Châu Nhất Dân 1998 trong cuốn “Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Bắc Kinh”《北京话口语语法》tuyển tập ngữ pháp nói rằng: “ Trong ngôn ngữ nói của tiếng Bắc Kinh không có giới từ ‘被’, biểu thị chủ thể phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - -
ĐÀM ÍCH HOA (QIN YI HUA)
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÂU BỊ ĐỘNG
TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - -
ĐÀM ÍCH HOA (QIN YI HUA)
NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÂU BỊ ĐỘNG
TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
Ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn
Hà Nội, 2014
Trang 3Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên và tạo mọi điều kiên thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2014
Học viên
Đàm Ích Hoa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Đàm Ích Hoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Tư liệu và đối tượng nghiên cứu 2
5 Bố cục luận văn 2
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Khái niệm câu bị động trong ngôn ngữ học 3
1.1 Khái niệm dạng 3
1.2 Dạng bị động trong các ngôn ngữ tổng hợp tính/biến hình 4
1.3 Dạng bị động trong các ngôn ngữ phân tích tính/đơn lập 5
2 Quan niệm về câu bị động trong tiếng Hán 6
2.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu 6
2.2 Quan niệm của tác giả luận văn 9
3 Quan niệm về câu bị động trong tiếng Việt 9
3.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu 10
3.1.1 Quan niệm cho rằng tiếng Việt có cấu trúc bị động 10
3.1.2 Quan niệm cho rằng tiếng Việt không có cấu trúc bị động 13
3.1.3 Quan niệm của tác giả luận văn về vấn đề bị động trong tiếng Việt 15
Chương II CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG HÁN 18
1 Nhận diện câu bị động trong tiếng Hán 18
2 Đặc điểm và kết cấu câu bị động tiếng Hán 21
2.1 Loại câu bị động có giới từ 被 / 叫 / 让 24
2.2 Loại câu bị động có trợ từ 给 và 所 28
Chương III CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT 29
1 Nhận diện câu bị động trong tiếng Việt 29
Trang 62 Đặc điểm và các kết cấu câu bị động trong tiếng Việt 30
2.1 Loại câu có sự xuất hiện của từ “được” 30
2.1.1 Nhóm cấu trúc bị động có từ "được" có tác thể ( N1 ) 31
2.1.2 Nhóm cấu trúc bị động có từ "được" khuyết tác thể ( N2 ) 32
2.2 Loại câu có sự xuất hiện của từ “bị” 34
2.2.1 Nhóm cấu trúc bị động có từ "bị" có tác thể ( N3 ) 35
2.2.2 Nhóm cấu trúc bị động có từ "bị" khuyết tác thể ( N4 ) 36
2.3 Loại câu có sự xuất hiện của “bị, được” kết hợp với từ “bởi” (N5) 38
2.4 Loại câu có sự xuất hiện của từ “do” 40
2.5 Loại câu khuyết “bị, được” 42
2.6 Loại câu có sự xuất hiện đồng thời của 2 từ “bị, được” 44
Chương IV NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 49
1 Tương đồng giữa câu bị động trong tiếng Việt và câu bị động trong tiếng Hán 49
2 Sự khác biệt giữa câu bị động trong tiếng Việt với câu bị động trong tiếng Hán 52
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
XUẤT XỨ CÁC VÍ DỤ 61
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong tiếng Hán, câu bị động là một loại câu mà các nhà Hán ngữ học
đã quan tâm đến Các phương thức biểu hiện của câu bị động đã trờ thành một chuyên đề khá phong phú Tuy nhiên, về mặt cấu trúc – ngữ nghĩa , so với tiếng Việt, vẫn chưa có ai nói đến Do đó hướng nghiên cứu của luận văn này là phân tích đối chiếu ngôn ngữ trên bình diện cấu trúc – ngữ nghĩa biểu hiện của câu bị động Cụ thể, luận án tập trung miêu tả các đặc trưng cấu trúc – ngữ nghĩa của câu bị động tiếng Hán và tiếng Việt Trong quá trình nghiên cứu, tiếng Hán sẽ được coi là ngôn ngữ cơ cở và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu
Qua việc tìm hiểu về cấu trúc – ngữ nghĩa câu bị động ở hai ngôn ngữ Việt – Trung sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về khoa học : Xét về mặt lý luận, việc nghiên cứu ngữ pháp, đặc biệt
