện Kiều (xuất bản 1941) và Văn chơng truyện Kiều (xuất bản 1942)

đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và bạn đọc yêu thích Truyện

Kiều Trong công trình ấy tác giả cũng đã khẳng định: “ bây giờ chúng ta

có thể trở lại Truyện Kiều mà nói quả quyết rằng Nguyễn Du tạo ra nó chỉ để

chứng minh cho luật nhân quả Đó là ý tởng chỉ huy khối óc của ông ” [7,

tr 155-156]

Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Triết lý Truyện Kiều cũng có chung

nhận định: “ Thế giới này đợc nhà t tởng Nguyễn Du nhận thức với một ýnghĩa siêu hình: bản chất của nó là mâu thuẫn giữa tài và mệnh Quan niệm

“tài mệnh tơng đố” là niềm tin sâu sắc của tác giả Truyện Kiều” [8, tr 549]

Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ

XIX) đã khẳng định: “ Truyện Kiều không những là tấm gơng phản chiếu

thời đại mà còn là tấm gơng phản chiếu những mâu thuẫn phức tạp trong thếgiới quan của nhà thơ Nhà thơ có lúc tin vào triết lý định mệnh, có lúc lạinghi ngờ rồi đi đến phủ định triết lý định mệnh Nhìn chung có một triết lý

định mệnh trong Truyên Kiều Gíông nh bóng ma Đạm Tiên, chủ nghĩa

định mệnh ấy có khi vô hình nó thấm đợm trong các câu thơ của Truyện

Trang 5

Kiều, có khi cụ thể hoá thành hình tợng hoặc trong những lời giải thích, nóithêm của tác giả ” Nguyễn Lộc không những đã chỉ ra đợc sự ảnh hởngcủa Nho giáo và Phật giáo trong tác phẩm này mà tác giả còn từng bớc phântích sự mâu thuẫn phức tạp trong thế giới quan của nhà thơ.

Trong công trình Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh

Lê, xuất bản năm 1979, bà đã đặt ra vấn đề: “chủ đề và nội dung t tởng triết

lý Truyện Kiều Quan điểm nhìn nhận hiện thực của Nguyễn Du” (chơng 2),tác giả đã tổng hợp đánh giá “những ý kiến và những con đờng đi đến triết lýTruyện Kiều” [7, tr 165] Sau đó bà đã đi tới kết luận: “ thế giới quan củaNguyễn Du cũng nh của tài năng dới chế độ cũ là một khối mâu thuẫn hếtsức phức tạp, tinh vi Đối với sự giải thích mâu thuẫn trong cuộc sống, vậnmệnh nhân vật chính Truyện Kiều biểu hiện nhiều dòng suy nghĩ, nhiềunguồn triết lý t tởng dân chủ chống phong kiến của quần chúng, quan điểmcủa Phật giáo và triết lý Nho giáo ” [7, tr 165]

Năm 1985, xuất hiện công trình thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu

văn học đó là công trình mang tên: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong

Truyện Kiều của Phan Ngọc Công trình này đánh dấu bớc chuyển trong

nghiên cứu Truyện Kiều– nghiên cứu thi pháp – xem Truyện Kiều nh là

đối tợng nghệ thuật độc lập để phân tích Trong công trình, đó Phan Ngọc đãchứng minh rằng Nguyễn Du đã thay đổi chủ đề từ “tình” và “khổ” sang t t-ởng “tài mệnh tơng đố” theo tác giả thì đây là lý thuyết của Nguyễn Du,không phải là sự vay mợn Nó là vấn đề không có tính chất muôn thuở mànảy sinh trong giai đoạn lịch sử nhất định ” [10, tr 41-42]

Ngoài ra, trên nhiều tạp chí văn học và những công trình nghiên cứukhác một số tác giả đã theo hớng tiếp cận đến sự ảnh hởng của chữ “mệnh”của nhà Nho và chữ “nghiệp” của nhà Phật trong việc cắt nghĩa số phận bikịch của con ngời dới xã hội cũ

3.2 Nhận xét

Nh vậy ở giai đoạn đầu, khi Truyện Kiều mới ra đời việc phê bình tác

phẩm này mới chỉ mang tính chất cảm thụ chứ cha mang tính chất nghiêncứu khoa học nh ngày nay Tuy chỉ là những ý kiến ban đầu nhng các tác giả

đã làm bật nổi đợc sự chi phối của thuyết “tài mệnh tơng đố” trong tác phẩmcủa Thanh Hiên Tuy cha chứng minh một cách cụ thể nhng họ đã hình thành

nên một hớng tiếp cận Truyện Kiều, đó là hớng tiếp cận dới sự soi sáng của

học thuyết Nho giáo

Trang 6

Các tác giả trên bằng những cách khác nhau đã từng bớc làm sáng rõ sự

ảnh hởng của học thuyết Nho - Phật giáo đối với vấn đề lý giải số phận đoạntrờng của nhân vật Thuý Kiều nói riêng và con ngời nói chung dới xã hội cũ

trong tác phẩm Truyện Kiều Tuy nhiên sự chứng minh đó cha đợc cụ thể.

Có thể nói sau năm 1980, Truyện Kiều của Nguyễn Du đợc tiếp cận

theo nhiều phơng pháp mới: phong cách học, thi pháp học, kí hiệu học Cáccông trình của Phan Ngọc, Trần Đình Sử đã gây đợc sự chú ý lớn Vấn đề

ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo trên hành trình đi tìm lời giải đáp cho sốphận của con ngời dới xã hội cũ đợc nêu lên một cách không né tránh khinghiên cứu các vấn đề có liên quan Do đó tuỳ màu sắc đậm nhạt khác nhaucác tác giả đều đã đề cập tới vấn đề này nhng họ cha xem nó là một vấn đềcần đợc nghiên cứu một cách độc lâp, cần đợc đa ra phân tích chứng minhmột càch có hệ thống và toàn diện

Nêu lên và đa ra nhận xét trên chúng tôi không nghĩ rằng đó là nhợc

điểm của các công trình nghiên cứu Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở

đây là các tác giả trong các công trình nghiên cứu trên không tự đặt ra chomình nhiệm vụ nhìn nhận vấn đề ảnh hởng của Nho - Phật giáo đối với vấn

đề lý giải số phận con ngời trong Truyện Kiều nh là một nhiệm vụ chuyên

biệt mà chỉ đề cập đến nó khi nghiên cứu các vấn đề có liên quan Khoá luậncủa chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu hơn ở khía cạnh này

Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của những ngời đi trớc, khoá luậncủa chúng tôi sẽ xem vấn đề đó nh một đối tợng cần đợc nghiên cứu độc lập,trực tiếp và có hệ thống

4 Đối tợng và Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Trong hơn 30 dị bản của Truyện Kiều (số liệu của Việt báo Việt Nam,

số ra ngày 27/2/2005) chúng tôi lựa chọn văn bản Truyện Kiều của nhà xuất

bản Thanh Niên, xuất bản năm 1999 do Vũ Tiềm bình giải, chú thích vàminh hoạ để khảo sát

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo

đối với Truyện Kiều ở góc độ giải thích số phận con ngời.

Trong tác phẩm này Nguyễn Du đã chịu ảnh hởng của cả ba học thuyết

t tởng Nho, Phật, Lão nhng ở đề tài này chúng tôi chỉ giới hạn phạm vinghiên cứu ở sự ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo

Trang 7

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du rất phong phú, đa dạng ngoài

Truyện Kiều còn có: “Văn chiêu hồn”, Thơ chữ Hán, một số bài thơ Nôm

những tác phẩm này cũng chịu ảnh hởng của học thuyết t tởng Phật giáo

nh-ng khônh-ng nằm tronh-ng mục đích nh-nghiên cứu của đề tài mà chúnh-ng tôi chỉ tập

trung nghiên cứu sự ảnh hởng đó trong Truyện Kiều

Rõ ràng khi viết Truyện Kiều Thanh Hiên đã tiếp thu có chọn lọc tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Tác phẩm Kim Vân

Kiều truyện cũng chịu ảnh hởng của Nho, Phật, Lão tuy nhiên khoá luận của

chúng tôi không đặt ra nhiệm vụ so sánh với tác phẩm của Thanh Tâm mà

chỉ mô tả trong Truyện Kiều

6 Cấu trúc của khoá luận

Khoá luận gồm có 60 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dungchính đợc trình bày trong ba chơng:

Chơng I: Khái lợc về t tởng Nho giáo, Phật giáo và tác phẩm Truyện

Kiều của Nguyễn Du.

