1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của môi trường khai thác đá lên một số chỉ tiêu sinh lý và tình hình sức khỏe của công nhân mỏ đá vũ kỳ, huyện yên thành, tỉnh ngệ an luận văn thạc sĩ sinh học

86 573 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của môi trường khai thác đá lên một số chỉ tiêu sinh lý và tình hình sức khỏe của công nhân mỏ đá vũ kỳ, huyện yên thành, tỉnh ngệ an luận văn thạc sĩ sinh học
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nghiêm Xuân Thăng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những ảnh hưởng xấu của điềukiện môi trường lao động không chỉ tác động đến người công nhân trong hoạt độnglao động sản xuất mà còn gây tác hại trong suốt quá trình sống của họ.. Ô nhiễm

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Nghiêm Xuân Thăng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu cũng như giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh

Khoa Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Vinh

Bộ môn Sinh lý người và động vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh Lãnh đạo và tập thể công nhân Công ty TNHH Kỳ Sơn

đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên của gia đình và sự giúp

đỡ tận tình của bạn bè trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Hằng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài 4

1.1.1 Môi trường và các khái niệm liên quan 4

1.1.2 Ô nhiễm môi trường 5

1.1.3 Khái niệm về sức khỏe và bệnh nghề nghiệp 7

1.1.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn lên con người 8

1.1.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí 9

1.2 Tình hình nghiên cứu 15

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 20

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 28

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 28

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Thiết kế nghiên cứu 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp đo một số chỉ số vi khí hậu 29

2.3.2 Phương pháp đo nồng độ bụi toàn phần 30

2.3.3 Phương pháp đo nồng độ khí CO2 và khí CO 30

2.3.4 Phương pháp đo độ ồn 30

2.3.5 Phương pháp đo một số chỉ tiêu sinh lý 30

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 31

2.3.7 Phương pháp điều tra phỏng vấn 31

Trang 3

2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32

3.1 Kết quả nghiên cứu 32

3.1.1 Thực trạng môi trường lao động tại mỏ đá Vũ Kỳ 32

3.1.2 Một số chỉ tiêu hình thái của đối tượng nghiên cứu 36

3.1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý của đối tượng nghiên cứu 37

3.1.4 Thực trạng sức khỏe của công nhân 46

3.2 Bàn luận 50

3.2.1 Thực trạng môi trường lao động tại mỏ đá Vũ Kỳ 50

3.2.2 Một số chỉ tiêu sinh lý của đối tượng nghiên cứu 56

3.2.3 Thực trạng sức khỏe của công nhân 63

KẾT LUẬN 69

KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ TẮT VÀ KÍ HIỆU

trung bình trong Hồng cầu

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Một số chỉ số vi khí hậu và nồng độ bụi toàn phần trong thời gian LĐ 32

Bảng 3.2 Nồng độ khí CO2 trong thời gian LĐ 34

Bảng 3.3 Nồng độ khí CO trong thời gian LĐ 34

Bảng 3.4 Độ ồn trong thời gian LĐ 35

Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu hình thái của ĐTNC 36

Bảng 3.6 Sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ ở nữ 37

Bảng 3.7 Sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ ở nam 37

Bảng 3.8 Sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ ở nữ 39

Bảng 3.9 Sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ ở nam 39

Bảng 3.10 Sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ ở nữ 41

Bảng 3.11 Sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ ở nam 41

Bảng 3.12 Sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ ở nữ 43

Bảng 3.13 Sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ ở nam 43

Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu huyết học ở nữ 45

Bảng 3.15 Một số chỉ tiêu huyết học ở nam 45

Bảng 3.16 Kết quả khám và phân loại sức khỏe chung 46

Bảng 3.17 Tỷ lệ một số bệnh tật liên quan đến ô nhiễm môi trường lao động do bụi và tiếng ồn 47

Bảng 3.18 Tỷ lệ bệnh tật ở công nhân theo thâm niên làm việc 49

Bảng 3.19 So sánh nồng độ bụi toàn phần tại ĐĐNC với các kết quả nghiên cứu khác (đơn vị đo: mg/m3/h) 53

Bảng 3.20 So sánh độ ồn tại ĐĐNC với các kết quả nghiên cứu khác (đơn vị đo: dBA) 55

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 So sánh nồng độ bụi toàn giữa các vị trí trong thời gian LĐ 33

Biểu đồ 3.2 So sánh độ ồn giữa các vị trí trong thời gian LĐ 36

Biểu đồ 3.3 So sánh sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nữ.38 Biểu đồ 3.4 So sánh sự thay đổi TST trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nam 38 Biểu đồ 3.5 So sánh sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nữ 40

Biểu đồ 3.6 So sánh sự thay đổi HATT trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nam 40

Biểu đồ 3.7 So sánh sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nữ 42

Biểu đồ 3.8 So sánh sự thay đổi HATTr trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nam 42

Biểu đồ 3.9 So sánh sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nữ 44

Biểu đồ 3.10 So sánh sự thay đổi TSHH trước, trong và sau LĐ giữa các nhóm tuổi ở nam 44

Biểu đồ 3.11 So sánh tỷ lệ phân loại sức khỏe chung ở công nhân 46

Biểu đồ 3.12 So sánh tỷ lệ một số bệnh tật ở công nhân theo nhóm tuổi 48

Biểu đồ 3.13 So sánh tỷ lệ một số bệnh tật ở công nhân theo thâm niên làm việc 49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Môi trường là một khái niệm rất gần gũi và quen thuộc đối với các nhà sinhhọc cũng như mọi người dân khắp nơi trên thế giới Học thuyết Paplop và họcthuyết tiến hóa của S Đacuyn đều đã chỉ rõ: "Cơ thể là một khối thống nhất vàthống nhất với môi trường" [15]

Con người luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường xung quanh, bởicon người tìm thấy ở đó những yếu tố thiết yếu nhất cho sự sống như không giansinh thái, nguồn thức ăn, nơi vui chơi giải trí, Sechenov – Nhà sinh lý học vĩ đạingười Nga cũng đã nêu rõ rằng: "Cơ thể không thể tồn tại ngoài môi trường, nếukhông có môi trường xung quanh đương nhiên không có trao đổi chất và cũng cónghĩa là không có sự sống" [18] Như vậy, mỗi cơ thể sinh vật đều sống và hoạtđộng trong môi trường xác định, luôn có sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi

trường

Từ khi xuất hiện đến nay, con người nhờ ưu thế vượt bậc về tiến hóa đã trởthành nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất tới môi trường xung quanh Những tácđộng ấy có thể mang tính tích cực giúp cải tạo hoặc theo xu hướng tiêu cực gây ô

nhiễm môi trường Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vấn đề

môi trường và ô nhiễm môi trường ngày càng được đặt ra một cách cấp thiết bởidiễn biến phức tạp và khó lường cùng những hệ lụy mà nó gây ra với đời sống củađộng thực vật nói chung và sức khỏe con người nói riêng Bởi vậy, nghiên cứu thựctrạng môi trường và mức độ ảnh hưởng của điều kiện môi trường lên con người làvấn đề quan tâm của nhiều nhà khoa học, lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và mọi

tầng lớp nhân dân

Bằng khả năng lao động, con người tạo nên sự tiến bộ xã hội nhờ chuỗi hoạtđộng làm thay đổi môi trường Nhưng ngược lại, con người phải chịu sự tác độngtrở lại của điều kiện môi trường lao động Trong xã hội hiện đại, tùy theo từngngành nghề và hình thức lao động thì môi trường lao động cũng có tính đặc thùriêng Nhưng nhìn chung, môi trường lao động đặc trưng bởi những áp lực về lượngkhí thải độc hại, bụi, tiếng ồn, sự ẩm ướt Bên cạnh đó là cường độ lao động, thờigian lao động hay bầu không khí làm việc căng thẳng, Môi trường lao độngthường khắc nghiệt, tạo sức ép trực tiếp đến hệ thần kinh, hệ hô hấp và tim mạch

Trang 8

Khi tác động liên tục trong thời gian dài sẽ gây nên tình trạng bệnh lý hay còn gọi làbệnh nghề nghiệp

Đặc biệt, tại những cơ sở sản xuất công nghiệp mang tính nhỏ lẻ và thô sơnhư khai thác, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất, dệt may,… Các chế độdành cho người công nhân hầu như không thỏa đáng, điều kiện làm việc không đảmbảo thì vấn đề môi trường lao động và sức khỏe của người công nhân càng mangtính bất cập Do đó, việc cải tạo môi trường lao động để giảm tải những tác động cóhại lên các chỉ tiêu sinh lý, sức khỏe và nâng cao hiệu quả lao động của người laođộng nói chung và người công nhân trực tiếp nói riêng cần được khoa học và xã hộiquan tâm một cách thích đáng

Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng thì ngành khai thác

đá hiện nay đang được mở rộng quy mô ở nhiều nước trên thế giới và tại Việt Nam.Bên cạnh mặt tích cực về giải quyết nhu cầu việc làm và đảm bảo đời sống chonhiều người lao động thì thực trạng còn nhiều vấn đề đáng báo động về điều kiệnmôi trường làm việc Do đặc trưng công việc là loại hình lao động nặng nhọc vớicường độ lao động cao trong môi trường không khí bị ô nhiễm nặng vì bụi đá vàtiếng ồn quá lớn Lao động trong điều kiện có nhiều yếu tố bất lợi như vậy bệnh tật

dễ phát sinh, thần kinh suy nhược dẫn đến sức khỏe giảm sút và gây ảnh hưởng tớikhả năng lao động cũng như năng suất lao động Những ảnh hưởng xấu của điềukiện môi trường lao động không chỉ tác động đến người công nhân trong hoạt độnglao động sản xuất mà còn gây tác hại trong suốt quá trình sống của họ Đặc biệt tạiNghệ An, với đặc thù khí hậu chịu ảnh hưởng của gió nóng khô Tây Nam tức PhơnTrường Sơn và thường xuyên chịu tác động của các điều kiện tự nhiên bất lợi nhưnhiệt độ cao, nóng ẩm và nóng khô, mưa nhiều, bức xạ lớn, vi sinh vật phát triểnthuận lợi,… thì mức độ ô nhiễm môi trường lao động tại các khu khai thác đá càngtrở nên trầm trọng

Nhằm làm sáng tỏ thực trạng môi trường lao động và ảnh hưởng của nó

tới người lao động Chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của môi trường

khai thác đá lên một số chỉ tiêu sinh lý và tình hình sức khỏe của công nhân mỏ đá Vũ Kỳ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An”.

