1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì

113 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Tại Thành Phố Việt Trì
Tác giả Trần Thị Thu Hảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Quốc Sử
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ các giá trị văn hóa đó xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch, thu hút khách và thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch thành phố Việt Trì nó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ THU HẢO

NGHIÊN CứU PHÁT TRIểN DU LịCH VĂN HÓA

TạI THÀNH PHố VIệT TRÌ

Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quốc Sử

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, cùng với

sự nỗ lực của bản thân, với tất cả tình cảm của mình học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tớiPGS.TS Phạm Quốc Sử - giảng viên trường Đại học Thủ

Đô, người thầy đáng kính đã dành nhiều thời gian đồng hành, hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu để học viên hoàn thành luận văn này

Học viên xin kính gửi lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa và quý thầy, cô giáo khoa Du lịch học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học viên học tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân Thành phố Việt Trì đã cung cấp cho học viên những tài liệu quý báu phục vụ cho công việc nghiên cứu đề tài

Qua đây học viên cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè – những người đã luôn sát cánh động viên và tiếp thêm động lực để học viên hoàn thành được luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn luận văn của học viên còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô và các bạn để luận văn của học viên được hoàn thiện hơn!

Học viên xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Trần Thị Thu Hảo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ……… 8

1.1 Lý luận về du lịch văn hoá 8

1.1.1 Khái niệm du lịch văn hóa 8

1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 9

1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa 13

1.1.4 Sản phẩm du lịch văn hóa 13

1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa 16

1.1.6 Khách du lịch văn hóa 17

1.2 Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội tác động đến du lịch văn hóa 17

1.2.1 Nguồn nhân lực 17

1.2.2 Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội 18

1.2.3 Cách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế 19

1.2.4 Đô thị hóa 19

1.2.5 Điều kiện sống 20

1.2.6 Thời gian rỗi 20

1.2.7 Chính sách phát triển du lịch văn hóa 20

1.2.8 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa 21

1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa 22

1.3.1.Kinh nghiệm nước ngoài 22

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 24

1.4 Tài nguyên du lịch văn hoá thành phố Việt Trì 26

1.4.1 Khái quát về thành phố Việt Trì 26

Trang 5

1.4.2 Tài nguyên du lịch văn hoá thành phố Việt Trì 33

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ……….38

2.1 Đánh giá chung về hoạt động du lịch văn hóa tại thành phố Việt Trì 38

2.1.1 Cơ sở vật chất, nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch văn hóa tại Việt Trì 38

2.1.2 Sản phẩm du lịch văn hóa và các hoạt động du lịch văn hóa tại thành phố Việt Trì 44

2.1.3 Thị trường khách 58

2.1.4 Những thành tựu đạt được trong hoạt động du lịch văn hóa tại thành phố Việt Trì 62

2.1.5 Những hạn chế trong hoạt động du lịch văn hóa tại thành phốViệt Trì 63

2.4.3 Nguyên nhân 64

2.2 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động du lịch văn hoá tại thành phố Việt Trì 65

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ……… 67

3.1 Định hướng phát triển 67

3.2 Căn cứ đề xuất giải pháp 69

3.2.1 Căn cứ lý luận 69

3.2.2 Căn cứ thực tiễn 69

3.3 Các giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại thành phố Việt Trì 70

3.3.1 Giải pháp chung 70

3.2.2 Giải pháp cụ thể 74

3.3 Kiến nghị 84

3.3.1.Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về phát triển du lịch văn hóa 84

3.3.2 Đối với chính quyền địa phương 84

3.3.3 Đối với doanh nghiệp du lịch 85

Trang 6

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN………88

TÀI LIỆU THAM KHẢO………90

PHỤ LỤC……… 90

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể 12 Bảng 1.2 So sánh sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch 15 Bảng2.1 Danh sách các công ty du lịch trên địa bàn thành phố Việt Trì (2015) 42 Bảng 2.2 Phân kì khách du lịch đến Phú Thọ 2015 59 Bảng 2.3 Hiện trạng khách du lịch đến tỉnh Phú Thọ 60 Bảng 2.4 Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú của Phú Thọ đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 61 Bảng 3.1 Chiến lược sản phẩm – thị trường của du lịch văn hóa Việt Trì 79

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ICOMOS International Council On Monuments and Sites

Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ DLVH Du lịch văn hóa

NĐ-CP Nghị định – Chính phủ

TP Thành phố

TX Thị xã

KH - UBND Kế hoạch - Ủy ban nhân dân

NQ/TW Nghị quyết /Trung ương

QĐ-SVHTTDL Quyết định – Sở Văn hóa Thể thao Du lịch

QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban Nhân dân

QH Quốc hội

QL Quốc lộ

VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và du lịch

UBND Ủy ban Nhân dân

UNESCO (UnitedNations Educational, Scientific and Cultural

Organization) Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới

UNWTO (World Tourism Organization) -Tổ chức Du lịch thế giới OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch văn hóa không còn là một hướng nghiên cứu mới trong quá trình nghiên cứu phát triển du lịch trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, tuy nhiên du lịch văn hóa lại là một loại hình du lịch đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết trong quá trình nghiên cứu phát triển du lịch Hơn nữa, Việt Nam là một nước có bề dày lịch sử, mang những bản sắc văn hóa hấp dẫn và có tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa Mỗi vùng miền của Tổ quốc đều mang trong mình những dấu ấn lịch sử, các công trình kiến trúc và những nét văn hóa đặc sắc đó là điều kiện tiên quyết và thuận lợi để du lịch văn hóa phát triển

Thành phố Việt Trì được biết đến là vùng đất tổ, vùng đất thiêng, vùng đất cội nguồn của cộng đồng người Việt

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”

Những câu ca ấy đã in đậm trong tâm thức của mỗi người con dân đất Việt, như nhắc nhở các thế hệ con cháu Lạc Hồng nhớ về nguồn cội, về miền đất của tổ tiên với hàng ngàn năm lịch sử, nơi khởi nghiệp của 18 đời Vua Hùng với nền văn minh nông nghiệp từ thuở bình minh dựng nước

Tìm hiểu về vùng đất nàyđang dần trở thành nhu cầu chung của người dân Việt Nam Hơn nữa, vùng đất này được coi là cái nôi văn hóa, là nơi gắn với các truyền thuyết cha Rồng, mẹ Tiên, gắn với bình minh lịch sử thời các vua Hùng dựng nước

Việt Trì là một điểm đến mang nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, là điều kiện

để phát triển du lịch văn hóa Tuy nhiên, hiện nay hoạt động du lịch văn hóa Việt Trì vẫn đang dừng lại ở những việc khai thác mang tính mùa vụ của lễ hội Đền Hùng và các tài nguyên văn hóa vật thể Chưa đi sâu khai thác các giá trị văn hóa phi vật thể để phục vụ du lịch

Tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa

tại thành phố Việt Trì” cho luận văn của mình bởi tôi viết về vùng đất này như

đang tìm hiểu và viết về lịch sử của tổ tiên mình vậy Từ đó, tác giả có cái nhìn

Trang 10

sâu sắc hơn về văn hóa lịch sử của dân tộc Việt Nam Từ các giá trị văn hóa đó xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch, thu hút khách và thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch thành phố Việt Trì nói chung và du lịch văn hóa thành phố Việt Trì nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về du lịch văn hóa

Qua quá trình tìm hiểu, tác giả thấy du lịch văn hóa đã được nghiên cứu khá sớm trên thế giới và Việt Nam Các công trình nghiên cứu, các tài liệu tham khảo về du lịch văn hóa có thể kể đến như:

Du lịch văn hóa trở thành xu hướng phát triển của du lịch của thế giới Trên thế giớ đã có rất nhiều học giả nghiên cứu về loại hình du lịch này như “Du lịch văn hóa ở châu Âu” (Culture tourism in Europe - 1996) và “Du lịch văn hóa: Toàn cầu và địa phương” (Cultural tourism: Global and local perspectives – 2007) của tác giác Richard Greg (1996), hay tác giả Bob MC Mercher và Hilary

du cros đã viết “Du lịch văn hóa: Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý di sản văn hóa” (NXB Routledge – 2002) Trong kỷ yếu hội thảo năm 2009 về “Tác động của du lịch văn hóa” của OECD nêu bật vai trò của du lịch văn hóa, có thể phát triển ở mọi vùng lãnh thổ trên thế giới