Chơng II: ảnh hởng của Nho giáo đối với vấn đề lý giải số phận của con

ngời của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

Chơng III: ảnh hởng của Phật giáo đối với vấn đề lý giải số phận con

ngời của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

Trang 8

B PHầN NộI DUNG

CHƯƠNG I khái lợc về t tởng Nho giáo, Phật giáo

và tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du

1.1 Khái lợc về t tỏng Nho giáo

Nho giáo là học thuyết tiêu biểu, thịnh hành của các dân tộc thuộc vănminh cổ xa trên lục địa á Đông, Trung Quốc - Việt Nam - Triều Tiên Nókhông phải là Tôn giáo mà là một học thuyết chính trị nhng đợc tôn sùng, đ-

ợc thờ tự nh một tôn giáo Ngời xây dựng nền tảng học thuyết buổi đầu là

ông Chu Công Đán đời nhà Chu khái lợc, khảo luận trong thời thợng cổnứơc Tàu Tiếp theo, Khổng Tử [551- 479 TCN] sống vào thời Xuân Thu đãsang định, biên soạn, nâng cao và phổ biến trong đời sống Về sau, Mạnh

Tử [371 - 289 TCN], thời Chiến Quốc, Đổng Trọng Th [179 - 104 TCN], thờiTây Hán đã đa Nho giáo lên tầm mức mới về lý luận làm cho Nho học ngàycàng hoàn chỉnh Các đời sau, Nho giáo phân ly quanh gốc bản của nó đồngthời chuyển đổi, mai một thêm ở thời hiện đại Tuy vậy, ảnh hởng của nó đãcắm sâu gốc rễ vào con ngời, đời sống và xã hội ở hầu nh toàn lãnh thổ vùng

đất á Đông, trong và xung quanh lục địa Trung Hoa

Theo tác giả Xuân Thành trong công trình Hỏi đáp văn chơng Việt

Nam thì: “chữ Nho trớc hết để chỉ ngời nhún nhờng, biết lẽ phải trái, đạo

đức, ngời cao trọng sau đó là ngời cần cho xã hội, gánh vác trọng tráchtrong xã hội, ngời đại nhân quân tử, trợng phu Nghĩa thứ nhì là giáo thuyếtcần cho mọi ngời, xã hội Tức là đạo Nho hay Nho giáo, hay là giáo thuyết

về Nho và nhà Nho Nó đợc viết bởi chữ nhu - nhu cầu và chữ nhân - con

ng-ời ” [19, tr 24 - 25]

Nho giáo xem xét tổng quan mọi vấn đề của xã hội, con ngời, nhânsinh quan, vũ trụ quan vạn vật để đa ra học thuyết đề cao con ngời chuẩnmực làm cho xã hộ văn minh, nhân dân an c lạc nghiệp Nó gồm các nộidung cơ bản đó là: Quân, s, phụ

Nho giáo đề ra “tam cơng”, “ngũ thừơng” để xây dụng và bảo vệ chotrật tự phong kiến Nho giáo đề ra “tam cơng”, “tam cơng”: Vua-Tôi, Cha –Con, Chồng - Vợ Nghĩa là ba mỗi quan hệ làm rờng cột, làm nền tảng đểduy trì trật tự phong kiến “Ngũ thờng” nghĩa là năm đức tính cần có của bậcquân tử đó là: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Những t tởng của Nho giáo đợc thể

hiện ở hai bộ sách Tứ th và Ngũ kinh Tứ th có: Đại học, Trung dung, Luận

Trang 9

ngữ, Mạnh Tử Ngũ kinh gồm: Kinh thi, Kinh th, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh

xuân thu Hệ thống kinh điển đó hầu nh viết về chính trị xã hội, ít viết về tựnhiên Điều này cho thấy xu hớng biện luận về xã hội, chính trị đạo đức làcốt lõi của Nho Giáo

Nho giáo là học thuyết có ảnh hởng lớn, sâu rộng và lâu dài ở vùng

Đông Nam á Sau khi ra đời ở Trung Quốc (khoảng thế kỷ VI TCN) thì đếnthế kỷ thứ II đầu công nguyên” (thời Hán) Nho giáo đi sang Phơng Đông,sang Triều Tiên, xuống phía nam Châu á

Học thuyết Nho giáo chứa đựng nhiều nội dung nhng ở đây chúngtôi chỉ bàn đến nội dung liên quan đến đề tài đang nghiên cứu: t tởng “thiênmệnh” Nho giáo cho rằng con ngời và thế giới bên ngoài do trời sinh ra, sốphận con ngời là do trời định, trời an bài địa vị con ngời

Nho giáo truyền vào nớc ta khi nào? Đó là một vấn đề khá phức tạp.Nho giáo bắt rễ mạnh mẽ trong đời sống xã hội, văn học từ những năm trớc

và sau thế kỷ thứ X, nhất là vào thế kỷ thứ XV của đời nhà Lê sau đó Nhogiáo khi thâm nhập vào Việt Nam đã chịu sự khúc xạ của văn hoá Việt Từngbớc nó đã khẳng định đợc chỗ đứng của mình trong bộ máy nhà nớc phongkiến Việt Nam Nho giáo đã lan toả sự ảnh hởng của mình một cách sâu rộnglên đời sống văn hoá, chính trị nớc ta đơng thời Nho giáo đợc dùng để xâydựng và củng cố bộ máy nhà nớc phong kiến Văn học Trung đại cũng chịu

sự ảnh hơng sâu sắc của đạo Nho Rất nhiều những tác phẩm văn học viếttrong trời kỳ này đã chứng minh điều đó

1.2 Khái lợc về t tởng Phật giáo

Nếu nh Trung Quốc là nơi hình thành của Nho giáo thì ấn Độ là cáinôi của Phật giáo Theo truyền thuyết, ngời sáng lập ra đạo Phật là XitđáctaGôtam (siddharta Gautama), sau khi thành Phật đợc tôn xng là Xa kia Mu ni(Thích Ca Mâu Ni) Ngời là con của vua Sutđôđana nớc Capi lavaxtu ở chânnúi Himalaya, miền đất bao gồm một phần nớc Nêpan và một phần ấn Độngày nay Năm 29 tuổi, Xitđácta xuất gia đi tu để tìm kiếm con đờng cứu vớtnhững nỗi khổ của chúng sinh Năm 35 tuổi ông đã nghĩ ra cách lý giảinguồn gốc của mọi khổ đau do đó cho rằng đã tìm ra con đờng cứu vớt Từ

đó ông đợc tôn là Buddha mà ta quen gọi là Bụt hoặc Phật nghĩa là “ngời đãgiác ngộ”, “ngời hiểu đợc chân lý”

Niên đại của Phật hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến cha thống nhất: Một sốngời cho rằng Phật sinh năm 563 TCN và mất năm 483 TCN, ý kiến khác lại

Trang 10

cho rằng Phật sinh năm 624 TCN và mất 544 TCN Tín đồ Phật giáo lấy năm

544 TCN làm năm mở đầu kỷ nguyên Phật giáo

Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật giáo đợc tóm tắt trong lời dạycủa Đức Phật: trớc đây và ngày nay ta lý giải và nêu ra cái chân lý về nỗi đaukhổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ Cũng nh nớc đại dơng chỉ có một vịmặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt

Chân lý về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy đợc thể hiệntrong thuyết “tứ thánh đế” hay còn gọi là “tứ diệu đế”, “tứ đế” nghĩa là bốnchân lý Thánh Đó là: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế

Theo Vũ Dơng Ninh trong cuốn Lịch sử văn minh thế giới thì:

“Khổ đế là chân lý về bản chất của nỗi khổ

Tập đế là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ

Diệu đế là chân lý về cảnh giới về sự diệt khổ

Đạo đế là chân lý về con đờng diệt khổ, tức là phơngpháp thực hiện việc diệt khổ ” [9, tr 92]

Về mặt thế giới quan thì nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo làthuyết “Duyên khởi, duyên khởi là chữ nói tắt của câu “ch pháp do nhânduyên nhi khởi” nghĩa là nguồn gốc của vạn vật” [9, tr 49]

Giáo lý nhà Phật khẳng định: Nớc bao giờ cũng chảy xuống, tham muốn

và tình dục sẽ đa con ngời vào vòng trầm luân đau khổ, từ đó đẩy con ngờivào nghiệp báo luân hồi

Theo Trần Quốc Vợng trong Cơ sở văn hoá Việt Nam thì “có thể đạo

Phật đã du nhập vào nớc ta trong thế kỷ đầu của Công nguyên” [22, tr 137]