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Đánh giá thực trạng môi trường lao động tại mỏ đá Vũ Kỳ (thông quamột số chỉ số vi khí hậu, nồng độ bụi, khí thải, tiếng ồn)

2.2 Đánh giá ảnh hưởng của môi trường lao động tại mỏ đá Vũ Kỳ lên một

số chỉ tiêu sinh lý và tình hình sức khỏe của công nhân

2.3 Đề xuất các vấn đề cần được quan tâm tại địa điểm nghiên cứu

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài

1.1.1 Môi trường và các khái niệm liên quan

Định nghĩa về môi trường cho đến nay vẫn chưa được thống nhất chungtrong khoa học sinh học, bởi xét theo những khía cạnh khác nhau, môi trường đượchiểu theo những cách khác nhau

Căn cứ vào luật bảo vệ môi trường do Quốc hội khóa XI (ngày 29 tháng 11

năm 2005) thông qua thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân

tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triểncủa con người và sinh vật” [35]

1.1.1.1 Môi trường sống

Môi trường sống là tổng các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống và

sự phát triển của các cơ thể sống

Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học,

sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển củatừng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người Môi trường sống của con người là vũ trụbao la, trong đó có hệ mặt trời và trái đất Các thành phần của môi trường sống cóảnh hưởng trực tiếp tới con người trên trái đất gồm sinh quyển, thủy quyển, khíquyển và thạch quyển [24]

1.1.1.2 Môi trường không khí

Môi trường không khí (Khí quyển) là lớp không khí bao phủ xung quanh bề

mặt trái đất có khối lượng 5,2.108 kg < 0,0001 % trọng lượng trái đất

Khí quyển có tác dụng duy trì sự sống trên trái đất, ngăn chặn tác động độchại của các tia tử ngoại, tia hồng ngoại hay các sóng từ Khí quyển đóng vai tròquan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt lượng của trái đất thông qua quá trình hấpthụ tia tử ngoại phản xạ từ mặt trời và phản xạ tia nhiệt từ mặt đất lên Khí quyển ởtầng thấp có chức năng cung cấp oxy và dioxitcacbon cần thiết cho sự sống trên tráiđất, cung cấp nitơ cho quá trình cố định đạm ở thực vật và là môi trường vậnchuyển nước từ đại dương vào đất liền, tham gia vào quá trình tuần hoàn nước

Thành phần không khí bao gồm 78,09 % thể tích khí N2; 20,94 % thể tích khí

Trang 11

O2; 1-4 % thể tích hơi nước; 0,03 % thể tích CO2; các khí trơ khác như Xe, He, H2 [40].

1.1.1.3 Môi trường đất

Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn,

là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóacủa con người

Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vàohoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩmcho con người Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp

và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp,chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm

Khi nghiên cứu về môi trường đất chúng ta nghiên cứu trên bề mặt trái đất vàsâu vào lòng đất 60-70 km Ngoài biển khơi chúng ta nghiên cứu đến phía dưới đáysâu nhất của biển 2-8 km [18], [29]

1.1.1.4 Môi trường nước

Môi trường nước bao gồm tất cả các loại nguồn nước như: nước đại dương,

sông hồ, nước đóng băng, nước ngầm,…

1.1.1.5 Môi trường xã hội

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự

thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng

loài người [26].

1.1.1.6 Môi trường lao động

Môi trường lao động bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội mà trong đó con

người tiến hành các hoạt động lao động chân tay và trí óc của mình [22]

1.1.2 Ô nhiễm môi trường

Trước khi tìm hiểu về ô nhiễm môi trường chúng ta cần biết về tiêu chuẩnmôi trường Trong bộ môn khoa học môi trường, tiêu chuẩn môi trường được hiểu

là những chuẩn mực cần thiết đảm bảo để thành phần môi trường đó phù hợp vớiđối tượng sử dụng nó Cụ thể như đối với môi trường nước thì tiêu chuẩn nướcphục vụ sinh hoạt khác với tiêu chuẩn nước phục vụ nông nghiệp, tiêu chuẩn nướcsinh hoạt nói chung như tắm giặt, ăn uống,… lại khác với chất lượng nước yêu cầucho công nghiệp thực phẩm (nước giải khát), nước y tế,

Trang 12

Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm

tiêu chuẩn môi trường [18]

Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc

hại Thông thường, tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phépđược quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường

Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên nhưhoạt động núi lửa, thiên tai, lũ lụt, bão,… hoặc các hoạt động do con người thực

hiện trong công nghiệp, giao thông và trong sinh hoạt [32].

1.1.2.1 Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất trong khí quyển sinh ra từ hoạt

động của con người hoặc các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn và thời gian

đủ lâu chúng sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khỏe hoặc lợi ích của conngười hoặc môi trường

Ô nhiễm không khí do bụi

Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước nhỏ bé, tồn tại lâu trong không khí

dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù

Về mặt sinh học, bụi gây tổn hại cho da, mắt, gây nhiễm trùng và dị ứng,

… Đặc biệt với kích thước nhỏ hơn 10 µm, bụi gây tổn thương cho cơ quan hôhấp, nhất khi phổi nhiễm bụi thạch anh do hít phải không khí có chứa bụi bioxitsilic lâu ngày [32], [40]

1.1.2.2 Ô nhiễm tiếng ồn

Ô nhiễm tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác

nhau, được sắp xếp một cách không có trật tự, gây ra cảm giác khó chịu chongười nghe, cản trở người ta làm việc và nghỉ ngơi

Nói cách khác, tất cả các âm thanh có tác dụng kích thích quá mức,hoặc xảy ra không đúng lúc, đúng chỗ, cản trở con người hoạt động và nghỉngơi đều bị coi là tiếng ồn

Tần số của tiếng ồn cũng như tần số âm được đo bằng số lần rung độngtrong một giây, đây là âm thanh cộng hưởng, đơn vị tính là hertz (Hz) Tai ta cóthể tiếp thu được âm thanh trong khoảng 16-20.000 Hz, ở mức 16 Hz tai ta đãcảm nhận được và ở mức 20.000 Hz là ngưỡng chịu đựng cuối cùng của tainhững người bình thường Mức nghe bình thường trong khoảng 500-5.000 Hz,

Trang 13

khả năng tách âm của tai ta giới hạn từ 0,3% đến 1 % Hz.

Về biên độ của tiếng ồn cũng là sự cộng hưởng của các biên độ haycường độ âm thanh cụ thể Xuất phát từ áp lực của âm thanh lên thính giác chúngtạo ra một năng lượng âm Egr/cm2/s, 1 Egr/cm2/s: 6,4 Bar (Bar là đơn vị đo áplực dễ thực hiện) Thông thường ngưỡng cảm ứng với áp lực âm thanh (tiếngồn) của tai ta là từ 10-9 Egr/cm2 còn ngưỡng đau tai ta không chịu được là đến

10+4 Egr/cm2/s Trên cơ sở này người ta lấy khoảng 10-9-10+4 Egr/cm2/sbao gồm

13 bậc và lấy làm đơn vị thể hiện cường độ của tiếng ồn, nó sẽ được quy định là

13 Bell Trong thực hành vệ sinh lao động người ta còn chia nhỏ ra thành Dexibell

(dB) để dễ ứng dụng [14], [32].

1.1.3 Khái niệm về sức khỏe và bệnh nghề nghiệp

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO – World Health Organization), Sức khỏe là

trạng thái thoải mái dễ chịu toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phảichỉ bao gồm có tình trạng không bệnh hay thương tật Có một sức khỏe tốt nhất làmột trong những quyền cơ bản của con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo,chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế – xã hội nào [70]

Sức khỏe là một đặc điểm, một nhu cầu thiết yếu đồng thời là một trongnhững quyền cơ bản của con người Mọi người đều có nghĩa vụ bảo vệ và nâng caosức khỏe cá nhân và cộng đồng Sức khỏe cũng là một tài nguyên cơ bản mà mọingười cũng như cộng đồng đều có trách nhiệm bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lýhơn bất cứ loại tài nguyên nào khác [32]

Bệnh nghề nghiệp là hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề

nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp Do tác hại thường xuyên và kéo dài củađiều kiện lao động xấu

Thông thường, người ta hiểu bệnh nghề nghiệp mang tính chất đặc trưngcủa một nghề nào đó do yếu tốc độc hại trong nghề tác động thường xuyên lên cơthể người lao động, gây nên những rối loạn bệnh lý cấp hoặc mạn tính Có thể nóibệnh nghề nghiệp là một trong các loại bệnh môi trường bao gồm cả tình trạngcấp tính và mạn tính (nhiễm độc cấp tính do oxytcarbon, viêm phế quản mạn tínhtrong môi trường có nhiều bụi) [14]

Trang 14

1.1.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn lên con người

1.1.4.1 Tác hại toàn thân

Những ảnh hưởng của tiếng ồn lên cơ thể con người được đặc biệt quan tâmbởi ngày nay ô nhiễm tiếng ồn càng trở nên nghiêm trọng do sự phát triển củanghành công nghiệp xây dựng, giao thông vận tải và sự gia tăng dân số Mức tiếng

ồn từ 50 dBA trở lên ở các khu nhà ở có thể gây ra các rối loạn một số quá trìnhthần kinh ở vỏ não Chỉ những tiếng ồn ở mức 40-45 dBA là không gây ra nhữngbiến đổi đáng kể nào về mặt chức phận ở con người

Tiếng ồn gây tác hại toàn thân trên cơ thể người tiếp xúc thường gặp nhất

là rối loạn sinh lý cấp tính và mạn tính Nguyên nhân của hiện tượng này là dotiếng ồn kích thích thần kinh trung ương dẫn đến hiện tượng mất cân bằng trongđiều chỉnh hệ thần kinh thực vật gây nên suy nhược cấp tính hệ thần kinh thực vậtcủa cơ thể Quá trình suy nhược kéo dài sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính bởi lẽtác động của tiếng ồn thường xuyên, sự kích thích liên tục, quá trình ức chế xuấthiện do ngưỡng đáp ứng của hệ thần kinh tăng lên, xuất hiện và ức chế bảo vệ, hệthần kinh ngoại tiên có thể bị viêm và khả năng điều hoà của hệ thần kinh thực vật

có thể bị rối loạn

Về tim mạch, thường có những biểu hiện như đau vùng trước tim, đánhtrống ngực, hạ huyết áp tâm thu, mạch chậm, Nếu khám thực thể có thể thấydấu hiệu hưng phấn cơ quan tiền đình (điều khiển thăng bằng và định hướng), cơlực giảm, run mi mắt, run các đầu chi, giảm phản xạ xương khớp, dấu hiệuvạch da đỏ lâu mất, mạch và huyết áp không ổn định, điện tâm đồ có nhữngthay đổi bất thường, Các triệu chứng trên đây là những dấu hiệu chủ yếu củamột bệnh được gọi là bệnh ồn Hậu quả của những rối loạn bệnh lý trên đây làsức khỏe bị giảm sút, giảm khả năng lao động và tạo tiền đề cho những bệnh lýtiếp theo [15], [33]