Trong Cultural Tourism, tác giả Milena Ivanovic đã xếp du lịch khám

phá, tham quan, nghiên cứu di sản trong loại hình lớn là du lịch văn hóa

Tác giả Dallen J.Timothy and Gyan P.Nyaupane trong Cultural heritage

and tourism in the developing world: a regional perspective đã chỉ ra mối liên

hệ mật thiết giữa di sản văn hóa và du lịch trong tương quan mối liên hệ bao trùm là sự phát triển của thế giới

Borowiecki, KJ và C.Castiglione trong điều tra thực nghiệm trên các thành phố của Ý (2014 – Kinh tế du lịch) đã chứng minh rằng các điểm tham quan văn hóa và các sự kiện đặc biệt có sức mạnh giống như nam châm đối với

du lịch

Trong cuốn “Du lịch văn hóa ở Croatia (Cultural Tourism in Croatia), tác giả đã đưa ra kết quả cụ thể mà du lịch Croatia đạt được sau khi áp dụng chiến

Trang 11

lược phát triển kinh tế, từ đó chỉ ra du lịch văn hóa là một hướng đi đúng đắn và thực sự bền vững cho sự phát triển kinh tế của đất nước này

- Trần Thúy Anh (chủ biên), Giáo trình du lịch văn hóa những vấn đề lý

luận và nghiệp vụ, 2014 Qua tài liệu này tác giả giáo trình công bố hệ thống

kiến thức cơ bản về du lịch văn hóa từ góc tiếp cận vấn đề nghiên cứu của mình

- Phạm Bích Thủy, nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

Luận văn thạc sĩ Du lịch, 2011 nhằm đưa ra các giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở Thái Bình

- Vũ Thanh Ngọc, nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Lào Cai

Luận văn thạc sĩ du lịch, 2015 Công trình này nghiên cứu các thế mạnh về văn hóa và các dự án đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa của tỉnh để đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên văn hóa đem lại sự phát triển có hệ thống và bền vững cho du lịch văn hóa Lào Cai

Nghiên cứu về địa danh thành phố Việt Trì

Đã có các công trình nghiên cứu về các địa danh trên địa bàn thành phố Việt Trì, đặc biệt là vùng ngã ba Bạch Hạc Trong cuốn Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, GS Trần Quốc Vượng có viết 02 bài về vùng đất này: “Vĩnh Phú vị thế địa – chính trị và bản sắc địa – văn hóa”, và “Vị thế địa – văn hóa vùng đất Tổ”

“Việt Trì xưa và nay”, nhiều tác giả, NXB Sở Văn hóa Thông tin Thể thao tỉnh Phú Thọ - Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, Phú Thọ 2001 “Di tích lịch sử văn hóa thời đại Hùng Vương trên đất Việt Trì”, nhiều tác giả, NXB Sở Văn hóa Thông tin Thể thao tỉnh Phú Thọ, Phú Thọ 2006 Trần Phù Tiêu, Nghiên cứu điều tra khảo sát một số di tích lịch sử liên quan đến kinh đô Văn Lang và thời địa Hùng Vương ở Việt Trì để phục vụ cho phát triển du lịch, Việt Trì 2001 Qua các công trình đã được nghiên cứu tác giả luận văn có được nền tảng kiến thức về địa danh thành phố Việt Trì cũng như nguồn tài nguyên văn hóa tại vùng đất Tổ

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích

- Tìm hiểu những giá trị văn hóa ẩn sau mỗi địa danh của vùng đất Việt Trì

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa Việt Trì

- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch văn hóa Việt Trì

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống lại các vấn đề về du lịch văn hóa thông qua các tài liệu sơ cấp

và thứ cấp

- Thống kê nguồn tài nguyên, các điều kiện để phát triển du lịch văn hóa Việt Trì

- Phân tích và đánh giá thực trạng tài nguyên du lịch văn hóa tại Việt Trì

từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triển

4 Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn bao gồm:

+ Phương pháp thu thập thông tin, phân tích số liệu:Việc thu thập tài

liệu, số liệu là yêu cầu khách quan trong quá trình nghiên cứu Các số liệu phải đảm bảo tính cập nhật, chính xác Tài liệu, số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu bao gồm: số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết, các bài báo, thực tế khai thác, khảo sát

+ Phương pháp thực địa điền dã và điều tra xã hội học:Trong nghiên

cứu khoa học việc khảo sát thực tế điền dã và điều tra xã hội học là yếu tố không thể thiếu nhằm kiểm nghiệm một cách chính xác các vấn đề thu thập số liệu, đảm bảo tính khách quan và tính thuyết phục của công trình nghiên cứu Đối với công trình tác giả đã khảo sát tại một số điểm đến tiêu biểu là tiềm năng phát triển du lịch văn hóa của Việt Trì

+ Phương pháp thống kê, phân tích và đánh giá: Bằng các số liệu thu

thập được tác giả phân tích và xử lý số liệu bằng các bảng biểu nhằm đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa Việt Trì

Trang 13

+ Phương pháp miêu thuật:Đây là phương pháp mang tính chất phản

ánh trung thực về thực trạng của đối tượng nghiên cứu, tường thuật về địa hình, địa mạo, tường thuật về các sự kiện, truyền thuyết, các công trình kiến trúc của tài nguyên du lịch văn hóa nhằm giúp người đọc hiểu rõ về đối tượng nghiên cứu một cách tổng quan và cụ thể

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu tài nguyên văn hóa vật thể, phi vật thể và các điều kiện để phát triển du lịch văn hóa; Thực trạng tình hình hoạt động du lịch văn hóa tại thành phố Việt Trì trong những năm qua

Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian:

Luận văn tập chung tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị văn hóa và hoạt động

du lịch văn hóatrên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

+ Thời gian: Luận văn sử dụng số liệu từ năm 2010 đến nay

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ TÀI NGUYÊN

DU LỊCH VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 1.1.Lý luận về du lịch văn hoá

1.1.1 Khái niệm du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch đang trở thành xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi nó không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội Du lịch văn hóa cũng là một khái niệm có nhiều cách định nghĩa và cách hiểu khác nhau, bởi mỗi chủ thể nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau Hai khái niệm “du lịch văn hóa”

và “văn hóa du lịch” cũng được hiểu và phân biệt rõ ràng “Du lịch văn hóa” là một loại hình du lịch được xây dựng và phát triển dựa trên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của nền văn hóa bản địa, còn “văn hóa du lịch” lại là hành

Trong công ước quốc tế về du lịch văn hóa của Hội đồng quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS) năm 1999, đưa ra định nghĩa theo cách tiếp cận là nghiên cứu về di chỉ và di tích: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu

là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì lợi ích văn hóa - kinh tế - xã hội.”

Luật du lịch Việt Nam năm 2009 đưa ra một định nghĩa khác mà không giới hạn về đối tượng khách và các yếu tố của du lịch văn hóa: “Du lịch văn hóa

Trang 15

là hình thức dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.”

“Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim.”[1]

“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa.”[4,tr.98]

Như vậy, ta có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại hình du lịch phát triển dựa vào việc khai thác các giá trị văn hóa, kết hợp với các dịch vụ khác tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đáp ứng nhu cầu của du khách Nhưng đảm bảo lợi ích của những cá nhân, tập thể kinh doanh du lịch và cộng đồng địa phương

Du lịch văn hóa còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa và kết nối văn hóa vùng miền

1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử bởi vì những thay đổi về cơ cấu và lượng nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng như mang tính chất văn hóa, lịch sử Đồng thời tài nguyên du lịch cũng là một phạm trù động

Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định tại điều 4, chương I:

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch (trong sản phẩm du lịch, tài nguyên chiếm giá trị từ 80 - 90%) Chính sự phong phú, đa dạng, đặc sắc, mới mẻ của tài nguyên du lịch tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch Số lượng nguồn tài nguyên; chất lượng tài nguyên; mức độ kết hợp của chúng ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm

và hiệu quả hoạt động du lịch

Trang 16

Tài nguyên du lịch cũng đồng thời là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch

Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ du lịch Tài nguyên du lịch ảnh hưởng đến việc hình thành và chuyên môn hoá của vùng

du lịch và ảnh hưởng hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ Quy mô hoạt động

du lịch của một lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên

và nó quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng du khách

Tài nguyên du lịch thường có các đặc điểm sau:

- Tài nguyên du lịch rất đa dạng, bao gồm tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể

- Tài nguyên du lịch không bị suy giảm trong quá trình khai thác và nguồn tài nguyên này có thể được sử dụng với số lần không hạn chế, nếu như chúng được bảo vệ, tôn tạo và khai thác đúng cách

- Tài nguyên du lịch không phải là bất biến

- Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau, tạo nên tính mùa trong du lịch

- Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ, nên có sức hút cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và khách du lịch tới nơi tập trung các tài nguyên đó

- Tài nguyên du lịch là dạng đặc biệt, rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài, cho nên đòi hỏi được bảo vệ ở mức cao nhất

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích

du lịch”

Giá trị cao nhất của tài nguyên du lịch tự nhiên là các di sản thiên nhiên thế giới Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa chất, địa hình, địa mạo; khí hậu; tài nguyên nước; tài nguyên sinh vật…

Trang 17

Tài nguyên du lịch văn hoá

Khi nhắc đến tài nguyên du lịch nói chung, hầu hết các tài liệu đều chia tài nguyên du lịch thành hai loại chính là “tài nguyên du lịch tự nhiên” và “tài nguyên du lịch nhân văn” Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả

sử dụng thuật ngữ “tài nguyên du lịch văn hóa” để thể hiện rõ việc sử dụng văn hóa là nguồn lực để phát triển du lịch văn hóa

Theo luật Du lịch Việt Nam đã định nghĩa “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch

sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục

vụ mục đích du lịch.”

“Du lịch văn hóa sử dụng văn hóa như là nguồn lực Có hai loại tài nguyên thuộc về văn hóa được sử dụng trong loại hình du lịch này là: tài nguyên nhân văn và tài nguyên xã hội”[1,tr.15]

- Tài nguyên du lịch nhân văn: Là những của cải, vật chất và của cải tinh thần do con người sáng tạo ra, có khả năng thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch văn hóa

- Tài nguyên du lịch xã hội: Là những nét riêng biệt về phong tục, tập quán, quan niệm và phương thức sản xuất, sinh hoạt trong đời sống dân cư ở mỗi dân tộc

Tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội được khai thác nhằm phục vụ cho du lịch văn hóa được gọi chung là tài nguyên du lịch văn hóa Tài nguyên du lịch văn hóa mang một số tính chất chung như: Tính đa dạng, tính không dịch chuyển, tính hấp dẫn, tính độc đáo và đặc biệt là tính dễ tổn thất

Ta có thể hiểu tài nguyên du lịch văn hóa tồn tại ở hai dạng cơ bản là “tài nguyên văn hóa vật thể” và “tài nguyên văn hóa phi vật thể” Tài nguyên văn hóa vật thể là những sáng tạo của con người hiện hữu trong không gian mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan: thị giác, xúc giác Như di tích

Trang 18

lịch sử văn hóa, hàng thủ công mỹ nghệ, các công cụ lao động sản xuất, các món ăn,… Còn tài nguyên văn hóa phi vật thể là những yếu tố con người cảm nhận bằng tâm thức, cảm nhận gián tiếp “vô hình” chứ không thể nhìn, sờ thấy được như: lễ hội, các loại hình biểu diễn nghệ thuật, truyền thuyết,

Bảng 1.1: Tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể

Tài nguyên văn hóa vật thể Tài nguyên văn hóa phi vật thể

- Phương tiện sinh hoạt

- Tôn giáo, tín ngưỡng

- Các di sản truyền khẩu dân gian

- Nghệ thuật diễn xướng

Cùng với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn trở thành một trong những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia Du khách đến và cảm nhận những giá trị văn hóa của các di sản văn hóa, khám phá và thưởng thức những giá trị văn hóa đó và những thành tựu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của điểm đến Tài nguyên du lịch văn hóa cũng góp phần quyết định đến quy mô, hình thức, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến

Đặc trưng của tài nguyên du lịch văn hóa là: đa dạng, hấp dẫn, độc đáo, không dịch chuyển, và dễ bị mai một Tuy nhiên, không phải tài nguyên văn hóa nào cũng trở thành tài nguyên du lịch văn hóa, mà chỉ những yếu tố văn hóa có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch, mang lại hiệu quả kinh tế, văn hóa, xã hội…cho những bên liên quan Hiện nay, tài nguyên du

Trang 19

lịch văn hóa thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia.Trong quá trình khai thác phục vụ du lịch, tài nguyên du lịch cũng dễ bị mai một, thay đổi, mất dần đi bản sắc văn hóa Vì vậy, trong quá trình khai thác phát triển du lịch cần nâng cao ý thức việc bảo vệ tính độc đáo, đặc sắc, nguyên vẹn giá trị của tài nguyên, đó cũng là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch, và phát triển du lịch bền vững

1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa

Điểm đến du lịch văn hóa cũng là điểm đến du lịch Đó là một khái niệm khá rộng, đó có thể là một điểm tham quan du lịch hoặc là một vùng địa giới hành chính chứa nhiều điểm tham quan hấp dẫn

Theo khái niệm của tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO – 2004: “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất một đêm Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”

Theo điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa: “Điểm du lịch

là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”

Mỗi điểm đến du lịch có các yếu tố cấu thành: tài nguyên du lịch hấp dẫn, các cơ sở đáp ứng nhu cầu của khách du lịch (ăn, ở, đi lại, vui chơ giải trí, thăm quan, mua sắm…)

Như vậy, ta có thể hiểu điểm đến du lịch văn hóa là những điểm có tài nguyên văn hóa, có khả năng hấp dẫn khách du lịch: hoạt động kinh doanh du lịch văn hóa có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững

1.1.4 Sản phẩm du lịch văn hóa

Sản phẩm du lịch văn hóa vừa là sản phẩm văn hóa vừa là sản phẩm du lịch Sản phẩm văn hóa được sinh ra trước sản phẩm du lịch, bởi văn hóa là

Trang 20

những thứ con người sáng tạo ra, vì vậy ở đâu có con người thì ở đó có văn hóa,

có sản phẩm văn hóa Mọi sản phẩm văn hóa thuộc về con người

Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ

cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch.”

Tuy nhiên, tiếp cận theo hướng kinh tế thì sản phẩm du lịch được định

nghĩa: “sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách, được

tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.”[5]

Trên thực tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang những sắc tố văn hóa sâu sắc Hoạt động du lịch mang đến cho du khách những sản phẩm chứa đựng những sắc thái văn hóa bản địa Sản phẩm văn hóa chỉ trở thành sản phẩm

du lịch khi nó tham gia vào các quá trình của hoạt động kinh doanh du lịch, đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch Khi đó các sản phẩm văn hóa đó được mang tên sản phẩm du lịch văn hóa

“Sản phẩm du lịch văn hóa phải là sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch văn hóa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá và trải nghiệm của du khách về những điều khác biệt, mới lạ của các nền văn hóa khác nhau”[6]

Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch văn hóa có sự gắn bó nhưng cũng

có nhiều sự khác biệt như:[14,tr33]

Trang 21

+ Dùng cho tất cả các đối tượng khác

nhau, phục vụ mọi người

+ Sản xuất ra không phải để bán, chủ

yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn

hóa – tinh thần của cư dân bản địa

+ Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị

không đo được hết bằng giá cả

+ Quy mô hạn chế, thời gian và không

gian xác định

+ Sản phẩm mang nặng định tính, khó

xác định định lượng Giá trị của sản

phẩm mang tính vô hình thể hiện qua

+ Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ những đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch

+ Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế

- xã hội Giá trị được đo bằng giá cả + Quy mô không hạn chế, thời gian và không gian không xác định

+ Định tính, định lượng được thể hiện qua thời gian hoạt động Giá trị của sản phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số kinh tế thu được

Như vậy ta có thể hiểu, sản phẩm du lịch văn hóa là sản phẩm du lịch

được khai thác từ những giá trị văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa, nó khác biệt với sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch tự nhiên Tuy nhiên hiện nay

chưa có sự phân biệt rõ ràng, chính xác Yếu tố “lạ” trong sản phẩm du lịch văn hóa là sự hấp dẫn và được làm nên bởi sự khác biệt văn hóa của mỗi vùng miền

