Việc tìm ra vai trò củanguyên tố vi lượng trong tự nhiên tham gia vào đời sống của cây trồng đã mở ra nhiều hướng thâm canh cho năng suất cao cũng như chất lượng cây trồng.Việc ra đời cá
Trang 1=== ===
nguyễn thị hờng
ảnh hởng của nguyên tố vi lợng
Bo, Molipđen lên các chỉ tiêu sinh lí nảy mầm
của giống đậu tơng DT96
khóa luận tốt nghiệp đại học
Ngành: Cử nhân khoa học sinh học Chuyên ngành: Sinh lý - hóa sinh
Vinh - 2011
Trang 2=== ===
ảnh hởng của nguyên tố vi lợng
Bo, Molipđen lên các chỉ tiêu sinh lí nảy mầm
của giống đậu tơng DT96
khóa luận tốt nghiệp đại học
Ngành: Cử nhân khoa học sinh học Chuyên ngành: Sinh lý - hóa sinh
Giáo viên hớng dẫn: PGS ts nguyễn đình san
Sinh viên thực hiện: Nguyễn thị hờng
Lớp: 48B - Sinh học
Vinh - 2011
Trang 3Khóa luận được thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinh lí - Sinh hóa thực vật, khoa Sinh học, trường Đại học Vinh.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, người thân và bạn bè gần xa.
Tôi xinh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: PGS TS Nguyễn Đình San đã tận tình hướng dẫn tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh học, các thầy cô giáo, các thầy cô kĩ thuật viên phòng thí nghiệm trong tổ bộ môn Sinh lí - Sinh hóa đã góp ý và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn những người thân, các anh chị học viên, bạn bè xa gần đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 5 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Hường
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vai trò của nguyên tố vi lượng đối với cây trồng 3
1.1.1 Vai trò của chung nguyên tố vi lượng đối với cây trồng 3
1.1.2 Vai trò của vi lượng Molipđen đối với cây trồng 6
1.1.3 Vi lượng Bo đối với cây trồng 7
1.1.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân vi lượng Molipđen và Bo trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.2 Vài nét về cây đậu tương 12
1.2.1 Giá trị của cây đậu tương 12
1.2.2 Các yêu cầu sinh lí - sinh thái đối với cây đậu tương 13
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu tương trên thế giới và trong nước ta 16
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.1 Hai phân bón vi lượng B - Mo 19
2.1.2 Giống đậu tương DT96 19
2.2 Nội dung, địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 20
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 20
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Phương pháp chuẩn bị dung dịch nghiên cứu 20
2.3.2 Phương pháp xử lí hạt giống và bố trí thí nghiệm 21
2.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh lí nảy mầm của hạt 23
Trang 53.1 Ảnh hưởng của Mo, B lên tỉ lệ nảy mầm của giống đậu tương DT96
24
3.2 Ảnh hưởng của Mo, B lên sự tăng trưởng thân mầm và rễ mầm của giống đậu tương DT96 28
3.2.1 Ảnh hưởng của vi lượng Mo, B lên chiều dài thân mầm của giống đậu tương DT96 28
3.2.2 Ảnh hưởng của vi lượng Mo, B lên đường kính thân mầm của giống đậu tương DT96 33
3.2.3 Ảnh hưởng của vi lượng Mo, B lên chiều dài rễ mầm 37
3.3 Ảnh hưởng của vi lượng Mo, B lên cường độ hô hấp của hạt đang nảy mầm giống đậu tương DT96 40
3.4 Ảnh hưởng của vi lượng Mo, B lên hoạt độ enzim catalaza của hạt đang nảy mầm giống đậu tương DT96 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
A Kết luận 48
B Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 6Mo Nguyên tố Molipđen
B Nguyên tố Bo
CT1 Công thức thí nghiệm 1 [Mo] = 0.01%
CT2 Công thức thí nghiệm 2 [Mo] = 0.03%
CT3 Công thức thí nghiệm 3 [Mo] = 0.05%
ĐC Công thức đối chứng nước cất
KT Kích thước
Trang 7Bảng 1: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên tỉ lệ nảy mầm của đậu
tương 25Bảng 2: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên chiều dài thân mầm (mm)
29Bảng 3: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên đường kính thân mầm (mm)
33Bảng 4: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên chiều dài rễ mầm (mm) 37Bảng 5: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên cường độ hô hấp (mg CO2/
g.h) 41Bảng 6: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên hoạt độ enzim catalaza
(đv cata) 45
Trang 8Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên tỉ lệ nảy mầm 26Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên chiều dài thân mầm 30Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên đường kính thân mầm
(%) 34Biểu đồ 4: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên chiều dài rễ mầm 38Biểu đồ 5: Ảnh hưởng của vi lượng B, Mo lên cường độ hô hấp (%)
42Biểu đồ 6: Ảnh hưởng của B và Mo lên hoạt độ enzim catalaza(%) 46
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong sản xuất nông nghiệp phân bón được coi là yếu tố quan trọng,như trong kinh nghiệm của nhân dân ta cũng đã đúc kết rằng: “Nhất nước, nhìphân, tam cần, tứ giống”, phân bón có vai trò quan trọng thứ hai sau nước.Những thập niên trước đây sản xuất nông nghiệp đa phần chỉ chú trọng đếnnhóm nguyên tố đa lượng Ngày nay, vi lượng được coi là cực kì quan trọngtrong sản xuất nông nghiệp để cho nông sản đạt năng suất và chất lượng caođáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và cho xuất khẩu Việc tìm ra vai trò củanguyên tố vi lượng trong tự nhiên tham gia vào đời sống của cây trồng đã mở
ra nhiều hướng thâm canh cho năng suất cao cũng như chất lượng cây trồng.Việc ra đời các loại phân bón lá có chứa vi lượng đang rất được quan tâm và
áp dụng Vậy thực chất vai trò của nguyên tố vi lượng quan trọng như thế nàođối với cây trồng ? Việc tìm hiểu vai trò của nguyên tố vi lượng đối với đờisống của cây trồng giúp chúng ta sử dụng chúng trong sản xuất hiệu quả hơn
Các nguyên tố vi lượng thông qua ảnh hưởng đến hoạt tính của enzim
mà ảnh hưởng đến hoạt động sinh lí của cây, các quá trình hô hấp, quá trìnhquang hợp, và các quá trình trao đổi chất như trao đổi axit Nucleic, trao đổiprotein hay phân giải tinh bột trong quá trình nảy mầm… đều chịu ảnh hưởngcủa nguyên tố vi lượng
Các nguyên tố vi lượng gồm: Zn, B, Mo, Cu, Co…trong đó B, Mođược sử dụng khá phổ biến trong sản xuất nông nghiệp và đã mang lại hiệuquả cao trong trong nâng cao năng suất và chất lượng nông sản
Như vậy, vi lượng tham gia vào các quá trình quan trọng của cây từ đóảnh hưởng đến hàm lượng chất hữu cơ cũng như năng suất cây trồng Do đó,ngày nay việc sản xuất phân vi lượng sử dụng trong sản xuất nông nghiệpđang rất được chú trọng Ở nước ta hiện nay, các loại phân vi lượng như phân
Trang 10B, Mo đã và đang được sử dụng rộng rãi nhằm nâng cao năng suất cho nhiềuđối tượng khác nhau: lúa, ngô, các loại cây ăn quả, các cây họ đậu… đặc biệtđáng chú ý là áp dụng phân B, Mo cho cây đậu tương - một loại cây trồng rất
có giá trị về nhiều mặt
Đâu tượng hay đỗ tương, đậu nành (tên khoa học Glycin Max) là loạicây họ đậu (Fabaceae) Đậu tương là cây trồng quan trọng có giá trị về nhiềumặt : làm thức ăn cho người và gia súc, có tác dụng cải tạo đất và làm cânbằng hệ sinh thái nông nghiệp, sử dụng trong công nghiệp và đậu tuong còn
có tác dụng chữa bệnh… Giá trị của cây đậu tương là rất lớn, việc tăng diệntích trồng đậu tương cũng như áp dụng các biện pháp kĩ thuật làm tăng sảnlượng cây đậu tương là rất có ý nghĩa Đối với một tỉnh có cơ cấu thâm canh 2
vụ lúa/năm cùng với 1 vụ màu/năm như Nghệ An thì trồng đậu tượng tăng vụ
là rất phù hợp, vừa có giá tri kinh tế cao vừa có tác dụng cải tạo đất Trướcđây đậu tương cũng được nhân dân một số vùng như: Nam Đàn, HưngNguyên, Nghi Lộc … trồng với diện tích khá nhiều, tuy nhiên do năng suấtthấp và chưa được quan tâm nhiều nên diện tích trồng đậu tương giảm đáng
kể Vì vậy cần áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất đậu tương làm tăngnăng suất đậu tương là việc cần làm, để đậu tương là cây trồng phổ biến trongnhân dân là việc cần quan tâm Việc nghiên cứu tác nhân làm tăng tỉ lệ nảymầm, tăng sinh trưởng của cây đậu tương nhằm tìm biện pháp nâng cao năngsuất đậu tương ở địa phương Nghệ An là điều cần thiết Vì vậy chúng tôi tiến
hành đề tài: “Ảnh hưởng của nguyên tố vi lượng Bo, Molipđen lên các chỉ
tiêu sinh lí nảy mầm của giống đậu tương DT96”.
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu tác dụng của B, Mo lên sự nảy mầm vàxác định nồng độ thích hợp nhất của chúng lên sự nảy mầm của giống đậutương DT96
Trang 11CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò của nguyên tố vi lượng đối với cây trồng
1.1.1 Vai trò của chung nguyên tố vi lượng đối với cây trồng
Trong trồng trọt, điều kiện dinh dưỡng khoáng là một trong những nhân
tố chi phối hiệu quả nhất quá trình sinh trưởng phát triển của cây Mỗi nguyên
tố khoáng đều có vai trò sinh lí đặc thù không giống nguyên tố khác Tuynhiên, chúng có vai trò chung phổ biến nhất là xây dựng nên chất sống vàđiều tiết các sự tiến hành các quá trình trao đổi chất do tác động sâu sắc đếnenzim và hệ keo nguyên sinh Như vậy, dinh dưỡng khoáng đóng vai trò rấtquan trọng trong đời sống của cây, nếu thiếu đi một vài nguyên tố dinh dưỡngnào đó thì sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây, từ đó ảnhhưởng đến năng suất cây trồng Đáp ứng đầy đủ các nguyên tố khoáng với sựkết hợp cả nguyên tố đa lượng và vi lượng theo đúng nhu cầu sinh lí của cây
là biện pháp kĩ thuật hết sức quan trọng để tăng năng suất cây trồng
Khi nghiên cứu sự hấp thụ các nguyên tố khoáng ở thực vật đã thấyrằng sau một thời gian nhất định sự sinh trưởng của thực vật ngừng lại và códấu hiệu bệnh lí, mặc dù trong dung dịch dinh dưỡng đã có đầy đủ các nguyên
tố đại lượng Những công trình nghiên cứu tiếp tục chỉ ra rằng thực vật trồngtrong thời gian dài đòi hỏi sự phát triển bình thường của nhiều nguyên tố khácnhưng chỉ một lượng rất nhỏ Các nguyên tố này gọi là các nguyên tố vilượng Như vậy, nguyên tố vi lượng là những nguyên tố khoáng cần thiết chocây trồng nhưng cây cần với một lượng rất nhỏ, từ 10-1 đến 10-4 % chất khô.Các nguyên tố vi lượng gồm: Mn, B, Sr, Cu, Ti, Zn, Mo…
Trang 12Từ lâu người ta đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thểphát triển bình thường nếu không có các nguyên tố vi lượng như Bo,Mangan, Kẽm, Đồng, Molipden; và đối với một số cây cần cả Nhôm vàSilic Người ta đã thừa nhận các nguyên tố này tuyệt đối cần thiết cho cây;các nguyên tố đó được xem như là các chất kích thích và các phân chứachúng được gọi là các loại phân “xúc tác” hoặc phân “ kích thích” Chúng đãthúc đẩy sự phát triển của thực vật Sự thiếu các nguyên tố vi lượng ở dạng
dễ tiêu trong đất làm giảm năng suất của cây trồng một cách đáng kể Ngàynay, vi lượng được coi là cực kì quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đểnông sản đạt năng suất cao và chất lượng nông sản tốt Vậy thực chất vilượng có ảnh hưởng như thế nào đến cây trồng để có vai trò quan trọng vớicây như vây? Điều đó là do vai trò sinh lí của các nguyên tố vi lượng đối với
sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng
Nguyên tố vi lượng và enzim
Mối quan hệ giữa các nguyên tố khoáng nói chung và vi lượng nóiriêng với hoạt tính của enzim là chìa khóa giải thích sự tham gia của vi lượngtrong các quá trình trao đổi chất và năng lượng của cây [10]
Nhiều nguyên tố vi lượng là thành phần cấu trúc bắt buộc của enzim cótác dụng làm tăng khă năng hoạt hóa của enzim lên nhiều lần, một số vi lượngkhác lại liên kết với enzim nhưng không có tác dụng đặc trưng mà chúngđóng vai trò xúc tác hoặc hoạt hoá enzim Một số vi lượng ở trạng thái tự docũng có tác dụng kích tích hoạt tính của enzim trong tế bào
Vi lượng và quá trình trao đổi chất trong cây
Các nguyên tố vi lượng có tác dụng sâu sắc và nhiều mặt đối với quátrình quang hợp Sinh tổng hợp chlorophyll không những cần có Fe, Mg màcòn tập trung trong lục lạp cả Mn, Cu Các nguyên tố Co, Cu, Zn, Mo có ảnh
Trang 13hưởng tốt đến độ bền vững của chlorophyll Các nguyên tố Zn, Co có tácdụng tốt đến sự tổng hợp carotenoit.
Nói chung các nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng tích cực đến hàmlượng và trạng thái các nhóm sắc tố của cây, đến số lượng và kích thước củalục lạp Các nguyên tố vi lượng là thành phần câu trúc hoặc tác nhân hoạt hoácác enzim tham gia trực tiếp trong pha sáng cũng như pha tối của quang hợp,
do đó tác động rõ rệt đến cường độ quang hợp và thành phần của sản phẩmquang hợp Hiện nay đã biết rất rõ vai trò của các enzim và các protein chứa
Fe (các xytocrom, ferredoxin) và chứa Cu (plastoxyanin) trong các dây truyềnđiện tử của hai phản ứng trong quang hợp, cũng như vai trò của Mn trong quátrình phân li H2O, giải phóng O2 Ở pha sáng nếu thiếu Mn thì phản ứng Hillkhông thực hiện được, sự giải phóng O2 bị kìm hãm và lượng H2O2 sẽ gâyđộc cho tế bào Ở pha tối của quang hợp, vi lượng tham gia vào cácenzim trao đổi chất của các chu trình C3, C4, CAM
B, Mn, Zn, Cu, Co, Mo tham gia trong việc thúc đẩy sự vận chuyển cácsản phẩm quang hợp từ lá xuống các cơ quan dự trữ Các nguyên tố vi lượngcòn có tác dụng hạn chế việc giảm cường độ quang hợp khi cây gặp hạn, ảnhhưởng của nhiệt độ cao, hoặc trong quá trình hoá già
Đối với quá trình hô hấp các nguyên tố vi lượng có những tác động trựctiếp Nhiều nguyên tố, đặc biệt là Mg, Mn là tác nhân hoạt hoá mạnh mẽ cácenzim xúc tác cho quá trình phân giải yếm khí (chu trình đường phân) cũngnhư hiếu khí (chu trình Kreb) các nguyên liệu hữu cơ trong quá trình hô hấp.Các nguyên tố vi lượng là thành phần cấu trúc bắt buộc của các enzim oxi hoá
- khử trực tiếp tham gia vào các phản ứng quan trọng nhất của hô hấp (các
hệ Xytocrom chứa Fe, polyphenoloxidaza, ascorbinoxidaza chứa Cu).Nhiều nguyên tố vi lượng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình photphorin hoá
Trang 14chứa oxi hoá (tạo thành ATP), nghĩa là đến hiệu quả năng lượng có ích của hôhấp [18].
Vi lượng và các quá trình sinh lí của cây
Khi nghiên cứu về quá trình hô hấp người ta thấy rằng nguyên tố vilượng xúc tác nhiều enzim tham gia vào quá trình phân giải yếm khí (quátrình đường phân) và chu trình Kreb như các enzim : xytocrom,photphattaza Nguyên tố vi lượng giúp cho quá trình photphorin hóa - oxihóa tạo ATP trong hô hấp Nhiều nghiên cứu cho thấy thiếu B hoạt tính củaATPaza tăng lên dẫn đến giảm sút lượng ATP do enzim này xúc tiến quá trìnhphân cắt gốc photphat từ ATP [10]
Các nguyên tố vi lượng Mo, Mn, B, Cu, Co … cùng với Fe thúc đẩyquá trình tổng hợp diệp lục,tăng cường liên kết giữa diệp lục và protein
Vi lượng còn ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp carotenoit và quá trìnhquang hợp
Nguyên tố vi lượng còn có ảnh hưởng đến quá trình cân bằng nướctrong cây như các quá trình thoát hơi nước, vận chuyển nước trong cây…ngoài ra còn ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và tính chống chịu của cây
Nguyên tố vi lượng ảnh hưởng rất lớn đến các quá trình trong cây, từ
đó ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Do vậy cần sử dụng phân bón hợp líkết hợp các nguyên tố đa lượng và vi lượng nhằm đẩy mạnh nâng cao năngsuất cây trồng là biện pháp hữu hiệu cần được quan tâm áp dụng trong sảnxuất nông nghiệp hiện nay
1.1.2 Vai trò của vi lượng Molipđen đối với cây trồng
Mo rất cần thiết cho đa số thực vật, nhất là thực vật có khả năng cốđịnh đạm Triệu chứng đói Mo thể hiện ở màu lá vàng do đói đạm, cây chậmlớn, trong mô tích lũy nhiều NO3- Thiếu Mo, cây họ đậu có nốt sần ít, bé và
Trang 15nốt sần màu xám Người ta đã phát hiện thấy trên 40 loài cây đói Mo Mo rấtcần cho vi sinh vật có khả năng cố định N2 như Azotobacter, Chlostridium
pasteurianum, tảo lam và vi khuẩn cộng sinh với cây họ đậu Hàm lượng
Mo trong nốt sần cây bộ đậu tới 0.2% của trọng lượng khô
Mo là thành phần của enzim nitratreductaza xúc tác quá trình khửnitrat Mo còn là thành phần cấu trúc bắt buộc của nitrogenaza,molipdoferedoxin xúc tác cho quá trình cố định nitơ, Mo tham gia quá trìnhtổng hợp axit amin và tổng hợp protein đặc biệt làm tăng tỷ lệ N-protein sovới N-tổng số Do đó Mo có ý nghĩa đặc biệt đối với cây họ đậu
Mo ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp và vận chuyển gluxit, tổng hợpcác sắc tố, vitamin (đặc biệt là vitamine C), ảnh hưởng đến quá trình đồnghóa P và Ca và một số nguyên tố khác Ca và Mo có tác dụng hỗ trợ nên đấtchua bón Ca làm tăng khả năng sử dụng Mo dự trữ
Mo là yếu tố quan trọng để tăng năng suất cây bộ đậu và một số câykhác Thiếu Mo cây họ đậu kém phát triển, khả năng cố định nitơ giảm sút,các nốt sần ít và nhỏ, lá màu vàng lục do thiếu nitơ, thân cây có màu tía hoặcmàu vàng tía Như vây, Mo có vai trò quan trọng trong việc cố định đạm củacây họ đậu.[1]
1.1.3 Vi lượng Bo đối với cây trồng
B là nhân tố phụ của nhiều hệ enzim Thiếu B, các điểm sinhtrưởng của thân, rễ, lá chết dần, vì B có vai trò lớn trong trao đổi gluxit Thiếu Bthì trong lá tích lũy nhiều đường làm cho đỉnh sinh trưởng thiếu gluxit sinh rahiện tượng dư thừa NH3 vì gluxit là chất nhận rất tốt của NH3 Gần đây người
ta cho rằng điểm sinh trưởng chết vì trao đổi axit nucleic bị đảo lộn
Thiếu B hàm lượng ARN và ATP trong các điểm sinh trưởng củathân bị giảm sút rõ rệt do quá trình trao đổi năng lượng bị giảm sút
Trang 16B còn có khả năng làm tăng hoạt tính của đehyđrogenaza B còn đảmbảo lượng O2 cho rễ B làm tăng sự tổng hợp protein của cây nên B còn cótác dụng chống lốp đổ B làm tăng sự hút cation trong quá trình dinh dưỡng,thúc đẩy sự vận chuyển P trong cây.
B còn xúc tiến hấp thu K, Ca, NH4+ và các cation khác Thiếu B thì tốc
độ hút Ca bị giảm xuống, làm rối loạn quá trình hình thành vách tế bào
Nhiều công trình nghiên cứu thấy rằng B có ảnh hưởng đến quá trìnhtổng hợp sắc tố, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, dinh dưỡng khoáng, traođổi N, quá trình thụ phấn và đậu quả của cây
Đối với cây họ đậu, B có tác dụng thúc đẩy sự phát triển các mô chứa
vi khuẩn trong các nốt sần của cây họ đậu
Đối với cây đậu tương người ta thường sử dụng các phân vi lượng Mo
và B, trong đó Mo thường sử dụng để xử lí hạt giống, còn B thường dùng đểphun lên lá
1.1.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân vi lượng Molipđen và Bo trên thế giới và ở Việt Nam
Ngay từ lúc mới ra đời, sinh lí thực vật đã phải tìm hiểu giải đáp khoahọc cho câu hỏi mà loài người quan tâm từ lâu là cây dinh dưỡng bằng nhữngchất gì và như thế nào ? Bên cạnh các nghiên cứu về nguyên tố đa lượng thìđến cuối thế kỉ 19 các nhà bác học đã chứng minh vai trò sinh lí quan trọngcủa các nguyên tố vi lượng Rất nhiều công trình nghiên cứu đã được tiếnhành và thu được kết quả đáng kể Các nguyên tố vi lượng quan trọng đầutiên kể đến là Zn, B, Mo, Cu… Trong đó, B và Mo là hai nguyên tố đã đượcrất nhiều công trình nghiên cứu quan tâm và làm sáng tỏ, dưới đây chỉ trìnhbày một số nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 17Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy việc xử lí cácnguyên tố vi lượng có tác dụng thúc đẩy quá trình phân giải tinh bột ở hạt và
củ lúc nảy mầm, do đó làm tăng tốc độ nảy mầm Theo Vlaxyuk (1970),Phạm Đình Thái (1975) hàm lượng tinh bột gạo, sắn, ngô cũng như hàmlượng đường trong mía và củ cải đường và các loại cây khác gia tăng đáng kểnếu bón hợp lí B, Zn, Mn, Mo và các vi lượng khác Các nguyên tố vi lượng
Mo, Cu cũng thúc đẩy sự phân giải chất béo lúc hạt nảy mầm (Lobedeva,1978; Mutalov, 1978) [14]
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy Mo và các nguyên tố vi lượng khácnhư Zn, B, Cu ngăn ngừa khả năng phân giải ARN, AND và thúc đẩy sinhtổng hợp Axit Nucleic (Vlaxyuk, 1987; Peive, 1977) [14]
Những nghiên cứu của Peive, Jiznevxcaia (1963 - 1964), Turchin(1967) đã khẳng định vai trò cố định nitơ phân tử trong nốt sần có sự tham giacủa Mo và chính nguyên tố này đã tăng cường hoạt động của enzimhydrogenaza, cung cấp đầy đủ hydro hoạt hóa cho quá tringf khử nitơ khíquyển và cố định nó trong nốt sần cây họ đậu…[5]
Ảnh hưởng tích cực của các nguyên tố vi lượng đến quá trình sinhtrưởng phát triển của cây là kết quả tất yếu của tác động của chúng đến cácquá trình trao đổi chất và sinh lí Việc xử lí hàng trăm tấn hạt giống bằngdung dịch vi lượng với nồng độ thích hợp đã cho thấy tốc độ và tỉ lệ nảy mầmhạt giống được tăng lên rõ rệt (Phạm Đình Thái 1968, 1975, 1980… vàNguyễn Kiền 1985) [14]
Trên thế giới, phân vi lượng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nôngnghiệp, trong đó các loại phân chứa Bo và Molipđen có vai trò rất quan trọng
Ở Mỹ, phân vi lượng được sử dụng với qui mô rộng Tính theo tổng số lượngphân bón thì Zn được sử dụng nhiều nhất để bón cho cây ăn quả, sau đó lầnlượt đến Mn, Cu, Bo, Mo… biện pháp xử lí phân vi lượng thường được kết
Trang 18hợp với phân đa lượng và chất điều hòa sinh trưởng [5] Mỹ cũng là nước sửdụng nhiều nhất các loại phân bón vi lượng so với nước khác Năm 1969, sửdụng 21 000 tấn, 1970 - 98 000 tấn và 1977 - 422 000 tấn, trong đó 98 000tấn sử dụng riêng biệt, còn 324 000 tấn dùng cho phân phức hợp [ 15]
Ở một số nước đã sử dụng phân bón ở dạng chelat để phun lên lá.Trong thời gian 1980 - 1985 người ta sử dụng 18 000 tấn phân vi lượng chứacác nguyên tố Mo, B, Cu, Zn, Co, I, Mn, Fe
Vấn đề sử dụng phân vi lượng trong trồng trọt ở nước ta mới được quantâm gần đây Kết quả phân tích hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong cácloại đất chính, các nguồn phân bón tự nhiên và các mẫu thực vật đã chứng tỏ
sự tồn tại của cân bằng âm của các nguyên tố vi lượng quan trọng nhất (nghĩa
là lượng chứa trong các nguồn cung cấp thấp hơn nhu cầu của cây) trong điềukiện nước ta (Phạm Đình Thái 1984) Kết quả thực nghiệm trên 20 năm vớinhiều loại cây như lúa, ngô, đậu đỗ, lạc…do bộ môn sinh lí sinh hóa, trồngtrọt các trường Đại học Sư phạm và một số cơ quan nông nghiệp tiến hành đãchứng tỏ triển vọng khả quan và hiệu quả kinh tế cao của các dạng phân vilượng [14]
Việc nghiên cứu vai trò các phân vi lượng nói chung và vi lượng Mo, Bnói riêng được Phạm Đình Thái và cộng sự thực hiện từ năm 1964 Quá trìnhthực hiện từ năm 1964 đến 1979 đã thu được nhiều số liệu có giá trị cho thấyảnh hưởng tích cực của các nguyên tố vi lượng đến hoạt động sinh lí sinh hóanăng suất và phẩm chất nhiều loại cây trồng như ngô, đậu tương, đậu xanh …
Đối với đậu tương, đã cõ những nghiên cứu của Nghiêm Xuân Lượng(1972), Võ Hùng Năm 1976-1978 Phạm Đình Thái đã tiến hành nghiên cứu
xử lí Mo, Mn, B, Cu trên đối tượng đậu tương ở đất ruộng và đất đồi vùngThanh Ba, Yên Lạc (Vĩnh Phúc), Nam Ninh.[5]
Trang 19Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đính (1966) cho thấy xử lí Mogiai đoạn ngâm hạt tăng tỉ lệ nảy mầm 5.8% so với ĐC, phun giai đoạn 3 lá và
ra hoa làm tăng chiều cao cây 9.8% so với ĐC, tăng khả năng tích lũy chấttươi 14.5%, chất khô 15.3%, diệp lục tổng số 18.9% và diện tích lá tăng 26%.[15]
Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định vai trò tolớn của phân vi lượng nói chung và vi lượng Mo, B nói riêng đối với câytrồng Vì vậy việc nghiên cứu và ứng dụng các loại phân vi lượng hiện nay đã
và đang rất được quan tâm đẻ sử dụng tăng năng suất cây trồng và chất lượngsản phẩm nông nghiệp
Để có cơ sở khoa học cho việc sử dụng phân vi lượng người ta phải biếtđược trong đất thiếu vi lượng gì ? Ở nước ta, trong hơn 30 năm qua đã cónhiều nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu tập trung tìm hiểu hàm lượng vàtrạng thái các nguyên tố vi lượng nói chung và vi lượng B, Mo nói riêng trongcác loại đất chính Sau nhiều năm nghiên cứu các nhà khoa học đều đi đến kếtluận là đất Việt Nam thiếu vi lượng và sau mỗi vụ thì mức độ thiếu lại càngtăng Việc này đòi hỏi chúng ta phải có chế độ bổ sung vi lượng cho đất Một
số loại phân Mo và B sử dụng hiện nay như sau:
Phân chứa Mo: - Amonium molipdat: (NH4)Mo7O27.4H2O chứa 39% Mo
- Sodium molipdat : Na2MoO4.2H2O chứa 54% Mo
- Trioxit molipdat : MoO3 chứa 60% Mo
- Sunfua molipdat : MoS3 chứa 60% Mo
Phân chứa B: - Axit Boric H3BO3 chứa 17% B
- Borat Na2B4O7.10H2O chứa 11.5% B
- Sodium pentaborat Na2B10O16.10H2O chứa 20% B
- Phân chuồng chứa 20 - 25 mg B/kg chất khô
Trang 201.2 Vài nét về cây đậu tương
1.2.1 Giá trị của cây đậu tương
Cây đậu tương hay đậu nành (tên khoa học: Glyxine Max), họ phụ cánhbướm (Papilionoidae), thuộc cây họ đậu (Leguminasae), thuộc bộ đậu(Fabales) Đậu tương có nguồn gốc từ cây đậu tương hoang dại, dạng thânleo, được phát hiện ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Đậu tương là câytrồng được đánh giá do giá trị kinh tế của nó
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trungbình từ 38 - 40%, lipit từ 18 - 20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng.Protein của đậu tương có phẩm chất tốt trong số các protein của thực vật -hàm lượng protein từ 38 - 40% là cao hơn cả ở cá, thịt và cao gấp 2 lầnprotein ở loại đậu đỗ khác Hàm lượng của các axit amin có chứa lưu huỳnhnhư metionin, sistein, sixtin…của đậu tương rất gần với hàm lượng của cácchất này của trứng Vì thế mà khi nói giá trị của protein ở đậu tương cao lànói hàm lượng lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết
Hạt đậu tương có hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nênđược coi là cây cung cấp dầu thực vật Lipit của đậu tương chứa một tỉ lệ caocác axit béo chưa no hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm ngon Dùng dầu đậutương thay mỡ động vật có thể tránh được xơ mỡ động mạch
Trong hạt đậu tương còn có khá nhiều các vitamin, đặc biệt là cácvitamin B1, B2, ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C…và cácloại muối khoáng khác
Do đó mà từ đậu tương người ta chế biến được trên 600 sản phẩm khácnhau, trong đó có các loại thức ăn chế biến bằng phương pháp cổ truyền, thủcông và hiện đại Ở nước ta từ hàng ngàn năm nay đậu tương đã cung cấp mộtphần nhu cầu chất đạm cho người và gia súc Thông qua các thức ăn cổ truyền
Trang 21được chế biến từ đậu tương phần nào tạo nên sự cân bằng dinh dưỡng trongkhẩu phần ăn của nhân dân.
Đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen cótác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột; làm thức ăn cho người bệnh bịđái tháo đường, thấp khớp, mới ốm dậy hoặc do làm việc quá sức Các chấtlexithin và cazein có trong hạt đậu tương còn có thể dung riêng hoặc phối hợp
để làm thuốc bổ
Đậu tương còn được sử dụng cho chế biến thức ăn gia súc, gia cầm rấttốt Ở nhiều nước phát triển người ta sử dụng đậu tương vào các ngành côngnghiệp khác nhau như chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chấtdẻo, tơ nhân tạo, chấtt đốt lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không
Từ sau đại chiến thế giới thứ II đậu tương giữ vị trí hàng đầu trên thịtrường nông sản thế giới
Đậu tương còn là cây họ đậu có khả năng cố định đạm để tự túc và làmgiàu đạm cho đất nhờ vào cộng sinh của vi khuẩn nốt sần ở bộ rễ Trong điềukiện thuận lợi, các vi khuẩn nốt sần này có thể tích luỹ được một lượng đạmtương đương 20 - 25 kg ure/ha Do vậy có thể nói mỗi nốt sần như một nhàmáy phân đạm tí hon, bởi vậy nên trông đậu tương không những tốn ít phânđạm mà còn làm cho đất tốt lên, có tác dụng tích cực trong việc cải tạo và bồidưỡng đất đai
1.2.2 Các yêu cầu sinh lí - sinh thái đối với cây đậu tương
Nhiệt độ:
Đậu tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ không khí từ
27-420C Nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho đậu tương ở thời kì nảy mầm nằm trongphạm vi từ 10-400C Càng ấm thi càng dễ mọc và mọc nhanh Ở nhiệt độtừ10-120C muốn mọc nhanh phải cần 15 - 16 ngày, nhưng nếu có nhiệt độ
Trang 22150C chỉ cần 9 - 10 ngày và nếu ở 200C thì chỉ mất 6 - 7 ngày, nếu nhiệt độquá 400C thì hạt cũng không mọc được Nói chung nếu có nhiệt độ 18-300Cthì hạt nảy mầm tốt.
Thời kì cây con, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là từ 22 - 270C,gặp nhiệt độ dưới 170C thì sẽ trở ngại cho sinh trưởng ở lá
Thời kì cây ra hoa kết quả, cây cần nhiệt độ từ 28 - 370C, nếu gặp nhiệt
độ thấp thì sẽ ảnh hưởng xấu đến việc ra hoa kết quả
Nhiệt độ bình quân trong ngày có lợi cho sự sinh trưởng và phát triểncho cây đậu tương là từ 18-220C
Ở giai đoạn nảy mầm, đất đủ ẩm thì hạt mới có thể mọc nhanh được
Độ ẩm đất 50% là thích hợp nhất, nếu khô quá hạt không mọc được, hạt nằmlâu trong đất sẽ bị thối Ngược lại ướt quá làm cho đất bí thiếu không khí,không mọc được hạt cũng sẽ bị thối Lượng nước mà hạt cần hút để nảy mầmkhoảng từ 100 - 150% trọng lượng khô của hạt
Nhu cầu về nước sẽ tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và nhucầu đó cũng thay đổi tuỳ theo điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai và kĩ thuậtcanh tác
Đất và dinh dưỡng khoáng:
Yêu cầu về đất:
Trang 23Yêu cầu về đất của cây đậu tương nói chung là không khắt khe lắm.Bón đủ phân hữu cơ và vô cơ đất nào cũng có thể trồng được Tuy nhiên, đấttốt, đất nhẹ thì vừa dễ làm ít tốn công và dể đạt năng suất cao hơn đất xấu, đấtnặng Độ pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương là
từ 5,2 - 6,5
Yêu cầu về các dinh dưỡng khoáng:
- Về đạm: Nhu cầu về đạm của cây đậu tương nói chung là ít cho nêntrong sản xuất đậu tương người ta chỉ nêu yêu cấu bón một ít phân đạm lúcgieo, người ta thường khuyến cáo nên sử dụng các loại phân dùng để tẩm hạtgiống trước khi gieo hạt tạo điều kiện cho vi sinh vật cộng sinh cố định đạmphát triển mạnh cung cấp đạm cho cây
- Về lân: Đậu tương cần nhiều lân cao hơn đạm Phân lân thường đượcbón lót trước khi gieo hạt
- Về kali: Nếu so với đạm và lân thì nhu cầu kali của đậu tương làlớn hơn cả Nhu cầu kali của đậu tương tăng dần theo thời gian sinh trưởngcủa cây và đạt đỉnh cao vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, sau đó lại giảmdần cho đến khi cây hình thành hạt và ngừng ở thời kì khoảng 21 ngàytrước khi chín
Ngoài ba yếu tố chính là đạm, lân, kali kể trên, cây đậu tương còn cầnmột số nguyên tố vi lượng khác, mà quan trọng có thể kể đến là Molipđen,Bo…Molipđen là chất rất cần thiết cho sự cộng sinh của vi khuẩn cố địnhđạm Khi thiếu Molipđen quá trình trao đổi đạm bị gián đoạn, lá dễ bị trắng.Nhiều loại đất ở ta giàu Al+++ di động nên thiếu Molipđen Bo cũng có ý nghĩađối với sự phát triển nốt sần ở rễ cây họ đậu Thiếu B làm nốt sần trên rễ câyđậu hương phát triển kém, tỉ lệ rụng hoa, rụng quả và hạt lép tăng Và mộttrong những mục đích của đề tài là nhằm góp phần vào việc sử dụng các chế
Trang 24phẩm vi lượng Bo, Molipđen cho các loại cây trồng nói chung, cây họ đậu nóiriêng để nâng cao năng suất cây trồng.
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu tương trên thế giới và trong nước ta
1.2.3.1 Trên thế giới
Đậu tương là cây lấy hạt, cây lấy dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới,đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô Do khả năng thích ứng khárộng nên nó đã được trồng khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất làchâu Mĩ 73,03%, tiếp đến là châu Á 23,15% Hàng năm trên thế giới trồngkhoảng 54 - 56 triệu ha đậu tương (thời gan 1990 - 1992) với sản lượngkhoảng 103 - 114 triệu tấn (FAO 1992) Các nước trồng diện tích nhiều là Mĩ23,6 triệu ha, với sản lượng 59,8 triệu tấn Braxin có 9,4 triệu ha với sảnlượng 19,2 triệu tấn Trung Quốc có 7,2 triệu ha với sản lượng 9,7 triệu tấn.Achentina 4,9 triệu ha với sản lượng11,3 triệu tấn
Thời kì 1990 - 1992 so với thời kì 1979 - 1981 sản lượng đậu tương đãtăng 26,1% còn diện tích chỉ tăng 8,8% Năng suất đậu tương trên thế giớibình quân trong những năm 1990 - 1992 là 1974 kg/ha, tăng so với thời kì
1979 - 1981 là 15,9% Những nước có năng suất đậu tương bình quân cao làItalia 3585kg/ha, Mĩ 2530 kg/ha, Achentina 2322 kg/ha và Braxin 2034kg/ha
Sản phẩm đậu tương lưu hành trên thế giới chủ yếu ở dưới ba dạng làhạt, dầu và bột - khu vực tiêu thụ dầu nhiều là Mĩ, Braxin, EEC, Trung Quốc,Nhật, Ấn Độ … Sản lượng tập trung lớn ở 4 nước nhưng lại được tiêu thụ trênkhắp thế giới với nhu cầu ngày càng tăng
1.2.3.2 Ở Việt Nam
Trang 25Ở Việt Nam, cây đậu tương đã được phát triển rất sớm ngay từ khi nócòn là cây hoang dại, sau được thuần hoá và được trồng như một cây thựcphẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
Ở Việt Nam hiện nay cây đậu tương được trồng ở 43/63 tỉnh thành phốthuộc 7 vùng sinh thái nông nghiệp Những năm gần đây do tập quán canh tác
và đặc biệt là do năng suất đậu tương thấp, hiệu quả kinh tế sản xuất đậutương không cao, cho nên đậu tương chưa được chú ý phát triển ở cả nước
Do sản lượng sản xuất đậu tương hàng năm không đáp ứng nhu cầu tiêu dùngtrong cả nước dẫn đến tình trạng hàng năm nước ta phải nhập khoảng 400 000
- 500 000 tấn đậu tương để chế biến dầu ăn và thức ăn chăn nuôi
Trong những năm gần đây, với tiến bộ kĩ thuật về công tác tạo giốngđậu tương cho năng suất cao, có thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp với cơcấy xen canh tăng vụ, có khả năng thích ứng nhiều với nhiều vùng sinh thái
đã làm cho sản xuất đậu tương từng bước phát triển và đạt hiệu quả kinh tếkhá so với một số cây ngắn ngày khác.(nguồn: Viện nghiên cứu dầu và cây códầu-EMSVN.com)
Vai trò của đậu tương ở nước ta hiện nay cũng như những năm tới chủyếu là để giải quyết vấn đề đạm cho người và gia súc, thay thế một phần bột
cá và thoả mãn một phần dầu thực vật rồi sau đó mới nói đến xuất khẩu
- Về mặt diện tích: diện tích cây đậu tương của nước ta chiếm tỉ trọngnhỏ trong tổng diện tích gieo trồng (khoảng 1,5 - 1,6) Xét về tốc độ thì tăngrất nhanh nếu lấy năm 1976 làm mốc để so sánh thì năm đó cả nước chỉ có39,4 ngàn ha mà năm 1995 lên 133 ngàn ha, tăng 337,56%
Miền Bắc tuy là vùng có truyền thống sản xuất đậu tương nhưng việc
mở rộng diện tích vẫn còn bị nhiều hạn chế như thời vụ, giá cả, thị trường…mặc dù tiềm năng vẫn còn khá nhiều Theo ý kiến của các nhà hoạch định,nếu có chính sách đấu tư phát triển khoa học, phổ biến kĩ thuật, hỗ trợ vốn
Trang 26giống, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân yên tâm sản xuất thì còn cóthể mở rộng thêm hàng chục vạn ha theo hướng tăng vụ ở đồng bằng, thay đổi
cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích vùng đồi
- Về năng suất: Năng suất đậu tương bình quân ởnước ta rất thấp, chỉ ở mức từ 9,5 - 11 tạ/ha Nếu lấy năng suất của năm 1992
ra để so sánh thì năng suất đậu tương của ta chỉ mới đạt 39,27%(820kg/2088kg/ha) năng suất bình quân thế giới Nếu so với nước có năngsuất cao nhất của thế giới, năng suất của nước ta mới bằng 22,87% Tuy vậy,tốc độ lại tăng khá nhanh Ví dụ năm 1976 năng suất bình quân của cả nướcchỉ đạt 5,25 tạ/ha, năm 1995 đạt 9,6 tạ/ha, tăng 182,8%
- Về sản lượng: Trong vòng 20 năm từ năm 1976
-1995 tăng 6 lần Tuy vậy nếu so với yêu cầu thì còn thiếu rất nhiều Nếu đếnnăm 2000 đạt 505,8 ngàn tấn thì vẫn còn thiếu 378,2 ngàn tấn Mức tiêu thụdầu thực vật ở nước ta rất thấp, mới ở mức bình quân đầu người 2,2 kg/năm.Nếu nhân dân ta quen dùng dầu thực vật thì chính thị trường nội địa cũng cònkhá lớn Trong thời gian tới đây, cùng với nhịp độ tăng dân số và mức tăngthu nhập cùng với việc thay đổi dần tập quán tiêu dùng dầu thực vật hay mỡđộng vật thì mức tiêu thụ dầu thực vật các loại và dầu đậu tương sẽ tăng lên
Hiện nay chúng ta còn phải nhập đậu tương từ Thái Lan và Campuchia
để đáp ứng nhu cầu cho người và làm thức ăn gia súc, gia cầm
Trang 27CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu ảnh hưởng của dung dịch vi lượng lên giaiđoạn nảy mầm của hạt đậu tương chúng tôi sử dụng 2 đối tượng là vi lượng Bo(B) và vi lượng Molipden (Mo), và đối tượng tác động là giống đậu tương DT96
2.1.1 Hai phân bón vi lượng B - Mo
Phân bón vi lượng sử dụng như sau:
Vi lượng Molipden sử dụng ở dạng Na2MoO4.2H2O
Vi lượng Bo sử dụng ở dạng H3BO3
Các hoá chất được lấy từ nguồn hoá chất của phòng thí nghiệm sinh lí sinh hoá thực vật, khoa Sinh học, trường Đại Học Vinh
-2.1.2 Giống đậu tương DT96
Giống đậu tương DT96 do nhóm tác giả Viện Di truyền Nông nghiệpchọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính giữa hai giống đậu tương đang phổbiến trong sản xuất là DT90 và DT84 DT96 kết hợp nhiều đặc tính tốt củahai giống này: chịu nóng, chịu lạnh, năng suất cao cả ba vụ xuân - hè - đông,không những năng suất cao mà giống này còn ưu việt hẳn về chất lượng hạtthương phẩm, tính kháng chịu sâu bệnh, ngoài ra giống còn có thời gian sinhtrưởng ngắn từ 85 - 90 ngày DT96 đã được Hội đồng Khoa học Bộ NN vàPTNT công nhận khu vực hoá năm 2002
Giống đậu tương DT96 được mua tại cửa hàng hạt giống Thảo Quyên Công ty rau quả Hà Nội
Trang 28-2.2 Nội dung, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của hai nguyên tố vi lượng B, Mo lên sựnảy mầm của hạt đậu tương DT96
- Theo dõi tỉ lệ nảy mầm của hạt đậu tương theo những nồng độ B, Monhư sau: Tác động riêng rẽ B, Mo ở các nồng độ 0,01%; 0,03%; 0,05%; và tácđộng kết hợp (B + Mo) ở các nồng độ B và Mo tương ứng với tỉ lệ 1 : 1 ở cácthời điểm 24h, 48h, 72h
- Xác định chiều dài và đường kính thân mầm theo các nồng độ thínghiệm và thời gian nêu trên
- Xác định cường độ hô hấp của hạt đang nảy mầm theo các nồng độthí nghiệm và thời gian nêu trên
- Xác định hoạt độ enzim catalaza của hạt đang nảy mầm theo cácnồng độ thí nghiệm và thời gian nêu trên
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại phòng thí nghiệm sinh lí - sinh hoá thực vật,khoa Sinh học, trường Đại Học Vinh
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chuẩn bị dung dịch nghiên cứu
2.3.1.1 Chuẩn bị dung dịch vi lượng Molipden
Pha dung dịch mẹ:
Cân chính xác 2,52g Na2MoO4.2H2O bằng cân phân tích, hoà tan trongnước cất 2 lần, cho vào bình định mức 1000ml, thêm nước cất cho đến vạchđịnh mức được dung dịch Na MoO 2H O có [Mo] = 0,1%
Trang 29 Pha các nồng độ dung dịch để xử lí giống: Từ dung dịch mẹ ta phacác dung dịch vi lượng Mo có nồng độ thích hợp 0.01%; 0.03%; 0.05%.
2.3.1.2 Chuẩn bị dung dịch vi lượng Bo
Pha dung dịch mẹ
Cân chính xác 5,54g H3BO3 bằng cân phân tích, hoà tan trong nước cất
2 lần, cho vào bình định mức 1000ml và thêm nước cất đến vạch định mứcthu được dung dịch H3BO3 có [B] = 0,1%
Pha các nồng độ dung dịch để xử lí giống: Từ dung dịch mẹ ta phacác dung dịch vi lượng B có nồng độ thích hợp 0.01%; 0.03%; 0.05%
2.3.1.3 Chuẩn bị dung dịch kết hợp 2 nguyên tố B + Mo
Kết hợp 2 loại hoá chất với nồng độ thích hợp nhằm đánh giá hiệu quảtác động tổng hợp và tìm ra công thức tổng hợp có hiệu quả cao nhất
Các công thức kết hợp khác nhau được pha với nhau theo các nồng độtương ứng khác nhau nhưng tỉ lệ về thể tích là 1:1
2.3.2 Phương pháp xử lí hạt giống và bố trí thí nghiệm
Chọn các hạt giống mẩy, đều đặn, không có dấu hiệu sâu bệnh Trướckhi ngâm hạt đem phơi nắng nhẹ Ngâm hạt giống trong các dung dịch nghiêncứu (theo các công thức thí nghiệm) và nước cất (công thức đối chứng) trong2h Sau đó ủ hạt giống trong đĩa petri, phía dưới lót giấy thấm ướt hoá chất vàđậy phía trên bằng giấy thấm ướt hoá chất Mỗi công thức thí nghiệm bố trí 3đĩa petri, mỗi đĩa 100 hạt giống
Các thí nghiệm được bố trí như sau:
- Thí nghiệm 1: xử lí hạt giống đậu tương bằng dung dịch vi lượng
Mo có nồng độ CT1 = 0,01% Mo
- Thí nghiệm 2: xử lí hạt giống đậu tương bằng dung dịch vi lượng
Mo có nồng độ CT2 = 0,03% Mo
Trang 30- Thí nghiệm 3: xử lí hạt giống đậu tương bằng dung dịch vi lượng