1.3 Truyện Kiều

1.3.1 V i nét về tác giả ài nét về tác giả Truyện Kiều

Nguyễn Du(1766–1820) tên chữ là Tố Nh, hiệu là Thanh Hiên Sinh ratrong gia đình quý tộc có thế lực vào bậc nhất đơng thời Dòng họ củaNguyễn Du có nhiều ngời lam quan Theo cụ Lê Thớc: “Nguyễn Du có cùngmột ông tổ xa đời với Nguyễn Trãi, vị anh hùng, nhà thơ lớn của dân tộc thế

kỷ XV ” [3, tr 315] Không chỉ trên quan trờng, trên thi đàn văn học lúc bấygiờ dòng họ của Nguyễn Du cũng có nhiều ngời đợc biết đến Nguyễn

Quỳnh – ông nội Nguyễn Du là một triết gia chuyên nghiên cứu về kinh

dịch Nguyễn Nghiễm - cụ thân sinh Nguyễn Du là một nhà sử học đồng thời

là một nhà thơ Nguyễn Khản – anh trai nhà thơ là một ngời hào hoa xứKinh kỳ thờng hay sáng tác thơ ca chính đây là cái nôi nuôi dỡng hồn thơNguyễn Du ngay từ những ngày còn ấu thơ

Trang 11

Yếu tố quê hơng cũng góp phần làm nên nhân cách và tài năng của thihào Nguyễn Du là ngời con của ba vùng quê : Hà Tĩnh vùng đất nghèo khổnhng đã sinh ra nhiều danh nhân văn hoá, Thăng Long - Kẻ Chợ vùng đấtngàn năm văn hiến là cái nôi sinh thành của nhiều nhân tài thời bấy giờ, BắcNinh quê hơng của những điệu dân ca quan họ duyên dáng làm xuyến xaolòng ngời Mỗi vùng quê để lại trong ông một bản sắc văn hoá góp phần làmphong phú thêm vốn sống của ông, góp phần không nhỏ vào thành công củaNguyễn Du khi viết về “những điều trông thấy”.

Để hun đúc nên một thiên tài Nguyễn Du nh ta đã biết yếu tố dòng họ,gia đình, quê hơng là rất quan trọng Tuy nhiên để hiểu hơn về một hồn thơchất chứa những mâu thuẫn, trăn trở hay thái độ không rõ ràng về chính trịcủa thi hào thì phải kể đến yếu tố thời đại - tức hoàn cảnh xã hội Nguyễn Dusống và sáng tác Nguyễn Du sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - đầuthế kỷ XIX, thời kỳ mà chế độ phong kiến Việt Nam đang lâm vào tình trạngkhủng hoảng Ông từng chứng kiến “bao phen đắp đổi sơn hà” (Thơ chữ HánNguyễn Du) Mọi ngời đều cảm thấy xã hội cũ đang tan vỡ, mọi giá trị bị đứttung không dễ gì cứu vãn nổi Đặc điểm này là chung cho mọi tầng lớp, dù

họ theo Lê, Trịnh, theo Tây Sơn hay quy phục Nguyễn ánh Đó là thời đại

mà sự đổ vỡ diễn ra khắp nơi Phạm Thái đã phải kêu lên: “ Đến nay tan tànhphong cảnh, nát bét quy mô ” [10, tr 60] Sống trong xã hội lúc bấy giờnhiều gia đình có sự phân hoá về thái độ chính trị, gia đình của Nguyễn Ducũng vậy Thân phụ của ông (Nguyễn Nghiễm) và anh trai cuả ông (NguyễnKhản) là tôi trung của Chúa Trịnh, anh ruột của Nguyễn Du (Nguyễn Nễ)cùng với anh vợ của ông (Đoàn Nguyễn Tuấn) trớc đậu Hơng Cống ra làmquan với nhà Lê, sau đó khi Tây Sơn lên thay thì họ ra làm quan cho triều

đình, theo các nhà nghiên cứu thì có một thời Nguyễn Du có ý định chống lạiTây Sơn nhng cha kịp hành động thì bị bắt, sau khi Tây Sơn sụp đổ thì ông ralàm quan cho Triều Nguyễn mời chín năm Không riêng gì gia đình Nguyễn

Du mà những gia đình khác cùng thời nh gia đình: Ngô Văn Sở, Phan Huyích, Ngô Thì Nhậm… đều có sự phân hoá nh đều có sự phân hoá nh vậy Nguyễn Du bị kẹt giữa haithái độ chính trị trái ngợc nhau ngay trong đại gia đình của mình ChínhNguyễn Du cũng không biết nên theo bên nào Những biến cố thăng trầmcủa lịch sử, sự phân hoá thái độ chính trị trong gia đình đã ảnh hởng khôngnhỏ đến thái độ chính trị của Nguyễn Du Do vậy mà thái độ của ông đối vớicác triều đại không đợc rõ ràng Đứng trớc sự đắp đổi của các Triều đại, sựkhổ cực nghèo đói của ngời dân cũng nh hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông

Trang 12

dân nổ ra Nguyễn Du đôi lúc phải vin vào t tởng siêu hình để giải thích cáchiện tợng xảy ra trong đời sống.

Có thể nói, do những tác động của hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, do nhữngthiên hớng bẩm sinh… đều có sự phân hoá nh Nguyễn Du đã có những điều kiện cơ bản cho sự hìnhthành tài năng nghệ sĩ: tri thức, kinh nghiệm sống, tâm hồn và t tơng tình cảm.Mặt khác, tài năng kiệt xuất ấy đã nảy sinh trên cơ sở truyền thống gia đình,dòng họ, truyền thống văn học dân tộc tất cả đã tạo nên những nền móng cơbản cho sự xuất hiện tài năng và nhân cách của đại thi hào Nguyễn Du

1.3.2 Nguyễn Du dựa vào Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để viết Truyện Kiều

Đoạn trờng tân thanh mang tầm vóc sử thi về số phận con ngời nói

chung, ngời phụ nữ nói riêng trong xã hội cũ Nguyễn Du trên cơ sở vay mợn

cốt truyện tài tử giai nhân Trung Hoa Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài

Nhân để rồi bằng nhãn quan hiện thực tỉnh táo, bằng một trái tim nhân đạo lớn

lao ông đã sáng tạo nên Truyện Kiều Trong văn học trung đại Việt Nam thì

việc dạ vào một tác phẩm có sẵn của văn học Trung Quốc để sáng tác là một

điều khá phổ biến

Theo Nguyễn Lộc trong công trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ

XVIII - hết thế kỷ XIX) thì: “Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân

vốn bắt nguồn từ một câu chuyện có thật do Mao Khôn, một ngời trong quân

đội Hồ Tôn Hiến ghi lại trong sách Ký tiễu trừ Từ Hải bản mạt Câu chuyện này về sau đợc nhiều ngời viết đi viết lại Chẳng hạn Lý Thuý Kiều Truyện của Đới Sĩ Lâm, Vơng Thuý Kiều Truyện của D Hoài, Hồ Thiếu Bảo bình Nuỵ tấu tích của Trần Thụ Cơ và Sinh báo Hoa Ngạc Ân, Tử tạ Từ Hải nghĩa

của Mộng Giác Đạo Nhân ”[8, tr 354] Tuy những tác phẩm này có thay

đổi một vài tình tiết nhng câu chuyện vẫn chủ yếu xoay quanh mối quan hệgiữa Thuý Kiều và Từ Hải Thuý Kiều hiện lên trong những tác phẩm ấy làmột kỹ nữ tài sắc còn Từ Hải là viên chủ tớng của một đám giặc Thuý Kiều

bị Từ Hải bắt về làm vợ Từ hết lòng yêu thơng Kiều, Kiều bị mua chuộc nên

đã khuyên Từ Hải ra đầu hàng Triều đình Từ Hải bị giết và Thuý Kiều bịbắt Hồ Tôn Hiến bắt nàng phải hầu rợu trong bữa tiệc hạ công, sau đó viênquan đã giết chông nàng là quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến ép nànglấy một viên tù trởng, tủi nhục Thuý Kiều đã tự vẫn ở sông Tiền Đờng Vềsau, Thanh Tâm Tài Nhân sống vào khoảng cuối đời Minh đã viết lại truyện

này thêm một lần nữa Truyện của Thanh Tâm là một tiểu thuyết dài 20 hồi.