Từ đó kích thích đến tính tò mò, ham khám phá của du khách Sự đa dạng văn hóa chính là sự sống của du lịch văn hóa, bởi sự đa dạng văn hóa làm nên yếu tố mới lạ, là nguyên liệu để tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa mới, độc đáo, riêng có của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia

Trang 22

1.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa

Trong hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố cơ bản để hoạt động du lịch được diễn ra có hiệu quả

Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch là toàn bộ yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội được huy động tham gia vào việc khai thác tài nguyên du lịch nhằm tạo ra sản phẩm du lịch (dịch vụ và hàng hóa), thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch cho cuộc hành trình của họ Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch bao gồm: cơ sở vật chất của bản thân ngành du lịch (nhà hàng, khách sạn, hệ thống điện, nước, vệ sinh…) được xây dựng tại điểm du lịch để phục vụ khách; cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác có liên quan (mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, y tế, an ninh, điện, nước của vùng…)

Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch được hiểu là toàn bộ những cơ sở hạ tầng,vật chất, kỹ thuật được các cá nhân, tập thể đầu tư xây dựng

để phục vụ cho hoạt động du lịch như nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí, các phương tiện truyền thông, phương tiện vận chuyển… và các công trình bổ trợ khác gắn liền với hoạt động du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch và chất lượng của sản phẩm du lịch Vì vậy, sự phát triển của hoạt động du lịch gắn liền với việc xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật

Như vậy, chúng ta có thể hiểu cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa

là toàn bộ cơ sở vật chất của các ngành kinh tế khác (nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin…) có liên quan tới ngành du lịch và cơ sở vật chất của bản thân các điểm du lịch văn hóa, các di sản văn hóa, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch văn hóa, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch văn hóa, tạo điều kiện cho du lịch văn hóa phát triển

Trang 23

1.1.6 Khách du lịch văn hóa

Cũng như định nghĩa về sản phẩm du lịch, hay điểm đến du lịch… thì khách du lịch cũng được định nghĩa bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau Vì vậy, các định nghĩa về khách du lịch cũngkhông hoàn toàn giống nhau

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa: “Khách du lịch là người

đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến” Hoặc có một cách tiếp cận khác: “Du khách

là người từ nơi khác đến với hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống.”[17, tr.20]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu khách du lịch văn hóa trước hết là khách du lịch, nhưng những vị khách này quan tâm đến việc khai thác, tìm hiểu, khám phá

về văn hóa như tìm hiểu về các di sản văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán của một vùng hoặc một địa phương nào đó Họ là những người từ nơi khác đến nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu thưởng thức tại chỗ những giá trị văn hóa vô hình hay hữu hình của các di sản văn hóa của một cộng đồng xã hội nhất định Khách du lịch văn hóa cũng có những nhu cầu và mục đích khác nhau, vì vậy mỗi điểm đến du lịch văn hóa, các cá nhân, tập thể kinh doanh hoạt động du lịch văn hóa cũng cần có chính sách xây dựng đa dạng sản phẩm du lịch văn hóa để

có thể đáp ứng nhu cầu của khách du lịch văn hóa

1.2 Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội tác động đến du lịch văn hóa

Hoạt động du lịch văn hóa cũng như các loại hình du lịch khác, đều bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nhiều yếu tố khác nhau trong đó đặc biệt quan trọng là các nhân tố thuộc nhóm kinh tế - chính trị - xã hội

1.2.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực làm việc trong ngành du lịch được hiểu là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển và hoạt động du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp là những người tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ khách du lịch, họ làm

Trang 24

việc trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các đơn vị sự nghiệp

du lịch và các đơn vị kinh doanh du lịch; lao động gián tiếp là những lao động làm việc trong các ngành khác, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như trong văn hoá, hải quan, giao thông, thương mại, dịch vụ công cộng, môi trường, bưu chính viễn thông, cộng đồng dân cư…

Để đáp ứng những nhu cầu của du khách thì nhân lực du lịch là lực lượng quan trọng hàng đầu, tạo nên các sản phẩm dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng và độc đáo, hấp dẫn du khách.Sản phẩm du lịch là sản phẩm dịch vụ mang tính hữu hình nên chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người

Đối với du lịch văn hóa cũng vậy, nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch văn hóa là tất cả những người lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch văn hóa, và hoạt động du lịch văn hóa tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa kể cả trực tiếp hay gián tiếp

1.2.2 Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội

Xã hội ngày càng phát triển, điều kiện sống của con người ngày càng được nâng cao, mục tiêu sống của con người không chỉ là “ăn no, mặc ấm” hay

“ăn ngon, mặc đẹp và hưởng thụ nữa” mà giờ đây con người còn chú trọng đến

sự an toàn cho bản thân và những người thân của họ.Một trong những yếu tố hấp dẫn du khách của một điểm đến du lịch đó là tính an toàn của du khách Điều kiện an ninh đảm bảo, tình hình chính trị ổn định không có bạo loạn tạo tâm lý yên tâm cho du khách, cũng là cơ sở cho việc hình thành và phát triển các mối quan hệ ở mọi lĩnh vực tại mối địa phương nói riêng và trên thế giới nói chung, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay Trên thực tế, những đất nước hòa bình, ổn định thường thu hút khách du lịch đến thăm quan và có thời gian lưu trú dài ngày hơn Như vậy, hòa bình và ổn định chính trị là đòn bẩy cho hoạt động du lịch phát triển Ngược lại, du lịch có tác động trở lại đến việc củng

cố hòa bình

Trang 25

1.2.3 Cách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế

Cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế, công cụ lao động phát triển người lao động cũng được nhàn hơn Tuy nhiên, sự nhàn hơn ấy chỉ đối với việc lao động chân tay, còn cường độ và sự căng thẳng trong lao động lại tăng lên với tốc độ tỷ lệ thuận tương ứng với tốc

độ nhàn đi, dẫn đến tình trạng stress, căng thẳng đầu óc từ đó có nhu cầu đi du lịch nhằm giải trí, thư giãn Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến

sự phát triển của hoạt động du lịch Mặt khác, khoa học công nghệ phát triển du khách có thể có nhiều sự lựa chọn cho các kỳ nghỉ, có thể tìm hiểu thông tin và các dịch vụ của điểm đến trước, chất lượng các chuyến đi được nâng cao

Đối với du lịch văn hóa, khoa học công nghệ phát triển,thông tin về các điểm du lịch văn hóa, các di sản văn hoá… Được truyền đi với tốc độ chóng mặt, hình ảnh hấp dẫn, kích thích trí tò mò của con người, thúc đẩy con người có nhu cầu “mục sở thị” để được cảm nhận và khám phá những giá trị tinh thần và vật chất của tài nguyên văn hóa Như vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ cũng đồng hành và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng

1.2.4 Đô thị hóa

Đô thị hóa có những đóng góp to lớn trong việc cải thiện điều kiện sống cho người dân về phương tiện vật chất và văn hóa, thay đổi tâm lý và hành vi của con người Đối với xã hội nói chung quá trình đô thị hóa làm biến đổi các điều kiện sống tự nhiên, tách con người ra khỏi môi trường tự nhiên xung quanh, thay đổi bầu không khí và các quá trình khác của tự nhiên Tất cả điều đó, trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Hàng loạt các yếu tố như mật độ dân cư dày đặc, lao động căng thẳng, tần số tiếp xúc cao, tiếng ồn quá lớn trở thành nguyên nhân của hiện tượng stress trong xã hội hiện đại Cùng với sự phát triển của đô thị hóa, văn hóa bản địa của mỗi vùng, miền

bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhiều phong tục, tập quán của nhóm dân cư dần bị mai một, mất đi, đòi hỏi phải có những chính sách bảo tồn, và phát huy theo định hướng phát triển bền vững

Trang 26

1.2.5 Điều kiện sống

Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, giáo dục

Cùng với việc mức tăng thu nhập thực tế, các điều kiện sống khác có liên quan cũng được cải thiện Mục đích sống của con người không phải là “ăn no, mặc ấm” nữa mà là “ăn ngon, mặc đẹp và hưởng thụ” Các phương tiện đi lại của cá nhân (đặc biệt là ô tô) tăng lên, góp phần phát triển rộng rãi hoạt động du lịch, tăng cường tính cơ động của dân cư trong quá trình nghỉ ngơi, du lịch