là cấu trúc của đơn vị câu là một trong những nội dung rất quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ dù việc nghiên cứu dựa trên ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp hiện đại Câu bị động là một là một hiện tượng có tính phổ quát hay có tính loại hình ? Câu bị động có gi chức năng trong giao tiếp ? Hiện nay, việc nghiên cứu đối chiếu đặc biệt là những ngôn ngữ không cùng loại hình như tiếng Hán và tiếng Việt, phản ánh những nền văn hoà khác nhau của những cộng đồng người sử dụng vẫn chưa nhiều và chưa có tính hệ thống
Do đó việc nghiên cứu đối chiếu cẩu trúc –ngữ nghĩa câu bị động tiếng Hán
và tiếng Việt sẽ góp phần làm phông phú lý luận của ngữ pháp liên hệ với câu
và làm bộc lộ được đặc trưng loại hình của từng ngôn ngữ
- Về thực tiễn: Việc tìm hiểu về cấu trúc – ngữ nghĩa câu bị động ở hai ngôn ngữ Việt – Trung sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ
Trang 83 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích câu trong ngôn ngữ học
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích so sánh Phương pháp đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa cũng được sử dụng
4 Tư liệu và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các câu có dạng bị động trong tiếng Hán và tiếng Việt
Tư liệu nghiên cứu là một số tác phẩm văn học của Việt Nam và Trung Quốc cũng như một số bài báo trên các trang mạng của Việt Nam
và Trung Quốc
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Câu bị động trong tiếng Hán
Chương 3: Câu bị động trong tiếng Việt
Chương 4 : Những tương đồng và khác biệt của câu bị động trong tiếng Việt và tiến Hán
Trang 9Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm câu bị động trong ngôn ngữ học
1.1 Khái niệm dạng
Dạng là một phạm trù ngữ pháp phổ biến của động từ Trong một phát ngôn, ta thường phân biệt hai yếu tố liên quan đến động từ : chủ ngữ ngữ pháp và đối tượng của hành động Trong đó chủ ngữ ngữ pháp có thể là chủ thể của hành động nhưng cũng có thể là đối tượng của hành động Mối quan
hệ giữa hành động, chủ thể hành động và đối tượng của hành động có thể được biểu thị bằng dạng thức của hành động Lúc này, căn cứ vào dạng thức của động từ chúng ta có thể biết được chủ ngữ ngữ pháp là tác nhân gây ra hành động hay là đối tượng chịu sự tác động của hành động
Các dạng thức khác nhau của động từ dùng để biểu thị mối quan hệ giữa chủ thể và hành động chính là sự thể hiện của phạm trù dạng
Phạm trù dạng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau tùy theo từng ngôn ngữ Nếu như trong tiếng Latin dạng được thể hiện bằng hình thái của động từ thì trong tiếng Anh, tiếng Pháp nó lại được thể hiện bằng sự kết
hợp giữa trợ động từ to be ( tiếng Anh ) hay être ( tiếng Pháp ) với phân từ
điểm riêng của mình về hiện tượng ngôn ngữ thú vị này
Trong các ngôn ngữ có phạm trù dạng, khi đề cập đến phạm trù dạng của động từ (chủ yếu là động từ ngoại động ) người ta thường phân biệt hai
Trang 10hình thái đối lập của dạng là hình thái chủ động ( active forms ) và hình thái
bị động ( passive forms ), cũng thường được gọi là dạng chủ động ( active voice ) và dạng bị động ( passive voice )
Trong các ngôn ngữ không có phạm trù dạng, phương thức bị động thường được thể hiện qua các giới từ, hư từ, trợ từ hoặc các động từ đặc biệt
1.2 Dạng bị động trong các ngôn ngữ tổng hợp tính/biến hình
Ở các ngôn ngữ biến hình dạng bị động là một hiện tượng phổ biến Thông thường, trong các ngôn ngữ này chúng ta có thể thấy được hai dạng của động từ :
Mr.Chinh call me ( Ông Chinh gọi tôi ) Trong đó Mr.Chinh vừa có
vai trò là chủ ngữ ngữ pháp lại vừa là tác nhân của hành động call, do đó từ
call có dạng chủ động
Un camion a renversé un pieton ( Một chiếc xe tải đã làm ngã một người đi bộ ) Ở đây camion vừa là chủ ngữ ngữ pháp vừa là tác nhân của hành động renversé
- Dạng bị động :
Dạng thức này được sử dụng khi chủ ngữ ngữ pháp là đối tượng chịu tác động của hành động do một chủ thể khác gây ra Trong các ngôn ngữ biến hình ( Anh, Pháp, Nga …, gọi chung là ngôn ngữ Ấn – Âu ), dạng bị động là tập hợp các hình thái động từ bị động Đây là dạng thức phổ biến trong các ngôn ngữ Ấn Âu
