Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài của cá Lăng Chấm...28 Hình 3.3.. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TĂNG THỊ LƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ
LĂNG CHẤM (Hembagrus guttatus) GIAI ĐOẠN CÁ
BỘT LÊN CÁ HƯƠNG TẠI DIỄN CHÂU, NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ
LĂNG CHẤM (Hembagrus guttatus) GIAI ĐOẠN CÁ
BỘT LÊN CÁ HƯƠNG TẠI DIỄN CHÂU, NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Tăng Thị Lương
Người hướng dẫn: KS Lê Minh Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này ngoài nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ của ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư và Phòng Khoa học -
Kỹ thuật Trung tâm giống nuôi trồng thuỷ sản Nghệ An, đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ, cung cấp những thông tin, góp ý quý báu cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo KS Lê Minh Hải và
KS Trương Văn Toản đã tận tình hướng dẫn tôi với tất cả lòng nhiệt thành trongsuốt quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ, công nhân viên của Trung TâmGiống Thủy Sản Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đợt thựctập này
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới các thầy, cô giáo đangcông tác tại trương Đại học Vinh, những người đã trang bị cho tôi những kiến thứcbổ ích trong suốt 4 năm học tập tại trường
Do kinh nghiệm cũng như thời gian còn nhiều hạn chế, cho nên đề tài khôngtránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của cácthầy cô giáo trong khoa và bạn bè đồng nghiệp, để đề tài được hoàn thiện hơn
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên,giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 7 năm 2011Sinh viên thực hiện
Tăng Thị Lương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Lăng Chấm 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 3
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 5
1.1.6 Đặc điểm phân bố 6
1.2 Tình hình nghiên cứu về cá Lăng và nuôi cá Lăng Chấm trên Thế Giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới 6
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cá Lăng và nuôi cá Lăng Chấm ở Việt Nam .7
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu cá Lăng ở Việt Nam 7
1.2.2.2 Tình hình sản xuất giống cá Lăng Chấm tại Việt Nam 9
1.2.2.3 Tình hình nuôi thương phẩm cá Lăng Chấm tại Việt Nam 11
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 16
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 16
Trang 52.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
2.3.2 Sơ đồ khối nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp xác định các chỉ số/thu số liệu 21
2.4.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu tăng trưởng 21
2.4.2 Xác định tỷ lệ sống và tỷ lệ chết 22
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm 23
3.1.1 Một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm 1 23
3.1.2 Diễn biến các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2 25
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá lăng giai đoạn 0 – 30 ngày tuổi 26
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài của cá Lăng Chấm .26
3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng về khối lượng của cá ở thí nghiệm 30
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống của cá Lăng Chấm 33
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Lăng Chấm giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi 35
3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài của cá Lăng Chấm .35
3.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng khối lượng của cá Lăng Chấm 39
3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mật độ và thức ăn ương nuôi cá Lăng Chấm 44
3.4.1 Hiệu quả kinh tế của các mật độ ương nuôi cá Lăng Chấm 44
3.4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại thức ăn 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
Trang 6DO : Hàm lượng Oxy hòa tan
Max : Giá trị lớn nhất Min : Giá trị nhỏ nhấtNXB : Nhà xuất bản
NT : Nghiệm thức
TLS : Tỉ lệ sống
TN : Thí nghiệmTh.s : Thạc sỹ
TS : Tiến sỹ
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá Lăng Chấm 3
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 18
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 19
Hình 2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 1 20
Hình 2.4 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 2 20
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài của cá Lăng Chấm 27
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài của cá Lăng Chấm 28
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng đặc trưng chiều dài của cá Lăng Chấm 29
Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng của cá Lăng Chấm 30
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng của cá Lăng Chấm 32
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng đặc trưng khối lượng của cá Lăng Chấm 33
Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống của cá Lăng Chấm 34
Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài của cá Lăng Chấm 36
Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tuyệt đối chiều dài của cá Lăng Chấm 37
Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng đặc trưng chiều dài của cá Lăng Chấm 38
Hình 3.11 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng khối lượng của cá Lăng Chấm .40
Trang 8Hình 3.12 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tuyệt
đối khối lượng của cá Lăng Chấm 41Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng đặc
trưng khối lượng của cá Lăng Chấm 42Hình 3.14 Biểu đồthể hiện ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của cá
Lăng Chấm 43
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hoá của cá Lăng Chấm
(Hemibagus guttatus) trên hệ thống sông Hồng 4
Bảng 1.2 Tỷ lệ cá Lăng cái (Hemibagrus guttatus) thành thục theo các lứa tuổi 5
Bảng 1.3 Thành phần sinh hóa (%) của một số loại bột cá 14
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong các loại thức ăn 16
Bảng 3.1 Diễn biến trong quá trình thí nghiệm 23
Bảng 3.2 Biến động DO trong quá trình thí nghiệm 24
Bảng 3.3 Biến động pH trong quá trình thí nghiệm 24
Bảng 3.4 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2 25
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài của ấu trùng cá Lăng Chấm 26
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của cá Lăng Chấm 28
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng đặc trưng về chiều dài của cá thí nghiệm 29
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng khối lượng của cá Lăng Chấm 30