1.2.6 Thời gian rỗi

Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó một phần diễn

ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người.Đây là khoảng thời gian cần thiết để con người nâng cao học vấn, phát triển trí tuệ, hoàn thành các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè và vui chơi…

Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người cần phải có thời gian Do vậy, thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải

có để con người tham gia vào hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng

1.2.7 Chính sách phát triển du lịch văn hóa

Cùng với sự phát triển không ngừng của ngành du lịch, các di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) đều đã, đang và sẽ trở thành nguồn tài nguyên quan trọng được đưa vào khai thác và thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói chung và

du lịch văn hóa nói riêng Vì vậy, để có được hiệu quả trong quá trình khai thác hoạt động du lịch văn hóa chắc chắn phải có những chính sách cho sự phát triển của du lịch văn hóa được đúng đắn Đặc biệt quan trọng đó là chính sách trong công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản văn hóa Theo Luật

Du lịch Việt Nam có những quy định quản lý nhà nước về du lịch, vì vậy có thể coi quản lý du lịch văn hóa là trách nhiệm của cơ quan nhà nước Từ đó, các cơ quan nhà nước đưa ra những chính sách phát triển du lịch văn hóa cho phù hợp

Trang 27

để đảm bảo hoạt động du lịch văn hóa mang lại hiệu quả cao nhưng cũng song hành cùng với quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị của tài nguyên văn hóa

1.2.8 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa

Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản văn hóa là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng để khai thác và phát triển loại hình du lịch này hiệu quả theo hướng bền vững Đây được coi là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của các cấp chính quyền địa phương Mỗi cơ quan khác nhau sẽ có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong công tác quản lý, tuy nhiên đều hướng đến đối tượng là du lịch văn hóa bao gồm: điểm đến văn hóa,

di sản văn hóa, tài nguyên du lich văn hóa…

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch văn hóa

Căn cứ vào điều 10, luật du lịch Việt Nam quy định nội dung quản lý nhà nước về du lịch từ đó suy ra các chức năng và nhiệm vụ trong việc tổ chức quản

lý du lịch văn hóa của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương và các đơn vị kinh doanh du lịch như sau:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển du lịch văn hóa

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, các tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật của hoạt động du lịch văn hóa trong phạm vi pháp luật du lịch

- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch văn hóa

- Tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch văn hóa; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa, xác định khu du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa, tuyến du lịch văn hóa để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch văn hóa

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế và hoạt động xúc tiến du lịch văn hóa

ở trong và ngoài nước

- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch văn hóa

Trang 28

- Quy định trách nhiệm cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch văn hóa

- Kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch văn hóa

Đối với chính quyền địa phương

Theo sự phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm của chính phủ, UBND cấp tỉnh, cấp thành phố có trách nhiệm thực hiện đúng và tốt nhiệm vụ được phân công trong công tác quản lý nhà nước về du lịch văn hóa ở từng địa phương Việc quản

lý phải được cụ thể hóa trong công tác quy hoạch, ban hành quy chế, các chính sách phát triển du lịch văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương

Đối với cơ sở kinh doanh du lịch văn hóa

Các cơ sở kinh doanh du lịch văn hóa phải chấp hành mọi quy định của nhà nước về tổ chức, quản lý các hoạt động có liên quan đến du lịch văn hóa Bên cạnh việc khai thác có hiệu quả các giá trị di sản văn hóa, các doanh nghiệp phải biết giữ gìn và tôn tạo nguồn tài nguyên vô giá này để hoạt động kinh doanh phát triển bền vững

1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa

1.3.1.Kinh nghiệm nước ngoài

Du lịch văn hóa trở thành xu hướng phát triển của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là khi nhắc đến khu vực Châu Á, du khách sẽ không thể không biết tới những đất nước có những điểm du lịch văn hóa nổi tiếng như: Chiang Mai – Thái Lan; thành phố Yongin, tỉnh Gyeonggi – Hàn Quốc; Bali – Indonexia; LuangPrabang – lào; hay Campuchia Mỗi đất nước có những chính sách, quy hoạch cho sự phát triển của du lịch văn hóa khác nhau

Chiang Mai – Thái Lan – một trong những cố đô của quốc gia Lanna trước thời công hữu Hiện nay, Chiang Mai đã và đang trở thành một trong những điểm đến du lịch văn hóa hấp dẫn của Thái Lan Khách du lịch biết đến Chiang Mai là một điểm du lịch văn hóa nổi tiếng Tại nơi đây, qua những tour

Trang 29

du lịch, du khách được thăm quan, khám phá và tìm hiểu những ngôi làng của người dân vùng cao như Yao, Akha và làng cổ dài Karen Làng cổ dài Karen (Karen Long Neck Village) nằm cách thành phố Chiang Mai khoảng 180km về phía Tây Bắc Dân làng vốn gốc là tộc người Karen chạy từ Burma (Miyamar) sang Thái Lan để tránh cuộc nội chiến của đất nước này Hiện nay, chính phủ Thái Lan xây dựng với mục đích thu hút du khách, như một trong những điểm đến văn hóa-du lịch “đặc sản” của miền Bắc Thái Lan Đến nơi đây, du khách có

cơ hội tìm hiểu phần nào đời sống, nét văn hóa, phong tục tập quán của bộ tộc

cổ dài Karen Du khách đến đây sẽ nhìn thấy hình ảnh đặc trưng của làng cổ dài Karen đó là những phụ nữ có những chiếc cổ dài, được trang sức bằng những chiếc vòng kim loại quấn quanh cổ, những chiếc vòng kim loại còn được quấn quanh cả tay, đầu gối, và cẳng chân của họ, nó không chỉ đơn thuần là đồ trang sức mà còn là vật bảo vệ họ khỏi sự tấn công của thú dữ Những hình ảnh này trở thành “đặc sản” của văn hóa nơi đây Tục lệ đeo vòng được bắt đầu cho những bé gái 5 tuổi trở lên, mỗi năm số vòng của họ lại được tăng lên một cái

Hầu hết du khách đến đây thường rất tò mò và hào hứng trải nghiệm cảm giác đeo những chiếc vòng cổ nặng trịch lên cổ thế nào với những chiếc vòng giả nhỏ hơn rất nhiều được bày bán như một món đồ lưu niệm

Trang 30

Chiang Mai còn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc như giữ gìn tiếng địa phương, phong tục và cách nấu nướng của người dân bản địa, những trang phục

bộ lạc sặc sỡ Đó là những nét văn hóa riêng có tại Chiang Mai

Thành phố Yongin, tỉnh Gyeonggi – Hàn Quốc được coi là bảo tàng sống ngoài trời, là nơi lưu giữ, tái hiện và trưng bày các giá trị văn hóa của Hàn Quốc với khoảng 30 ngôi làng cổ tọa lạc trên diện tích 660.000m2 , hội tụ những ngôi nhà cổ, trường học, các công trình kiến trúc cổ, ngành nghề truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội… Hoạt động du lịch ở đây được tổ chức có hệ thống hài hòa với các điều kiện tự nhiên và xã hội, nhân viên khoác trên mình những bộ trang phục truyền thống (hanbok) sẵn sàng chỉ dẫn cho khách hàng từ cửa ra vào đến các dịch vụ bên trong với thái độ thân thiện, nhiệt tình và hiếu khách Các bảng, biển chỉ dẫn được đặt ở các vị trí thuận tiện để du khách quan sát bằng 3 thứ tiếng (Hàn, Anh, Trung) Vấn đề vệ sinh môi trường luôn được chú trọng, đặc biệt là vẫn đề rác thải Các thùng rác với nhiều hình dạng, kích thước và màu sắc khác nhau được đặt dọc theo các đường đi Tại mỗi nơi, mỗi khu vực được phân chia theo những chức năng, nội dung khác nhau đều được trưng bày các hiện vật cổ có giá trị lịch sử và văn hóa nhằm tái hiện lại đời sống sinh hoạt, sản xuất của cư dân Hàn trong quá khứ như: khu nhà cổ, khu nghề thủ công truyền thống, khu trờ chơi dân gian, khu tái hiện nghi lễ truyền thống… Đến nơi đây du khách được chiêm ngưỡng hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính truyền thống của cư dân Hàn