Trang 13

Kim Vân Kiều truyện có hệ thống nhân vật phong phú hơn, có nhiều tình tiết

phức tạp hơn những tác phẩm trớc đó

Nói chung cốt truyện trong Truyện Kiều của Thanh Hiên giống với cốt truyện trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Chính điều này khiến cho

nhiều ngời ngộ nhận Nguyễn Du làm công việc của một dịch giả khi vết

Truyện Kiều Tuy nhiên khi đặt hai tác phẩm này và so sánh một cách có ý

thức thì chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan hơn Kim Vân Kiều truyện không phải là một tác phẩm xuất sắc của văn học cổ Trung Quốc còn Truyện Kiều

của Nguyễn Du lại là một kiệt tác Chỉ riêng điều đó cũng đã nói lên rằngmặc dù lấy cốt truyện của Thanh Tâm nhng tác phẩm của Thanh Hiên khôngphải là tác phẩm dịch mà ông đã sáng tạo lại một tác phẩm từ văn học TrungQuốc và truyền vào nó một sức sống mới của một “tấm lòng nghĩ suốt cảnghìn đời” Chính vì vậy mà có ngời đã không ngần ngại khẳng định: “ThanhHiên viễn quá Thanh Tâm”

Về chủ đề: Nh đã trình bày ở phần lịch sử vấn đề nghiên cứu, nhiều tácgiả đã khẳng định Nguyễn Du chịu ảnh hởng của t tởng “Tài mệnh tơng đố”của Nho giáo và t tởng “Nghiệp báo luân hồi” của Phật giáo Theo Phan

Ngọc trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều

thì: “điều đối lập đầu tiên và hết sức hiển nhiên đó là Kim Vân Kiều Truyện,tác phẩm mà Nguyễn Du dựa vào viết truyện Kiều, không hề xây dựng trênthuyết “Tài mệnh tơng đố” Trái lại t tởng chủ đạo của nó là tình và khổ”

[10, tr 42] Còn theo Trần Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều thì “

Nguyễn Du tiếp thu ảnh hởng của chủ đề “tài mệnh tơng đố” nhng đã có sự

đổi mới thành “thân mệnh tơng đố” Nguyễn Du đã chuyển câu chuyện “bấthủ” của Kim Vân Kiều Truyện thành câu chuyện đoạn trờng, đầy đau đớnxót xa, bi kịch Đây là sự thay đổi trọng tâm trong chủ đề ” [15, tr 59 – 60]

Viết Truyện Kiều tác giả còn lấy chủ đề từ hiện thực xã hội Việt Nam những

năm cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX

Về cốt truyện: Đây là vấn đề đợc đa ra so sánh nhiều nhất Nguyễn Du

đã dựa khá sát vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Tác giả Truyện Kiều

đã giữ lại những tình tiết chính, những biến cố quan trọng của tác phẩm Kim

Vân Kiều Truyện Theo Nguyễn Lộc thì “ nhà thơ đã bỏ đi khoảng một

phần ba những chi tíêt trong tác phẩm của Thanh Tân Tài Nhân và thêm vàomột khối lợng cũng khá lớn Nguyễn Du đã bỏ đi những chi tiết kể lể dàidòng, những đoạn miêu tả có tính chất tự nhiên chủ nghĩa Đồng thời nhàthơ thêm vào nhiều đoạn tả cảnh tả tình nhằm nêu rõ tính cách và tâm trạng

Trang 14

của nhân vật Dờng nh hầu hết các cảnh thiên nhiên mỹ lệ trong truyện Kiều,

từ cảnh mùa xuân êm đềm, cảnh mùa hè gay gắt, cảnh mùa thu mơ màng, trongsáng đến cảnh đêm trăng mới lên thơ mộng và huyền ảo, cảnh đêm tàn đày hăndoạ đối với một ngời con gái trốn nhà ra đi, v.v tất cả đều là những sáng tạoriêng dới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du” [8, tr 356] Sáng tạo của Nguyễn

Du không chỉ thể hiện ở việc thêm hay bớt các chi tiết từ tác phẩm củaThanh Tâm Tài Nhân mà thể hiện ngay ở những chi tiết mà ông giữ lại, vớitài năng của một thiên tài, với tâm hồn của một thi sĩ cùng với “những điềutrông thấy” Thanh Hiên đã thổi vào đó một sức sống mới làm cho những câuthơ Kiều có một sự bám trụ dẻo dai trong lòng độc giả

Về nhân vật: Nhìn chung Truyện Kiều của Nguyễn Du có hệ thống

nhân vật giống với hệ thống nhân vật trong tác phẩm của Thanh Tâm TàiNhân nhng mỗi nhân vật khi đi vào tác phẩm đều đợc Thanh Hiên phú chomột sinh mệnh mới Nguyễn Du có một quan niệm mới về con ngời TheoTrần Đình Sử thì đó là quan niệm: “Con ngời bình đẳng, con ngời tâm lý, conngời đời thờng và đợc nhìn đa chiều Là con ngời bị tách khỏi gia đình lu lạctha phơng, Nguyễn Du nhấn mạnh ở Kiều con ngời nhân tính phổ biến, với ýthức về sự may rủi, vô thờng của đời, với sự mong manh nhỏ bé của kiếp ng-

ời Tuy vẫn giữ những nét tính cách quyết đoán, hiếu nghĩa, nhng chủ yếuKiều trở thành biểu tợng của số phận đau khổ, của sự đày đoạ Đó là điềugây xúc động nhất đối với ngời đọc Việt Nam Sự thơng xót cho số phận lấn

át lòng cảm phục đối với tính cách” [15, tr 62 – 63] ở những nhân vậtkhác tác giả cũng đã miêu tả lại, khác hẳn với nhân vật trong tác phẩm củaThanh Tâm Tài Nhân

Về phong cách học: Truyện Kiều không hề giản đơn là tác phẩm vay

m-ợn Tuy có chịu ảnh hởng không ít từ văn liệu, điển cố, phép đối, cách sửdụng từ chỉ màu sắc của văn học Trung Quốc nhng ttrong khi sử dụng ôngcũng có những sáng tạo mới “… đều có sự phân hoá nh Nguyễn Du sáng tạo nhất quán ngôn từ độcthoại nội tâm dới hình thức nửa trực tiếp, là một hiện tợng nghệ thuật mới.Các hình thức tu từ nh phép đối, ẩn dụ, bài tỉ, điển cố, câu đảo trang đều đ-

ợc tác giả sử dụng theo cách riêng nhất quán tạo thành phẩm chất mới củangôn ngữ văn học tiếng Việt” [15, tr 63 – 64] Đặc biệt, Nguyễn Du đã cócông lớn trong việc hoàn thiện thể thơ lục bát của dân tộc, nâng nó lên thànhmột thể thơ mẫu mực

Một trong những vấn đề cha thể đi đến sự thống nhất trong các nhà

nghiên cứu là việc Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào thời điểm nào? Có ngời

Trang 15

thì cho rằng ông viết tác phẩm này trớc khi ông đi sứ sang Trung Quốc, cóngời lại cho rằng phải đợi đến sau khi đi sứ thì tài năng của Nguyễn Du mới

thực sự chín muồi để viết nên kiệt tác Truyện Kiều ý kiến thứ hai về sau đợc

nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận

1.3.3 Truyện Kiều ảnh hởng sâu sắc của hệ t tởng Nho giáo và Phật

giáo

Phật giáo và Nho giáo là hai học thuyết lớn của triết học nhân loại nóichung và triết học phơng Đông nói riêng Hai học thuyết này đã ảnh hởng rấtlớn đến t tởng triết học Việt Nam Sự ảnh hởng ấy thể hiện trong trớc tác củanhững nhà văn, nhà thơ, trong lối sống, sinh hoạt của nhân dân ta hàng ngàn

đời nay Tuy nhiên, từng giai đoạn lịch sử cụ thể với những điều kiện kinh tếkhác nhau, các t tởng trên có sự biểu hiện khác nhau