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của ấu trùng cá Lăng Chấm 31
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng đặc trưng về khối lượng của ấu trùng cá Lăng Chấm 32
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống qua các ngày tuổi cá Lăng Chấm 34
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài của Cá Lăng Chấm 35
Trang 10Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài
của Cá Lăng Chấm 37Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng đặc trưng về chiều dài
của Cá Lăng Chấm 38Bảng 3.15 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về khối lượng của cá
Lăng Chấm 39Bảng 3.16 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng
của cá Lăng Chấm 41Bảng 3.17 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng đặc trưng về khối lượng
của cá Lăng Chấm 42Bảng 3.18 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của cá Lăng Chấm 43Bảng 3.19 Hiệu quả kinh tế của các mật độ ương nuôi cá Lăng Chấm 44Bảng 3.20 Hiệu quả kinh tế của các loại thức ăn trong ương nuôi cá Lăng
Chấm 45
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay nhiều loài thuỷ đặc sản đã bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệtchủng Việc nghiên cứu và phát triển nuôi các đối tượng này là một trong nhữngchương trình được nhà nước và các cấp ngành quan tâm
Trang 12Cá lăng chấm là loài cá hoang dã có giá trị kinh tế cao của hệ thống sônghồng [4].Thịt cá lăng chấm mềm, ít xương dăm, giá bán cao, được coi là đặc sảnhàng đầu của miền Bắc Trước những năm 1970 sản lượng cá Lăng Chấm chiếm tỉtrọng khá lớn của sản lượng cá đánh bẳt tự nhiên của một số tỉnh miền núi [7][8] Tuy nhiên do sự khai thác quá mức và môi trường bị suy thoái mà sản lượng cáLăng Chấm đã giảm sút nghiêm trọng [2] Ngoài ra, Cá Lăng là loài cá có kíchthước tương đối lớn, ham ăn mồi, sức sinh sản thấp nên nguy cơ suy giảm nguồn lợi
tự nhiên dẫn đến tuyệt chủng là rất có thể xảy ra Hiện nay, Cá Lăng Chấm đượcxếp vào mức nguy cấp bậc V, cần phải bảo vệ gấp [4]
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về một số đối tượng cá da trơn có họhàng với cá Lăng và những đặc điểm sinh học của cá Lăng đã được nghiên cứu mở
ra triển vọng tốt đẹp trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá này Tuy nhiên do
cá Lăng Chấm là loài cá có sức sinh sản thấp và tỉ lệ nở và thụ tinh thấp nên việcnghiên cứu sinh sản gặp nhiều khó khăn Hiện nay nhiều nơi đã nhập giống cá LăngChấm về để nghiên cứu nhưng ít nơi thành công
Nghệ An là vùng có diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt lớn và nằmtrong khu vực có sự phân bố của loài cá này song số lượng không nhiều, chưa đápứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân Đây được xem là điều kiện thuận lợicho nghiên cứu nuôi thương phẩm và sản xuất giống phục vụ cho nhu cầu củangười dân Vì vậy trung tâm giống thuỷ sản Nghệ An đã nhập từ viện I về một số
cá bố mẹ để thử nghiệm nghiên cứu sinh sản cá Lăng Chấm để duy trì và pháttriển nuôi loài cá này
Trang 13Để sinh sản thành công và ương nuôi đạt tỉ lệ sống cao và tốc độ tăng trưởngnhanh thì yếu tố mật độ và thức ăn đóng góp một phần không nhỏ để ương nuôithành công loài cá này Nhằm so sánh, đánh giá hiệu quả của việc ương nuôi cácmật độ khác nhau đối với ấu trùng cá Lăng Chấm giai đoạn 0 – 30 ngày tuổi và thửnghiệm các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỉ lệ sông của ấu trùng cáLăng Chấm giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi ,chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “
Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Lăng Chấm (Hembagrus guttatus ) giai đoạn cá bột lên cá hương tại Diễn Châu, Nghệ An” nhằm tìm ra mật độ ương nuôi và thức ăn phù hợp để tăng tỉ lệ sống và
tốc độ tăng trưởng của loài cá này giai đoạn cá bột lên cá hương
2 Mục tiêu đề tài
- Xác định ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cá lăngchấm giai đoạn 0 -30 ngày tuổi để tìm ra được mật độ thích hợp để ương nuôi đạt tỉ
lệ sống cao và tốc độ tăng trưởng nhanh
- Xác định ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cáLăng Chấm giai đoạn 15 -30 ngày tuổi để tìm ra loại thức ăn phù hợp cho ương nuôi
ấu trùng cá lăng Chấm
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá Lăng Chấm
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá Lăng Chấm
Trang 151.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Lăng chấm có cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình: Tỷ lệ chiều dàiruột/ chiều dài thân Li/Lo = 89.35% Gia đoạn mới nở (cá bột) cá dinh dưỡng bằngnoãn hoàng, sau 7 ngày hết noãn hoàng thức ăn chủ yếu của cá là động vật phù du, ấutrùng, trùn chỉ …lớn hơn thức ăn chủ yếu là cá, tôm, côn trùng, giun, cua chiếm 28 – 60 %
về tần số lặp, chiếm 15,8 – 36,0 % về khối lượng
Bảng 1.1 Thành phần thức ăn trong ống tiêu hoá của cá Lăng Chấm
(Hemibagus guttatus) trên hệ thống sông Hồng
(Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân, 1998)
Loại thức ăn Cá Tôm côn
trùng Cua
Giunđất
ĐV trêncạn khác
Mùn bãhữu cơ
Hạt thựcvật
Tỉ lệ khối lượng(%) 15,8 26,2 36 4,0 3,2 3,6 3,2 8,0
Ghi chú: KL Khối lượng (%)
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Vòng tuổi của cá trên đốt sống thân và lát cắt gai cứng vây ngực Cá lăng chấm thuộc loại cá sinh trưởng nhanh Trong bốn năm đầu, cá tăng về chiều dài, đạt
13 - 17 cm/năm, sau đó giảm dần, ở tuổi 9+ - 12+ còn 4 - 7 cm/năm
Trong hai năm đầu, cá tăng chậm về khối lượng, năm 1 tuổi 30 - 60g, 2 tuổi 190 - 307g/năm, tăng nhanh từ năm thứ 4 - 8, đạt 1.000 - 1.800 g/năm, những năm cuối giảm
Khối lượng và chiều dài của cá quan hệ với nhau bởi công thứccủa Le Gren (1951)
Trang 161.1.5 Đặc điểm sinh sản
Cá cái, cá đực có lố sinh dục riêng biệt, buồng trứng cá có hình quả nhót,tuyến sẹ cá đực có dải dài, với nhiều tua ở hai bên
Độ tuổi thành thục của cá cái là 3+, cỡ nhỏ nhất L = 61 cm, P= 1,6 kg cá đực
là 4 +, cỡ cá nhỏ nhất L =72 cm, P = 2,7 kg Tuy nhiên chỉ có 25% cá cái và 20% cáđực thành thục ở tuổi đó
Cá Lăng chấm có sức sinh sản thấp, hệ số thành thục trung bình là 7,48%, sứcsinh sản thuyệt đối theo tuổi cá tùy theo tuổi cá từ 3 - 11 tuổi trung bình đạt 6.432 -54.575 trứng, sinh sản tương đối đạt 3.750 trứng/kg cá cái.Trong tự nhiên cá sinhsản từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 9
Cá thường đẻ trong hang, hốc đá ở ven sông suối theo từng con lũ, ở nhiệt độ 26 - 280C
Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998), cá Lăng (Hemibagrus guttatus)
trên hệ thống sông Hồng có tuổi thành thục như sau:
Bảng 1.2 Tỷ lệ cá Lăng cái (Hemibagrus guttatus) thành thục theo các lứa tuổi
Theo Rainboth (1996; trích bởi Lê Đại Quan, 2004), cá vào rừng ngập nước
để sinh sản, ở Tonle Sap cá con được tìm thấy vào tháng tám và trở ra sông vào tháng 10 – 12
Mùa sinh sản của cá Lăng kéo dài quanh năm và không xác định được đỉnh
Có thể thu mẫu cá đang trong thời kì sinh sản vào tháng 11 Cá có chiều dài khoảng
từ 30 cm trở lên có thể tham gia sinh sản
Cá vào bờ sinh sản sau khi nước lên, mùa sinh sản từ tháng 6 đến tháng 7 và chỉ sinh sản một lần trong năm (Mai Thị Kim Dung, 1998)
Trang 171.2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới
Cá Lăng thuộc họ cá ngạnh, họ này có đến 20 giống với 205 loài; ở Trung
Quốc có 4 giống 28 loài Theo một số tài liệu, các loài như Hemibagrus macropterus Bleeker (có sách còn gọi là Mystus macropterus) và cá Leiocacasis longirostris (loài cá này sách Trung Quốc gọi là cá ngạnh mõm dài-longsnout catfish, được miêu tả gần giống với cá Lăng) đã được cho sinh sản nhân tạo thành
công trong ao nuôi và trở thành đối tượng nuôi
Cá Lăng vây to (Hemibgarus macropterus) (Bleeker) đã được coi là một đặc
sản kinh tế trong các loài cá da trơn, đặc trưng sinh học sinh sản đã được nghiêncứu với một số nét như: theo thống kê 928 cá thể tỷ lệ cái ít hơn đực là 0,93: 1 Tuổithành thục 3-5 tuổi; ở 4-5 tuổi có 50% cá trong đàn thành thục Tuổi thành thục nhỏnhất: cá đực 2 tuổi (14,5cm),cá cái 3 tuổi (17cm) Tế bào trứng ở thời kỳ V cóđường kính 2,8-3,2 mm, hệ số thành thục vào tháng 5 khoãng 10%, mùa đẻ từ tháng5-7 lúc đó hệ số thành thục đạt 15,12 0,17%, cá đẻ 1 lần trong năm, đẻ xongbuồng trứng ở giai đoạn III qua đông (Wang Deshou và Luo Quanchen,1992)
Ngoài ra một số loài cá Lăng tương tự là Leiocassis longiostris Gunther-một
loài cá sống đáy trong sông hồ lớn, sản lượng lớn (nay do khai thác nhiều gần cạnkiệt nguồn cá) trọng lượng từ 3-10 kg, là loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế cao, thịtthơm ngon đứng đầu bảng trong họ cá ngạnh, đặc biệt bong bóng dày chế thành đặcsản khô quí hiếm rất nổi tiếng tại Trung Quốc Cá có thể chứa 1,68-10,76 vạn trứng,trung bình 4,4 vạn, đẻ trứng dính, chìm, đàn cá phân đợt thành thục và đẻ nhiều đợtvào tháng 5-6, kích thước trứng đạt 1,6-2,3mm Cá bố mẹ bảo vệ trứng, trứng nở
Trang 18sau 47h (t = 21-23oC) Từ năm 1988 người ta đã cho loài cá này sinh sản thànhcông, đã nắm được kỹ thuật mấu chốt về sinh sản nhân tạo, tỷ lệ nở đạt 70%, người
ta đã đưa ra ý kiến là cần phát triển nuôi loài cá này (Ngũ Hán Lâm, trích Bách khótoàn thư TS-QT, 1994) Thái Lan cũng đã thành công trong sinh sản nhân tạo cá
Lăng xanh Mystus nemurus (Cuvier và Valencieness), tiếng Anh gọi là Green catfish (tài liệu khuyến ngư Thái Lan, 2000) Loài này cũng phân bố ở miền Nam
Việt Nam, tên thường gọi là cá Lăng Nam
Một số nghiên cứu đã tìm ra mốt tương quan giữa sự phát triển của tuyếnsinh dục với mức steroid trong huyết thanh chu kỳ năm của một số loài cá da trơn(Upadhyaya, 1985; Rosenblum, P.M, 1987)
Trên thế giới cá Lăng chấm phân bố ở sông Tây Dương, sông Nguyên (VânNam Trung Quốc) là loại đặc hữu của vùng Hoa Nam Các đặc điểm hình thái, phânloại được công bố trong các công trình nghiên cứu của các tác giả: Chevey etLemasson (1993); Ngũ Hiến Văn (1963); Chu Xinluo, Chen Yinrui (1989)
Rainboth (1996 ) nghiên cứu nơi sống, đặc điểm sinh học cá Lăng và cáchđánh bắt loài cá này
Mills và Roberts (1990) nghiên cứu về mùa vụ sinh sản, đường kính trứng,sức sinh sản và những yếu tố ảnh hưởng đến sự chín của tuyến sinh dục
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cá Lăng và nuôi cá Lăng Chấm ở Việt Nam 1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu cá Lăng ở Việt Nam
Cá Lăng chấm là loài cá hoang dã có giá trị kinh tế cao của hệ thống sôngHồng (Bộ thuỷ sản,1996) Thịt cá Lăng chấm mềm, ít xương dăm, giá bán cao,được coi là loại cá đặc sản hàng đầu của miền Bắc Hiện nay, giá cá Lăng được bántrên thị trường tại Hoà Bình từ 170.000-200.000 đ/kg và ở thị trường Hà Nội daođộng trong khoảng 210.000-230.000 đ/kg Trước đây, trong những năm 1960-1970sản lượng cá Lăng chấm chiếm một tỷ trọng khá lớn của sản lượng cá đánh bắt tựnhiên một số tỉnh miền núi [9][10] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do ảnhhưởng của điều kiện môi trường suy thoái như nạn phá rừng, đắp đập, đào đãi vàng
ở lòng sông nhưng chủ yếu là do khai thác quá mức bằng những phương tiện huỷ
Trang 19diệt như dùng xung điện, thuốc nổ, chất độc và những phương tiện khai thác khácnên sản lượng cá Lăng chấm giảm sút nghiêm trọng, (Phạm Báu, 1999) Ngoài ra,
cá Lăng là loài cá có kích thước tương đối lớn, ham ăn mồi (là loài ăn thịt), sức sinhsản thấp nên có nguy cơ suy giảm nguồn lợi tự nhiên dẫn tới tuyệt chủng là điều dễ xảy
ra Hiện tại cá Lăng chấm được xếp vào mức nguy cấp bậc V, cần phải bảo vệ [4]
Họ cá ngạnh Bagridae ởViệt Nam có 18 loài thuộc 7 giống trong đó giống Hemibaggrus có 3 loài [5] Trong các loài thuộc họ Bagridae thí cá Lăng chấm H.guttatus là loài có kích thước lớn nhất, phân bố rộng rãi ở thượng lưu và trung
lưu các sông suối lớn ở miền Bắc nước ta Cũng thuộc họ này có cá Lăng Nam
Mystus nemurus phân bố chủ yếu ở miền Nam, là loài có giá trị kinh tế cao, kích
thước lớn có thể đạt tới 80cm [5]
Trước thực trạng suy giảm nguồn lợi một số loài cá quý hiếm tự nhiên, năm1997-1999 Bộ Thuỷ sản đã giao cho Viện nghiên cứu NTTS I thực hiện đề tài
“Điều tra nghiên cứu hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang
dã quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ
Semilabeo notabilis (Peter, 1880); Cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926); Cá Lăng Hemibagrus guttatus (Lacépede, 1803); Cá Chiên Bagarius yarrelli
(Sykes, 1841)” Nghiên cứu này đã nêu lên được những đặc điểm sinh học của cáLăng như về sinh trưởng: cá Lăng chấm thuộc loại cá sinh trưởng tương đối nhanh.Trong 4 năm đầu, cá tăng nhanh về chiều dài đạt 13-17cm/năm, sau đó giảm dần Ởtuổi 9+-12+ còn 4-7cm/năm Cá tăng chậm về khối lượng trong những năm đầu: năm
1 tuổi 30-60 g/năm, 2 tuổi 190-240 g/năm Tăng nhanh từ năm thứ 4 đạt 1000-1400g/năm, những năm cuối giảm dần Đây là loài cá dữ điển hình, tỷ lệ chiều dài ruột /chiều dài thân = 89,35% Thức ăn chủ yếu của cá Lăng chấm là cá, tôm, côn trùng,giun, cua chiếm 28-60% về tần số gặp, 15,8-36,0% về khối lượng Cá cái thành thục
ở tuổi 3+, cỡ nhỏ nhất L = 61cm, P = 1,6 kg Cá đực thành thục ở tuổi 4+, cỡ cá nhỏnhất L =72cm, P = 2,7 kg Tuy nhiên chỉ có 25% cá cái và 20% cá đực thành thục ở
cỡ tuổi đó Sức sinh sản cá Lăng thấp, hệ số thành thục trung bình 7,48; Sức sinh
Trang 20sản tuyệt đối của cá tuổi 3+-11+ đạt 6342-54575 hạt, sức sinh sản tương đối trungbình đạt 3750 hạt/kg.
Năm 2000-2001, đề án: Lưu giữ nguồn gen và giống thuỷ sản bước đầuthuần hoá cá Lăng trong điều kiện ao nuôi Kết quả cho thấy cá Lăng có khả năngsinh trưởng, phát dục và thành thục trong điều kiện nuôi ở ao nước tĩnh Trong quátrình sinh sản nhân tạo đã thu được trứng của 5 con cái nhưng tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ
nở rất thấp
Trong nước có một số công trình nghiên cứu về hình thái học, phân loại học,phân bố, đặc điểm sinh học, dinh dưỡng, sinh sản của cá Lăng như Ngô Trọng Lư
và Thái Bá Hồ ( 2001), Mai Đình Yên và ctv ( 1992)
Mai Thị Kim Dung (1998), La Thanh Tùng (2001) nghiên cứu đặc điểm sinhhọc cá Lăng Tháng 9 năm 2002 Ngô Văn Ngọc đẫ sản xuất giống nhân tạo cá Lăng
Vàng thành công (Mystus nemurus) Năm 2003, Ngô Văn Ngọc và Bùi Minh Phục
đã hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống cá Lăng Vàng Sau đó, nghiên cứu sản xuất
giống cá Lăng Lai, cá Lăng Hầm (M.filamentus), cá Lăng Nha (M.wyckioides) đã
thành công do các tác giả Ngô Văn Ngọc, Lê Thị Bích Ngà, Nguyễn Thị Huệ, ĐàoDương Thanh, Đặng Thị Quyên Trinh, Lê Đại Quan
Trên cơ sở những hiểu biết về đặc điểm sinh học của cá Lăng đã được nghiêncứu, kết quả bước đầu về nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Lăng trong điều kiện tựnhiên và điều kiện nuôi cùng với những kết quả khả quan của một số nghiên cứusinh sản nhân tạo một số loài cá da trơn có họ hàng với cá Lăng mở ra triển vọng tốtđẹp trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài cá này
1.2.2.2 Tình hình sản xuất giống cá Lăng Chấm tại Việt Nam
Cá Lăng Chấm là loài cá hoang dã quý hiếm đang trên nguy cơ tuyệt chủng vì vậyviệc sản xuất giống là rất cần thiết Việc nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá lăngchấm được thực hiện ở Viện nuôi trồng Thuỷ sản 1 (Bắc Ninh) từ năm 2002 Năm
2004, nhờ áp dụng một số cải tiến trong kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ nên đã thu được194.000 cá bột, ương được trên 12 vạn cá hương và cá giống Sau đó viện 1 đã
Trang 21chuyển giao công nghệ cho các tỉnh Nam Định, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và nhiềunơi đã sản xuất giống thành công.
Một trong những đơn vị đi đầu nhân giống loài cá đặc sản có giá trị kinh tếcao là Trung tâm Giống thuỷ sản cấp 1, xã Phi Mô (Lạng Giang) Năm 2009 Trungtâm phối hợp với Viện nuôi trồng Thuỷ sản 1 (Bắc Ninh) nuôi thử nghiệm cá lăngchấm Đây là loài có giá trị dinh dưỡng cao, thịt chắc, thơm ngon và đang có nguy
cơ tuyệt chủng, giá trị kinh tế cao (từ 300 đến 400 nghìn đồng/kg) Thực hiện dự ánnày, Trung tâm sửa chữa, xây mới một số bể xi măng, sử dụng hệ thống bơm nướctạo dòng chảy trong ao và phun mưa nhân tạo, trang bị lồng kính ấp trứng cá, tiếpnhận và bố trí nuôi vỗ thành thục 78 con cá lăng chấm bố mẹ trên diện tích 800m2
mặt nước Ông Thân Văn Thuỷ, Giám đốc Trung tâm cho biết: "Khó nhất trong việcnhân giống cá lăng chấm là kỹ thuật mổ lấy trứng ở cá mẹ để thụ tinh Chỉ cần sơsuất nhỏ có thể làm cá bị chết, thiệt hại lớn Để hạn chế rủi ro, chúng tôi cử cán bộ
đi học tập kinh nghiệm về kỹ thuật lấy trứng cá, phương pháp thụ tinh khô, ấp trứngcải tiến cho cá lăng chấm sinh sản Trong hai năm qua, cơ sở đã cung cấp ra thịtrường hơn hai vạn con cá giống bảo đảm chất lượng Dự kiến năm 2011, Trungtâm tiếp tục sản xuất hơn một vạn con cá giống nữa"
Tại Hoà Bình cuối năm 2007, được sự hỗ trợ kinh phí của Sở KH &CN tỉnh,đơn vị chuyển giao công nghệ là Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I - Bộ NN
&PTNT, đề tài "Chuyển giao công nghệ sản xuất cá lăng chấm" được triển khai vàođịa bàn tỉnh.Tuy nhiên, nuôi cá Lăng chấm đòi hỏi quy trình kỹ thuật khắt khe CáLăng chấm có điều kiện sinh sản khó, tỉ lệ đậu chỉ đạt từ 10- 20% Để sản xuấtgiống cá Lăng chấm phải đảm bảo các chỉ tiêu từ tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở,
tỷ lệ sống ương cá Bột, cá Hương đến cá giống Đầu năm 2008, Trung tâm đã đượccấp 30 cặp cá bố mẹ có trọng lượng trung bình 2,5 kg, con to nặng tới 6, 5kg Đếnnay, đàn cá đã đẻ kết quả thu được gần 11.600 cá bột, ương lên cá hương được trên8.000 con, tỷ lệ sống đạt trên 71%, ương từ cá hương lên cá giống được trên 5.000con, tỷ lệ đạt trên 64% Hiện nay, cá đã đạt đã phát triển được khoảng 12cm Hiệnthị trường cá lăng chấm khan hiếm hàng, mở rộng cả trong và ngoài nước Giá bán
Trang 22cá giống nhỏ từ 10.000- 14.000 đồng /con, cá nuôi thương phẩm là 350.000 đồng/kg Từ kết quả ban đầu, việc chuyển giao công nghệ sản xuất cá Lăng chấm mở rahướng bảo vệ, phục hồi các giống quý, giá trị kinh tế cao khác vùng lòng hồ HoàBình Trong thời gian tới, Trung tâm giống thuỷ sản Hoà Bình tiếp tục phát triểnnuôi cá Lăng chấm thương phẩm cung cấp cho thị trường sản phẩm đảm bảo chấtlượng phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh [18].
Tuy nhiên do đây là loài cá sinh sản với số lượng trứng ít và tỉ lệ ấp nở thấp nên nhiều tỉnh vẫn chưa sản xuất giống thành công, và một số nơi sản xuất thành công nhưng với số lượng còn ít chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi thương phẩm của người nuôi
1.2.2.3 Tình hình nuôi thương phẩm cá Lăng Chấm tại Việt Nam
Với việc thành công trong sản xuất giống cá Lăng Chấm mà nhiều nơi đã thửnghiệm mô hình nuôi thương phẩm đạt được một số kết quả khả quan
Cá lăng chấm là loài cá có giá trị kinh tế cao trong hệ thống sông Hồng Thịt
cá lăng mềm, ít xương dăm được coi là loại cá đặc sản nước ngọt hàng đầu củamiền Bắc Hiện nay giá cá lăng chấm được bán trên thị trường khoảng từ200.000 - 250.000 đồng/kg
Mặc dù vậy, ở các tỉnh miền Bắc, mô hình nuôi cá lăng chấm hiện nay chưađược phát triển rộng rãi Để phát triển mô hình nuôi cá chất lượng cao này, được sựquan tâm của tỉnh Quảng Ninh, từ năm 2009, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sảnxuất giống thuỷ sản Quảng Ninh đã thực hiện đề tài Nghiên cứu thử nghiệm nuôi cálăng chấm Đến nay, sau 1 năm thực hiện đề tài, bước đầu đã mang lại những hiệuquả nhất định, hứa hẹn mô hình nuôi cá lăng chấm có thể mở rộng thành mô hìnhnuôi đại trà cho người dân phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập Trung tâm Khoahọc kỹ thuật và Sản xuất giống thuỷ sản Quảng Ninh cho biết: Sau 1 năm nuôi thử,
cá lăng chấm sinh trưởng và phát triển tốt, khối lượng trung bình đạt khoảng 500 g/con So với một số loài cá khác như rô phi thì cá lăng chấm sinh trưởng phát triểnchậm hơn, khoảng từ 2 - 3 năm mới có thể thu hoạch được; cá trưởng thành để bán
Trang 23ra thị trường sẽ có khối lượng khoảng trên dưới 1 kg/con Giá trị kinh tế của loại cánày gấp 15 - 20 lần cá rô phi.
Theo đánh giá, như điều kiện tự nhiên của Quảng Ninh với mật độ mạng lướisông suối khá dày, hệ thống sông suối ngắn và dốc, nằm trong khu vực có lượngmưa lớn, từ 2.000 đến 2.500 mm, có điều kiện dẫn nước vào các ao hồ nhỏ và tạothành những dòng chảy rất phù hợp với việc nuôi cá lăng chấm thương phẩm Mặtkhác Quảng Ninh sẵn có nguồn thức ăn là tôm cá tạp phù hợp với tập tính dinhdưỡng của cá lăng chấm nên việc nghiên cứu nuôi thương phẩm cá lăng chấm vớimục đích bổ sung đối tượng nuôi mới, tăng hiệu quả kinh tế là việc làm cần thiết có
ý nghĩa khoa học và áp dụng trong thực tiễn sản xuất tại Quảng Ninh [22]
Năm 2010 tại Trung tâm Giống thuỷ sản cấp 1, xã Phi Mô (Lạng Giang) xâydựng mô hình nuôi cá lăng chấm thương phẩm với quy mô 3 ha tại Lạng Giang, HiệpHoà từ đầu năm 2010 thu hút nhiều hộ dân tham gia Ông Hoàng Tuấn Cậy, thônThái Thọ, xã Thái Sơn (Hiệp Hoà) cho biết, năm 2010, Trạm Khuyến nông huyệnphối hợp với Trung tâm Giống thuỷ sản xây dựng mô hình nuôi cá lăng chấm thươngphẩm Nhận thấy đây là loài cá có giá trị kinh tế, ông Cậy mạnh dạn đầu tư nuôi ghépgần 300 con cá lăng chấm với một số loài cá khác trên diện tích gần 7 sào Trong đợtrét đậm, rét hại vừa qua, ông Cậy đứng ngồi không yên vì lo cho đàn cá đặc sản này.Rất may, trong khi nhiều giống cá như chim trắng, rô phi đơn tính bị chết thì đàn cálăng chấm của gia đình ông vẫn bảo đảm an toàn bởi chúng chịu rét rất tốt Đến nay,trọng lượng cá bình quân đạt 0,6 - 0,7 kg/con Đây là tín hiệu vui mở ra triển vọngnhân rộng, phát triển mô hình nuôi cá lăng chấm hiệu quả trên địa bàn tỉnh [22]
Hiện thị trường cá lăng chấm khan hiếm hàng, mở rộng cả trong và ngoàinước Giá bán cá giống nhỏ từ 10.000- 14.000 đồng /con, cá nuôi thương phẩm là350.000 đồng /kg Từ kết quả ban đầu, việc chuyển giao công nghệ sản xuất cáLăng chấm mở ra hướng bảo vệ, phục hồi các giống quý, giá trị kinh tế cao khácvùng lòng hồ Hoà Bình Trong thời gian tới, Trung tâm giống thuỷ sản Hoà Bìnhtiếp tục phát triển nuôi cá Lăng chấm thương phẩm cung cấp cho thị trường sảnphẩm đảm bảo chất lượng phục vụ nhu cầu trong và ngoài tỉnh [18]
Trang 24Tuy nhiên, một số mô hình nuôi thương phẩm cá Lăng Chấm khó có khảnăng nhân rộng do các điều kiện về môi trường nuôi khắt khe, chưa phù hợp, vốnđầu tư lớn Một số nơi, cán bộ, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâmtuyên truyền nhân rộng mô hình Cơ sở hạ tầng khó khăn, chưa đáp ứng được yêucầu Những khó khăn trên cần được quan tâm giải quyết, góp phần thúc đẩy ngànhnuôi thuỷ sản của các tỉnh phát triển.
1.3 Một số nghiên cứu về mật độ và thức ăn cho cá bột cá Lăng Chấm
Cá bột là thuật ngữ được dùng cho giai đoạn non chưa có biến hình trongvòng đời của cá Các thức ăn cá bột thường chứa các mức protein cao hơn bởi vìngười ta tin rằng các nhu cầu protein và năng lượng trên một đơn vị khối lượng làcao hơn nhiều trong các giai đoạn đầu của cuộc đời Khối lượng tương đối(sinhtrưởng riêng) cao nhất đạt được ở các giai đoạn cá bột, và quan trọng là phải đảmbảo rằng tiềm năng sinh trưởng ở mức độ cao nhất được thấy rõ trong suốt giai đoạnphát triển này đối với tất cả các hình thức nuôi.[8.(tr 189)]
Năm 2003, Nghiên cứu của Nguyễn Đức Tuân và ctv về ảnh hưởng của thức
ăn đến giai đoạn cá bột đến cá hương chỉ ra rằng giai đoạn 0 – 6 ngày cá dinh dưỡngbằng noãn hoàng, sau 7 – 11 ngày chỉ ăn ĐVPD, sau 12 ngày ăn thêm trùn chỉ vàsau 17 – 30 ngày chỉ ăn trùn chỉ
Năm 2004, nghiên cứu của Nguyễn Đức Tuân và ctv về ảnh hưởng của mậtđộ cá Lăng Chấm giai đoạn 0 – 15 ngày tuổi chỉ ra mật độ phù hợp giai đoạn này là
từ 4000 con/m2 đến 6000 con/m2 và nghiên cứu về thức ăn của Nguyễn Đức Tuân
và ctv, 2004 về ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá LăngChấm giai đoạn 15 – 30 ngày tuổi chỉ ra rằng khi cho ăn trùn chỉ đạt tốc độ tăngtrưởng và tỉ lệ sống cao nhất
Một số loại thức ăn được sử dụng trong nuôi cá bột cá Lăng Chấm đượcnghiên cứu thường có tỉ lệ protein cao như trùn chỉ, thịt cá xay nhuyễn, bột cá, bộtđậu tương
Bột cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất cho các loài tôm cá Bột cá có hàmlượng protein cao, trung bình từ 45 –60%, có loại hơn 70% và chủ yếu được làm từ
Trang 25cá biển Bột cá chứa đầy đủ các acid amin cần thiết cho động vật thủy sản (EAAI:
>0.92) Đặc biệt trong thành phần lipid của bột cá có nhiều acid béo cao phân tửkhông no (HUFA) Trong bột cá có hàm lượng vitamin A và D cao và thích hợp choviệc bổ sung vitamin A trong thức ăn Bột cá làm cho thức ăn trở nên có mùi hấpdẫn và tính ngon miệng của thức ăn Hàm lượng khoáng trong bột cá luôn lớn hơn16% và là nguồn khoáng được động vật thủy sản sử dụng hiệu quả Năng lượng thôcủa bột cá khoảng 4100-4200 kcalo/kg Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy trongbột cá có chứa chất kích thích sinh trưởng, đây là nguyên nhân chính khi thay thếbột cá bằng các nguồn protein động vật khác kết quả không hoàn toàn đạt được nhưsử dụng bột cá
Tuy nhiên một vấn đề gặp phải ở bột cá trong chế biến thức ăn là: trong một
số bột cá có thể chứa chất kháng vitamin B1 (thiaminase), giá thành cao và nguồnnguyên liệu rất biến động
Bột cá được chia làm hai loại: bột cá nhạt (độ mặn dưới 5%, protein >50%) và bột
cá mặn Trong chế biến thức ăn cho động vật thủy sản chỉ sử dụng bột cá nhạt Bột cáthường được làm từ cá trích, cá mòi và cá cơm Chất lượng bột cá phụ thuộc vào loài, độtươi của nguyên liệu tươi, phương thức chế biến và bảo quản
Bảng 1.3 Thành phần sinh hóa (%) của một số loại bột cá[8]
Bột đậu nành được xem là nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá tốt nhấttrong thức ăn cho động vật thuỷ sản Nhiều nghiên cứu cho thấy bột đậu nành có thểthay thế 60-80% bột cá trong khẩu phần thức ăn, ở cá rô phi O niloticus có thể thaythế 100% Trong thức ăn cho tôm bột đậu nành có thể được sử dụng đến 25%
Bột đậu nành được sử dụng làm thức ăn cho động vật hiện nay chủ yếu làbột đậu nành ly trích dầu có hàm lượng protein khoảng 47-50%, lipid không quá
Trang 262% Bột đậu nành thiếu methionin, cystin, chỉ số acid amin thiết yếu (EAAI) củabột đậu nành đối với tôm sú là 0,87.
Hạn chế của bột đậu nành là bột đậu nành chứa nhiều loại độc tố đặc biệt làchất ức chế enzime tiêu hóa protein : anti – trypsine, chất này ức chế hoạt động củaenzime tiêu hóa protein là trypsin và chymontrypsine Các anti-tripsine mất hoạttính khi quan sử lý nhiệt ở 105oC trong 30 phút, tuy nhiên giá trị dinh dưỡng củaprotein của đậu nành sẽ giảm Việc sử lý này cũng giúp làm phân hủy chấthaemagglutinin trong đậu nành, đây là chất có tác dụng gắn với Hb của hồng cầulàm ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển Oxy của Hb
Trùn chỉ hay còn gọi là giun đỏ là động vật đáy thuộc nhóm giun ít tơ
(Oligochaeta), sống ở nơi có dòng chảy, nhiều chất hữu cơ dơ bẩn Thân có hình ống, màu đỏ, dài 1,5 – 3 cm, đường kính 0,1 – 0,3 mm, chúng sống bằng cách vùi một phần dưới đáy bùn và phần lớn cơ thể hướng thẳng lên và uốn lượn như gợn sóng Chỉ cần một dấu hiệu nguy hiểm nhỏ chúng sẽ rút vào đáy bùn, sau đó lại thò
ra để lấy ít oxy trong nước bẩn
Theo Phạm Văn Trang (1983) thì thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ được
phân tích theo phần trăm khối lượng tươi (trong 1 gam) là: đạm 8,62%, béo 2%, vật chất khô 13,46%, năng lượng 0,5 – 0,7 Kcal Nếu tính theo phần trăm trọng lượng khô thì có giá trị dinh dưỡng rất cao: proteins 56,67%, glucid 10%, lipid 5%, tro 9,17%
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá Lăng Chấm giai đoạn cá bột lên cá hương (0 – 30 ngày tuổi)
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Cá Lăng Chấm giai đoạn 0 – 30 ngày tuổi
* Các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong các loại thức ăn
Thành phần Trùn chỉ (%) TĂ chế biến 1(%) TĂ chế biến 2(%)
Khi cho cá ăn tùy thuộc vào đặc tính của cá, có thể cho xuống đáy bể hoặctát đều trên mặt nước Thức ăn là trùn chỉ nếu dư sẽ không làm dơ môi trường nuôi,chúng sẽ tập trung thành đám trên nền đáy và tiếp tục làm thức ăn cho cá Trùn chỉ
Trang 28vẫn còn sống ngay cả khi nhiệt độ nước còn 21,50C (Davies, 1964) nên nó là thức
ăn lý tưởng cho cá vào mùa đông
Để bảo quản trùn chỉ ta có thể giữ trong điều kiện nước chảy nhẹ liên tụchoặc cho vào một vật chứa bằng phẳng, không để trùn dày quá 1 cm, cho một ítnước vào cho ngang với bề dày của trùn, để nơi mát, ngày thay nước 2 lần
- Thức ăn chế biến theo công thức 1:
Trong quá trình ương nuôi cá bột thì thức ăn chế biến 1 được chế biến tạiTrung Tâm Giống Thuỷ Sản Nghệ An tại Yên Lý, Diễn Châu Thức ăn chế biến baogồm 50% trùn chỉ + 30% bột cá + 20% thịt cá có thành phần các chất dinh dưỡngthể hiện ở bảng 2.1
- Thức ăn chế biến theo công thức 2:
Từ những nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn côngthức thức ăn 2 được phối trộn theo thành phần: 25% trùn chỉ + 20 % thịt cá + 38,5%bột cá + 16,5 % bột đậu tương Thành phần dinh dưỡng được thể hiện ở bảng 2.1
* Các dụng cụ thí nghiệm
- Bể kính có diện tích 0,5 m2
- Bể xi măng có diện tích 2m2
- Các dụng cụ đo các chỉ tiêu:
+ Nhiệt kế rượu đo độ, đơn vị 0C, độ chính xác 0,10C
+ Đo PH bằng test kit
+ Đo chiều dài tiêu chuẩn (SL, mm) bằng thước chia vạch mm
+ Cân kỹ thuật điện có độ chính xác 0,001g
2.2 Nội dung nghiên cứu
-.Theo dõi diễn biến các yếu tố môi trường của 2 thí nghiệm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cálăng chấm giai đoạn 0 – 30 ngày tuổi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cálăng chấm giai đoạn 15 -30 ngày tuổi
Trang 292.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiệm thức 1 (ký hiệu NT1) : Mật độ 1: 3000con/m2
Nghiệm thức 2 (ký hiệu NT2): Mật độ 2: 5000con/m2
Nghiệm thức 3 (ký hiệu NT3): Mật độ 3: 7000con/m2
Sơ đồ bố trí thí nghiêm:
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
Ghi chú:
- Đơn vị thí nghiệm (B): Bể thí nghịêm
- Nghiệm thức mật độ (NT): Nghiện thức thí nghiệm
Điều kiện thí nghiệm
Các bể có chế độ chăm sóc như sau:
- Vệ sinh bể: Trước khi ương bể được vệ sinh sạch sẽ và tẩy trùngbằng Formalin 40ppm
- Cho cá ăn: trong 6 ngày đầu cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng,từ ngày thứ
7 – 10 cá bắt đầu ăn động vật phù du, luân trùng Từ ngày thứ 11 – 15 cho cá ănkết hợp trùn chỉ và động vật phù du Từ ngày 16 – 18 cho ăn trùn chỉ kết hợp vớithịt cá xay nhỏ, từ ngày 19 – 30 ngày tuổi luyện cho cá ăn thức ăn chế biến (70%bột cá + 30% bột đậu tương) bổ sung thêm các vitamin C để tăng sức đề khángcho cá.Cho cá ăn 3 lần/ ngày vào 7h, 14h và 18h theo mức thoã mãn
- Quản lý bể ương
Trang 30+ Từ 1 – 6 ngày tuổi, hàmg ngày si phông hút bỏ cặn bẩn và xác chết, thay1/3 lượng nước trong bể.
+ Từ ngày 7 – 30 : Sau khi cho cá ăn si phông loại bỏ thức ăn thừa và cặnbẩn Thay 50 – 80 % lượng nước trong bể sau mỗi lần cho ăn
+ Sục khí thường xuyên đảm bảo hàm lượng oxy > 5mg/ l Thường xuyênquan sát hoạt động và mức độ sử dụng thức ăn của cá
* Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng cá Lăng Chấm giai đoạn 15 đến 30 ngày tuổi.
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức tương ứng với 3 công thức thức ăn, mỗinghiệm thức được lặp lại 3 lần, các yếu tố phi thí nghiệm được khống chế giống nhau.Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn một nhân tố
Nghiệm thức 1 (kí hiệu CT1) : Cho ăn 100% trùn chỉ
Nghiệm thức 2 (Kí hiệu CT2): 50 % trùn chỉ + 30% bột cá + 20% thịt cá Nghiệm thức 3 (Kí hiệu CT3): 25% trùn chỉ + 20% thịt cá + 38,5% bột
cá + 26,5 % bột đậu tương
Sơ đồ bố trí thí nghiêm:
BII.1 BI.1 BIII.1 BIII.2 BI.2 BII.2 BIII.3 BII.3 BI.3
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2
Ghi chú:
- Đơn vị thí nghiệm (B): Bể thí nghịêm
- Công thức thức ăn (CT): Công thức thí nghiệm
Điều kiện thí nghiệm:
Cá bột sau khi ương nuôi được 15 ngày chuyển vào các bể thí nghiệm với mật độ là 800 con/m2 Các bể điều kiện ương nuôi ban đầu như nhau: nhiệt độ nước
b iến động từ 27 – 320C, pH từ 7,4 – 8,2; Hàm lượng oxi hoà tan lớn hơn 5mg/l, bể ương được lắp sục khí, nước chảy tuần hoàn
2.3.2 Sơ đồ khối nghiên cứu
Trang 31Hình 2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 1
Hình 2.4 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 2
2.4 Phương pháp xác định các chỉ số/thu số liệu
Kết luận và kiến nghị
Ấu trùng cá Lăng Chấm giai đoạn 15
– 30 ngày tuổi
Ấu trùng cá Lăng Chấm giai đoạn
0 – 30 ngày tuổi
Trang 32- Số liệu các yếu tố môi trường:
+ Nhiệt độ: Hàng ngày dùng nhiệt kế đo 2 lần/ ngày vào lúc 7h và 16h.+ pH đo bằng test PH, 2 lần/ ngày vào 7h và 16 h
- Tỉ lệ sống: Hàng ngày kiểm tra số cá chết để biết tỉ lệ sống từng giai đoạn
- Các chỉ tiêu đánh giá:
Xác định tốc độ tăng trưởng : 7 – 15 ngày cân, đo 1 lần, mỗi lần 30 con/ bể.Tăngtrưởng được xác định bằng cách đo chiều dài tiêu chuẩn SL(mm) và cân trọng lượng cá thờiđiểm trước và sau
+ Khối lượng thân: dùng cân điện tử có độ chính xác 0,001g
+ Chiều dài thân: Sử dụng thước đo chia vạch mm
Tỷ lệ chết, tỷ lệ sống được xác định dựa trên số liệu theo dõi cá chết hàngngày và số lượng cá thả ban đầu
2.4.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu tăng trưởng
Đo chiều dài tiêu chuẩn (SL, mm) bằng thước chia vạch mm
Cân khối lượng cá (W) bằng cân điện tử hiệu HF – 1200G,max 1250g; d = 0, 01g
- Xác định tốc độ tăng trưởng tuyệt đối:
+ Khối lượng: AWR =
AWR,ALR là tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo khối lượng và chiều dài
Wt, Ws là khối lượng của cá (g) trung bình tại thời điểm trước và sau củathí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng đặc trưng theo chiều dài được tính theo công thức:
Trang 33SGRL (%/ngày)=
100
1 2
1 2
t t
L Ln L
Trong đó: LTB1, LTB2 là chiều dài cá (mm) tại thời điểm t1, t2
Tốc độ tăng trưởng khối lượng đặc trưng được tính theo công thức:
1 2
1 2
t t
W Ln W
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ 01/03 đến 15/06
- Địa điểm: Trung Tâm Giống Thủy Sản Nghệ An – Diễn Yên – Diễn Châu –
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 Một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm
3.1.1 Một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm 1
* Nhiệt độ
Cá là động vật biến nhiệt do đó nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởngtrực tiếp hay gián tiếp đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Lăng Chấm.Trong quá trình thí nghiệm diễn biến nhiệt độ được thể hiện ở bảng sau :
Bảng 3.1 Diễn biến nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 1
7 , 0 25 , 29
06 , 1 15 , 29
0 , 30 5 , 27
82 , 0 70 , 27
0 , 32 9 , 28
94 , 0 8 , 28
0 , 28 5 , 26
78 , 0 6 , 27
0 , 31 4 , 28
72 , 0 90 , 28
10 , 1 80 , 28
0 , 29 8 , 26
88 , 0 40 , 27
0 , 30 5 , 27
93 , 0 60 , 28
5 , 30 4 , 27
78 , 0 40 , 27
0 , 32 4 , 28
63 , 0 70 , 28
Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 3.1 cho thấy nhiệt độ trong bể ương biếnđộng ít do thí nghiệm được bố trí trong bể đặt cạnh nhau trong nhà có mái che.Trong thời gian bố trí thí nghiệm trời không nắng gắt, có mưa nhỏ nên mặc dùnhiệt độ giữa sáng và chiều biến động mạnh nhưng vẫn nằm trong khoảng nhiệt độthích hợp cho cá bột cá Lăng phát triển Các nghiên cứu trước đây cho thấy: Nhiệt
độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Lăng và từ 25 - 35oC, thích hợp
nhất 27 - 28oC, phù hợp cho sự phát triển phôi và cá bột (Rainboth(1996))
* Oxi hoà tan
Trang 35Trong ương nuôi ấu trùng các loại cá thì lượng oxi hoà tan là yếu tố ảnhhưởng rất lớn đến tỉ lệ sống cũng như tăng trưởng của ấu trùng cá Lăng Chấm.Trong quá trình thí nghiệm sự biến động DO được thể hiện ở bảng 3.2.
Bảng 3.2 Biến động DO trong quá trình thí nghiệm 1
13,044,5
8 , 5 2 , 5
15 , 0 68 , 5
7 , 5 0 , 5
15 , 0 47 , 5
ấu trùng cá Lăng Chấm là > 5mg/l , vì vậy biến thiên oxi hoà tan trong các nghiệm thứcđều phù hợp cho sự phát triển của cá Lăng Chấm giai đoạn bột lên hương
Giá trị pH trong các bể thí nghiệm biến động nhỏ theo thời gian trong ngày
và rất đều trong suốt thời gian thí nghiệm Giá trị pH biến động ở các công thứckhông đáng kể dao động trong khoảng từ 7,4 – 8,3 Theo Rainboth (1996) pH thích
Trang 36hợp cho ương cá Lăng Chấm từ 7,2 – 7,5 Như vậy trong quá trình thí nghiệm biếnđộng pH nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của cá Lăng Chấm.
3.1.2 Diễn biến các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2
Các yếu tố môi trường có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ấutrùng cá Lăng Chấm Hệ thống bể thí nghiệm để ương cá Lăng Chấm được đặttrong nhà có mái che Trong quá trình tiến hành thí nghiệm các bể ương được xiphông và thay nước hằng ngày, các chế độ thay nước, sục khí, chiếu sáng đượcduy trì như nhau ở tất cả các nghiệm thức thức ăn Trong quá trình tiến hành thínghiệm, các yếu tố môi trường được theo dõi thường xuyên và kết quả được thểhiện ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2
17 , 0 40 , 5
* Nhiệt độ
Mặc dù nhiệt độ có ngày giảm xuống 26,50C do ảnh hưởng của trời mưa kéodài, tuy nhiên không gây biến động lớn vì bể ương được bố trí trong nhà có mái chenên sự biến động đột ngột của các yếu tố môi trường nước trong bể thí nghiệm đượchạn chế tới mức thấp nhất nhiệt độ buổi sáng dao động trong khoảng 26,5 – 300C,trung bình 28,3 ± 1,13 (0C), buổi chiều từ 28 - 320C, trung bình 30,06 ± 1,2(0C)
Trang 37* pH
pH trong bể ương khá cao dao động trong khoảng 7,4 – 8,2 là nằm trong giớihạn tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng cá Lăng Chấm
* Oxi hòa tan
Hàm lượng oxi hoà tan giữa sáng và chiều ít biến động, buổi sáng dao độngtrong khoảng 5,3 – 5,9 (mg/l), trung bình 5,6 ± 0,15 (mg/l), buổi chiều dao động từ5,1 – 5,7 (mg/l), trung bình đạt 5,4 ± 0,17 (mg/l) Lượng oxi hoà tan trong các bểđược bổ sung bằng quá trình khuếch tán từ không khí và sục khí liên tục Tuy nhiên,
do thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện nhiệt độ nước chênh lệch ít nên sựchênh lệch về oxi hoà tan là không đáng kể
Như vậy, điều kiện môi trường trong suốt quá trình thí nghiệm là phù hợpcho sinh trưởng và phát triển của cá Lăng Chấm
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của
ấu trùng cá lăng giai đoạn 0 – 30 ngày tuổi
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài của cá Lăng Chấm
Thí nghiệm được tiến hành với 3 mật độ khác và các bể được quản lý, chămsóc như nhau và sau 30 ngày ương thì sự tăng trưởng về chiều dài cá đạt được ở cácnghiệm thức thể hiện ở bảng 3.5 và biểu đồ 3.1,3.2,3.3
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng chiều dài
của ấu trùng cá Lăng Chấm
Trang 38Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng
chiều dài cá Lăng Chấm
Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 3.5 và hình 3.1 cho thấy, sau 15 ngàyương với các nghiệm thức khác nhau sự tăng trưởng theo chiều dài không có sựkhác nhau rõ rệt giữa NT1 và NT2 (P > 0,05) NT3 có sai khác rõ rệt so với NT1 vàNT2 (P < 0,05) Chiều dài trung bình đạt lớn nhất ở mật độ 1 là 2,11cm và thấpnhất ở mật độ 3 là 1,83cm Tuy nhiên đến giai đoạn cá 22 ngày tuổi và 30 ngày tuổithì giữa 3 mật độ là có sự khác nhau rõ rệt (P < 0,05) đặc biệt là nghiệm thức 1 và 3,
cá ở các NT đều có sự phân cỡ rất lớn đặc biệt là cá ở NT3 (cá lớn nhất là 3,5cm vànhỏ nhất là 2 cm) Chiều dài cá qua 30 ngày ương ở mật độ 1 đạt cao nhất là 3,11cm
và thấp nhất ở mật độ 3 đạt 2,3cm Có sự sai khác là do mật độ ương nuôi của NT2
và NT3 quá cao nên làm giảm tăng trưởng về chiều dài của cá Lăng Chấm
Kết quả nghiên cứu về mật độ ương nuôi cá Lăng Chấm từ 0 – 15 ngày củathí nghệm phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Tuân và ctv (2004) vềảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá Lăng Chấm 0 – 15 ngày tuổi
Trang 39Tuy nhiên, để đánh giá , ảnh hưởng của các mật độ đến tăng trưởng của cá LăngChấm, chúng tôi tiến hành phân tích tăng trưởng tuyệt đối và tăng trưởng tương đối vềchiều dài cá bột cá Lăng Chấm Kết quả phân tích thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài
0 0.02
0.04
0.06
0.08
0.1 0.12
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng
tuyệt đối theo chiều dài của cá
Trang 40Kết quả nghiên cứu thể hiện trên bảng 3.6 và hình 3.2 cho thấy tốc độ tăngtrưởng tuyệt đối giai đoạn 15 ngày tuổi giữa NT1 và NT2 không có ý nghĩa thống kê (P
> 0,05) còn NT3 có sự sai khác ý nghĩa thống kê (P < 0,05) với 2 NT trên Nhưng đến
22 và 30 ngày tuổi thì cả 3 NT đều có sai khác có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa(P < 0,05) Tăng trưởng tuyệt đối sau 30 ngày tuổi cao nhất ở NT1 đạt 0,063(cm/ngày) và thấp nhất ở NT3 là 0,027 (cm/ngày)
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng đặc trưng về chiều dài
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng
đặc trưng theo chiều dài của cá