Mô hình làng cổ của Hàn Quốc được coi như một bảo tàng ngoài trời lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của đất nước, con người Hàn Quốc trong chiều dài lịch sử Đây cũng là một trong những điểm du lịch hấp dẫn và thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế của Hàn Quốc

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

Với bề dày lịch sử của Việt Nam, du lịch văn hóa là loại hình du lịch đã

và đang được định hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam Hiện nay, du lịch văn hóa Việt Nam chủ yếu khai thác các di tích lịch sử, di tích văn hóa, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn truyền thống, phong tục tập quán, làng nghề truyền

Trang 31

thống … để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế Du lịch văn hóa cũng

đã mang lại những hiệu quả rõ rệt về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường cũng như việc trùng tu và bảo tồn các di tích, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa Tại một số địa phương du lịch văn hóa đã được chú trọng và xây dựng các chính sách, chiến lược phát triển

Hội An: trở thành cái tên quen thuộc đối với du khách trong nước và quốc

tế với khu phố cổ được xây dựng từ thế kỷ XVI cho đến nay vẫn gần như còn nguyên vẹn Chính quyền địa phương ở đây đã làm tốt công tác bảo tồn và tuyên truyền giáo dục cộng đồng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa bản địa Quá trình trùng tu, cải tạo các công trình kiến trúc nhà cổ tại Hội An sẽ được nhà nước hỗ trợ kinh phí và lấy ý kiến của các chuyên gia để giữ được các nét kiến trúc cổ truyền thống Nhờ sự nỗ lực lớn trong bảo tồn khu phố cổ Hội An, đặc biệt là kiến trúc khu phố cổ, nên ngày 4 tháng 12 năm 1999, Tổ chức Văn hóa – Khoa học – Giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO đã ghi tên Hội An vào danh mục các

di sản Văn hóa thế giới.Năm 2008, Hội An lại được vinh hạnh được trở thành thành phố trực thuộc tỉnh – Thành phố Hội An.[22, tr.32] Nếp sinh hoạt của cộng đồng địa phương được duy trì và đặc biệt các gia đình làm nghề truyền thống sẽ được khuyến khích để giữ gìn và phát huy Đến với Hội An du khách được trải nghiệm nhiều sản phẩm du lịch khác nhau tránh sự nhàm chán, đơn điệu và kéo dài thời gian lưu trú tại điểm đến hấp dẫn này

Mai Châu – Hòa Bình:Được biết đến là một trong những điểm đến du

lịch văn hóa của miền Bắc Việt Nam, người dân sinh sống ở đây chủ yếu là dân tộc Thái xưa kia gọi là Mường Mun Dân tộc Thái tại Mai Châu sống khá tập trung và giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống, đặc biệt là nhà sàn của người Thái Khi đến với Mai Châu du khách được biết đến các địa danh như bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn…ngoài ra còn có các di tích, di chỉ khảo cổ học như hang Láng, hang Khẩu Phục…

Mai Châu phát triển du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào giá trị văn hóa bản địa, phong tục tập quán của dân tộc Thái còn gìn giữ được ở nơi đây Tuy nhiên, trong thời gian ngắn trở lại đây do chất lượng dịch vụ chưa cao, nhân lực du lịch

Trang 32

còn nhiều hạn chế, nhiều phong tục tập quán đang bị mai một, thương mại hóa; cảnh quan thiên nhiên không còn giữ được vẻ hoang sơ, các công trình nhà ở kiên cố mọc lên xen kẽ giữa các bản làng thay cho những ngôi nhà sàn truyền thống; chưa xây dựng được các sản phẩm du lịch độc đáo và đa dạng thu hút du khách; công tác quảng bá du lịch chưa được quan tâm đầu tư, tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường chưa được quan tâm giải quyết; việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống chưa được quan tâm đúng mức… từ đó làm giảm đi giá trịdu lịch của địa phương Vì vậy, để hoạt động du lịch văn hóa phát triển và mang lại hiệu quả cao đòi hỏi chính quyền địa phương cần có những giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn liền với các giá trị văn hóa truyền thống; tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên tại các đơn vị kinh doanh du lịch và người dân tại các điểm du lịch; niêm yết công khai giá dịch vụ, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa trước hết thể hiện qua trang phục, vận động nhân dân các bản du lịch mặc trang phục dân tộc Thái…

1.4 Tài nguyên du lịch văn hoá thành phố Việt Trì

1.4.1 Khái quát về thành phố Việt Trì

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thành phố Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ, có tọa độ địa lý là 21024’ vĩ độ Bắc, 106012’ kinh độ Đông Cách thành phố Hà Nội 80km

về phía Tây Bắc, Việt Trì là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ quốc

Toàn bộ địa giới hành chính thành phố Việt Trì gồm 23 đơn vị hành chính, bao gồm 13 phường và 10 xã, có diện tích 11310 ha, ranh giới được xác định như sau: phía Bắc giáp thị trấn Phong Châu và xã An Đạo, huyện Phù Ninh; phía Đông giáp sông Lô và xã Vĩnh Phú, huyện Phù Ninh; phía Nam giáp sông Hồng; phía Tây giáp xã Thạch Sơn và thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao

Việt Trì là vùng đất nằm ở vị trí chuyển tiếp từ địa hình đồi núi sang địa hình đồng bằng, đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng Từ trung tâm Thành phố

Trang 33

nhìn về phía Tây Nam là núi Ba Vì, phía Đông Bắc là dãy núi Tam Đảo Ở phía Tây - Tây Bắc thành phố là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ các vua Hùng

Về mặt địa chất, đất đai ở Việt Trì thuộc vùng đất cổ có niên đại cách đây

từ 50 đến 200 triệu năm Theo tài liệu khảo cổ học cách ngày nay khoảng 2 vạn năm, ở đây đã có sự định cư của người Việt cổ Khoảng hơn 2000 năm trước Vua Hùng đã chọn nơi này làm đất đóng đô của nhà nước Văn Lang

Thành phố Việt Trì nằm tiếp giáp giữa vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc Có vị trí địa lý mang ý nghĩa trọng yếu của vùng Tây Đông Bắc Đây là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những lợi thế cần được phát huy triệt để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ nói chung và Việt Trì nói riêng

Thành phố Việt Trì là đầu mối giao thông quan trọng của vùng, có hệ thống giao thông đường bộ gắn liền với hệ thống giao thông quốc gia và quốc tế (đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng); đường sông từ các phía Tây, Đông, Bắc quy tụ về rồi đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh khác Cảng Việt Trì được xác định là cảng trung tâm đường thủy nội địa của Vùng Sân bay Quốc tế Nội Bài cách thành phố Việt Trì khoảng 50km, là yếu tố quan trọng để Việt Trì phát triển với vai trò đô thị trung tâm vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Trì có vị trí thuận lợi, nguồn nước phong phú, nằm trên các tuyến trục giao thông quan trọng, có nhiều di tích văn hóa lịch

sử, cảnh quan đẹp, trung tâm vùng, có đất đai xây dựng thuận lợi, có nhiều điều kiện để phát triển thành đô thị lớn trong tương lai

Việt Trì nằm trên tuyến du lịch quốc gia và quốc tế Hà Nội - Đền Hùng - Sapa - Côn Minh (Trung Quốc), Hạ Long - Yên Tử - Côn Sơn - Kiếp Bạc - Bắc Ninh - Đền Hùng Tuyến du lịch đường sắt nối vùng ATK qua Đền Hùng - Ba

Vì - Tam Trúc - Ba Sao (Hà Nam) - Bái Đính (Ninh Bình) - ra biển, đây là tuyến

du lịch quan trọng góp phần cho thành phố phát triển Đặc biệt Đền Hùng hàng năm có hàng triệu khách sẽ là động lực lớn phát triển của đô thị Việt Trì Đền Hùng là trung tâm văn hóa tâm linh của cả nước cùng với đó là nhiều di tích văn hóa lịch sử, kiến trúc rất đặc sắc và phong phú Nếu kết nối tốt các không gian

Trang 34

du lịch, danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa lịch sử kiến trúc trong tỉnh và phối hợp với các tỉnh vùng Bắc Bộ thì sẽ trở thành không gian du lịch vô cùng hấp dẫn

Trang 35

về châu Thao Giang, lộ Tam Giang Thời nhà Lê, Việt Trì là một thôn thuộc xã Bạch Hạc, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây Đầu thời Nguyễn, địa giới Việt Trì cơ bản vẫn giữ như thời Hậu Lê Năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong cả nước thành tỉnh Thôn Việt Trì thuộc về xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái; sau đổi thành phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây.

Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp xáo trộn lại các đơn vị hành chính cũ, lập ra những tỉnh mới nhỏ hơn trước để dễ quản lý và đàn áp Việt Trì tách khỏi xã Bạch Hạc, trở thành một làng trong tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì; còn xã Bạch Hạc vẫn nằm trong huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên Nhận rõ Việt Trì là cửa ngõ án ngữ các tuyến đường giao thông thủy, bộ ở phía Bắc Việt Nam, không chỉ

có vị trí quan trọng về mặt kinh tế mà còn là tiền đồn trọng điểm về quân sự, ngày 22/10/1907, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị xã Việt Trì và đặt trung tâm huyện lỵ Hạc Trì tại đây

Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Việt Trì thuộc liên xã Sông Lô bao gồm các xã: Lâu Hạ, Hạ Giáp, Thuần Lương, Việt Trì làng và Việt Trì phố Tháng 2/1945, thị trấn Việt Trì được tái lập gồm ba khu phố: Thuần Lương, Việt Hưng và Việt Lợi Ngày 7/6/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định cho sáp nhập xã Phong Châu thuộc thi trấn Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phúc về thị trấn Việt Trì và chuyển thành thị xã Việt Trì Ngày 1/9/1960, Chính phủ quyết định sáp nhập 4 xã: Minh Khai, Minh Phương, Lâu Thượng, Tân Dân cảu huyện Hạc Trì vào thị xã Việt Trì

Ngày 4/6/1962, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 65/CP thành lập Thành phố Việt Trì trực thuộc tỉnh Phú Thọ Cũng trong năm này, Chính phủ ra quyết định

Trang 36

giải thể huyện Hạc Trì, chuyển 2 xã: Hùng Thao (nay là xã Cao Xá) và xã Thống Nhất (nay là xã Thụ Vân) nhập vào huyện Lâm Thao, những xã còn lại nhập vào Thành phố Việt Trì Đến lúc này, thành phố Việt Trì gồm: thị trấn Bạch Hạc, thị xã Việt Trì và 7 xã: Quất Thượng, Chính Nghĩa (nay là địa bàn phường Tiên Cát, Thọ Sơn, Thanh Miếu

và Bến Gót), Minh Khai (nay là xã Minh Phương), Tân Dân, Dữu Lâu, Lâu Thượng, Minh Nông

Ngày 26/1/1968, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, có tỉnh lỵ là Thành phố Việt Trì; các xã: Quất Thượng, Lâu Thượng và Sông Lô hợp nhất thành xã Trưng Vương

Ngày 5/7/1977, Hội đồng Chính Phủ ra Quyết định hợp nhất và điều chỉnh địa giới 1 số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú Các xã Vân Phú, Phượng Lâu của huyện Phù Ninh, xã Thụy Vân của huyện Lâm Thao, thôn Mộ Chu Hạ, thôn Lang Đài của xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường sáp nhập về thành phố Việt Trì

Ngày 13/1/1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định phân vạch địa giới xã, phường của Thành phố Việt Trì Theo đó, thị trấn Bạch Hạc giải thể để thành lập phường Bạch Hạc; đồng thời chia lại các phường cũ, lập các phường mới Thời điểm này, thành phố Việt Trì gồm 8 phường là: Bạch Hạc, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ, Tân Dân và 8 xã là: Thuỵ Vân, Minh Nông, Minh Phương, Vân Phú, Phượng Lâu, Dữu Lâu, Sông Lô và Trưng Vương

Ngày 6/11/1996, Quốc hội khoá IX ra Nghị Quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Thành phố Việt Trì tiếp tục là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá của tỉnh Phú Thọ Ngày 8/4/2002, Chính phủ ra Nghị định số 39- NĐ/CP, thành lập phường Dữu Lâu và phường Bến Gót thuộc thành phố Việt Trì

Sau nhiều năm tập trung đầu tư xây dựng và phát triển, ngày 14/10/2004, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 180/QĐ- TTg công nhận thành phố Việt Trì là đô thị loại 2 Mở rộng diện tích, tăng quy mô dân số, thực hiện Nghị định của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các xã: Chu Hoá, Hy Cương, Thanh Đình (huyện Lâm Thao); Hùng Lô, Kim Đức (thuộc huyện Phù Ninh); Tân Đức (huyện Ba Vì) được

Trang 37

sáp nhập về TP Việt Trì Thành phố cũng đã thực hiện đầu tư nâng cấp xã lên phường

là Minh Nông, Minh Phương và Vân Phú

Như vậy, đến thời điểm này, thành phố Việt Trì có 23 đơn vị hành chính gồm 13 phường là: Bạch Hạc, Bến Gót, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Gia Cẩm, Tiên Cát, Tân Dân, Nông Trang, Vân Cơ, Dữu Lâu, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú và 10 xã gồm: Sông Lô, Trưng Vương, Phượng Lâu, Thuỵ Vân, Thanh Đình, Chu Hoá, Hy Cương, Kim Đức, Hùng Lô và Tân Đức

Đặc điểm dân cƣ, xã hội

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi thành phố Việt Trì là nơi hội tụ của nhiều nhóm dân cư mang sắc thái đa dạng trong một thể thống nhất Dân số khoảng 283.995 người (năm 2013)[23], với tỷ lệ thành thị chiếm 74,14%, nông thôn 25,86%

Trang 38

Việt Trì là một trong những thành phố công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam và có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế với đa dạng các ngành: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

Việt Trì là một vùng đất cổ, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc định cư và phát triển nông nghiệp, nơi đây đã sớm có dấu vết cư trú của người Việt cổ Hàng trăm

di chỉ khảo cổ cũng được phát hiện trên vùng đất Tổ Trên điạ bàn các nhà khảo cổ còn tìm thấy dấu vết của các thời kì văn hoá Phùng Nguyên - Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn có niên đại từ 4000 đến 2500 năm cách ngày nay Hàng loạt công cụ sản xuất được tìm thấy (từ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt) là những bước tiến sáng tạo mới, là sự thay đổi phương thức sản xuất kéo theo là sự thay đổi của các mối quan hệ sản xuất và thượng tầng kiến trúc tương xứng có thể nói những cư dân đầu tiên nơi đấy đã góp phần và quá trình tiến hoá chung của cả cộng đồng, quá trình xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng nền tảng dân tộc Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam

Lịch sử ghi nhận từ thế kỉ X trở đi, đã có nhiều dòng người đến nhập cư vùng đất

Tổ Căn cứ theo gia phả các bản tộc mà các dòng họ Hoàng, họ Triệu, họ Đào hiện đang lưu giữ thì từ thế kỉ XV trở đi người đến vùng này làm ăn sinh sống khá đông và còn

có sự kết nghĩa giữa các dòng họ

Từ sau cách mạng tháng 8 đến nay, vùng đất này ngày càng có sự thay đổi do những cuộc cải cách nông nghiệp, định canh định cư, khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới, phát triển kinh tế đồi rừng Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên đã thu hút đông đảo cán bộ công nhân từ nơi khác đến, rồi các đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn … làm cho cư dân ngày càng đông đúc, đa dạng

Cơ cấu tổ chức hành chính ngày xưa chia theo đơn vị giáp dựa theo các xóm ngõ Ngày nay thì các đơn vị hành chính nhỏ nhất được chia theo khu, có thể nói cư dân nơi đây với cơ cấu tổ chức như vậy khiến họ có một kiểu thích ứng riêng Sự biến đổi của

cư dân sẽ có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển văn hoá Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho lễ hội mỗi thời kì có những thay đổi nhất định

Tiểu vùng văn hoá “đất Tổ”

Tiểu vùng văn hóa “đất Tổ” nằm trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, thuộc địa giới của tỉnh Phú Thọ và một phần của Sơn Tây cũ, gần trùng với xứ Đoài như quan

Trang 39

niệm của dân gian Thời các vua Hùng, vùng đất này là phần chính của bộ Văn Lang, trung tâm của 15 bộ thời vua Hùng, là nơi hợp lưu của sông Đà, sông Lô và sông Thao