Truyện Kiều là kiệt tác của văn học Việt Nam Tác phẩm chứa đựng

nhiều giá trị văn học và t tởng Tiếp cận Truyện Kiều chúng ta sẽ hiểu hơn về

xã hội Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động – giai đoạn nửa

cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Tiếp cận Truyện Kiều chúng ta

cũng sẽ thấy rõ hơn những biểu hiện của t tởng Nho giáo và Phật giáo ở nớc

ta vào giai đoạn lịch sử này

Khảo sát Truyện Kiều chúng ta sẽ thấy rõ điều đó Trong tác phẩm này

khi đi vào lý giải số phận bi kịch của nhân vật, bên cạnh việc lý giải bằnghiện thực đời sống, Nguyễn Du còn mợn thuyết “Tài mệnh tơng đố” của Nho

giáo và thuyết “Luân hồi nghiệp báo” của nhà Phật Khảo sát Truyện Kiều

chúng tôi thấy tác giả sử dụng khá nhiều những thuật ngữ của hai học thuyết

t tởng này Có đến 60 dòng lục bát có sử dụng khái niêm liên quan tới Nhogiáo, chiếm 1,84% toàn bộ tác phẩm và 130 dòng lục bát có chứa những kháiniệm liên quan tới Phật giáo, chiếm 3,99% toàn bộ tác phẩm Tất nhiên kếtquả khảo sát của chúng tôi cha thể là con số chính xác vì còn một vài trờnghợp chúng tôi còn băn khoăn, khó xác định nh chữ “duyên” trong Phật giáo

và “tình duyên” nam nữ là một ví dụ Để thể hiện rõ hai học thuyết này, trênhành trình đi tìm lời giải đáp cho số phận con ngời Nguyễn Du đã xây dựngnhững hình tợng điển hình thể hiện cho hai học thuyết đó ở học thuyết Nhogiáo, Kim Trọng nhân vật đầu tiên thể hiện cho học thuyết này: Kim Trọng

là một Nho sĩ đựơc đào tạo trong nhà trờng Nho giáo, chàng cũng có nhữngphát ngôn thể hiện cho học thuyết Nho giáo: “nhân định thắng thiên” S TamHợp là một Đạo Cô nhng lại là nhân vật phát ngôn cho t tởng Phật giáo:Ngôn ngữ của s Tam Hợp mang màu sắc Phật giáo rất rõ, điều này sẽ đợc

Trang 16

chúng tôi phân tích cụ thể hơn ở phần sau của khoá luận Một điều đặc biệt

là trong Truyện Kiều có những nhân vật vừa đại diện cho t tởng Phật giáo

vừa thể nghiệm cho học thuyết Nho giáo đó là nhân vật Thuý Kiều, nhân vậtbóng ma Đạm Tiên và thậm chí trong lời phát biểu của s Tam Hợp cũngchứa đựng những t tuởng Nho giáo

Trang 17

Chơng II

ảnh hởng của Nho giáo đối với vấn đề lý giải

số phận con ngời của Nguyễn Du trong truyện kiều

2.1 ảnh hởng thể hiện trên hệ thống nhân vật

Để thể hiện chủ đề ''Tài mệnh tơng đố'', hay nói cách khác, để tìm lờigiải đáp cho số phận bi kịch của con ngời dới xã hội cũ, Nguyễn Du đã dàycông trong việc xây dựng hai nhân vật chính là Thuý Kiều và Từ Hải Là haingời cụ thể hoá cho thuyết ''Hồng nhan đa truân'' và ''Tài tử đa cùng'' Tuynhiên, mâu thuẫn giữa tài và mệnh đợc thể hiện tập trung nhất ở nhân vậttrung tâm là Thuý Kiều

Từ Hải đợc giới thiệu là một ngời phi thờng:

Râu hùm, hàm én mày ngài, Vai năm tấc rộng thân mời thớc cao.

Đờng đờng một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lợc thao gồm tài.

Đội trời, đạp đất ở đời,

Họ Từ, tên Hải, vốn ngời Việt Đông.

Giang hồ quen thói vẫy vùng, Gơm đàn nửa gánh, non sông một chèo…

Từ đợc Nguyễn Du xây dựng thành nhân vật thể nghiệm cho thuyết “tàimệnh tơng đố” mà cụ thể là thuyết “tài tử đa cùng” Từ là ngời có tài, cái tàicủaTừ đợc thể hiện ở tầm vóc:

… đều có sự phân hoá nh Một tay gây dựng cơ đồ,

Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành

Từ Hải là ngời đại diện cho ớc mơ tự do và khát vọng công lý trong thời

đại lúc bấy giờ Tài năng và ý chí tự do là kẻ thù của trật tự phong Kiến đồngthời là bi kịch đối với chính Từ Con ngời ấy trở thành sự xúc phạm đến trật

tự chính trị xã hội phong kiến, Từ bị xem là “giặc cỏ” cái tài của Từ không

có chỗ dung thân và Từ phải nhận hậu quả là chết đứng giữa trận tiền Không chỉ riêng Từ Hải, Thuý Kiều mà Nguyễn Du còn xây dựng mộtthế giới nhân vật ngời tài trong tác phẩm

Kim Trọng đợc Nguyễn Du ca ngợi ''Nền phú hậu bậc tài danh”, HồTôn Hiến thì ''… đều có sự phân hoá nh kinh luân gồm tài'' Và ngay cả Hoạn Th cũng ''ấy mới gan,

ấy mới tài'' Với Đạm Tiên và Thuý Kiều, tài sắc và tài tình là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến bất hạnh

Đạm Tiên là một bậc:

Nổi danh tài sắc một thì

Trang 18

Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh.

Khi nàng mất rồi mà tiếng tăm nàng vẫn níu chân ngời khách phơngxa:

là nhân vật có tài, không chỉ vậy, nàng là ngời đa tài Các câu thơ nói về tàinăng và tài sắc của Kiều mà ở đó tác giả đã trực tiếp sử dụng chữ “tài” đểkhẳng định và ca ngợi nàng là:

- So bề tài sắc lại là phần hơn.

- Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai.

- Khen: tài nhả ngọc phun châu.

- Đắn đo cân sắc, cân tài.

- Tài này, sắc ấy nghìn vàng cha cân.

- Thơng vì hạnh, trọng vì tài.

- Tiểu th xem cũng thơng tài.

- Rằng: Hoa nô đủ mọi tài.

- Rằng: tài nên trọng mà tình nên thơng.

- Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.

- Hại thay mang lấy sắc tài làm chi.

- Thuý Kiều tài sắc ai bì.

Nếu cài “tài” của Thuý Kiều trong Kim Vân Kiều truyện đợc miêu tả

t-ơng đối cụ thể thì tài ở nàng Kiều của nguyễn Du bị trừu xuất tối đa, rấtchung chung (trừ tài đánh đàn của Kiều) Để từ đó, Nguyễn Du nhấn mạnh

đến ''sắc'', đặc biệt là ''tình'', “sắc” ấy nhng phải “tình” ấy mơí dẫn đến “kiếp

đoạn trờng” kia

Đúng là:

Thơng thay cho một kiếp ngời Hại thay mang lấy sắc tài mà chi.

Trang 19

Hay là:

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen?.

Kiều đợc phú bẩm cho ''Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai'', nhng kếtquả của những phú bẩm đó đã biến Kiều thành một món hàng chuyền taytrong “xã hội kim tiền”

Mộng Liên Đờng chủ nhân đã từng khái quát về thân thế Thuý Kiều:''… đều có sự phân hoá nh khi lai láng tình thơ, ngời tựa án xem câu tài nhả ngọc; khi nỉ non tiếngnguyệt, khách dới đèn đắm khúc tiêu tao; khi duyên a kim cải, non biển thềbồi, khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía cõi đi vềcũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua mùi từng trải nghĩ mà tê lỡi… đều có sự phân hoá nh [12,

tr 24]

Thuý Kiều đã trải qua hầu hết những đau khổ của ngời phụ nữ dới chế

độ phong kiến: gia đình ly tán, tình yêu tan vỡ, 5 lần đi lấy chồng, 2 lần làmgái thanh lâu, 2 lần làm hầu gái, 1 lần làm lẽ bất hợp pháp, 3 lần bị lừa đảo, 2lần bị lợi dụng thể xác, 3 lần bị đánh đòn, 2 lần bị đổi tên, 1 lần bị bắt cóc

Để tự giải thoát mình, Thuý Kiều đã chạy trốn 2 lần, đi tu 3 lần, tự tử 2 lần

và rồi cuộc đời Kiều xem nh không chồng, không con giữa 30 xuân:

Con đò đời chị về không, Chở theo nớc mắt đáy sông Tiền Đờng.

(Tâm sự nàng Thuý Vân, Trơng Nam Hơng )

Từ bóng ma Đạm Tiên, từ cuộc đời của nhân vật chính - Thuý Kiều,Nguyễn Du đi đến một khái quát:

Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cha phản ánh đợc vận mệnh ngời phụ

nữ nghèo khổ nhng qua nhân vật Thuý Kiều, Nguyễn Du đã khái quát nhiềuphơng diện của vận mệnh, tính cách của ngời phụ nữ trong mối quan hệ vớinhững thế lực Phong kiến xấu xa tàn bạo: cờng quyền, đồng tiền, chế độ mạidâm, chế độ đa thê,… đều có sự phân hoá nh Nhan sắc tuyệt vời, tài hoa trí tuệ, phẩm chất cao đẹpcủa Kiều rút cục chỉ đa Kiều đến ''hết nạn nọ đến nạn kia''

Ngời sao hiếu nghĩa đủ đờng, Kiếp sao rặt những đoạn trờng thế thôi.

So với bất kỳ truyện Nôm nào, phạm vi phản ánh cuộc sống của

truyện Kiều cũng có tính chất sâu sắc hơn Mâu thuẫn đặt ra trong tấc phẩm

của Nguyễn Du có ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn bất kì truyện Nôm nào khác,

Phan Trần dừng lại ở mức độ tình yêu tự do chống đối lề giáo phong kiến, Phạm Tải Ngọc Hoa nêu lên mâu thuẫn giữa hạnh phúc gia đình và bản chất

Trang 20

dâm ô tàn bạo của cờng quyền phong kiến Trong truyện Kiều sự phát hiện

sâu sắc các mâu thuẫn giữa tài sắc và tài tình với các thế lực phong kiến dựatrên một quan điểm nhân đạo chủ nghĩa, khẳng định nguyện vọng chân chính

và cảm thông với những bi kịch của con ngời Một trí tuệ sắc sảo gắn bó vớimột tinh thần nhân đạo chứa chan

Nguyễn Du từng nhắc đến thân phận ngời phụ nữ và kẻ nghèo hèn

trong Văn chiêu hồn:

đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu.

Thơng thay cùng một kiếp ngời, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đờng quan…

Trong truyện Kiều, ông lại tập trung tâm huyết, tài hoa xây dựng nên

nhân vật Thuý Kiều là điển hình cho mọi nỗi khổ đau, bất hạnh của ngời phụnữ trong xã hội cũ mà nói nh Hoài Thanh: “ Đời Kiều là một tấm gơng oankhổ, một câu chuyện thê thảm về vận mệnh của con ngời… đều có sự phân hoá nh” Hơn một lầnNguyễn Du lý giải nỗi khổ của Kiều:

… Trăm năm trong cõi ngời ta, Chữ tài chữ mềnh khéo là ghét nhau.

… Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Nguyễn Du sống và sáng tác vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX,khi mà xã hội phong kiến đang trên đà tan rã xã hội ấy không dung nổi tàihoa, không gian mênh mông mà tài hoa không có điểm tựa để tồn tại Chế độphong kiến đến thời kì cuối của nó rất sợ cái tài Những ngời có tài khôngchỉ bị chế độ đó, đứng đầu là thiên tử bắt ''cung cúc tận tuỵ'' mà nhiều trờnghợp vì tài năng nên họ trở thành mục tiêu bị tiêu diệt Lịch sử vẫn còn ghi lạinhững trang sử đầy sức tố cáo của vụ án ''Lệ Chi viên'' và nhiều án oan khácnữa dới xã hội xa Cho nên thời nhà Nguyễn có luật “tứ bất”: không lấy trạngnguyên, không lập hoàng hậu, không phong tể tớng, nghĩa là đã đến một lúcnào đó, cái tài trở thành kẻ ''vô thừa nhận'', không còn ''tấc đất cắm dùi''không còn chỗ để tồn tại chứ cha nói đến việc đợc vùng vẫy, đợc thể hiện

ở đây, chúng ta cha nói nhiều đến cái “tài” của Kiều mà chỉ nói đếncái “tình” của nàng Sức sống say mê sâu sắc ấy cũng đã đủ là một điềuphiền toái cho trật tự xã hội Với sức sống này, xã hội phong kiến nh ở trêncái thế quân bình không vững vì có sẵn một lực lợng công phá nội tại Một

điều mà xã hội phong kiến không thể dung tha cho Kiều là nàng ''dám yêu''trớc khi uy quyền xã hội cho phép Mê Kiều nh Chu Mạnh Trinh mà cũng

Trang 21

phải thốt lên ''chỉ vì tội mối manh cha có, thề thốt đã nhiều, trăng gió mắcvào, phồn hoa dính mãi” [12, tr 36].

trong truyện Kiều, mâu thuẫn giữa “tài – mệnh” tập trung ở nhânvật Thuý Kiều, giữa con ngời và số phận Có thể, ‘tài” là bản chất của conngời luôn vơn đến chân thiện mĩ “Tài” là một giá trị thực tại Do đó nó mới

có thể thể hiện trong con ngời Kiều nh một nội dung hình tợng Và có thể

“tài” ở đây nh cái nghĩa thông thờng mà nó đợc hiểu là chỉ một khả năng độtxuất, phi thờng mà con ngời chế ngự thiên nhiên hay tác động đến nhữngquy luật của xã hội Nếu quan niệm nh thế chỉ có Từ Hải mới xứng đáng vớichữ Tài đó, nh vậy cái chết đứng của Từ mới là do ''Tài mệnh tơng đố'' Nếuquan niệm tài là tài hoa, tài tình thì Kim Trọng cũng là ngời có tài ''nền phúhậu, bậc tài danh'' Thế mà Kim Trọng không bị quy luật ''Tài mệnh tơng đố''chi phối ở nhân vật Thuý Kiều thì “tài” cũng là “tình” mà “sắc” cũng là

“tình” chính vì vậy nàng đợc chọn là nhân vật thể nghiệm cho học thuyết

“hồng nhan bạc mệnh”

Thi sĩ đã trăn trở với số phận con ngời bởi chính ''con mắt trông thấusáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời'', ông giải thích cuộc đời bằng số

mệnh đồng thời đứng về phía con ngời để oán hờn số mệnh Qua Truyện

Kiều và thơ chữ Hán đã thể hiện một nhận thức sâu sắc về quy luật ''tài mệnh

tơng đố'' Nguyễn Du cắt nghĩa số phận chìm nổi của Thuý Kiều hay cái đaukhổ của cuộc đời nói chung thông qua cuộc đời, số phận của nàng Kiều là domâu thuẫn giữa tài và mệnh T tởng ấy gần nh quán xuyến toàn bộ tác phẩm

và đợc Thanh Hiên khái quát ở phần cuối tác phẩm:

Ngẫm hay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm ngời có thân.

Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới đợc phần thanh cao.

Theo Nguyễn Du, Thuý Kiều khổ không chỉ vì nàng tài hoa mà còn vìnàng xinh đẹp Thuý Kiều phải chịu phận của “kiếp hồng nhan”, cũng nhnhiều thiếu nữ khác trong thơ ca cổ điển, Thuý Kiều tợng trng cho nhan sắcnữ giới theo quan điểm thẩm mĩ phong kiến Quan niệm này đã dẫn đếnkhuynh hớng lý tởng hoá hình thức của nhân vật chính diện Giống nh Nhuỵ

Châu trong Song tinh bất dạ, Quỳnh Nh trong Sơ kính tân trang hay nh tứ đại

mỹ nhân trong văn học cổ điển Trung Hoa (Tây Thi, Điêu Thuyền, VơngChiêu Quân, Dơng Quý Phi) Thuý Kiều là một giai nhân với vẻ đẹp kiềudiễm:

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,

Trang 22

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nớc nghiêng thành, Sắc đành đòi một taì đành hoạ hai.

Nếu nh Thuý Vân có vẻ đẹp làm cho thiên nhiên ''nhờng'', ''chịu thua''thì Thuý Kiều lại đợc Nguyễn Du miêu tả với nỗi “ghen”, “hờn” của tạo hoá.Không đơn thuần chỉ là giới thiệu về hai chị em Kiều, Thanh Hiên còn lồngvào đó một dự cảm về tơng lai của hai nàng Thuý Vân với vẻ đẹp đó báohiệu một cuộc đời bình lặng, còn Kiều ngay từ những dòng đầu của tác phẩmNguyễn Du đã có một dự cảm không lành về số mệnh của nàng và quả thật,cuộc đời 15 năm lu lạc, tủi nhục của Thuý Kiều đã chứng minh cho cái dựcảm thiên tài đó

Ngay từ nhỏ, một tớng sĩ đã phán cho Kiều rằng:

Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa.

''anh hoa'' ở đây là: ''cái tinh anh, tốt đẹp của con ngời nhìn thấy ở bềngoài'' [1, tr 19] Cái dự cảm về một số phận nhiều bi kịch của kiếp ''Hồngnhan bạc mệnh'' lại một lần nữa đợc nhắc lại

Để chứng minh cho thuyết ''Hồng nhan bạc mệnh'' ấy, Nguyễn Du đãdụng công xây dựng hai kẻ “Đồng hội đồng thuyền” là Thuý Kiều và ĐạmTiên Đạm Tiên vốn là ngời:

Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh.