1.1.4.2 Tác hại tới cơ quan thính giác

Những âm thanh rất mạnh và đột ngột như tiếng bom, tiếng súng lớn,tiếng mìn nổ, có thể gây rách màng nhĩ, xô đẩy lệch các xương nhỏ ở taigiữa, làm tổn thương cả tai trong, máu chảy ra ngoài tai, gây đau nhức dữ dội.Các thương tổn này có thể phục hồi nhờ điều trị tích cực, nhưng chức năngnghe của tai vẫn bị giảm sút nhiều

Trang 15

Trong điều kiện lao động sản xuất, tổn thương bệnh lý ở cơ quanthính giác thường xảy ra một cách từ từ, qua nhiều giai đoạn và khó phục hồi.Hậu quả sau cùng là gây ra điếc nghề nghiệp Điếc nghề nghiệp diễn biến rấtchậm, hàng chục năm Chậm nhưng vẫn tiến triển và không có quy luật về thờigian Diễn biến lâm sàng có thể chia ra thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn thích nghi là thời gian mới tiếp xúc với tiếng ồn quá tiêu

chuẩn cho phép, ngưỡng nghe tạm thời tăng lên khoảng 10-15 dBA so với bìnhthường (10 dBA) như vậy lúc này ngưỡng nghe khoảng 20-25 dBA, tuy nhiênnếu tách ra khỏi môi trường có tiếng ồn cao thì ngưỡng nghe trở lại bìnhthường (hồi phục)

Giai đoạn mệt mỏi thính giác: do thính giác chịu tác động quá lâu,

ngưỡng nghe tăng lên 30-40 dBA kéo dài nên khi ra khỏi môi trường lâu mớihồi phục lại bình thường

Giai đoạn điếc nghề nghiệp: cơ quan thính giác bị tổn thương không hồi

phục mặc dù người bệnh được đưa ra khỏi môi trường có tiếng ồn vượt tiêuchuẩn cho phép Cả cơ quan Cotri và dây thần kinh thính giác ở tai trong đều

bị tổn thương [15], [33]

1.1.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí

1.1.5.1 Ảnh hưởng lên sức khỏe con người và động vật sống trên mặt đất

Những nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một hàm lượng lớn các chất ônhiễm không khí góp phần vào hoặc gây ra những bệnh liên quan đến đường hôhấp Một nghiên cứu của Đại học Harvard cho thấy hàng năm có khoảng 60.000người chết do các bệnh có liên quan đến ô nhiễm không khí dạng hạt bụi Riêngtại nước Mỹ có tới 28 triệu người mắc các bệnh hô hấp mãn tính nhưng vẫnthường xuyên phải tiếp xúc với khói mù độc hại hàng ngày làm cho bệnh tật của

họ càng trên trở nên trầm trọng hơn [23]

Ô nhiễm không khí đối với cơ thể con người và động vật trước hết là quađường hô hấp cũng như là tác động trực tiếp lên mắt và lên da của cơ thể Nguyhiểm nhất là một số chất ô nhiễm không khí gây bệnh ung thư Tác động của cácchất ô nhiễm vào đường hô hấp mạnh hay yếu, một phần còn phụ thuộc vào sựhoà tan của chúng trong nước Nếu các chất ô nhiễm có tính hoà tan trong nước thìkhi ta hít thở không khí, chúng sẽ hoà tan với dung dịch lỏng trên đường hô hấp và

Trang 16

gây tác động lên cơ quan này Tính chất xâm nhập vào phổi của nhiều loại chất ônhiễm còn liên quan đến sự có mặt của các khí dung trong không khí Bình thườngcác chất ô nhiễm này không xâm nhập vào sâu trong khí quản và phế quản nhưngnhờ có các khí dung hấp thụ mà có khả năng thâm nhập vào sâu hơn trong phổi vàcho đến tận các phế nang.

Ô nhiễm môi trường không khí đã làm tăng tỷ lệ số người mắc các bệnh vềđường hô hấp ngoài (viêm họng, viêm mũi, viêm xoang), bệnh hô hấp dưới (viêmphổi, hen, lao), bệnh suy nhược thần kinh, bệnh đau đầu, bệnh tim mạch, bệnhngoài da, bệnh về mắt và các chứng dị ứng Ở nơi nào môi trường không khí càng

bị ô nhiễm nặng thì tỷ lệ người mắc bệnh càng lớn Với những tác nhân gây ônhiễm khác nhau thì gây ra những ảnh hưởng khác nhau về bản chất và mức độlên cơ thể người và động vật Cụ thể như sau:

- Cacbon monoxit: có tác dụng mạnh với hemoglobin (mạnh gấp 250 lần

so với oxy), lấy oxy của hemoglobin và tạo thành cacboxyhemoglobin, làmmất khả năng vận chuyển oxy của máu và gây ra ngạt

Nhiễm độc cấp CO thường bị đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệtmỏi, co giật, rồi bị hôn mê Nếu bị nhiễm nặng thì bị hôn mê ngay, chân taymềm nhũn, mặt xanh tím, bị phù phổi cấp Nhiễm độc mãn tính CO thường bịđau đầu dai dẳng, chóng mặt, mỏi mệt, sút cân

- Sulfur dioxit: với nồng độ thấp gây kích thích hô hấp, với nồng độ cao

gây ra bệnh tật và có thể tử vong

- Khí clo: có tác dụng đoạn trên của đường hô hấp Khí clo gây độc hại

cho người và động vật Tiếp xúc với môi trường có nồng độ clo cao sẽ bị xanhxao, vàng vọt, bệnh tật và có thể bị chết

- Chì và các hợp chất của chì: Chì rất độc đối với người Chì qua

đường hô hấp, tiêu hóa và gây độc cho hệ thần kinh, sự tạo máu và làm rốiloạn tiêu hóa Người bị nhiễm chì có thể bị đau bụng, táo bón, kèm theohuyết áp cao, suy nhược thần kinh, rối loạn cảm giác, tê liệt, giảm bạch cầu,viêm dạ dày, viêm ruột,…

- Nitơ dioxit: Khí NO2 với nồng độ 100 ppm có thể làm chết người chỉ sauvài phút, với nồng độ 5 ppm có thể gây tác hại bộ máy hô hấp sau mấy phút tiếpxúc, với nồng độ 15-50 ppm gây nguy hiểm cho tim, phổi, gan sau vài giờ tiếp

Trang 17

xúc, với nồng độ khoảng 0,06 ppm cũng có thể gây bệnh phổi cho người nếutiếp xúc lâu dài Đây là loại khí gây nguy hại nhiều cho người [32].

- Bụi có thể gây ra một số bệnh như:

+ Bệnh phổi nhiễm bụi: do người hít thở bụi khoáng, bụi amiang, bụi than

và kim loại Người sẽ bị xơ phổi, suy giảm chức năng hô hấp

+ Bệnh ở đường hô hấp: Tùy theo nguồn gốc các loại bụi mà gây ra

bệnh viêm mũi, họng, phế quản Bụi hữu cơ như bông, gai, đay dính vào niêmmạc gây viêm phù thụng tiết nhiều niêm dịch, về lâu dài bụi gai lanh có thể gâyviêm loét lòng khí phế quản

Bụi vô cơ rắn có cạnh góc sắc nhọn lúc đầu thường gây ra viêm mũi làmcho niêm mạc đầy lên, tiết nhiều niêm dịch, hít thở khó Sau vài năm chuyểnthành viêm mũi teo, giảm chức năng lọc giữ bụi của mũi, gây ra bệnh phổinhiễm bụi Bụi crom, asen gây viêm loét thủng vách mũi vùng trước sụn lá mía.Bụi len, bột thuốc kháng sinh gây dị ứng, gây ra viêm mũi, viêm phế quản, hen,…

Bụi mangan, phốt phát, bicromat kali, gỉ sắt gây ra bệnh viêm phổi, làmthay đổi tính miễn dịch sinh hóa của phổi Một số bụi kim loại có tính phóng xạgây ra bệnh ung thư phổi như bụi uran, coban, crom, nhựa đường

+ Bệnh ngoài da: Bụi đồng gây ra bệnh nhiễm trùng da rất khó chữa Bụi

tác động các tuyến nhờn làm cho da bị khô gây ra các bệnh ở da như trứng cá,viêm da Loại bệnh này các thợ đốt lò hơi, thợ máy sản xuất xi măng sành sứ hay

bị mắc phải

Bụi gây kích thích da, sinh mụn nhọt lở loét như bụi vôi, bụi dược phẩm,thuốc trừ sâu, đường Bụi nhựa than dưới tác dụng của ánh nắng làm cho dasưng tấy bỏng, ngứa, mắt sưng đỏ, chảy nước mắt Bụi còn gây chấn thươngmắt, viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt,… Bụi kiềm, bụi axit có thể gây ra bỏnggiác mạc, để lại sẹo, làm giảm thị lực, nặng hơn có thể bị mù

+ Bệnh ở đường tiêu hóa: bụi đường, các loại bột có thể gây sâu răng, làm

hỏng men răng Bụi kim loại, bụi khoáng to nhọn có cạnh sắc đi vào dạ dày gâyviêm niêm mạc dạ dày, rối loạn tiêu hóa Bụi chì gây ra bệnh thiếu máu, giảmhồng cầu và gây rối loạn thận

Bụi vi sinh vật có nhiều tác hại tới sức khỏe con người, gây ra các bệnhdịch, bệnh đường hô hấp, bệnh đau mắt và bệnh đường tiêu hóa

Trang 18

Theo các nghiên cứu mới đây cho biết, các hạt rất nhỏ trong không khí

bị ô nhiễm có thể gây ra hiện tượng vón cục trong máu vì khi phổi bị sưng tấy

do ô nhiễm không khí đã tiết ra interleukin - 6, đây là một hợp chất thuộc hệthống miễn dịch dẫn tới chứng viêm tấy và dường như làm vón cục máu

Với động vật được chăn nuôi cũng như động vật hoang dã đều nhạy cảmđối với ô nhiễm môi trường không khí lớn hơn con người Ở một số nước côngnghiệp lớn, một số loài động vật đã bị diệt vong vì ô nhiễm môi trường [19], [32]

1.1.5.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với thực vật

Hầu hết các chất ô nhiễm trong môi trường không khí đều có tác hại xấuđến thực vật, gây ảnh hưởng có hại đối với nghề nông và nghề làm vườn Các loạitác hại do chất ô nhiễm không khí có thể gây ra cho thực vật là: chết hoại, tổn hạisắc tố và tác động đến sự sinh trưởng, phát triển Trong đó, biểu hiện chính là làmcho cây trồng chậm phát triển đặc biệt là sương khói quang hoá đã gây tác hại rấtlớn đối với các loại rau: rau diếp, đậu Hà Lan, lúa, ngô, các loại cây ăn quả và cácloại phong lan

hydro florua: HF, natri clorua: NaCl, các hơi, bụi từ công nghiệp luyện đồng, chì,kẽm, nhuộm,… Đặc biệt là hơi khí bốc ra từ các lò nung vôi, nung gạch thủ công,ngay cả khi nồng độ của chúng còn thấp cũng đã làm chậm quá trình sinh trưởngcủa thực vật, nồng độ cao làm vàng lá, làm hoa quả bị lép, bị nứt, bị thúi và mức

độ cao hơn thì lá cây cũng như hoa quả đều bị rụng, chết hoại Các loại bụi đất đábám vào cây lá nhiều cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật vì làm giảmquá trình lục diệp hoá quang hợp của cây

Tuy nhiên, cũng có chất ô nhiễm có tác dụng tốt đối với thực vật, có tácdụng tăng cường sinh trưởng cây, đặc biệt là đối với các loại tảo như là các chấtphotpho, nitơ và cacbon Nhưng trong truờng hợp chúng làm kích thích sự pháttriển thì chúng lại phát triển các lá quá nhanh, là nguyên nhân làm cho các phiến là

bị quăn xoắn lại

1.1.5.3 Ảnh hưởng đối với vật liệu

Trang 19

tác đồng làm chúng trở nên giòn và dễ rác Sương mù H2SO4 làm hư hỏng và làmgiảm giá trị các vật liệu xây dựng như đá cẩm thạch và đá vôi

trong vòng 2-3 tháng Khi có hơi ẩm, các hạt nitrat (từ HNO3) được hấp thụ làmbiến chất các hợp kim đồng-niken, gây cứng giòn cao su

Bụi gây bẩn quần áo, nhà cửa và các vật dụng, có tác dụng tăng cường han

gỉ kim loại đặc biệt là bụi than, bụi xi măng có chứa SO2 [6], [32]

- Hiệu ứng nhà kính: Các khí nhà kính (greenhouse gas) gồm cacbon dioxit

(CO2), metan (CH4), các khí cloflocacbon (CFC), các khí oxit nitơ (NOX), ozon (O3)

có đặc tính không hấp thu các bức xạ sóng ngắn của mặt trời mà nó giữ lại các bức

xạ hồng ngoại (sóng dài) phản xạ từ trái đất, ngăn không cho năng lượng thoát rangoài không gian, làm nhiệt độ khí quyển tăng lên Nhiệt độ trái đất đã tăng lên

kính là gia tăng nhiệt độ môi trường toàn cầu và dẫn đến những ảnh hưởng đến đờisống kinh tế và hệ thống sinh thái toàn cầu Các sinh vật không thích nghi được vớitốc độ gia tăng nhiệt độ sẽ bị suy thoái Hạn hán, lũ lụt, bão sẽ diễn ra thường xuyênhơn, mạnh hơn, mực nước biển dâng cao, ngập lụt vùng đồng bằng, xói mòn bờbiển, muối hóa cửa biển, biến động trầm tích,…

- Tầng ozon và lỗ thủng tầng ozon: Ozon tập trung nhiều nhất trong tầng

bình lưu của khí quyển (ở độ cao 25 km) Tầng ozon ở trạng thái bình thường ngănđược 90 % tia tử ngoại loại B (UVB) (bước sóng λ = 280-320 nm) do mặt trời chiếuxuống trái đất Tuy nhiên khi trong không khí có các chất có khả năng phản ứng với

Trang 20

ozon trên tầng bình lưu dưới tác động của các tia tử ngoại, làm giảm nồng độ ozontại một số nơi trên trái đất (Nam cực) Các chất phá hủy tầng ozon là dẫn xuấthalogen của hydrocacbon được ứng dụng nhiều như CFCs (cholorofluorocarbons)như CFC – 11 (CFCl3) và CFC – 12 (CF2Cl2) dùng làm tác nhân lạnh, dung môi tẩyrửa, chất đẩy, chất tạo xốp,… halon 1301 là hóa chất chữa cháy, cacbon tetraclorua(CCl4), metyl cloroform (C2H3Cl3) dùng làm dung môi, metyl bromua (CH3Br) dùnglàm chất diệt khuẩn, bảo quản lương thực, chất phụ gia cho nhiên liệu vận tải, cáchợp chất oxit nitơ (NOX) là sản phẩm của đốt cháy nhiên liệu Ozon ở tầng bình lưusuy giảm làm tăng các tia tử ngoại loại B (UVB) trên bề mặt trái đất gây bệnh ungthư da, đục thủy tinh thể cho con người và động vật, làm biến đổi gen các sinh vật,ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, hủy hoại hệ sinh thái trên trái đất.

Riêng với khí hậu địa phương, ô nhiễm không khí gây ra những ảnh hưởng sau:

- Tăng cao nhiệt độ

Nhiệt độ tối thiểu trong ngày ở vùng đô thị cao hơn vùng nông thôn xungquanh 2-5 oC và nhiệt độ trung bình năm thường cao hơn 0,5-1,3 oC Nguyên nhân

là do đốt nhiên liệu và các quá trình sản xuất theo phương pháp gia công nhiệt đãtỏa lượng nhiệt lớn vào môi trường không khí, đồng thời diện tích bề mặt nhà cửa,đường xá, sân bãi chiếm nhiều, chúng hút bức xạ mặt trời nhiều hơn mặt đất cócây xanh ở nông thôn Mặt khác, lượng nước bốc hơi hút nhiệt ở thành phố ít hơn

ở nông thôn Ngược lại, độ ẩm tương đối của không khí ở thành phố thấp hơn ởnông thôn 2-8 %

- Giảm bức xạ mặt trời và tăng độ mây

Các bụi khói, sương mù ô nhiễm môi trường không khí đô thị có tác dụnghấp thụ 10-20 % bức xạ mặt trời và làm giảm tầm nhìn, tức là làm giảm độ trongsuốt của khí quyển Các bụi, các sol khí do hoạt động sản xuất, giao thông và sinhhoạt của con người thải vào không khí có khả năng tạo ra các hạt nhân ngưngđọng hơi nước trong khí quyển Hơi nước kết tủa ở vùng đô thị thường lớn hơnvùng nông thôn 5-10 %

Dựa vào các thành quả khoa học kỹ thuật ngày nay con người đã có thểchủ động điều khiển một phần sự biến thiên của khí hậu như là phương pháp nhântạo làm giảm bớt sương mù ở sân bay, làm mưa nhân tạo, làm tan cơn bão,… [6]

Trang 21

1.2 Tình hình nghiên cứu

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu về mối quan hệ qua lại giữa sinh vật nói chung, con ngườinói riêng với môi trường đã được tiến hành từ nhiều thế kỷ trước Các nghiên cứu

đã khẳng định những tác động mạnh mẽ của con người làm thay đổi môi trườngsống, đồng thời chứng minh những ảnh hưởng của môi trường bị ô nhiễm lên sứckhỏe và các hoạt động xã hội của con người

Vào thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là nền tảng thúc đẩy sựphát triển kinh tế công nghiệp và cải tiến mạng lưới giao thông toàn cầu nhưng kéotheo nó là thách thức về ô nhiễm môi trường mà điển hình là ô nhiễm tiếng ồn và ônhiễm không khí Cuối thế kỷ này, ảnh hưởng của tiếng ồn đối với con người vàđộng vật được chú ý nghiên cứu một cách có hệ thống Ở Pháp, Paracella (1962) đãnghiên cứu về bệnh điếc nghề nghiệp trên công nhân cơ khí Ông cho rằng dưới tácđộng của tiếng ồn trong điều kiện lao động sản xuất, năng suất lao động bị giảm sút

có thể tới 20-40 % so với môi trường lao động yên tĩnh, và tai nạn lao động dễ phátsinh (tăng 10-20 %) Ở Ý, Exmassini đã nghiên cứu và mô tả ảnh hưởng xấu củatiếng ồn lên cơ quan thính giác trên các cư dân sống ở thành phố công nghiệp Cácnghiên cứu của Morrel (1972) trên người và động vật chứng tỏ rằng khi chịu tácđộng liên tục của tiếng ồn sẽ gây trạng thái không ổn định thần kinh, dẫn đến suynhược, trí nhớ giảm, phản xạ không chính xác Barr (1974) đã nghiên cứu về tác hạicủa tiếng ồn ở dạng xung trên các công trường sử dụng mìn, thuốc nổ phục vụ khaithác đá [29]

Theo công bố của thời báo Epidemiology and Community Health tại Anh thì

hai nhà khoa học Knox và Gilman đã chứng minh được mối liên hệ giữa ô nhiễmkhông khí tại các khu đô thị với bệnh ung thư ở trẻ em mà cụ thể là tìm thấy mộthành lang bệnh ung thư trong vòng ba dặm từ đường cao tốc, sân bay, nhà máy điện

và những khu gây ô nhiễm khác Các nghiên cứu đã kiểm tra trẻ em chết vì cácbệnh ung thư bạch cầu hoặc những loại khác trong những năm 1953-1980, nơi họsinh ra và qua đời cho thấy nguy cơ lớn nhất nằm trong khoảng vài trăm mét đếncác khu ô nhiễm trên [59]

Abbey đã tiến hành một nghiên cứu trong những năm 1973-1992 để ước tính

Trang 22

người dân Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng PM10 có mối liên hệ chặt chẽ đến tỉ lệ

tử vong do các bệnh hô hấp ở cả hai giới [51]

Tại Mỹ, nghiên cứu về ô nhiễm không khí tập trung tại 20 đô thị lớn nhất,liên quan đến 50 triệu dân được tiến hành trong những năm 1987-1994 cho thấy

cũng ước tính ô nhiễm không khí đã làm tăng tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch và hôhấp thêm 0,7 % [65]

Hoek G tiến hành nghiên cứu trên 4492 số người tử vong trong những năm1986-1994 tại Hà Lan cho thấy 489 trường hợp (11 %) liên quan đến việc sinh sốngtại những con đường giao thông chính [57]

Nghiên cứu của Rosenlund M và cộng sự năm 2001 về ảnh hưởng của tiếng

ồn máy bay lên dân cư lân cận sân bay Stockholm Arlanda cho thấy tỉ lệ tăng huyết

áp là 1,6 % khi độ ồn vượt quá 55 dBA và 1,8 % khi độ ồn vượt quá 72 dBA [64]

Năm 2004, Gauderman WJ, Frank Gilliland và cộng sự đã công bố kết quảnghiên cứu được thực hiện trong vòng 8 năm trên 1.759 trẻ em đến từ khu vực NamCalifornia – nơi thường xuyên bị ô nhiễm bởi bụi hạt, khí nitơ,… cho thấy nguy cơthấp FEV cao hơn gần 5 lần so với tiêu chuẩn cho phép Như vậy, tác động của môitrường ô nhiễm đã gây những phản ứng tiêu cực đến sự phát triển phổi ở trẻ em dẫn

đến những triệu chứng lâm sàng bất thường [55].

Theo nghiên cứu của Miller KA, DS Siscovick, Sheppard L, Shepherd K,Sullivan JH, Anderson GL, Kaufman JD thuộc đại học Washington (2007) thì nguy

cơ tử vong do đau tim hoặc đột quỵ tăng 76 % khi tăng 10 microgram lượng bụi hạttrên một mét khối không khí Nhận định này được đưa ra khi phân tích hồ sơ y tếcủa hơn 66.000 phụ nữ sau mãn kinh sống ở 36 thành phố với thời gian tối thiểu 6năm và ô nhiễm không khí bởi bụi hạt được đo bằng màn hình đặt gần nhà mỗi đốitượng Quá trình nghiên cứu cho thấy có 1.816 phụ nữ có cơn đau tim, đột quỵ

trong tổng số 66.000 [61].

Năm 2008, một nghiên cứu về mối liên quan giữa tiếng ồn và nguy cơ bệnhtim mạch được thực hiện bởi Babisch W thuộc Cơ quan môi trường liên bang, Đức.Kết quả cho thấy không có nguy cơ rủi ro về tim mạch ở độ ồn 60 dBA và gia tăngrủi ro đã được tìm thấy khi tăng mức độ ồn lên trên 60 dBA [53]

Trang 23

Sun Q và cộng sự (2008) đã thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiệm bằngcách cho chuột tiếp xúc với các chất ô nhiễm không khí mà con người hít phảithường xuyên nhưng nồng độ ở mức thấp hơn nhiều so với mức ô nhiễm ở một sốkhu vực tại Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ Họ nhận thấy sau thời gian tiếp xúc khoảng

10 tuần, chuột thí nghiệm mắc cao huyết áp Nghiên cứu này chứng minh sự tănghuyết áp tương tự ở con người khi tiếp xúc với nguồn ô nhiễm [67]

Qua những công trình nghiên cứu trên có thể thấy, cùng với ô nhiễm tiếng

ồn, ô nhiễm thành phần không khí do khí độc và bụi đang reo lên hồi chuông cảnhtỉnh với toàn xã hội Do đó chống tiếng ồn và giảm thiểu ô nhiễm không khí đang làmột trong những vấn đề cấp bách được đề ra và nghiên cứu để bảo vệ dân cư sốngtrong các khu đô thị, các khu công nghiệp, đặc biệt là người làm nghề phải tiếp xúcthường xuyên với các nguồn phát ra tiếng ồn mạnh như công nhân cơ khí, luyệnkim hay khai thác đá

Nằm trong vấn đề chung về ô nhiễm không khí, môi trường lao động của conngười cũng cần được quan tâm đúng mức Hiện nay, những ảnh hưởng do môitrường có tiếng ồn lớn, nồng độ bụi và lượng chất độc luôn ở mức cao đang gây nênnhững tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động Trong những năm gầnđây, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, người lao động cần được thỏa mãnnhu cầu chính đáng về một điều kiện làm việc đảm bảo vệ sinh và an toàn Để minhchứng cho mức ảnh hưởng của môi trường lao động lên sức khỏe con người vànhằm thúc đẩy quá trình hiện thực hóa các chính sách xã hội với người lao động,các nhà khoa học trên thế giới đã và đang tập trung nghiên cứu vấn đề này

Ở Mỹ từ năm 1950 đến năm 1955 phát hiện được 12.763 người nhiễm bụi

đá Ở Nam Phi, hàng năm có khoảng 30-40 % thợ mỏ chết do bị bệnh phổinhiễm bụi đá Ở Nhật Bản, bệnh này chiếm tới 63 % ở các mỏ kim loại và 39 %

Trang 24

nghiên cứu đã xác định được nồng độ bụi là 44,22 mg/m3/h, với hàm lượng silic là

tuổi khác nhau và thời gian tiếp xúc khác nhau bằng cách chụp X – quang và đo phếdung Kết quả chụp X – quang bất thường bao gồm bệnh lao, viêm phế quản mãntính, những kết quả bất thườn khi đo phế dung là hạn chế, cản trở khả năng hô hấpcủa người bệnh Tỷ lệ chụp X – quang và đo phế dung bất thường tăng lên theo tuổitác và thời gian tiếp xúc Điều này đặc biệt rõ ở những công nhân thuộc nhóm tuổi50-60 Chụp X – quang và đo phế dung với tỷ lệ bất thường là 100 % đối với nhữngđối tượng công nhân làm việc trong mỏ đá từ 41 năm đến 50 năm Ho dị ứng tìmthấy ở 31 công nhân Khi so sánh, xem xét số lượng bụi đá trong không khí và mứcảnh hưởng của nó lên sức khỏe thì thấy thấp hơn sự kiến Điều này được giải thíchbởi bụi đá bị pha loãng trong gió, do thời gian và khả năng bảo vệ từ bộ lọc củađường hô hấp [60]

Năm 1996, Signh đã tìm hiểu về tác động của bụi lên sức khỏe con người.Cũng trong năm này, một nghiên cứu về bệnh phổi nghề nghiệp tại Singapore đượcthực hiện bởi Huyn S L và cộng sự đã cho thấy bệnh bụi phổi silic là nguyên nhânhàng đầu gây lao và ung thư phổi Theo điều tra trong những năm 1970-1993 thìcông nhân khai thác đá granit có tỷ lệ nhiễm bụi phổi silic là 77,6 % [58]

Năm 1998, nghiên cứu của Milton DK, Solomon GM, Rosiello RA,

Herrick RF thuộc Sở Y tế môi trường, Trường Y tế công cộng Harvard (Mỹ)

về bệnh hen suyễn nghề nghiệp được thực hiện trên 70924 thành viên thuộc tổ chức chăm sóc sức khỏe (HMO) trong độ tuổi từ 15 tuổi đến 55 tuổi có nguy cơ bệnh suyễn Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh hen suyễn do phơi nhiễm nghề nghiệp đang ở mức cao hơn đáng kể cho với những báo cáo trước đó và chiếm một tỷ lệ khá lớn trường hợp hen suyễn khởi phát ở tuổi trưởng thành [62]

Báo cáo Y tế thế giới năm 2002 nơi các rủi ro nghề nghiệp là nguyên nhânhàng đầu thứ mười của bệnh tật và tử vong WHO báo cáo rằng rủi ro nghề nghiệp

do môi trường làm việc bao gồm: 37 % đau lưng, 16 % mất thính lực, 13 % bệnhphổi tắc nghẽn mãn tính, 11 % của bệnh hen suyễn, 10 % các thương tích, 9 % củaung thư phổi và 2 % bệnh bạch cầu Theo báo cáo, tỷ lệ tử vong do công việc liênquan đến chấn thương gây ra gần 310.000 trường hợp tử vong mỗi năm, gần

Trang 25

146.000 ca tử vong do làm việc liên quan đến chất gây ung thư Các trường hợp tửvong liên quan đến bụi là 243.000 ca [69].

Tại Anh, kết quả một nghiên cứu về bệnh hô hấp nghề nghiệp vào năm

2003 được thực hiện bởi Steven Naylor và Andrew Curran cho thấy năm ngànhnghề quan trọng nhất đóng góp gần 60 % của tất cả trường hợp viêm phếquản/bệnh khí thũng qua thời kỳ 1989-2003 được xác định là thợ mỏ than (22 %),công nhân (17 %), thợ hàn (16 %) và công nhân dầu khí (2 %) [66]

Năm 2004, Viện sức khỏe nghề nghiệp Meghani Nagar đã công bố kết quảnghiên cứu về bệnh nghề nghiệp tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ nhiễm bụi phổi silic ởcông nhân ngành khai thác đá là 21 %, gốm sứ là 15,2 %; bệnh hô hấp ở công nhânkhai thác ngầm là 45,4 % ở công nhân khai thác than lộ thiên là 42,2 % [56]

Năm 2006, Tiến sĩ Azad S A và cộng sự đã có nghiên cứu về công nghiệpkhai thác đá xung quanh thủ đô Delhi và tác động của nó đến công nhân cũng nhưmôi trường [53] Vào năm 2007, một đề tài về nâng cao nhận thức và thực hành vềbụi phổi silic của công nhân mỏ đá ở sa mạc Sinh thái ở Rajasthan (Ấn Độ) đượcbắt đầu nghiên cứu bởi Yadav S P cùng cộng sự được hoàn thành vào năm 2008.Nghiên cứu này đã khảo sát, phân tích và chỉ rõ sự ảnh hưởng của công nghiệp khaithác đá lên sức khỏe người lao động thông qua những kết quả điều tra bệnh bụi phổisilic trên 376 công nhân tại 49 mỏ đá [71]

Theo tạp chí về quản lý và nghiên cứu môi trường (2009) của Ethiopia khinghiên cứu tác động của khai thác đá lên sức khỏe của công nhân và dân cư tạivùng Abeokuta thuộc Ogun State của Nigeria cho thấy nồng độ bụi toàn phần tại

Ở công nhân, tỷ lệ bệnh ho chiếm 26 %, viêm xoang chiếm 15 % và bệnh nhiều

đờm chiếm 20 % [63].

Vào tháng 5 năm 2010, theo nghiên cứu của Sunitha N và cộng sự (thuộc Sở

Khoa học môi trường và Đại học Bangalore tại Ấn Độ) về môi trường làm việc và tìnhtrạng sức khỏe của công nhân khai thác đá ở vùng Bangalore Metropolitan cho thấymức ảnh hưởng nghiêm trọng của khai thác đá lên công nhân thông qua khảo sát tỷ lệ

các bệnh tật và so sánh với đối chứng [68].

Trang 26

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào công ước bảo vệ vàchống ô nhiễm môi trường của Liên hợp quốc vào năm 1982 Hiện nay ở Việt Nam,những nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe conngười cũng như động, thực vật đã và đang được tiến hành mạnh mẽ

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của y học và các ngành khoa học khác, việcnghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh thái của người và động vật trong điềukiện khí hậu nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Theo nghiên cứu lắngđọng của Tiến sĩ Đào Ngọc Phong ở xung quanh nhà máy điện Ninh Bình cho thấylượng bụi cao gấp 17 lần so với tiêu chuẩn cho phép, nồng độ SO2 cao gấp 2 lần,

nhà máy tăng 3,3 lần; bệnh viêm mũi dị ứng tăng 2,2 lần [29]

Nghiên cứu của Vũ Văn An, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Ngọc Giá (1981) vềmức độ ô nhiễm tiếng ồn ở một số nhà trẻ Hà Nội và ảnh hưởng của nó đến giấcngủ của trẻ đã cho thấy cường độ âm thanh quá ngưỡng gây ra những tác động lớn

lên hoạt động sinh lý bình thường của con người, đặc biệt là ở trẻ nhỏ [31] Phần

lớn các chỉ tiêu sinh lý, sức khỏe thay đổi do điều kiện khí hậu gây nên được một sốtác giả nghiên cứu như: Đào Ngọc Phong, Lê Thanh Uyên, Nguyễn Ngọc Cảnh,Ngô Huy Anh với nghiên cứu về tác động của điều kiện nóng ẩm tới một số chỉ tiêusinh lý [30]

Hai mươi năm gần đây, một loạt các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng củamôi trường lên con người được công bố bởi các nhà khoa học trong nước Côngtrình nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng ẩm, khô lên một số chỉ tiêu sinh lý

cơ thể của Nghiêm Xuân Thăng (1995) Công trình khoa học của Nghiêm XuânThăng, Nguyễn Đình San, Nguyễn Dương Tuệ cùng cộng sự (1998) với đề tài:

“Nghiên cứu ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng của nó ở các cơ sở sản xuất, trườnghọc và các trục đường giao thông trên địa bàn Nghệ An – Hà Tĩnh” [38] Công trìnhkhoa học: “Tác động phối hợp nhiệt độ và độ ẩm cao với thiếu oxy lên một số chỉtiêu sinh học ở động vật thực nghiệm” của Phạm Xuân Quý (2002) Nghiên cứu củaPhạm Xuân Ninh (2003) về ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn lên một số chỉ tiêusinh học ở người trong môi trường quân sự và đề xuất biện pháp khắc phục Nghiên

Trang 27

cứu về tác động phối hợp của nhiệt độ và độ ẩm cao với thiếu oxy lên một số chỉ số

sinh học ở động vật của Phạm Xuân Quý vào năm 2003 [26], [36]

Nghiên cứu của Hoàng Minh Hiền (2005-2006) về thực trạng ô nhiễm khôngkhí và bệnh tật của nhân dân sống tại khu công nghiệp Thượng Đình, quận ThanhXuân và Lạc Long Quân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu chothấy không khí khu vực Thượng Đình là bị ô nhiễm: về bụi lơ lửng tổng số (gấp 3,3lần so với TCCP), vi sinh vật và nấm mốc gấp vài chục lần theo tiêu chuẩn củaSafis, nồng độ bụi mịn (PM10 và PM2,5) chiếm tỷ lệ cao Các khí CO, NO2, SO2 nằmtrong giới hạn cho phép Có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh hô hấp trong dân cư ở 2khu vực: các triệu chứng của bệnh hô hấp (ho, khạc đờm, tức ngực, tắc ngạt mũi,chảy nước mũi,…) ở khu công nghiệp Thượng Đình gấp 1-2 lần khu dân cư LạcLong Quân Kết quả đo thông khí phổi: có hội chứng tắc nghẽn ở khu công nghiệpThượng Đình lớn gấp 5 lần ở khu dân cư Lạc Long Quân, các chỉ số thông khí phổi

ở các trường hợp có hội chứng tắc nghẽn ở khu vực Thượng Đình giảm nhiều hơn

so với khu dân cư Lạc Long Quân [16]

Tiến sĩ Phạm Lê Tuấn cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu về bệnh tật củanhân dân thuộc nội thành Hà Nội liên quan đến ô nhiễm không khí (2007) được tiếnhành tại 5 khu vực: khu công nghiệp Thượng Đình, đường Pháp Vân, chợ ĐồngXuân, khu tập thể Kim Liên và khu Tây Hồ Tại các khu vực trên, nhóm nghiên cứu

đã điều tra ở 2.239 hộ gia đình gồm 10.111 thành viên gia đình, 6.021 học sinh,1.368 cán bộ công nhân viên trên địa bàn Hà Nội Theo đó, tỷ lệ hộ mắc bệnh tại HàNội là 72,6 % Trong số đó, hộ có người mắc bệnh mạn tính chiếm 43 %, cao nhất

là ở quận Hoàng Mai, thấp nhất là quận Tây Hồ Các bệnh có tỷ lệ mắc cao là bệnhtai mũi họng, viêm mũi dị ứng, hen phế quản, cảm cúm, viêm phổi, viêm phế quản,các bệnh ngoài da, bệnh về mắt Tiến sỹ Phạm Lê Tuấn cũng cho biết, những người

có thời gian sống trên 10 năm ở ngay tại Hà Nội có tỷ lệ mắc bệnh mạn tính về taimũi họng cao gần gấp đôi so với những người sống ở đây dưới 3 năm Tỷ lệ bệnhtật đối chiếu giữa nhóm người sống lâu ở Hà nội và nhóm người mới sống ở Hà Nội

là 24,5 % và 12,5 % Đối với các bệnh cấp tính như cảm cúm, người sống trên 10năm mắc bệnh chiếm tới 11,5 %; sống dưới 3 năm là 6,8 % Xu hướng tuổi càngcao thì tỷ lệ mắc càng cao [24]

Trang 28

Như vậy, với những nghiên cứu trên các tác giả đã làm sáng tỏ ảnh hưởngcủa nhiệt độ, độ ẩm, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường lên các chỉ tiêu về sinh

lý như huyết áp, hô hấp, tim mạch, trao đổi nhiệt ở da, bài tiết mồ hôi,… cũngnhư sức khỏe con người nói chung và đó cũng là nền tảng khoa học cho cácnghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của những điều kiện môi trường đặc biệtlên cơ thể con người

Nếu như trước đây ở Việt Nam, nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường laođộng lên sức khỏe con người là một lĩnh vực khá mới mẻ thì ngày nay các nhà khoahọc đang có xu thế mở rộng hướng nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và xâydựng chiến lược lâu dài về bảo vệ sức khỏe người lao động cũng như nâng cao hiệuquả của hoạt động sản xuất

Người đi đầu trong nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường lên sức khỏengười lao động ở Việt Nam là Ngô Ngọc Liễn, Nguyễn Mạnh Dũng (1980) Kết quảnghiên cứu cho thấy cho thấy bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn trong sản xuất gây

ra ở một số nhà máy, xí nghiệp như sau: Trong điều kiện nơi làm việc, cường độ âmthanh vượt quá mức tối đa cho phép 6-34 dBA, tỷ lệ công nhân điếc nghề nghiệplên tới 21,5 % Riêng những công nhân tuổi nghề 20 năm trở lên bị điếc 34,3 %[30]

Năm 2002, theo thống kê của Sở Y tế Bình Định cho thấy, chỉ tính riêngnhững khu vực khai thác đá của các đơn vị quốc doanh, cả tỉnh hiện có khoảng3.000 công nhân tiếp xúc thường xuyên với bụi silic, trong đó 30 % đã nhiễm bụiphổi Hàm lượng bụi silic trong các công trường sản xuất đá ở Bình Định cao gấpđôi mức báo động nguy hiểm Nghiên cứu cho thấy, ở những người làm việc trongmôi trường có bụi silic từ 5 năm trở lên, nguy cơ mắc bệnh bụi phổi là 14 % Nguy

cơ này tăng thành 21 % sau 9 năm và lên tới 35 % sau 10-14 năm tiếp xúc với bụi

đá Việc lao động lâu năm trong môi trường nói trên không những làm tăng nguy cơnhiễm bụi phổi mà còn khiến công nhân dễ mắc thêm các bệnh ung thư phổi nguyên

phát, ung thư thanh quản, vòm họng Trong 3 năm, ở Bình Định đã có khoảng 20 người tử vong do bệnh bụi phổi [33].

Nghiên cứu của Đào Ngọc Phong, Phạm Hùng và Đan Thị Lan Hương về ônhiễm môi trường làng nghề và vấn đề sức khỏe cộng đồng được tiến hành tại 30 cơ

sở làng nghề tại Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định phổ biến làm mỹ nghệ, mây tre

Trang 29

đan, dệt may, chế biến hóa thực phẩm và vật liệu xây dựng Kết quả nghiên cứu chothấy các thông số về nồng độ bụi và tiếng ồn đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép vàcác bệnh tật trong các hộ gia đình làng nghề là đau lưng, đau cột sống, đau bụng,hội chứng dạ dày, viêm phế quản, viêm phổi, viêm dạ dày, đau mắt, [31].

Theo nghiên cứu của Trung tâm Sức khỏe – Lao động và Môi trường Thànhphố Hồ Chí Minh đã tiến hành đo đạc môi trường lao động cho 492 cơ sở Năm

2002, trong tổng số 1.673 mẫu đo mức độ bụi tại các cơ sở sản xuất trên địa bànthành phố có 102 mẫu không đạt tiêu chuẩn, trong khi chỉ 6 tháng đầu năm 2003qua xét nghiệm 868 mẫu đã có 53 mẫu không đạt Đó là chưa kể các xét nghiệm vềnhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, từ trường, trong 6 tháng đầu năm 2003 đều có số mẫukhông đạt tăng gấp nhiều lần so với cùng kỳ năm 2002 Điều đó cho thấy môitrường lao động đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Sáu tháng đầu năm 2003, trung tâm

đã tiến hành khám bệnh nghề nghiệp cho gần 4.000 công nhân làm việc trong môitrường có yếu tố độc hại thì có đến 372 người mắc bệnh nghề nghiệp, tăng so vớicùng kỳ năm trước xấp xỉ 5 % Trong số 473 người được khám về bệnh bụi phổisilic thì 12 người bị nghi ngờ và 3 người mắc Trong khi cả năm 2002, kiểm tra 696

bệnh và 8 người được Hội đồng Giám định Y khoa xác định bị bệnh phổi silic Bêncạnh đó, các bệnh bụi phổi bông, bụi phổi amiăng, bệnh viêm phế quản nghề nghiệpđều tăng [42]

Tại Hội nghị Khoa học toàn quốc về Y học lao động, Sức khỏe môi trường,Sức khỏe trường học lần thứ V, Hội nghị Khoa học quốc tế về Y học lao động, Sứckhỏe môi trường, Sức khỏe trường học lần thứ nhất (11/2003) Một loạt các nghiêncứu về bệnh nghề nghiệp ở nhiều nghành nghề khác nhau đã được công bố, trong đóđiển hình là các nghiên cứu sau:

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Toán thuộc viện Y học lao động và Vệ sinh môitrường về tình hình sức nghe của công nhân tại một số cơ sở sản xuất vật liệu xâydựng Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên 1498 công nhân sản xuất vật liệu xâydựng (trong đó 547 công nhân sản xuất xi măng, 448 công nhân khai thác đá, 503công nhân sản xuất gạch chịu lửa) Kết quả cho thấy công nhân phải tiếp xúc vớitiếng ồn cao 87,5-104,6 dBA ở các công đoạn như khoan đá, nghiền đá, xi măng,dập gạch Tỷ lệ điếc nghề nghiệp là 10,07 %, trong đó khai thác đá là 16,46 %;

Trang 30

ngành sản xuất gạch chịu lửa 7,29 %; ngành sản xuất xi măng 6,45 % Các triệuchứng thu được qua phiếu phỏng vấn như sau: 97,6 % thợ khoan đá bị ù tai; thợnghiền đá là 85,7 %; thợ dập gạch là 88,9 %; thợ đóng bao là 50,8 % 85,4 % thợ khoan đá nghe kém; tỷ lệ này ở thợ nghiền đá, thợ dập gạch, thợ đóng bao là

81 %, 77,8 % và 50 % 78 % thợ khoan đá bị đau đầu, bệnh này ở thợ nghiền đáchiếm 85,7 %; thợ dập gạch 87,1 %; và thợ đóng bao 50,0 % 9,8 % thợ khoanđá; 14,3 % thợ nghiền đá; 15,3% thợ dập gạch và 2,5% thợ đóng bao thườngxuyên sử dụng nút tai

Nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi silic ở công nhânsản xuất vật liệu xây dựng của Lê Thị Hằng, Đào Xuân Vinh, Nông Văn Đồng, LêMạnh Kiểm thuộc trung tâm y tế bộ xây dựng và Lê Khắc Đức thuộc Học việnQuân y Đề tài được thực hiện theo phương pháp dịch tễ học mô tả có khảo sát môitrường lao động, khám lâm sàng, chụp X – quang phổi và đo chức năng hô hấp trên

1204 công nhân sản xuất vật liệu xây dựng Kết quả cho thấy: Nồng độ bụi silic caohơn nồng độ tối đa cho phép Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic là 7,8 % Ngoài ra, có

77 trường hợp bụi phổi silic (6,4 %)

Nghiên cứu về điều tra đánh giá tình hình bệnh bụi phổi-silic tại một số xínghiệp ở tỉnh Yên Bái của Trương Công Lệnh thuộc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnhYên Bái vào năm 2003 được tiến hành tại 5 cơ sở sản xuất gồm khai thác đá, sảnxuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng thuộc tỉnh Yên Bái nhằm đánh giá tìnhhình ô nhiễm bụi và bệnh bụi phổi silic Kết quả cho thấy số mẫu bụi vượtTCVSLĐ là 85 % Tỷ lệ mẫu bụi có hàm lượng silic tự do trong khoảng 5-20 %chiếm 8 %, trong khoảng 1-5 % chiếm 75 % và tỷ lệ mẫu bụi có hàm lượng silic tự

do 1 % chiếm 17 % [50]

Nguyễn Bá Toại (2004) tiến hành công trình khoa học về ô nhiễm bụi và tácđộng tới sức khỏe người lao động ở các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng hiện nay.Kết quả nghiên cứu cho thấy các mẫu bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép và khiTrung tâm Y tế Bộ xây dựng tiến hành khám sức khỏe và bệnh nghề nghiệp chocông nhân tiếp xúc với amiăng ở 10 cơ sở sản xuất Trong 10 cơ sở này có 2 cơ sởhoạt động trên 30 năm, số còn lại khoảng 10 năm Tổng số 1032 công nhân trực tiếptham gia vào dây chuyền sản xuất đã được khám và thời gian làm việc của họ từ 5đến 35 năm Kết quả cho thấy có 4/1032 trường hợp phổi nhiễm bụi amiăng [43]

Trang 31

Trong vòng một năm (2004-2005), nhóm điều tra bệnh nghề nghiệp bụi phổisilic Viện Vệ sinh Y tế Cộng cộng đã tiến hành điều tra hơn một chục doanh nghiệpkhai thác đá tại núi Bà Đen (Tây Ninh) Kết quả cho thấy: 100 % các doanh nghiệpđều làm việc trong một môi trường quá ồn và bụi bặm Nồng độ bụi toàn phầntrung bình tại các công đoạn sản xuất cao cả ở hai mùa mưa nắng hầu hết đềuvượt TCVSLĐ 1,51-3,71 lần Nồng độ bụi toàn phần cao nhất tập trung ở khâukhoan đá và xay nghiền Ngoài ra, nồng độ bụi hô hấp ở các công đoạn sản xuất

hơn 4 lần Nồng độ bụi hô hấp hầu hết các công đoạn sản xuất đều cao Nhiều vịtrí sản xuất có nồng độ bụi vượt TCVSLĐ 4-10 lần Có những giai đoạn khaithác, hàm lượng bụi silic tự do trong bụi hô hấp lên đến 80-90 % Trong khi đó,theo tiêu chuẩn vệ sinh 20 % hàm lượng silic trong bụi hô hấp là nguy cơ gâybệnh rất cao Khi nghiên cứu trên 300 công nhân,thì kết quả cho thấy tỷ lệ côngnhân mắc bệnh là 5,46 % [7]

Theo nghiên cứu vào năm 2005 của Makoto Futatsuka, Masahiro Shono,Hisataka Sakakibara và Phạm Quốc Quân về ảnh hưởng của khai thác đá lên sứckhỏe của công nhân tại 50 mỏ đá ở Quy Nhơn Nghiên cứu này tìm hiểu về điềukiện làm việc và sự ảnh hưởng về sức khỏe liên quan đến hoạt động khoan đá đượctiến hành trên 102 công nhân mỏ đá nhằm mục đích làm rõ nguy cơ tiếp xúc rungđộng, sự xuất hiện của rung động gây ra trắng ngón tay (VWF), đặc điểm hội chứngrung cánh tay (HAVS) và điều tra tỉ lệ các bệnh nghề nghiệp Kết quả nghiên cứucho thấy mối liên quan mật thiết giữa đặc thù công việc, môi trường lao động và cácdạng bệnh tật của công nhân [54]

Một nghiên cứu về môi trường và sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề ViệtNam của Thạc sĩ Nguyễn Trinh Hương thuộc Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật

và Bảo hộ lao động đã tiến hành đo các thông số về độ ồn và độ bụi ở một số làngnghề ở phía bắc, và điều tra mức độ ảnh hưởng của điều kiện làm việc với ngườidân nơi đây Kết quả cho thấy các thông số về bụi và tiếng ồn đều cao hơn tiêuchuẩn cho phép, và tỷ lệ các bệnh đường hô hấp, suy nhược thần kinh, bệnh xươngkhớp, viêm da,… luôn ở mức cao [20]

Theo Nguyễn Khắc Hải, ô nhiễm môi trường công nghiệp đã và đang ảnhhưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân cư mà người công nhân lao động là những

Trang 32

người bị ảnh hưởng trực tiếp Họ phải tiếp xúc thường xuyên với các yếu tố độc hạinhư ô nhiễm nhiệt, bụi, tiếng ồn, hơi, khí độc,… Kết quả điều tra về môi trường vàsức khỏe của trên 208 công nhân nhà máy cơ khí và nhà máy kim sắt Thái Nguyêncho thấy 58,7 % công nhân có biểu hiện viêm phế quản; 2,9 % có biều hiện hội

đường hô hấp, tai mũi họng và bệnh dị ứng chiếm từ 35,2-65 % [13]

Tại Hội nghị Khoa học Quốc tế Y học lao động và Vệ sinh môi trường lầnthứ 2 được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2008, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh QuânHuấn cho biết: “Do tác động của môi trường làm việc, bệnh nghề nghiệp và các táchại của nghề nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là bệnh bụi phổi silic, điếcnghề nghiệp, bệnh liên quan đến hoá chất, tai nạn lao động,… Năm 2007, số tíchluỹ bệnh nghề nghiệp trong toàn quốc lên đến 23.872 trường hợp, trong đó, bệnhphổi silic chiếm tới 74,5 %; nhiễm độc do thuốc bảo vệ thực vật là 5.207 trườnghợp, tử vong 106 người Đặc biệt, tình trạng điếc nghề nghiệp chiếm tới 16 %.Nghiên cứu tại một doanh nghiệp cơ khí đóng tàu cho thấy: 94,7 % công nhân phànnàn vì phải làm việc trong điều kiện tiếng ồn có cường độ lớn trong suốt ca làmviệc Trong khi đó, phương tiện bảo hộ lao động là nút tai chống ồn lại thiếu” [50]

Năm 2008, trong một cuộc khảo sát tình hình bệnh nhiễm bụi phổi silic nghềnghiệp tại một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Công ty Xây dựng Dĩ An(Bình Dương) của Huỳnh Thanh Hà, Trịnh Hồng Lân và cộng sự thuộc Đại học YDược Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả đo kiểm tra môi trường lao động và khámsức khỏe cho 470 công nhân có tiếp xúc với bụi silic cho thấy nồng độ bụi toànphần và nồng độ bụi hô hấp ở hầu hết các vị trí lao động đều vượt tiêu chuẩn vệsinh lao động (TCVSLĐ) rất cao Tại vị trí tạo hình và ra lò của công ty sản xuất

8,25-13 lần), nồng độ bụi toàn phần tại khu vực khoan đá và máy xay đá trong

12,0 % Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bệnh bụi phổi silic giữanhóm công nhân làm việc trực tiếp tại khu vực khai thác đá với nồng độ bụi siliccao và nồng độ bụi silic thấp ở khu vực sản xuất gạch (P < 0,05) [12]

Trang 33

Đề tài nghiên cứu thực trạng môi trường lao động, điều kiện lao động củaCông ty Xi măng Sông Gianh Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lao độngcủa công ty bị ô nhiễm nhiệt, nhiều vị trí sản xuất nhiệt độ vượt TCVSLĐ 3-4,7 oC;tiếng ồn vượt TCVSLĐ 4-8 dBA, và đặc biệt nồng độ bụi toàn phần vượt TCVSLĐ0,7-19,6 mg/m3/h Sức khỏe công nhân chủ yếu đạt loại I (tốt) và loại II (khá), dođược trẻ hóa đội ngũ, tuy nhiên các bệnh mắc tỷ lệ cao như tai mũi họng (31,9 %),răng hàm mặt chiếm 25,9 %; tim mạch (16,7 %), mắt (15,9 %) Qua nghiên cứu, đềtài đã có kiến nghị về giải pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức

khỏe công nhân Công ty Xi măng Sông Gianh [9].

Nghiên cứu của Viện bảo hộ lao động với chủ nhiệm đề tài là Vũ XuânTrung về đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, điều kiện lao động tới sứckhỏe công nhân dệt sợi và công đồng dân cư xung quanh Thông qua khảo sát thực

tế tại Công ty Dệt may Hà Nội, bằng các biện pháp khảo sát điều kiện làm việc tại

vị trí lao động, phỏng vấn trực tiếp 143 đối tượng, khám lâm sàng và cận lâm sàngcho 98 đối tượng, đề tài đã đưa ra được thực trạng điều kiện làm việc của người laođộng và những ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe người lao động Nghiên cứu đãminh chứng được mối liên hệ mật thiết giữa vấn đề ô nhiễm môi trường lao động vàsức khỏe của công nhân Từ đó đề xuất được một số biện pháp giảm thiếu ảnhhưởng của ô nhiễm đến sức khỏe người lao động [46]

Nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của 720 công nhân Công ty Xi măng HoàngThạch, Công ty Đóng tàu Bạch Đằng và mỏ than Hà Lầm tiếp xúc trực tiếp vớitiếng ồn cho thấy: Tỷ lệ bệnh điếc nghề nghiệp là 24,58 %; trong số đó thì nhómcông nhân có tuổi nghề trên 20 năm chiếm 67,23 % Mức độ nghe kém nhẹ là chủyếu (77,97 %), nghe kém vừa (18,64 %), nghe kém nặng là 2,26 %; điếc là 1,13 %;điếc đặc 0 % Tỷ lệ bệnh về tăng huyết áp: 18,1 %; dạ dày và tá tràng: 29,4-32,1 %;đau đầu thường xuyên (54,4 %), mất ngủ (56,4 %), căng thẳng dễ cáu kỉnh (55,4

%) Tỷ lệ sử dụng nút tai chống ồn là 38,3 % [41]

Trang 34

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài triển khai nghiên cứu tại mỏ đá Vũ Kỳ thuộc địa phận xã ĐồngThành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

Xã Đồng Thành thuộc phía tây huyện Yên Thành, đây là khu vực miền nuivới đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, bị tác động của gió mùa Tây Nam khônóng từ tháng 4 đến tháng 7 và gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm ướt từ tháng 11 đếntháng 2 năm sau

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu các chỉ số sinh lý, huyết học được thực hiện trên 90công nhân khai thác đá (gồm 45 nam và 45 nữ) thuộc ba nhóm tuổi: 22-34, 35-45 và46-56 (mỗi nhóm tuổi gồm 15 nam và 15 nữ) Những công nhân nói trên làm việcdưới sự quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn Kỳ Sơn Đây là công ty khai thác

đá tư nhân được thành lập từ năm 2000

Các đối tượng được chọn đều là những công nhân có cơ thể phát triển vàhoạt động bình thường, không có dị tật bẩm sinh

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Liên hệ Trung tâm thư viện Nguyễn Thúc Hào tiến hành thu thập tài liệu,tìm hiểu thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Liên hệ và tổ chức tiến hành xác định thực trạng môi trường lao độngChọn mẫu và đo các chỉ tiêu sinh lý của đối tượng nghiên cứu

Điều tra bệnh án của công nhân Công ty TNHH Kỳ Sơn Điều tra phỏngvấn thông qua sử dụng phiếu điều tra với 203 công nhân tại nơi nghiên cứu nhằmthu thập các thông tin và bệnh liên quan

Trang 35

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp đo một số chỉ số vi khí hậu

Độ ẩm tương đối và nhiệt độ không khí xác định bằng ThermohygrometerMC89 (Trung Quốc) và Thermohygrometer Type 4510, hãng TESTO (Pháp) Đotốc độ gió bằng máy đo Trung Quốc DEM 2

Thu thập tài liệu, nghiên cứu và tách nội dung liên quan đến đề tài, ghi nhãn

Khảo sát thực tế tạiđịa điểm nghiên cứuTiến hành nghiên cứu

Tìm hiểu phân loại sức khỏe và cơ cấu bệnh tật của công nhân

Tổng hợp số liệu, phân tích và

xử lý bằng thống kê sinh học

Viết báo cáo luận văn

Sơ đồ nghiên cứu

Trang 36

2.3.2 Phương pháp đo nồng độ bụi toàn phần

Bụi toàn phần được thu trên giấy lọc PVC hoặc giấy có cốt thủy tinh Giấyđược sấy thật khô, cân trước và sau khi lấy mẫu trong cùng một điều kiện

Sử dụng máy lấy mẫu thể tích lớn (USA) và tiến trình thu mẫu như sau: tạiđiểm thu mẫu đặt dụng cụ thu mẫu ở chiều cao 1,2 m đến 1,5 m so với mặt đất, sau

đó hướng phễu thu vào nguồn bụi Đặt giấy lọc vào máy theo chiều vuông góc vớimặt đất Bấm mặc định thời gian và tốc độ hút không khí, khởi động máy bắt đầuhút không khí Sau đó, lấy mẫu giấy lọc ra khỏi máy bằng nhíp chuyên dụng, đặtgiấy vào nơi bảo quản, và tiến hành đo trọng lượng mẫu trong vòng 1 đến 2 giờngay sau khi lấy mẫu Nồng độ bụi toàn phần trong không khí được tính toán trên

cơ sở chênh lệch trọng lượng Xác định bằng cân điện tử (sai số từ 0.1 mg trởxuống) Nồng độ bụi được tính bằng đơn vị mg/m3/h

2.3.3 Phương pháp đo nồng độ khí CO2 và khí CO

(Nhật) Đơn vị đo là mg/m3/h Mỗi đợt thu mẫu đo lặp lại nhiều lần ở mỗi vị trí khácnhau tại địa điểm nghiên cứu

2.3.4 Phương pháp đo độ ồn

Xác định độ ồn bằng máy đo độ ồn hiện số Intergrating Sound Levermotertyper M.S 50517 – K074537 (Nhật) Đơn vị đo là dBA Máy đặt ở độ cao 1,2 mđến 1,5 m so với mặt nền Khảo sát trong thời gian lao động, lặp lại nhiều ngày.Máy được đặt theo nhiều hướng khác nhau theo những cự ly, khoảng cách khácnhau so với nguồn ồn

2.3.5 Phương pháp đo một số chỉ tiêu sinh lý

- Đo TST (đơn vị đo: lần/phút), HATT và HATTr (đơn vị đo: mmHg) bằngmáy đo huyết áp của Nhật Đo lặp 3 lần, lấy giá trị trung bình cho mỗi đối tượng

- Đo TSHH (đơn vị đo: lần/phút): Lấy tần số hô hấp khi nghỉ ngơi và lúc làmviệc, cầm tay đặt lên ngực đối tượng để đếm số lần ngực phồng lên trong một phút

Đo lặp 3 lần, lấy giá trị trung bình cho mỗi đối tượng

- Đo một số chỉ số huyết học:

+ Lấy máu tĩnh mạch vào lúc sáng sớm, khi đối tượng nghiên cứu chưa ăn sáng.

+ Các chỉ tiêu huyết học được xác định trên máy xét nghiệm huyết họcCell-DYN 170

Trang 37

2.3.6 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu tài liệu tổng hợp có liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước,các giáo trình, tập san, báo chí, thông tin đại chúng trên mạng internet

2.3.7 Phương pháp điều tra phỏng vấn

Cuộc điều tra được tiến hành với sự tự nguyện hoàn toàn của các đối tượng

Sử dụng phiếu trắc nghiệm in sẵn Mọi thông tin về hộ gia đình và cá nhân đượcđiều tra được tuyệt đối giữ bí mật

2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học và sử dụng phầnmềm SPSS for Window 13.0 và sự hỗ trợ của phần mềm Excel 2003

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Kết quả nghiên cứu

3.1.1 Thực trạng môi trường lao động tại mỏ đá Vũ Kỳ

3.1.1.1 Một số chỉ số vi khí hậu và nồng độ bụị toàn phần tại địa điểm nghiên cứu

Bảng 3.1 Một số chỉ số vi khí hậu và nồng độ bụi toàn phần trong thời gian LĐ

Độẩm(%)

Tốc

độ gió(m/s)

Sốmẫumỗi

vị trí(n)

Vị trí

P

Cáchkhu

SX

10 m

Khuvựcđậpđá

Khuvựcnghiềnđá16/4 12 ± 1,234,8 ± 2,478,2 ± 0,10,5 4 ± 1,016,88 ± 1,1315,62 ± 1,1318,67 < 0,0123/5 12 ± 1,726,6 ± 3,781,3 ± 0,41,3 4 ± 0.914,34 ± 1,2110,03 ± 1,2214,44 < 0,017/6 12 ± 1,734,7 ± 3,376,9 ± 0,32,2 4 ± 1,125,97 ± 1,5311,69 ± 1,2716,92 < 0,0113/6 12 ± 1,635,6 ± 3,873,5 ± 0,10,9 4 ± 0,796,32 ± 1,9717,24 ± 1,0319,38 < 0,0119/7 12 ± 1,329,3 ± 4,679,4 ± 0,21,6 4 ± 0,824,29 ± 1,5111,47 ± 0,9518,29 < 0,01

Giá trị

trung bình

32,2 ± 1,5 ± 3,677,9 ± 0,21,3 ± 0,935,56 ± 1,4713,21 ± 1,1217,54

Trang 39

Biểu đồ 3.1 So sánh nồng độ bụi toàn phần giữa các vị trí trong thời gian LĐ

Quan sát số liệu thu được ở bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy:

- Nhiệt độ trung bình tại ĐĐNC là 32,2 oC (vượt TCVSLĐ 2,2 oC)

- Độ ẩm tại ĐĐNC nằm trong giới hạn về TCVSLĐ

- Tốc độ gió tại ĐĐNC nằm trong giới hạn về TCVSLĐ

- Nồng độ bụi toàn phần ở các vị trí khác nhau thuộc ĐĐNC chênh lệch lớnvới P < 0,01 có ý nghĩa thống kê Trong đó, nồng độ bụi toàn phần tăng dần từngoài vào trung tâm khu khai thác có giá trị lớn nhất tại khu vực nghiền đá

Trang 40

3.1.1.2 Nồng độ một số khí thải tại địa điểm nghiên cứu

Bảng 3.2 Nồng độ khí CO2 trong thời gian LĐ

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ nghiên cứu - Ảnh hưởng của môi trường khai thác đá lên một số chỉ tiêu sinh lý và tình hình sức khỏe của công nhân mỏ đá vũ kỳ, huyện yên thành, tỉnh ngệ an luận văn thạc sĩ sinh học
Sơ đồ nghi ên cứu (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w