để tạo ra dòng chảy ra sông Hồng Thời hậu Lê và đầu thời Nguyễn vùng đất này thuộc trấn Sơn Tây, là một trong “tứ trấn nội kinh”

Khu vực tam giác: Phong Châu-Bạch Hạc-Việt Trì

Vùng ngã ba Bạch Hạc chính là hiện thân tự nhiên của “vùng văn hóa đất Tổ”, bởi chính ngã ba này là thực thể tự nhiên thể hiện “vùng văn hóa” Phong Châu – Bạch Hạc – Việt Trì.Theo GS Trần Quốc Vượng[22]: “Nếu chỉ nói một câu về vị thế địa chính trị, địa chiến lược, địa văn hóa của kinh đô Văn Lang thì tôi xin nói rằng: đó là vùng NGÃ BA SÔNG (hợp lưu Thao – Lô – Đà) Tổ tiên ta có câu: TỤ NHÂN NHƯ

TỤ THỦY Đây là vùng Tam Giang – Tam Đái thời Lý Trần, vùng Tây Đạo thời Lê, xứ Đoài của dân gian Lê – Nguyễn… Về mặt địa chính trị - địa văn hóa, ta có 3 “thủ đô”

tự nhiên: Việt Trì (Văn Lang), Cổ Loa (Âu Lạc), Thăng Long – Phố Hiến (Đại Việt) Cha ông ta đã rất tài tình khi lựa chọn đất đóng đô, đến mức nhà địa lý học tài danh Nguyễn Thiệu Lân đã mệnh danh Làng Cả (Việt Trì), làng Chủ (Cổ Loa) và Đại La (Thăng Long) là thủ đô thiên nhiên của người Việt phương Nam.Có sông Thao từ Vân Quý đến, lại có sông Đà từ Tây Bắc cuộn về, lại có sông Lô (và phụ lưu là sông Chảy, sông Gâm) từ Việt Bắc dồn về Thế thì Việt Trì – Bạch Hạc – ngã ba Bạch Hạc là nơi hội tụ của nhiều luồng cư dân.”

1.4.2 Tài nguyên du lịch văn hoá thành phố Việt Trì

có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa, lịch sử… Thành phố Việt Trì là vùng đất tập trung đậm đặc di tích khảo cổ có giá trị, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa

Trang 40

1.4.2.2.Lễ hội

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ảnh đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân mỗi vùng miền, mỗi dân tộc Là hoạt động tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả và cũng là dịp để con người trở về cội nguồn, thể hiện những hoạt động văn hóa truyền thống, tôn vinh những hình tượng lịch sử thiêng liêng Con người tìm đến lễ hội để được thỏa mãn nhu cầu tâm linh, để được đắm mình vào không khí thiêng liêng nơi diễn ra lễ hội hay đươn giản chỉ là một hoạt động có tính vui chơi giải trí

Lễ hội có hai phần chính: phần lễ và phần hội.Phần lễ là phần nghi lễ mang ý nghĩa riêng tùy thuộc vào nội dung của lễ hội, có thể nghi thức thuộc về tín ngưỡng, tôn giáo bày tỏ lòng tôn kính đối với các bậc thánh hiền, các vị thần linh, anh hùng dân tộc… để cầu mong những điều tốt đẹp cho cuộc sống.Phần hội là các hoạt động vui chơi, các trò chơi dân gian, thi đấu, hoạt động biểu diễn… có chứa đựng các giá trị văn hóa

Việt Trì là địa danh diễn ra nhiều lễ hội truyền thống, các lễ hội nơi đây mang trong mình những nét huyền thoại, lung linh sắc màu cổ tích của vùng đất cố đô xưa Đây cũng là điều kiện thuận lợi, là tiền đề để phát triển du lịch văn hóa

1.4.2.3 Các di tích lịch sử - văn hóa

Di tích lịch sử - văn hóa là “…những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật cũng như có các giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử quá trình phát triển văn hóa xã hội” (pháp lệnh “bảo vệ và sử dụng di tích văn hóa, lịch sử, văn hóa và danh làm thắng cảnh”)[9, tr.32]

Theo các tác giả cuốn “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ thì di tích lịch sử văn hóa là “những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong

đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa do tập thể hoặc cá nhân con người tạo ra trong lịch sử để lại”

Như vậy, chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật và có giá trị văn hóa mới được gọi là di tích lịch sử văn hóa Đó là tài sản vô cùng quý giá của địa

Ngày đăng: 14/07/2021, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (chủ biên) (2014), Giáo trình du lịch văn hóa – Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình du lịch văn hóa – Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ
Tác giả: Trần Thúy Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
2. Trần Thúy Anh(chủ biên) (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử văn hóa trong du lịch
Tác giả: Trần Thúy Anh(chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
3. Nguyễn Văn Âu (2000), Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, tr41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2000
4. Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – một công cụ bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, Bảo vệ môi trường du lịch, Tổng cục Du lịch, tr.98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – một công cụ bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2005
5. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2009), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2009
6. Nguyễn Phạm Hùng (2013), Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng, những vấn đề lý luận. Đề tài khoa học trọng điểm nhóm A,Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng, những vấn đề lý luận
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2013
7. Đoàn Hải Hưng – Trần Văn Thục – Nguyễn Phi Nga (2009), những làng văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ, NXB Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: những làng văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Đoàn Hải Hưng – Trần Văn Thục – Nguyễn Phi Nga
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2009
9. Phạm Trung Lương (chủ biên) (2013), tài nguyên và môi trường Việt Nam, NXb Giáo dục, Tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài nguyên và môi trường Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương (chủ biên)
Năm: 2013
10. Vũ Thanh Ngọc (2015), nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Lào Cai. Luận văn thạc sĩ du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Lào Cai
Tác giả: Vũ Thanh Ngọc
Năm: 2015
11. Nhiều tác giả (2001), Việt Trì xưa và nay, NXB Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Phú Thọ - Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Trì xưa và nay
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Phú Thọ - Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ
Năm: 2001
12. Nhiều tác giả (2006), Di tích lịch sử văn hóa thời đại Hùng Vương trên đất Việt Trì, NXB Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa thời đại Hùng Vương trên đất Việt Trì
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Phú Thọ
Năm: 2006
13. Nhiều tác giả (2007), Thời đại Hùng Vương, lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại Hùng Vương, lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2007
14. Nhiều tác giả (2001), Tổng tập văn nghệ dân gian Đất Tổ (tập 2), NXB sở VHTTTT Phú Thọ - Hội VNDG Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn nghệ dân gian Đất Tổ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB sở VHTTTT Phú Thọ - Hội VNDG Phú Thọ
Năm: 2001
15. Dương Văn Sáu (2010), phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam, tạp chí Du lịch Việt Nam số 3, tr33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Dương Văn Sáu
Năm: 2010
16. Trịnh Sinh (2005), Báo cáo sơ bộ cuộc khai quật địa điểm khảo cổ học Làng Cả năm 2005, Viện khảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ bộ cuộc khai quật địa điểm khảo cổ học Làng Cả năm 2005
Tác giả: Trịnh Sinh
Năm: 2005
17. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ (2012), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030,Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ
Năm: 2012
18. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
19. Ngô Đức Thịnh (2009), bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
21. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Tổ chức lãnh thổ du lịch, Nxb Giáo dục, tr20. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
22. Trần Quốc Vượng (1998), Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì
Bảng 1.1 Tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể (Trang 18)
Bảng2.1. Danh sách các công ty du lịch trên địa bàn thành phốViệt Trì (2015) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì
Bảng 2.1. Danh sách các công ty du lịch trên địa bàn thành phốViệt Trì (2015) (Trang 48)
Bảng 2.3. Hiện trạng khách du lịch đến tỉnh Phú Thọ - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì
Bảng 2.3. Hiện trạng khách du lịch đến tỉnh Phú Thọ (Trang 66)
Bảng 3.1. Chiến lược sản phẩm – thị trường của du lịch văn hóa Việt Trì - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì
Bảng 3.1. Chiến lược sản phẩm – thị trường của du lịch văn hóa Việt Trì (Trang 85)
3. Một số hình ảnh khác - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì
3. Một số hình ảnh khác (Trang 112)
3. Một số hình ảnh khác - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại thành phố việt trì
3. Một số hình ảnh khác (Trang 112)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm