1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư

43 456 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Nền Đáy, Thức Ăn, Mật Độ Ương Trong Ao Đến Tăng Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Nghêu (Meretrix Lyrata) Trong Giai Đoạn Giống 20 Đến 80 Ngày Tuổi
Tác giả Hoàng Văn Hợi
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Thị Xuân Thu
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHHOÀNG VĂN HỢI ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN ĐÁY, THỨC ĂN, MẬT ĐỘ ƯƠNG TRONG AO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU Meretrix lyrata GIAI ĐOẠN GIỐNG 20 ĐẾN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG VĂN HỢI

ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN ĐÁY, THỨC ĂN, MẬT

ĐỘ ƯƠNG TRONG AO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG

VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGHÊU (Meretrix lyrata) GIAI ĐOẠN GIỐNG 20 ĐẾN 80 NGÀY TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

Người thực hiện: Hoàng Văn Hợi

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Xuân Thu

Trang 2

VINH - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân Từ đáy lòng mình, tôi xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó:

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, Lãnh đạo khoa Nông Lâm Ngư, Khoa sau Đại học của Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Thu, người hướng dẫn khoa học, đã định hướng trong nghiên cứu, từ việc lập đề cương đến triển khai các thí nghiệm và hoàn thiện bản luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thí nghiệm nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Vinh, ngày 20 tháng 12 năm 2011

Tác giả

Hoàng Văn Hợi

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương1 TỔNG QUAN 2

1.1 Đă ̣c điểm sinh ho ̣c của nghêu (Meretrix lyrata) 2

1.1.1 Hệ thống phân loại và giải phẫu học 2

1.1.2 Sự phân bố của nghêu 5

1.1.3 Đă ̣c điểm dinh dưỡng 6

1.1.4 Sự phát triển của hệ thống tuyến sinh dục và sinh sản 6

1.1.5 Sự phát triển của phôi và ấu trùng 6

1.2 Tình hình nghiên cứu về nhuyễn thể hai mảnh vỏ 7

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Viê ̣t Nam 16

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 29

2.3.2 Phương pháp theo dõi thí nghiệm 32

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

Trang 5

3.1 Ảnh hưởng của nền đáy đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu

(Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi ương trong ao 34

3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 34

3.1.2 Ảnh hưởng của nền đáy đến tăng trưởng của nghêu (Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi 35

3.1.3 Ảnh hưởng của nền đáy đến tỷ lệ sống của nghêu (Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi 39

3.2.Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi 40

3.2.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 40

3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của nghêu 41

3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống của nghêu 43

3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lê ̣ sống của nghêu (Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi ương trong ao 44

3.3.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 44

3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng của nghêu 45

3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của nghêu 47

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 6

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

ANOVA : Phân tích phương sai

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 34

Bảng 3.2: Tăng trưởng của nghêu (chiều dài mm) ở các nền đáy khác nhau 35 Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài của nghêu 37

Bảng 3.4: Tỷ lệ sống của nghêu ở các công thức thí nghiệm 39

Bảng 3.5 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 40

Bảng 3.6: Tăng trưởng của nghêu (theo chiều dài mm) ở các mật độ ương khác nhau 41

Bảng 3.7: Tỷ lệ sống của nghêu ở các công thức thí nghiệm 43

Bảng 3.8 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 45

Bảng 3.9: Tăng trưởng của nghêu (theo chiều dài mm) 46

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) 2

Hình 1.2 Đặc điểm cấu tạo trong của hai vỏ nghêu 3

Hình 1.3 Cấu tạo trong của nghêu 3

Hình 1.4 Vùng nuôi nghêu ở Thanh Hoá 5

Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển của nghêu M lyrata 7

Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiê ̣m 29

Hình 2.2: Ảnh các ao bố trí thí nghiệm 31

Hình 2.3 Lấy mẫu và đo kích thước nghêu 32

Hình 3.1: Biểu đồ tăng trưởng của nghêu về chiều dài ở các công thức thí nghiệm 36

Hình 3.2 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài của nghêu ương ở các công thức thí nghiệm 38

Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ sống của nghêu ở các mức nền đáy khác nhau 39