Chính từ việc cảm động về thân thế của một nữ tài sắc mà Kiều đã liêntởng đến thân phận của ngời phụ nữ tài sắc nói chung và mình nói riêng Tuynhiên, Đạm Tiên đã là ngời thiên cổ ''nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên h-

ơng'' Còn lại nàng Kiều, Kiều sống thực nên đã đợc Nguyễn Du chọn làmnhân vật trung tâm cụ thể hoá cho thuyết ''Hồng nhan bạc mệnh '' ấy

Bóng ma Đạm Tiên, ngời mà Thuý Kiều xem nh chị em ''Chớ nề uhiển mới là chị em'' là ngời cùng hội cùng thuyền, bóng ma ấy xuất hiện 3lần Dờng nh tất cả những điều mà Đạm Tiên báo trớc với Kiều đều hiển linhcả Thuý Kiều đang sống trong cảnh:

Êm đềm trớng rủ màn che, Tờng đông ong bớm đi về mặc ai.

Sau buổi đi chơi tết thanh minh, ban ngày viếng mộ Đạm Tiên, tối về

Đạm Tiên cho nàng biết nàng có tên trong “sổ đoạn trờng”:

Vâng trình hội chủ xem tờng,

Mà xem trong sổ đoạn trờng có tên.

Trang 23

''Sổ đoạn trờng'' ở đây chỉ ''sổ kê tên những ngời đàn bà mắc kiếp đoạntrờng, nghĩa là mắc số phận đau đớn, đứt ruột tức là những ngời bạc mệnh''.

Không lâu sau cuộc gặp gỡ hồn ma Đạm Tiên, Kiều phải bán mìnhchuộc cha và em.Tởng rằng với một ngời tài sắc, hiếu hạnh nh Kiều phải bánthân làm lẽ đã là một bi kịch muôn phần nhục nhã Nhng cha hết, việc cới vợ

lẽ của Mã Giám Sinh chỉ là chiếc áo khoác trá hình cho mục đích buôn ngời

về làm gái làng chơi của y Xót xa, tủi nhục Thuý Kiều toan quyên sinh nhngtrong ''chập chờn cơn tỉnh cơn mê'' Đạm Tiên hiện về báo cho Kiều biết sốkiếp của nàng còn nặng nên ''ngời dù muốn quyết trời nào đã cho'' Đạm Tiênhẹn Thuý Kiều:

Xin hãy hết kiếp liễu bồ, Sông Tiền Đờng sẽ hẹn hò về sau.

Nhng trên sông Tiền Đờng 15 năm sau, Thuý Kiều đợc Tam Hợp đạocô cứu sống, Đạm Tiên lại xuất hiện và báo với Kiều rằng nàng có ''phậnmỏng đức dày'' nên đợc rút tên khỏi sổ đoạn trờng và về sau sẽ còn nhiềuhạnh phúc Đúng nh lời Đạm Tiên nói, Thuý Kiều sau 15 năm lu lạc đợc

đoàn tụ với gia đình và tái hồi với Kim Trọng Song, Nguyễn Du xây dựngmàn đoàn viên cứ tởng nh là xây dựng một kết thúc có hậu nhng nh XuânDiệu nói đó chính là ''bản cáo trạng cuối cùng'' Kết thúc truyện nh vậy, tởng

nh đã kết thúc đợc nỗi đoạ đày của Thuý Kiều nhng từ đây Kiều lại rơi vàomột bi kịch mới, tuy không phải chịu cảnh ''thanh lâu hai lợt thanh y hai lần''song cũng muôn phần đau khổ, tủi nhục Đêm tái hợp, Kim Kiều không còncon đờng nào khác là ''Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kì'' Bình thản vậy thôi

mà tê tái, ngao ngán đến nao lòng bởi đêm tái hợp sau 15 năm xa cách cũngchính là đêm mà tình yêu của họ thực sự tan vỡ Họ ngồi bên nhau mà khôngthể thổi lên ngọn lửa tình yêu nồng nàn của 15 năm trớc Từ cõi chết trở vềvới cuộc đời, con ngời xinh đẹp, tài hoa Thuý Kiều tởng nh đã vơn tới ánhsáng của hạnh phúc nhng rồi càng lún sâu vào vũng lầy bi kịch Giấc mộngtình yêu từng ôm ấp bấy lâu bây giờ thành ảo ảnh

Từ sự thể nghiệm ''Tài tử đa cùng'' cũng giống nh nhiều nhà Nho khác,Nguyễn Du dễ dàng đi đến sự đồng cảm sâu sắc với kiếp ''Hồng nhan bạcmệnh'', ''Hồng nhan đa truân'' Đó là những ngời phụ nữ, kiếp ngời bị đoạ đàybởi nhân sinh quan hởng lạc, bởi những quy luật hà khắc, phi lý trong xã hộiphong kiến "Hồng nhan đa truân'' trở thành luận đề thờng hay đợc nhắc tớitrong thơ văn xa Bằng hình tợng Đạm Tiên và Thúy Kiều, Nguyễn Du đãchứng minh sự thể hiện của quy luật ''Hồng nhan đa truân'' ấy ''Tạo vật đã

Trang 24

phú bẩm cho nàng những gì đẹp đẽ nhất thì tạo vật cũng sẽ đày đoạ suốtcuộc đời nàng'' [7, tr 170-171].

Ngợc lại với số phận của Thuý Kiều là Thuý Vân Nếu vẻ đẹp củaThuý Kiều khiến trời đất “ghen” và “hờn” thì ở Thuý Vân lại đợc tạo hoá''nhờng'' và “chiụ thua” Vì vậy, cuộc đời Vân bằng phẳng, bình yên Không

có mùa xuân rực rỡ của tình yêu, không có ánh trăng thơ mộng của tơng t

th-ơng nhớ, không có cung đàn sôi nổi ''Trong nh tiếng hạc bay qua, đục nhtiếng suối mới sa nửa vời'', nhng cũng vì thế mà Thuý Vân không có ''Nhữngcung gió thảm ma sầu Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay'' Thuý Vân cũngkhông phải trải qua cảnh ''Cúi lng thịt đổ, dập đầu máu sa'' Quả đúng nh lờiviên tớng sĩ:

Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Truyện Kiều, thiên tình sử diễm lệ mang trái tim nhân loại chính là

khát vọng vô bờ bến, là nỗ lực không mệt mỏi của đại thi hào trên hành trình

đi tìm lời giải đáp cho nguyên nhân, số phận bi kịch của nàng Kiều và conngời nói chung trong xã hội cũ Trên muôn nẻo đi tìm lời giải đáp ấy,Nguyễn Du đã bắt gặp triết lý t tởng Nho giáo

2.2 ảnh hởng thể hiện trên hệ thống ngôn từ, câu chữ

Truyện Kiều không phải là một chuyện tình nh Hoa Tiên, lại càng

không phải một chuyện luân lý nh Lục Vân Tiên, chỉ là một truyện tả thân

phận con ngời - đúng hơn là thân phận của một ngời đàn bà tài sắc trớc địnhmệnh Điều đó ai cũng nhận ra, chính tác giả cũng đã nói rõ cho ta thấy ngay

ở đầu truyện và nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần nữa trong suốt tác phẩm

Truyện Kiều Một số ngời coi đó là một truyện tình hoặc một chuyện luân lý,

rồi ngời thì chê tà dâm uỷ mị, là t tởng mâu thuẫn, kẻ thì khen trung hiếu tiếtnghĩa, dung hòa đợc cả tam giáo

Truyện Kiều ngay sau khi ra mắt độc giả đã có lắm ngời khen nhng

cũng không ít kẻ chê Mỗi ý kiến đều có cho mình một lập luận riêng Tuynhiên, điều mọi ngời không thể phủ định đó là Nguyễn Du khi lý giải số

phận con ngời trong Truyện Kiều có chịu sự ảnh hởng sâu sắc của học thuyết

Nho giáo

Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất cho rằng: Nếu nh chủ đề của Kim

Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là ''tình” và “khổ'', đợc giới hạn

trong câu chuyện của một con ngời, một hạng ngời Thì chủ đề của trong

Truyên Kiều của Nguyễn Du là ''Tài mệnh tơng đố'' Thực chất của vấn đề

Trang 25

''Tài mệnh tơng đố'' là cách lý giải của Nguyễn Du về số phận con ngời, vềquyền sống của con ngời dới chế độ phong kiến.

Đây là những câu mở đầu của tác phẩm:

Trăm năm trong cõi ngời ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Còn đây là những câu kết của tác phẩm:

Ngẫm thay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm ngời có thân.

Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới đợc phần thanh cao.

Các nhà nghiên cứu nh Hoài Thanh, Phan Ngọc, Nguyễn Hữu Sơn,Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Na, Đặng Thanh Lê… đều có sự phân hoá nh đều đã khẳng định ''Tàimệnh tơng đố'', ''Thân mệnh tơng đố'' là vấn đề riêng của thời đại Nguyễn Du

là một phần t tởng chủ đề của Truyện Kiều.