Hình 3.4: Biểu đồ tăng trưởng của nghêu về chiều dài ở cáccông thức thí nghiệm 42

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ sống của nghêu ương ở các mật độ khác nhau 44

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ sống của nghêu ương ở các công thức thí nghiệm 47

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) là đối tượng có giá tri ̣ kinh tế cao do

có thi ̣ trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa khá lớn Kỹ thuâ ̣t nuôi nghêu đơngiản, phù hợp với trình đô ̣ canh tác của người dân nên được xem là đối tượngnuôi trồng thủy sản chủ lực của nhiều địa phương ven biển Đến nay, diê ̣n tíchnuôi nghêu/ngao trên cả nước là 17.722 ha, sản lượng ước đa ̣t 86.031 tấn(Cu ̣c nuôi trồng thủy sản, 2008) Trước xu thế phát triển và áp lực về nhu cầucon giống ngày càng tăng cao nên tình tra ̣ng khan hiếm con giống đã diễn ra ởhầu hết các đi ̣a phương có nghề nuôi nghêu phát triển, là yếu tố không bềnvững đối với nghề nuôi nghêu

Ở Viê ̣t Nam sinh sản nhân ta ̣o nghêu đã thực hiện từ năm 2003 nhưngquy trình sản xuất giống nghêu chưa hòan thiện, chưa có nghiên cứu nào vềgiai đoạn ương nghêu giống trong ao Thực tế, đa phần người dân thả trực tiếpnghêu cám ra nuôi bãi triều nên tỷ lệ hao hu ̣t rất lớn do gặp đi ̣ch ha ̣i, môitrường bất lợi, … Việc ương nghêu giống trong ao để nâng cao tỷ lệ sốngđược xem là hướng mới, có tính khả thi cao ở các vùng có các ao đầm nuôitôm bị bỏ hoang hay chỉ nuôi 1- 2 vụ trong năm (thời gian nghỉ ao 3-7 tháng)

Xuất phát từ nhu cầu thực tế, nghiên cứu “Ảnh hưởng của nền đáy, thức

ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lê ̣ sống của nghêu (Meretrix

lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi” được đặt ra để hoàn thiện quy trình sảnxuất giống nghêu nhằm nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình ương giống

Mục tiêu của luận văn: Góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nghêu Nội dung nghiên cứu:

1) Nghiên cứu ảnh hưởng của nền đáy đến tăng trưởng và tỷ lệ sốngcủa nghêu giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi ương trong ao

2) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống củanghêu giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi ương trong ao

3) Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lê ̣ sốngcủa nghêu giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi ương trong ao

Trang 10

Chương 1.

TỔNG QUAN

1.1 Đă ̣c điểm sinh ho ̣c của nghêu (Meretrix lyrata)

1.1.1 Hệ thống phân loại và giải phẫu học

Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851), có tên tiếng anh là

Lyrate Asiatic, phân bố phía Tây Thái Bình Dương, từ Đài Loan đến ViệtNam Vỏ nghêu dày chắc, có hình dạng giống tam giác với hai vỏ đều nhau,bản lề nằm ở mặt lưng, vỏ mở ở mặt bụng Gờ tăng trưởng phía trước vỏ thô

và sâu, ở phía sau vỏ mịn hơn Khớp bản lề có 3 răng giữa và 2 răng bên.Vết cơ khép vỏ trước nhỏ, hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ phía sau lớn hơn,hình mặt nguyệt Màu sắc của vỏ phía ngoài vàng nhạt, màu trắng sữa hoặcmàu nâu, mặt vỏ có hoa vân, mặt trong có màu trắng

Loài: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Hình 1.1 Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851)

Trang 11

Cấu tạo ngoài

Cấu tạo giải phẫu của nghêu nói chung được Michael M Helm nghiêncứu đầy đủ năm 2004 Vỏ nghêu được tạo thành từ 3 lớp calcium carbonate:trong cùng là lớp xà cừ, ở giữa là ….có hình lăng trụ, tán sắc, là thành phầnchính cấu tạo nên vỏ, ngoài cùng là lớp sừng (/iostracum layer), lớp áo màunâu, nó thường xuyên bị biến mất do bị bào mòn hoặc thời tiết (hình 1&2)

Hình 1.2 Đặc điểm cấu tạo trong của hai vỏ nghêu

Vùng đỉnh vỏ, vị trí để hai vỏ khớp với nhau gọi là mặt lưng, phía đốidiện là vùng mép bụng Nghêu có hai ống siphon rõ ràng, chân ở phía trước,

vị trí đối diện và hai ống siphon ở vùng phía sau

Cấu tạo trong

Hình 1.3 Cấu tạo trong của nghêu

Trang 12

Màng áo: phần thịt mềm của nghêu được bao bọc bởi màng áo, nó được

cấu tạo bởi hai lớp cơ mỏng, dày nhất là phần rìa (hình 3) Hai nửa của màng

áo được đính vào vỏ từ vùng lưng tới đường mép áo, nhưng tự do ở phần mép

áo Phần dày của mép màng áo có hoặc không có sắc tố và có 3 nếp gấp.Chức năng chính của màng áo là tiết ra vỏ, tuy nhiên chúng còn có chứcnăng khác nữa, đó là chức năng cảm giác và có thể điều khiển việc đóng kín vỏkhi gặp điều kiện bất lợi về môi trường Ngoài ra, màng áo còn có thể điều khiểnlượng nước vào xoang cơ thể và hô hấp

Cơ khép vỏ: có hai vị trí đính cơ khép vỏ nằm ở gần vùng trước và sau

của vỏ Cơ khép vỏ có vai trò ngược lại với dây chằng và bản lề, chúng làm

mở vỏ, trong khi cơ được nghỉ ngơi

Mang: các mang nổi lên là đặc điểm chính của phân lớp mang tấm

(lamellibranches), lá mang rộng, đóng vai trò vừa là cơ quan thực hiện chứcnăng hô hấp, vừa lọc thức ăn trong nước Hai phần của mang (lá mang) nằm ởhai bên của cơ thể, vị trí cuối cùng ở phía trước, hai bên nắp, xung quanhmiệng và chuyển thức ăn trức tiếp vào miệng

Chân: Nghêu có cấu tạo một chân phát triển, chức năng để đào xuống

nền đáy và cố định cơ thể vào trong nền đáy Đây là đặc điểm đặc trưng củaloài, bởi vì ở các loài khác: scallop, vẹm, hàu… chân bị tiêu giảm hoặc có thể

có ít chức năng

Hệ thống tiêu hoá: Hệ thống mang lớn lọc thức ăn từ nước rồi chuyển

thẳng tới xúc tu, nằm ở xung quang miệng, thức ăn được làm mềm rồichuyển vào trong miệng Nghêu có thể lựa chọn, lọc thức ăn trong nước,viên và nén thức ăn với chất nhầy, đưa vào miệng rồi được đẩy ra vùng xúc

tu và thải ra khỏi cơ thể giống như “phân giả” (pseudofaeces) Một ống thựcquản ngắn dẫn từ miệng tới dạ dày, nơi phình ra dạng túi rộng với một vàichỗ mở Dạ dày được bao quanh toàn bộ bởi tuyến tiêu hoá, một lớp cơ màu

Trang 13

tối gọi là gan Một đường dẫn từ dạ dày tới đám ruột, kéo dài tới chân, cuốicùng là ruột thẳng và kết thúc ở hậu môn Một đường dẫn khác từ dạ dày tớimột túi kín, giống như ống sạch, trong như pha lê, chứa các màng nhầyprotêin, tiết ra các enzym tiêu hoá để chuyển hoá tinh bột thành đường cóthể tiêu hoá được.