Đào Duy Anh từng viết trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều

rằng: “T tởng chủ yếu của Nguyễn Du trong sách này là ''Tài mệnh tơng đố'',

t tởng này làm nòng cốt tinh thần cho toàn truyện Mỗi một chơng, mỗi một

đoạn chỉ là để chứng minh cho nó thôi'' [1, tr 398 ]

Nguyễn Lộc cũng đã từng khẳng định:'' Trong Truyện Kiều t tởng địnhmệnh không chỉ là lời mở đầu và kết thúc, không chỉ ở phần lý thuyết ngoại

đề của tác giả mà rải rác đó đây mà một chừng mực nào đó xâm nhập vàonội dung hình tợng tác phẩm và diễn biến kết cấu của câu chuyện… đều có sự phân hoá nh'' [8, tr.405]

Đặng Thanh Lê trong công trình Truyện Kiều và thể loại Truyện Nôm đã

khẳng định: ''Lý giải đau khổ của cuộc đời Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng chữ''mệnh'' của nhà Nho, Thuý Kiều khổ vì nàng có tài, có sắc Những con ngời nhnàng phải chịu sự chi phối của quy luật '' Tài mệnh tơng đố'' [ 8, tr 165 ]

Theo Đặng Thanh Lê, '' Tài mệnh tơng đố'' không phải là một triết lýcủa Nho giáo nguyên thuỷ, nó chỉ gắn bó với triết lý ''Thiên mệnh'' của Nhogiáo Nguyên thuỷ Theo quan niệm của Khổng Tử , ''Thiên mệnh'' là một lựclợng siêu hình có khả năng chi phối cuộc sống, số phận con ngời, quan niệmnày dùng để giải đáp những vấn đề mà bản thân con ngời không thể lý giảinổi Hạnh phúc hay khổ đau của con ngời đều do lực lợng siêu nhiên ấy chiphối: ''tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên'' (Sống chết có số mệnh, giàu sang

do trời định) Hay nh Lý Thơng ẩn đời Đờng từng viết: ''Cổ lai tài mệnh lỡngtơng phơng'' (Xa nay tài mệnh vẫn thờng hại nhau)

Trang 26

Trong học thuyết của Nho giáo, triết lý ''Thiên mệnh'' đợc dùng mộtcách triệt để để giải thích một hiện tợng đặc thù dới xã hội phong kiến: bikịch của những tài năng dới chế độ cũ.

Ngời ta không đi vào khai thác những nguyên nhân xã hội mà đi theohớng duy tâm cho rằng: sở dĩ có điều bất bình là bởi đạo trời vốn ghét cáitrọn vẹn Cho nên cái lẽ ''bỉ sắc t phong'' ngời ta gọi là cái luật thừa trừ trongkiếp ngời Và con ngời gần nh mặc nhiên thừa nhận nó

Theo Đào Duy Anh ''Tài là t chất hay năng lực giỏi của ngời ta''[1, tr 331] ''Mệnh là số phận do trời định'' [1, tr 231]

Hoài Thanh cho rằng: ''Nói có tài, có sắc ở đây chẳng qua là có tình''

Lê Đình Kỵ cho rằng: ''Thực chất chữ tài trong ''Truyện Kiều'' cũng làchữ tình… đều có sự phân hoá nh Trong nội dung hình tợng Thuý Kiều, tài và tình mở rộng ra là sự

tự ý thức về cuộc sống'' [8, tr 412]

''Tài'' là một giá trị thực tại, “số phận” là một thực thể siêu hình và

không có hiệu lực thực tại nhng trong Truyện Kiều “số phận” lại giữ vai trò

cực kì to lớn:

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Nguyễn Du viết Truyện Kiều, lấy cốt truyện một tiểu thuyết chơng hồi

trong văn học Trung Quốc, đồng thời là một nhà Nho, ông chịu ảnh hởng rấtsâu sắc của học thuyết Nho giáo, mà ở đây là thuyết ''Tài mệnh tơng đố''.Thuyết này đợc cụ thể hoá bằng triết lý ''Tài tử đa cùng'' và ''Hồng nhan đatruân'' Trong tác phẩm của mình bằng việc xây dựng hệ thống hình tợngnhân vật Thanh Hiên đã từng bớc chứng minh rõ hai triết lý ấy

Một điều khá đặc biệt là trong thời đại Nguyễn Du, mọi ngời đều có ýthức về cái tài của mình, đều khoe tài và đều đòi hỏi đợc đãi ngộ xứng đángvới cái tài của họ Những con ngời thực trong xã hội đều khoe tài và nhân vậttrong tác phẩm đều có tài Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà trong các tácphẩm văn học thời kì này xuất hiện rất nhiều nhân vật có tài

Một buổi sáng thanh minh, nàng Kiều ''tài sắc'' cùng hai em đi chơi.Chung quanh họ ''dập dìu tài tử giai nhân'' Họ dừng lại trớc nấm mồ của mộtngời ''nổi danh tài sắc một thì'' Kiều đang bàng hoàng thì bỗng gặp ''một bậctài danh'', một ''thiên tài'' Sống trong thế giới này, con ngời không thể không

có tài Sở Khanh cũng biết làm thơ ngân vang lên Thúc Sinh cũng biết làmmột bài thơ Đờng Luật, Hồ Tôn Hiến cũng là kẻ '' kinh luân gồm tài''

Thuý Kiều là một điển hình cho cái tài dới xã hội cũ Có đến 11 ngờitrong tác phẩm thừa nhận nàng có tài: Thuý Kiều, tác giả, thầy tớng số, Kim

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Từ điển truyện Kiều, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2000
2. Trịnh Bá Đĩnh (2001), Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. Trịnh Bá Đĩnh (2000), Bình giảng Truyện Kiều, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng Truyện Kiều
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
4. Hà Huy Giáp (2000), Truyện Kiều của Nguyễn Du chú thích chủ – giải và những t liệu gốc, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều của Nguyễn Du chú thích chủ "–"giải và những t liệu gốc
Tác giả: Hà Huy Giáp
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2000
6. Trần Ngọc Hởng (2000), Luận về Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nxb Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Tác giả: Trần Ngọc Hởng
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2000
7. Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1979
8. Nguyễn Lộc (1997), Văn học Việt Nam (giai đoạn từ thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX ), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (giai đoạn từ thế kỷ XVIII "–"hết thế kỷ XIX )
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Dơng Vũ Ninh (2000), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Dơng Vũ Ninh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
10. Phan Ngọc (2003), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
11. Bùi Văn Nguyên (1992), Nguyễn Du tình ng – ời và Nguyễn Du ng – ời tình, Nxb Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du tình ng"– "ời và Nguyễn Du ng"– "êi tình
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Cà Mau
Năm: 1992
12. Phạm Đan Quế (1991), Truyện Kiều đối chiếu, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều đối chiếu
Tác giả: Phạm Đan Quế
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1991
13. Phạm Đan Quế (1991), Bói kiều, bình Kiều, vịnh Kiều, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bói kiều, bình Kiều, vịnh Kiều
Tác giả: Phạm Đan Quế
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1991
14. Phạm Đan Quế (2002), Về những thủ pháp nghệ thuật và văn chơng truyện Kiều, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những thủ pháp nghệ thuật và văn chơng truyện Kiều
Tác giả: Phạm Đan Quế
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
15. Trần Đình Sử (2007), Thi pháp truyện Kiều, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp truyện Kiều
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
16. Trơng Xuân Tiếu (2001), Bình giảng mời đoạn Truyện Kiều, Nxb Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng mời đoạn Truyện Kiều
Tác giả: Trơng Xuân Tiếu
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
Năm: 2001
17. Trơng Xuân Tiếu (2000), Bài giảng văn học Việt Nam trung đại II Giai – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng văn học Việt Nam trung đại II Giai
Tác giả: Trơng Xuân Tiếu
Năm: 2000
18. Trơng Xuân Tiếu, Thạch Kim Hơng (2001), Bài giảng văn học Việt Nam trung đại II, Nxb Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng văn học Việt Nam trung đại II
Tác giả: Trơng Xuân Tiếu, Thạch Kim Hơng
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2001
19. Xuân Thành (2002), Hỏi đáp văn chơng Việt Nam, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp văn chơng Việt Nam
Tác giả: Xuân Thành
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
20. Phạm Tuấn Vũ (2005), Tìm hiểu về văn học Trung đại Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về văn học Trung đại Việt Nam
Tác giả: Phạm Tuấn Vũ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2005
21. Phạm Tuấn Vũ (2007), Văn học Trung đại Việt Nam trong nhà trờng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung đại Việt Nam trong nhà trờng
Tác giả: Phạm Tuấn Vũ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w