Hệ thống tuần hoàn: nhóm hai mảnh vỏ có hệ thống tuần hoàn thông

thường, khó mô tả Tim nằm ở một túi trong suốt, màng ngoài tim gần với cơkhép vỏ Tim có hai ngăn không đều nhau: tâm thất và tâm nhĩ Các động mạchchủ trước và động mạch chủ sau xuất phát từ tâm thất vận chuyển máu tới các cơquan trong cơ thể Hệ thống thần kinh là một chuỗi xoang bao mỏng, không rõràng dẫn máu trở về tim

1.1.2 Sự phân bố của nghêu

Nghêu M lyrata là loài động vật thân mềm nhiệt đới, phân bố ở vùng có

biên độ dao động về độ muối rộng (từ 0 - 340/00) và nhiệt độ (15 - 320C) Chúngphân bố tự nhiên ở vùng triều, từ vùng cao triều tới vùng triều dưới, nơi có nềnđáy là cát và cát pha bùn (20% bùn và 80% cát) Ở Việt Nam, nghêu thườngphân bố nhiều ở vùng ven biển phía Nam, bao gồm các tỉnh: Tiền Giang, BếnTre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (Phụng H, N, 1999)

Hình 1.4 Vùng nuôi nghêu ở Thanh Hoá

Trang 14

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Động vật thâm mềm hai mảnh vỏ nói chung sử dụng các loài tảo kíchthước hiển vi, vi khuẩn, protozoa và các hạt hữu cơ có kích thước nhỏ hơn

150 µm (Newkirk, 1989) Theo Trương Quốc Phú (2000) có 44 loài tảo,chiếm 93,18% thuộc ngành Bacilariophyta và các loài còn lại thuộc ngành

Pyrophyta và Cyanophyta trong thành phần dinh dưỡng của nghêu M.lyrata.

1.1.4 Sự phát triển của hệ thống tuyến sinh dục và sinh sản

Nghêu Bến Tre (M lyrata) là loài phân tính, nhưng không phân biệt được

cá thể đực cái thông qua hình dáng ngoài Có một tỷ lệ nhỏ ngao trong quầnthể phát hiện là lưỡng tính Tuyến sinh dục chỉ phát triển mạnh trong mùa vụsinh sản Xác định giới tính của ngao chỉ có thể được phân biệt bằng mắtthường sau khi mở vỏ, ở giai đoạn thành thục nghêu đực có màu trắng sữa,nghêu cái có màu vàng nhạt Tuy nhiên, kiểm tra bằng kính hiển vi mới có thểkhẳng định chính xác giới tính của ngao

Sự thành thục sinh dục của nghêu tuỳ thuộc vào độ tuổi, kích thước vàđịa lý phân bố Nghêu đạt kích thước khoảng 500mm sẽ bắt đầu thành thụcsinh dục và sau 12 tháng nuôi có thể tham gia sinh sản lần đầu Mùa vụ sinhsản tự nhiên của nghêu diễn ra vào thời gian cuối mùa Xuân tới hết mùa Hè(từ tháng Tư đến tháng Chín) Theo Quayle và Newkirk (1989) việc thay đổimột vài yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ mặn sẽ kích thích sự chínsinh dục của các loài nhuyễn thể nói chung, trong đó có nghêu Vào mùaXuân, khi nhiệt độ nước bắt đầu ấm dần lên, nó kích thích sự phát triển củabuồng trứng

1.1.5 Sự phát triển của phôi và ấu trùng

Theo Micheal và nnk (2004), trứng trải qua thời kỳ phân chia giảm phânsau khi thụ tinh hình thành hợp tử Cực động vật xuất hiện, tế bào bắt đầuphân chia trong vòng 30 phút sau khi thụ tinh

Trang 15

Hình 1.5 Các giai đoạn phát triển của nghêu M lyrata

Trứng và tinh trùng được phóng ra từ nghêu bố mẹ vào trong nước.Thông thường, trong một quần thể, nghêu đực phóng tinh trước, nó đóng vaitrò giống hormon kích thích sự rụng trứng của nghêu cái Thời gian thụ tinhtiến hành trong nước Phôi xuất hiện 30 phút sau khi thụ tinh, phụ thuộc vàonhiệt độ môi trường xung quanh Phân chia tế bào được tiến hành trong thờigian 24 giờ trước khi chuyển sang giai đoạn ấu trùng chữ “D” - đỉnh vỏ thẳng

Ấu trùng nghêu trải qua giai đoạn phù du (giai đoạn bơi tự do) khoảng 8 đến

10 ngày, phụ thuộc vào nguồn thức ăn và nhiệt độ nước, trở thành ấu trùngxuống đáy Sự phát triển của ấu trùng được mô tả ở hình 5

1.2 Tình hình nghiên cứu về nhuyễn thể hai mảnh vỏ

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

- Tình hình nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới

Theo thống kê của FAO (2009) sản lượng nuôi trồng của ngao, nghêunước mặn, lợ trên thế giới tăng nhanh hàng năm Năm 2000, tổng sản lượngngao, nghêu nuôi trên thể giới đạt 27.742 tấn chiếm 70% tổng sản lượngnhuyễn thể hai mảnh vỏ, năm 2006 tăng lên 49.145 tấn, tăng gấp 1,78 lần

Trang 16

nhưng chỉ chiếm 33% tổng sản lượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ Giá trị thươngmại thu được từ nuôi ngao, nghêu năm 2000 là 32.967,7 USD, năm 2006 là56.867,7 USD 10 tháng đầu năm 2011, giá trị thương mại xuất khẩu nhuyễnthể 2 mảnh vỏ đạt 66,7 triệu USD, có mặt tại 49 thị trường khác nhau trên thếgiới, trong đó EU, Mỹ, Nhật là thị trường lớn nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh

vỏ của Việt Nam

Nghêu Manila (Mercenaria mercenaria) được nuôi tại Nhật Bản hơn một

nghìn năm trước, trong khi đó nghề nuôi hàu mới được bắt đầu từ năm 1673,khi những người dân nuôi nghêu quyết định nuôi hàu bám vào các cọc xungquanh vùng nuôi nghêu của họ Nghề nuôi nghêu tiếp tục bằng việc sử dụng

kỹ thuật đơn giản là di chuyển nghêu giống tự nhiên từ nơi có mật độ cao đếnnơi có mật độ thấp hơn Kỹ thuật nuôi nghêu phát triển ở trình độ cao hơn ởchâu Âu và Bắc Mỹ (Jones và ctv, 1993)

Ngao Meretrix meretrix là loài có giá trị kinh tế, được nuôi dọc theo các

vùng ven biển Nam và Đông Nam Á, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật

Bản và Ấn Độ (Guo và ctv (1999), Ngao Meretrix lusoria bắt đầu được nuôi

tại Đài Loan năm 1925 (Jeng và ctv (1982) Sản lượng ngao nuôi đến năm

1978 là 12.867 tấn, đứng thứ 2 sau nuôi hàu tại quốc gia này Nghiên cứunhằm tìm ra mật độ nuôi thả phù hợp đối với loài ngao này được tiến hành tại

6 mật độ lần lượt 55, 109, 172, 244, 344, 455 con/m2, thí nghiệm tiến hành trong

12 tháng Kết quả thí nghiệm đã chỉ ra rằng mật độ nuôi thả ảnh hưởng đến sinhtrưởng về trọng lượng hơn về kích thước vỏ Trong điều kiện thí nghiệm, mật độnuôi phù hợp với ngao là 244 con/m2 Khi sản lượng của ngao thấp hơn 1103g/m2, sinh trưởng của ngao không ảnh hưởng bởi mật độ nuôi thả Tuy nhiên,khi sản lượng cao hơn 1589 g/m2, tăng trưởng của ngao chậm lại

Các nghiên cứu khác ở Đài Loan cho thấy ngao M lusoria được nuôi chủ

yếu ở trong ao thuộc vùng Tây Nam của hòn đảo này Phương pháp và kỹ

Trang 17

thuật nuôi khác nhau ở mỗi nơi khác nhau, đó là: duy trì độ mặn cao trongkhoảng 25-330/00 bằng việc thay nước biển và duy trì ở độ mặn thấp hơn (15-

200/00) bằng việc bổ sung nước ngầm (Lee và ctv, 2007)

Nghêu M lyrata phân bố ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương, từ Đài

Loan đến Việt Nam (Habe, 1996) Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến kếtquả nghiên cứu về loài này hầu như không tìm thấy trên thế giới về cả lĩnhvực sản xuất giống và nuôi thương phẩm

- Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên thế giới

Trên thế giới, có nhiều tài liệu được công bố liên quan đến kết quả nghiêncứu sản xuất giống và nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và ngao, nghêunói riêng Các loài đã nghiên cứu thành công là hầu Thái Bình Dương

(Crassostrea gigas), hầu đá Sedney (Saccostrea commercialis), ngao dầu (Meretrix meretrix), ngao mật (Meretrix lusoria), nghêu Manila (Mercenaria

mercenaria) Tuy nhiên, hiện chưa tìm thấy tài liệu công bố liên quan đến kết

quả nghiên cứu sản xuất giống đối với loài nghêu Meretrix lyrata, chỉ tìm thấy

một vài tài liệu viết về hệ thống phân loại và sự phân bố của nó

Nghêu bắt đầu sinh sản vào cuối mùa xuân, khi nhiệt độ nước ấm dầnlên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng và phát triển tuyến sinh dục ở mùađông Đầu tiên, con đực phóng tinh ra ngoài môi trường, tinh dịch đóng vaitrò là feromol kích thích con khác trong quần thể phóng trứng và tinh theo,trứng được thụ tinh bên ngoài môi trường nước (Whetstone và ctv, 2005).Theo Quayle và ctv (1989) việc biến đổi một số yếu tố môi trường theo mùagóp phần kích thích quá trình thành thục và sinh sản của nhuyễn thể hai mảnh

vỏ, yếu tố quan trọng là nhiệt độ và nồng độ muối Vào mùa xuân, nhiệt độ

ấm áp hơn, độ mặn có chiều hướng thay đổi đã thúc đẩy quá trình phát triểncủa tuyến sinh dục Vì vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay đổi nhiệt

Trang 18

độ nước, độ muối được mô phỏng theo tự nhiên là phương pháp đang sử dụng

để kích thích quá trình phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thíchsinh sản đối với các đối tượng nhuyễn thể

Đối với nghêu Manila, nghêu bố mẹ được lựa chọn những cá thể tăngtrưởng nhanh (thể hiện qua gờ tăng trưởng trên vỏ), trong độ tuổi từ 2 - 3năm Chúng được nuôi vỗ tích cực ở nhiệt độ 180C trong thời gian từ 6 đến 9tuần, với thức ăn được sử dụng là nguồn thức ăn tự nhiên và bổ sung hỗn hợp

các loài tảo Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis,

Tahitial isochrysis, với hàm lượng 1 lít/0,5 kg nghêu/1 giờ (Whetstone và ctv,

2005) Tuy nhiên, theo Whetstone và ctv (2005), không giống như loài hàu

Thái Bình Dương (C.gigas), nghêu Manila không có lớp glycogen để chuyển

hoá thành tuyến sinh dục trong thời gian nuôi vỗ Số lượng và chất lượngtrứng của chúng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng tảo được sử dụng đểnuôi vỗ Vì thế, cần thiết phải bổ sung một lượng lớn hỗn hợp các loài tảo vàotrong nguồn nước tự nhiên để nuôi vỗ nghêu

Liu và ctv (2006) đã thí nghiệm nhằm xác định mật độ ấu trùng nghêu

M meretrix phù hợp trong ương nuôi Thí nghiệm đã tiến hành ở các mật độ

5, 10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger) Kết quả chothấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất thì có kíchthước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê bắt đầu từngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùngkhi xuống đáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên, tỷ lệsống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng.Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng.Nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn thì tác giả khuyến cáonên sử dụng mật độ 10 đến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy mô lớn

Trang 19

D-Một số kết quả nghiên cứu của Yan và ctv (2006) đã được tiến hành trên

nghêu Ruditapes philippinarum nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của thức ăn, mật

độ ương nuôi ấu trùng, các yếu tố môi trường đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và

biến thái của ấu trùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tảo Chlorella sp có thể thay 50% tảo Isochrysis spp trong việc sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng

nghêu mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái củachúng Nghiên cứu về mật độ ương nuôi ấu trùng cho thấy, ở khoảng mật độ

từ 5 - 10 con/ml, ấu trùng phát triển bình thường Nghiên cứu về chế độ chiếusáng chỉ ra rằng: trong điều kiện che mát một phần (cường độ ánh sáng từ

1000 - 5000 lx) và che mát toàn phần (cường độ ánh sáng < 500 lx) ấu trùngphát triển nhanh hơn dưới điều kiện ánh sáng tự nhiên Chế độ thay nướctrong ương nuôi với tỷ lệ 50% bể sau 2 ngày/lần là điều kiện tối ưu cho sựphát triển của ấu trùng nghêu và ấu trùng phát triển nhanh hơn trong điều kiệnnước không qua lọc cát Nhưng nền đáy ảnh hưởng đáng kể đến biến thái của

ấu trùng nghêu Tuy nhiên, hình dáng và kích thước hạt cát làm giá thể khôngảnh hưởng đến tỷ lệ biến thái của chúng

Độ mặn của nước trong quá trình sản xuất giống cũng hết sức quantrọng, mặc dù bản thân nghêu có thể điều chỉnh được áp suất thẩm thấu đểthích nghi với môi trường Đối với nghêu Manila, trong khoảng độ mặn từ 20

- 300/00 là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Trong khoảng độmặn này, tốc độ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt động khác củachúng diễn ra một cách tối đa nhất (Baker và ctv, 2007) Tốc độ biến thái của

ấu trùng ngao M meretrix lại liên quan đến nhiệt độ nước theo hàm số mũ.

Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tốc độ biến thái của nghêu với nhiệt độ khôngchặt chẽ bằng nó với trọng lượng tươi của nghêu (Zhuang, 2005)

Theo Zhuang và ctv (2004), tốc độ lọc (CR) và tốc độ tiêu hoá (IR) của

ngao M meretrix theo hàm số mũ đối với kích thước cơ thể (W) của chúng,

Trang 20

theo công thức CR=0,47 W0,63 và IR=0,95 W0,60 Kích thước cơ thể nghêukhông ảnh hưởng tới hiệu quả lọc ở nhiệt độ 10, 16 và 220C, nhưng trongkhoảng nhiệt độ này, hiệu suất lọc tăng theo sự tăng của nhiệt độ Nền đáy

cũng ảnh hưởng đến tốc độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn của ngao M meretrix.

Ngao nuôi ở bể có nền đáy cát, tốc độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn cao hơn từ

2-3 lần so với chúng nuôi ở nơi đáy trơ (đáy bể) Ngao M meretrix nuôi trong

bể có đáy cát ở nhiệt độ 220C, thì tốc độ lọc và tiêu thụ thức ăn là cao nhất.Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ sống

của ngao Meretrix meretrix đã được tiến hành bởi Tang và ctv (2006), với

việc sử dụng 5 loài tảo khác nhau làm thức ăn đơn và phối hợp với nhau Kết

quả thí nghiệm cho thấy, ấu trùng ngao M meretrix sinh trưởng tốt nhất với việc chỉ sử dụng một loài tảo Isochrysis galbana làm thức ăn Giá trị dinh dưỡng của các loài tảo khác được nghiên cứu đối với ấu trùng ngao M.

meretrix thể hiện qua tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ biến thái được xếp theo thứ tự Dunaliella sp >Phaeodactylum tricornutum >Platymonas subcordiformis >Pavlova viridis Đối với hỗn hợp các loài dinh dưỡng lần lượt là 50% I.galbana/50% Dunaliella sp, 50% I.galbana/P.tricornutum và 50% I.galbana/P.subcordiformis đối

chứng là sử dụng loài I.galbana

Baojun và ctv (2006) cũng đã tiến hành thí nghiệm bỏ đói ấu trùng ngao

M meretrix trong thời gian dài để theo dõi sinh trưởng bù từ giai đoạn bắt đầu

của phát triển, ở 250C Kết quả chỉ ra rằng ngao M meretrix có thể sống trong

thời gian dài không cho ăn, thậm chí chúng còn sống đến giai đoạn biến thái,mặc dù sự “bỏ đói” rất ảnh hưởng đến sinh trưởng Kết quả này có thể khẳng

định rằng ngao M meretrix có khả năng chịu “bỏ đói” thông qua việc sử dụng

nguồn năng lượng khác Như vậy, sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái

của ngao M meretrix còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bên cạnh chất

lượng và số lượng thức ăn

Trang 21

Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo ngao, nghêu trên thế giới đã đượctiến hành một cách bài bản, có hệ thống từ việc thiết kế, vận hành trại sảnxuất giống đến các khâu kỹ thuật như tuyển chọn, nuôi vỗ con bố mẹ; lưu giữ

và nuôi sinh khối tảo; kích thích sinh sản; ương nuôi ấu trùng trôi nổi; thu ấutrùng xuống đáy và ương con giống cấp 1 lên cấp 2

Các trại sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ xuất hiện tại châu Âu,châu Úc và châu Mỹ từ những năm 1960 Khi có những hiểu biết về đặcđiểm sinh học của các loài chủ yếu trong nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới thìcông nghệ sử dụng để sản xuất chúng được phát triển và tiếp tục cải tiến(Helm và ctv, 2004) Trại sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ được thiết

kế linh hoạt, cách bài trí trại sản xuất rất đa dạng, tuỳ thuộc vào vị trí xâydựng, các loài được lựa chọn sản xuất, điều kiện địa lý, vốn đầu tư, sảnlượng con giống dự kiến Một số trại giống được thiết kế ở quy mô nhỏ,con giống sản xuất chỉ phục vụ cho vùng nuôi của trang trại mà họ sở hữu.Một số trại giống khác quy mô lớn hơn thì có thể sản xuất ra con giống đểbán hoặc nuôi một phần, phần còn lại sẽ bán cho các hộ nuôi khác Các trạigiống có thể có hoặc không có hệ thống ương thuần hoá con giống trước khinuôi thương phẩm Hệ thống thuần hoá là bộ phận tách rời khỏi trại giống,

có thể được xây dựng cho người nuôi để họ chủ động phần công việc nàytrước khi đem con giống ra vùng nuôi Các trại giống nhuyễn thể hai mảnh

vỏ không chỉ thiết kế và xây dựng cho chỉ một loài nào đó, mà phục vụ chomục đích sản xuất giống cho một nhóm loài, quy mô thiết kế phụ thuộc vàosản lượng con giống mong muốn của nhà sản xuất Các trại giống kể trênđược thiết kế lắp đặt đồng bộ mang tính cơ giới hoá và tự động hoá ngay từviệc lọc, sử lý nước ngọt, nước mặn, lưu giữ và nuôi sinh khối tảo giống đếnnuôi vỗ con bố mẹ, ương nuôi ấu trùng và thuần hoá con giống trước khinuôi thương phẩm Trại sản xuất giống nằm ở vị trí không có nguồn nước

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 1.1. Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) (Trang 10)
Hình 1.3. Cấu tạo trong của nghêu - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 1.3. Cấu tạo trong của nghêu (Trang 11)
Hình 1.2. Đặc điểm cấu tạo trong của hai vỏ nghêu - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 1.2. Đặc điểm cấu tạo trong của hai vỏ nghêu (Trang 11)
Hình 1.4. Vùng nuôi nghêu ở Thanh Hoá - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 1.4. Vùng nuôi nghêu ở Thanh Hoá (Trang 13)
Hình 1.5. Các giai đoạn phát triển của nghêu M. lyrata - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 1.5. Các giai đoạn phát triển của nghêu M. lyrata (Trang 15)
Hình 2.2:  Ảnh các ao bố trí thí nghiệm - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 2.2 Ảnh các ao bố trí thí nghiệm (Trang 39)
Hình 2.3. Lấy mẫu và đo kích thước nghêu - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 2.3. Lấy mẫu và đo kích thước nghêu (Trang 40)
Bảng 3.2: Tăng trưởng của nghêu (chiều dài mm) - Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của nghêu (meretrix iyrata) trong giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 3.2 Tăng trưởng của nghêu (chiều dài mm) (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w