Xét ví dụ sau :
Trang 11Tea is drunk by the farmer everyday Ở đây chủ ngữ ngữ pháp tea là
đối tượng chịu sự tác động của hành động drink do chủ thể famer tạo ra
Станкu производятся этим заводом ( Những chiếc máy được sản xuất bởi nhà máy này ) Chủ ngữ ngữ pháp cтанкu là đối tượng chịu sự tác động của hành động производятся do chủ thể заводом gây ra
- Dạng phản thân :
Bên cạnh 2 dạng thường gặp trên, trong các ngôn ngữ tổng hợp tính/biến hình người ta còn nhắc tới dạng phản thân của động từ Dạng phản thân được sử dụng trong những tình huống khi chủ thể gây ra hành động đồng thời cũng là chủ thể chịu sự tác động của chính hành động đó Dạng thức này thường gặp trong một số ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga, tiếng Pháp
Một số động từ phản thân trong tiếng Nga :
мытся/rửa, купается/tắm, оставлятся/rời xa, ( nguyên dạng : мыть, оставлять, купаетъ)
Do đó, người ta nói đến dạng khi người ta nói có thể sử dụng hai hoặc hơn hai hình thức ( chủ động, bị động, phản thân ) của vị từ để thể hiện các kiểu khác nhau của mối quan hệ giữa vị từ với các tham tố của hành động
1.3 Dạng bị động trong các ngôn ngữ phân tích tính/đơn lập
Do các ngôn ngữ thuộc nhóm phân tích tính/đơn lập không có sự biến đổi hình thái từ nên các ngôn ngữ này không có các phạm trù ngữ pháp như : giống, số, cách, ngôi, thức, thể, thời, dạng Do trong các ngôn ngữ phân tích tính/đơn lập không có dạng, nên hiển nhiên chúng cũng không có dạng chủ động, dạng bị động Tiếng Việt và tiếng Hán là các ngôn ngữ phân tích tính/đơn lập nên khi muốn thể hiện kiểu nói bị động thì bắt buộc phải thêm
một số động từ đặc biệt ( bị, được, phải ) trong tiếng Việt; các trợ từ ( 给 , 所 )
hay các giới từ ( 被 ,叫 ,让 ) trong tiếng Hán
Xét các ví dụ sau :
Trang 12a) 老 虎 给 打 死 了 ( Con hổ đã bị đánh chết ) Trong câu này, để biểu
thị kết cấu bị động trong tiếng Hán, chúng ta phải sử dụng trợ động từ 给
b) Tên trộm đã bị bắt Trong tiếng Việt, muốn thể hiện kết cấu bị động
thì buộc phải sử dụng các động từ tình thái như bị, được, phải
Nhiều nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động hay câu bị động do từ trong tiếng Việt không có sự biến đổi hình thái Tuy nhiên, một số học giả khác lại cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu/câu bị động trong tiếng Việt Sở dĩ có điều này là do họ căn cứ vào sự tồn tại của các
cấu trúc có vị ngữ gồm được/ bị kết hợp với một động từ ngoại động
2 Quan niệm về câu bị động trong tiếng Hán
Vấn đề Câu bị động trong tiếng Hán là một vấn đề không mới Nhưng trước đây, trong những giai đoạn nghiên cứu đầu tiên, người ta chủ yếu lấy lý luận ngữ pháp truyền thống làm cơ sở để phân tích các đặc điểm cú pháp của câu bị động Phải đến thập kỷ 80 của thế kỷ trước mới xuất hiện những hướng nghiên cứu mới về câu bị động Các nhà nghiên cứu trong giai đoạn này đã có
sự khái quát kiểu câu, phân tích ngữ nghĩa của câu bị động
2.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu
Câu bị động tồn tại khách quan trong tiếng Hán hiện đại Việc nghiên cứu câu bị động là một đề tài quan trọng trong việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, nhưng trong giai đoạn đầu thường tập trung lấy ngữ pháp truyền thống làm cơ sở, chủ yếu phân tích các đặc điểm cú pháp của câu bị động Từ những năm 80 trở lại đây, cùng với việc tiếp thu những lý thuyết về ngữ pháp mới thì việc nghiên cứu ngữ pháp đã không ngừng đi sâu, nghiên cứu câu bị động cũng bước sang giai đoạn mới, bắt đầu nghiên cứu từ các bình diện khác nhau, khái quát kiểu câu, đặt biệt là phân tích sâu từ góc độ ngữ nghĩa của câu
bị động Tuy nhiên số lượng các học giả nghiên cứu về câu bị động trong
Trang 13tiếng Hán không nhiều, và câu bị động vẫn chưa thật sự trở thành đối tượng nghiên cứu chính Có thể điểm qua dưới đây một vài tác giả đã đề cập đến câu
bị động trong tiếng Hán trong những nghiên cứu của họ:
Triệu Nguyên Nhiệm (1979) trong cuốn “Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng
Hán”《汉语口语语法》chỉ ra rằng : “ Các giới từ “ 被/叫 / 让 /给 ” đều đặt trong câu bị động dẫn ra chủ thể phát ra động tác, tần suất sử dụng giảm dần Nhưng hiện nay vẫn chưa có một phân tích định lượng nào phản ánh tình hình sử dụng câu bị động dùng “被/叫 / 让 /给”
Châu Nhất Dân (1998) trong cuốn “Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Bắc
Kinh”《北京话口语语法》(tuyển tập ngữ pháp) nói rằng: “ Trong ngôn ngữ
nói của tiếng Bắc Kinh không có giới từ ‘被’, biểu thị chủ thể phát ra động tác phải dùng ‘叫 / 让’, đôi khi dùng ‘给’, và rằng trong tiếng Bắc
Kinh khẩu ngữ thường dùng ‘叫 / 让’ “
Tuy nhiên, cũng có những quan điểm cụ thể về câu bị động trong tiếng Hán: Trong quyển “Ngữ pháp hiện đại trung quốc”《中国现代语法》tác giả
Vương Lực đã định nghĩa câu bị động là câu " tất cả những câu tường thuật biểu thị hành vi mà người bị tác động là chủ ngữ ” ( 凡叙述词所标示的行为
Sách “ Ngữ pháp hiện đại ” 《现代 汉语语法》của khoa tiếng Hán đại
học Bắc Kinh cho rằng : " chủ ngữ đối với vị ngữ , có những chủ ngữ là sự việc bị tác động Trong tiếng Hán, trong câu mà có chủ ngữ là sự việc chịu sự tác động thì là câu bị động “
Tác giả Tống Ngọc Trụ trong cuốn “ Những câu đặc thù của tiếng Hán
Trang 14《现代汉语特殊句》 thì cho rằng: "câu bị động là để chỉ những câu mà chủ ngữ không phải đối tượng phát ra hành động của động từ vị ngữ mà là dối tượng chịu tác động của đông từ vị ngứ đó ” Ông đưa ra ví dụ :
đấu tranh
Ông giải thích trong câu này Trung Như Lôi ko thể tự mình đưa ra làm đối tượng đấu tranh , mà là đối tượng bị tác động bởi đông từ vị ngữ Do đó
đây là câu bị động
Hoàng Bá Tống và Miêu Mâu Đông trong quyển “Ngữ pháp hiện đại”
《现代汉语》có viết : “ chủ ngữ chịu sự tác động mà lại dùng từ "被" để đưa
ra sự việc, hoặc để "被" trực tiếp đứng trước động từ để biểu thị câu bị đông, gọi là câu chữ bị ( tức câu bị động ) ”
Lữ Tố Tương trong “100 từ hán hiện đại”《现代汉语八百词》cho rằng:
"câu chữ " 被 " trong tiếng Hán là một loại câu bị động, dẫn vào hành động người phát hành động Chủ ngữ đằng trước là đối tượng chịu tác động, động
từ đằng sau chủ yếu là từ ngữ biểu thị sự hoàn thành hoặc kết quả hoặc bản thân động từ cũng đã chứa những thành phần thể hiện loại này ”
Tôn Đức Kim trong cuốn “Giáo trình ngữ pháp tiếng Hán”《汉语语法教程》(Nxb Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh) chỉ ra : "những câu có từ"被" thể
hiện sự bị động (gồm cả từ " gọi là" "cho phép" v.v tham gia cấu thành câu đều gọi là câu chữ "被" (tức câu bị động)”
Lưu Minh Hòa, Phan Văn Ngô trong cuốn "Ngữ pháp thực dụng tiếng
Hán hiện đại "实用现代汉语语法》có viết : “trước động từ làm vị ngữ có một
Trang 15giới từ biểu thị " 被 " hoặc có cụm giới từ làm trạng ngữ do "被" kết hợp tạo
thành, thì được gọi là câu chữ " 被 ”( tức câu bị động) ”
Như vậy có thể thấy trong tiếng Hán hiện đại những câu có chứa giới từ biểu thị nghĩa bị động như "被/叫 / 让/给 " , lấy chữ "被 " làm đại diện, được
gọi chung là câu chữ " bị" cũng có thể được coi là câu chữ "被 " là những câu
bị động
2.2 Quan niệm của tác giả luận văn
Sau khi trình bày một số quan niệm của các nhà nghiên cứu về vấn đề
bị động trong tiếng Hán, chúng tôi thấy rằng :
- Nếu như trong tiếng Việt có 2 luồng ý kiến khác nhau về vấn đề có hay không có cấu trúc bị động thì trong tiếng Hán các học giả Trung Quốc đều nhất quán thừa nhận sự tồn tại của câu bị động
- Trong tiếng Hán tồn tại câu bị động Các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đều chung nhận định : những câu nào mà chủ ngữ không phải đối tượng phát ra hành động của động từ vị ngữ mà là đối tượng chịu tác động của đông
từ vị ngữ đó là câu bị động
- Câu bị động trong tiếng Hán có những dấu hiện nhận biết khá rõ rệt :
đó là sự xuất hiện của các giới từ被/叫 / 让 /给, đặc biệt là từ 被 Vì vậy mà
câu bị động trong tiếng Hán còn được gọi là câu chữ被
- Bên cạnh những câu bị động có đánh dấu bằng các từ被/叫 / 让 /给
còn có những câu bị động không có dấu hiệu nhận biết Đấy là những câu mang hàm nghĩa bị động hay những câu mang khái niệm bị động
3 Quan niệm về câu bị động trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt bị động là một trong những vấn đề đã được bàn đến
Trang 16khá nhiều, nhưng cho đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất Nhìn chung, theo cách hiểu truyền thống, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiếng Việt không có phạm trù dạng bị động vì nó không đáp ứng được các tiêu chí ngữ pháp hình thái học Tuy nhiên không phải không có các ý kiến ngược lại
3.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu
Khi bàn về vấn đề bị động trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có quan niệm thống nhất Một số đưa ra quan niệm tiếng Việt có cấu trúc
bị động, trong khi số còn lại thì cho rằng tiếng Việt không có cấu trúc bị động
3.1.1 Quan niệm cho rằng tiếng Việt có cấu trúc bị động
Nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Thản [37] “ không nhận rằng bị là dấu hiệu của dạng bị động của động từ tiếng Việt ” Ông khẳng định rằng các động từ “ được, bị, phải, mắc, chịu ” cũng “ không phải là những hình thức ngữ pháp của dạng bị động ” Ông đưa ra nhận xét “ tuy không dùng từ để biểu thị dạng bị động nhưng tiếng Việt lại dùng cấu trúc cú pháp để biểu thị ý nghĩa bị động ”
Ông không công nhận có dạng bị động của động từ tiếng Việt, nhưng ông vẫn công nhận rằng trong tiếng Việt có cấu trúc bị động Không những vậy, ông còn nêu rõ trong [37, 221] “ cấu trúc bị động trong tiếng Việt có những đặc điểm như sau :
- Cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, ý nghĩa bị động chỉ tồn tại ở những cấu trúc có động từ tác động Những động từ thuộc các tiểu loại vận động, tiếp thu, những động từ thuộc nhóm trung tính và nhóm nội hướng không dùng trong cấu trúc bị động
Song cũng không phải bất kỳ động từ tác động nào cũng có khả năng tham gia cấu trúc bị động Những động từ có thể tham gia cấu trúc đối lập nhau : chủ động, bị động có hai điều kiện sau đây :
a Về mặt chủ quan, bản thân nó phải là động từ không biểu thị những hoạt động có thể tiến hành qua lại giữa chủ thể và đối tượng […]
Trang 17b Về mặt khách quan, và điều này là chủ yếu, chủ ngữ của câu đặt trước những động từ này thường là thể từ và biểu thị sự vật vô sinh
c Có khả năng kết hợp với những động từ về ngữ nghĩa biểu thị sự chịu đựng là bị, được, v.v…
- Một đặc điểm nữa của cấu trúc bị động trong tiếng Việt là nó thường không có thành phần phụ biểu thị chủ thể của hoạt động ”
Tác giả Xtankevich trong [50, 176] cũng khẳng định tiếng Việt có câu
bị động Ông đã liệt kê ra trong tiếng Việt có tất cả 6 kiểu câu bị động : “ Ở tiếng Việt có 6 kiểu câu bị động sau đây :
V1 : Đ + V : Thư viết xong
- Kiểu câu có động từ thụ động là kiểu phổ biến khá rộng;
- Trong khi trình bày ý nghĩa bị động, có sự phân biệt rõ giữa trường hợp “may, tốt” và trường hợp “rủi, xấu”;
- Cái mà người ta gọi là “câu bị động” chỉ là một trường hợp cá biệt trong những biến thể có thể có của kiểu câu có động từ thụ động;
- Vai trò của từ trong câu bị động là một vai trò không rõ nét lắm ”
Hoàng Trọng Phiến trong [33] quan niệm rằng: “ trong tiếng Việt, phương thức đối lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần túy mà bằng con đường từ vựng-ngữ pháp.” Theo đó, câu bị động
Trang 18tiếng Việt có quan hệ cú pháp như sau:
- Bổ ngữ đối tượng trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bị động tương ứng
- Vị ngữ bao gồm các từ “ bị, được, do ” kèm theo ngoại động từ
- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bị động tương ứng
Từ đó sẽ có các khả năng biến đổi từ một câu chủ động tiếng Việt thành các câu bị động tương ứng như sau :
- Thầy giáo khen học sinh
=> Học sinh được thầy giáo khen
- Anh tặng em bó hoa
=> Em được anh tặng bó hoa
=> Bó hoa được/do anh tặng em
- Tôi bảo cô ấy làm cái bánh này
=> Cô ấy làm cái bánh này do tôi bảo
Hai tác giả Nguyễn Hồng Cổn và Bùi Thị Diên cũng nhất trí cho rằng trong tiếng Việt có tồn tại câu bị động Trong [7], sau khi đã phân tích một cách kỹ lưỡng các quan niệm của các tác giả khác nhau về dạng bị động và
câu bị động trong tiếng Việt, hai tác giả đã khẳng định : “ Xét về mặt lý luận cũng như tư liệu thực tế, chúng ta có đủ cơ sở để nói đến sự có mặt của các câu bị động trong tiếng Việt ” Để có thể nhận diện được câu bị động tiếng Việt các tác giả cho rằng “ cũng như trong các ngôn ngữ khác, câu bị động trong tiếng Việt được coi là có quan hệ cải biến với các câu chủ động tương ứng, mặc dù không phải câu chủ động nào cũng chuyển được thành câu bị động Dĩ nhiên, các phép cải biến cú pháp đó phải thỏa mãn các điều kiện về nghĩa học và dụng học của câu bị động […] Xét về mặt hình thức, một câu bị động điển hình của tiếng Việt có thể được nhận diện và phân biệt với câu chủ động dựa vào các tiêu chí sau :
Trang 19a Chủ ngữ (N2) của câu bị động là bổ ngữ của câu chủ động tương ứng Tùy từng trường hợp, đó có thể là bổ ngữ chỉ bị thể, nhận thể, đích đến hoặc vị trí
b Vị ngữ (V) trong câu bị động tiếng Việt được cấu tạo trực tiếp từ vị ngữ của câu chủ động tương ứng bằng cách thêm trợ động từ được/bị vào trước ngoại động từ
c Bổ ngữ (N1) của câu bị động chính là chủ ngữ trong câu chủ động tương ứng Bổ ngữ này thường bị tỉnh lược ( trong câu bị động không có bổ ngữ tác thể ) Nếu không tỉnh lược thì có thể chuyển đến trước V ( trong câu
bị động có bổ ngữ tác thể không có giới từ hoặc ở vị trí sau V ) với điều kiện phải có thêm giới từ bởi ( trong câu bị động có chủ ngữ tác thể giới từ ) ”
Cuối cùng, hai tác giả kết luận : “ trong các ngôn ngữ phân tích tính điển hình như tiếng Việt, ý nghĩa bị động chủ yếu được biểu hiện bằng từ và trật tự từ, và bị động có dáng dấp của một phạm trù thuần túy cú pháp Từ cách nhìn đó, chúng tôi cho rằng mặc dù trong tiếng Việt không tồn tại dạng
bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học thuần túy, nhưng ý nghĩa bị động với tư cách là một loại ý nghĩa ngữ pháp ( đối lập với ý nghĩa chủ động – ngoại động ) vẫn được biểu hiện bằng các phương tiện ngữ pháp nhất định
là từ và trật tự từ, và vì vậy tiếng Việt vẫn có các cấu trúc bị động và câu bị động ” [7]
3.1.2 Quan niệm cho rằng tiếng Việt không có cấu trúc bị động
Các nhà ngôn ngữ theo trường phái loại hình học cú pháp cho rằng trong các ngôn ngữ thiên chủ đề như tiếng Việt thì không thể xuất hiện bị động bởi đó là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ Những người ủng
hộ quan điểm này còn dựa trên quan niệm cho rằng các động từ bị và được là những động từ ngoại động chính danh Tiêu biểu cho quan niệm này phải kể đến Nguyễn Minh Thuyết
Mặc dù phủ nhận sự tồn tại của dạng bị động trong tiếng Việt, nhiều tác
Trang 20giả, trong đó có Nguyễn Minh Thuyết vẫn cho rằng ý nghĩa bị động trong tiếng Việt được biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp hay phương tiện từ vựng
Theo Nguyễn Minh Thuyết cho rằng do tiếng Việt khác hẳn các ngôn ngữ Ấn - Âu về nguồn gốc cũng như loại hình nên các phạm trù ngữ pháp : giống, cách, ngôi, thời, thức, dạng vốn là đặc tính của các ngôn ngữ này không thể xuất hiện trong tiếng Việt Tác giả nhấn mạnh rằng tiếng Việt diễn đạt loại ý nghĩa tương tự ý nghĩa bị động trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, bằng phương tiện từ vựng là các động từ bị và được Để minh chứng cho lập luận này ông đưa ra các lý do sau :
- Khả năng chứng minh bị và được là các từ đồng âm với hai động từ bị
và được gần như không có Ví dụ : Năm Sài Gòn vừa bị (1) bắt vừa bị (2) đòn đau ( Nguyên Hồng ) Tác giả cho rằng cấu trúc “ … vừa … vừa … ” biểu thị quan hệ đẳng lập, là quan hệ chỉ tồn tại giữa các yếu tố cùng loại, vì vậy trong
ví dụ này rất khó để biện minh rằng bị (1) là từ, còn bị (2) là thực từ
- Nếu coi bị, được là từ đi kèm động từ để cấu tạo dạng bị động thì phải chấp nhận một kiểu cụm động từ có danh từ đứng chen giữa phần đầu với phần trung tâm Trên thực tế, chính bộ phận đứng sau bị, được mới chinh là thành tố phụ của cụm động từ này Vì :
+ Chúng dễ được thay thế bằng các từ nghi vấn như “được gì ?” ( Được thầy khen ), “Bị làm sao ?” ( Bị thầy chê )
+ Chúng dễ được đảo lên đầu câu “ Thầy khen tôi cũng được vài lần rồi, còn chê thì chưa hề bị ”
- Khi đằng sau bị, được xuất hiện một chuỗi động từ quan hệ bình đẳng với nhau, trong đó có những động từ không có ý nghĩa bị động và không quan
hệ trực tiếp với bị, được, nếu giải thích bị, được là từ cấu tạo dạng bị động của một động từ trong chuỗi thì ta sẽ rất lúng túng khi phải giải thích quan hệ giữa các từ ấy với những động từ còn lại Ví dụ : Nhà vua bị họ Mạc sai người vào ngục giết chết ( Nguyễn Đổng Chi )
Trang 21- Việc giải thích tổ hợp của bị, được với ngoại động từ là dạng bị động mâu thuẫn với một thực tế là ở “ dạng bị động ” này, ngoại động từ tiếng Việt vẫn giữ khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng Ví dụ : Con người bị những của cải
mà nó tạo ra thống trị lại nó, và chi phối nó.( Nguyễn Đình Thi ).[4]
Nguyễn Thiện Giáp trong [14,160-161] khi bàn đến vấn đền bị động
trong tiếng Việt đã như sau : “ Nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ sự tồn tại của phạm trù dạng trong tiếng Việt Một số người đưa ra những lí lẽ sau :
- Nếu coi bị, được là phương tiện biểu hiện dạng bị động thì giải thích như thế nào trường hợp bị, được được dùng hoàn toàn như một vị từ, thí dụ :
Nó bị đòn; Nó được nghỉ
- Nếu coi bị, được là phương tiện để cấu tạo dạng bị động thì phải chấp nhận một kiểu đoản ngữ vị từ có danh từ đứng chen giữa phần đầu với phần trung tâm Thí dụ : Được thầy khen; Bị thầy chê
- Khi đằng sau bị, được xuất hiện một chuỗi vị từ quan hệ bình đẳng với nhau, trong đó có những vị từ không có ý nghĩa bị động, như : Nhà vua bị
họ Mạc sai người vào ngục giết chết, thì phải giải thích quan hệ giữa bị, được với những vị từ như thế nào ?
- Thực tế, khi kết hợp bị, được với vị từ ngoại động, vị từ ngọai động tiếng Việt vẫn giữ khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng Ví dụ : Con người bị những của cải mà nó tạo ra thống trị lại nó, và chi phối nó.”
Cuối cùng Nguyễn Thiện Giáp đưa ra quan điểm của mình : “ Có lẽ nên quan niệm tiếng Việt diễn đạt ý nghĩa bị động, tương tự ý nghĩa dạng bị động trong các ngôn ngữ Ấn – Âu bằng phương tiện từ vựng là các vị từ bị và được ” [14,161]
3.1.3 Quan niệm của tác giả luận văn về vấn đề bị động trong tiếng Việt
Sau khi trình bày những quan niệm của các nhà nghiên cứu về vấn đề
bị động trong tiếng Việt, chúng tôi thấy rằng:
- Vấn đề dạng, dạng bị động và cấu trúc bị động trong tiếng Việt vẫn
Trang 22còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
- Những nhà nghiên cứu công nhận có cấu trúc bị động trong tiếng Việt
bảo vệ quan niệm của mình bằng các lập luận như “ […] trong tiếng Việt, phương thức đối lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần túy mà bằng con đường từ vựng - ngữ pháp ” [35]; hay “ […] trong các ngôn ngữ phân tích tính điển hình như tiếng Việt, ý nghĩa bị động chủ yếu được biểu hiện bằng từ và trật tự từ, và bị động có dáng dấp của một phạm trù thuần túy cú pháp”[7]
- Còn những nhà nghiên cứu phủ nhận sự tồn tại của cấu trúc bị động
trong tiếng Việt thì đưa ra ý kiến : “ Có lẽ nên quan niệm tiếng Việt diễn đạt ý nghĩa bị động, tương tự ý nghĩa dạng bị động trong các ngôn ngữ Ấn – Âu bằng phương tiện từ vựng là các vị từ bị và được”[14]
Qua quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ phân tích tính/đơn lập như tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy không thể công nhận có phạm trù dạng trong tiếng Việt Bởi nếu công nhận có phạm trù dạng thì tất nhiên cũng phải công nhận các phạm trù ngữ pháp khác như thời, thể, ngôi, giống, số …, những phạm trù đặc trưng của các ngôn ngữ tổng hợp tính/biến hình Hơn nữa, “dạng” nghĩa
là dạng thức của động từ, tức là một động từ sẽ có nhiều dạng khác nhau Điều này là không thể trong một ngôn ngữ đơn lập không biến hình như ở tiếng Việt
Nhưng không thể phủ nhận một thực tế là trong tiếng Việt tồn tại cấu trúc bị động Tiếng Việt hoàn toàn có thể diễn đạt ý nghĩa bị động, tương tự ý nghĩa dạng bị động trong các ngôn ngữ tổng hợp tính/biến hình Tuy nhiên, để diễn đạt ý nghĩa bị động này tiếng Việt dùng phương thức từ vựng ( là các vị
từ bị/được ), chứ không phải bằng phương thức ngữ pháp như ở các ngôn ngữ
Ấn – Âu
Tuy nhiên, cấu trúc bị động trong tiếng Việt có lẽ thiên về “dạng” may/rủi nhiều hơn là “dạng” bị động Nếu như dạng bị động là rõ ràng và có
Trang 23quy luật biến đổi trong các ngôn ngữ Ấn – Âu thì cấu trúc bị động trong tiếng Việt phần lớn phải dựa vào mặt từ vựng ngữ nghĩa để nhận diện Thật vậy, tính chất may rủi được thể hiện rất rõ trong các câu có kiểu nói bị động, ví dụ :
- Chương trình này được tài trợ bởi Vinamilk
- Cầu Long Biên được người Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ 19
- Thủ tướng Đức bị chỉ trích bởi các thành viên thuộc đảng đối lập
trong chính phủ
Trang 24Chương II CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG HÁN
1 Nhận diện câu bị động trong tiếng Hán
Câu bị động trong tiếng Hán là loại câu mà quan hệ giữa chủ ngữ
và vị ngữ là quan hệ bị động : chủ ngữ là chủ thể chịu sự tác động của hành vi mà động từ vị ngữ biểu thị, chứ không phải là chủ thể thực hiện hành vi đó Câu bị động là một kiểu câu cơ bản của tất cả các ngôn ngữ, nhưng cấu trúc ngữ pháp của câu bị động trong các ngôn ngữ khác nhau đều tồn tại một số điểm khác biệt
Trong tiếng Hán, về ngữ nghĩa, câu bị động chỉ sự thay đổi về mặt trạng thái do chủ thể chịu sự tác động của động tác gây ra, hoặc có thể nói động tác làm chủ thể chịu sự tác động có sự thay đổi về mặt trạng thái , những câu mang đặc trưng như thế được gọi là câu bị động
Câu bị động trong tiếng Hán thường được nhận diện bằng các giới từ
“被/叫 / 让/给”xuất hiện trong câu Chẳng hạn như :
văn trong xã hội phân chia giai cấp phải chịu sự chi phối bởi ý thức giai cấp của chính giai cấp mình
bị đội thể dục thể thao Bắc Kinh, Thượng Hải chọn mất rồi
Tuy nhiên, không phải cứ có sự xuất hiện của các từ “被/叫 / 让” trong câu thì đó là câu bị động Trong “Từ điển tiếng Hán hiện đại” (2002) có
3 nghĩa của từ “被”, thứ nhất là “cái chăn”; thứ 2 (sách) “che”, “che đậy”;
Trang 25thứ 3: “bị”, “gặp phải” dùng trong câu biểu thị chủ ngữ là chủ thể chịu sự tác động của động tác (chủ thể phát ra động tác đặt sau chữ “被”, nhưng thường được tỉnh lược); có thể dùng trước động tự tạo thành cụm từ bị động:
bị áp bức/bị phê bình/giai cấp bị bóc lột Rõ ràng 3 chữ “被” này thuộc 3 từ loại khác nhau: “被”1 là danh từ, “被”2 là động từ, “被”3 thường được cho rằng: là giới từ khi dẫn ra chủ thể phát ra động tác, là trợ từ khi đặt trước động từ (1 quan điểm khác cho rằng đều là giới từ)
Trạng thái ngữ nghĩa của câu bị động là chỉ chữ “被” thay đổi từ biểu thị ngữ nghĩa của hành động “gánh chịu” đến biểu thị ngữ nghĩa trạng thái bị động Diễn biến ngữ nghĩa này của chữ “被”được biểu hiện là hình thức phân chia và tính thời gian của cú pháp chữ “被”giảm dần thành không phân chia và không mang tính thời gian
Cũng trong “Từ điển tiếng Hán hiện đại ”(2002) thì “让” là 1 từ, nhưng các lớp nghĩa của nó cũng rất phức tạp, tổng kết lại có 3 lớp nghĩa: thứ nhất là động từ, ví dụ: nhượng bộ, chuyển nhượng, nhường đường; thứ hai là động từ biểu thị sự cho phép: ai bảo anh tới/ để tôi nghĩ kỹ xem; thứ 3 với nghĩa là “bị”, nhưng chủ thể phát ra động tác đứng sau “让”không thể tỉnh lược “叫”cũng chia thành “叫”1 và “叫” 2 Nghĩa thứ nhất là chỉ các động từ “kêu”, “la hét”, “gọi”, “gọi là”…, nghĩa thứ hai bao gồm: “làm cho”,
“bảo” và “bị”
Câu bị động sử dụng 3 dấu hiệu nhận biết này, thông thường trong khẩu ngữ dùng “被/叫 / 让”, trong những trường hợp trang trọng thì dùng câu chữ “被” (Lữ Thục Tương chủ biên, 1980)
Trang 26Trong 3 từ “被/叫 / 让”có thể thấy: giới từ “被” chỉ là 1 từ, chuyên biểu thị ý nghĩa bị động “叫 / 让”biểu thị bị động thì chỉ là 1 lớp nghĩa trong mấy lớp nghĩa, còn lớp nghĩa là động từ thì được dùng nhiều hơn Quyển từ điển đại diện cho từ điển hư từ “Tiếng Hán 800 câu” (1980) đã so sánh nghĩa bị động của “被” “叫(2)” và “让”chỉ ra rằng :
1) Với cách sử dụng giới từ thì “叫 / 让” cơ bản giống “被”, “叫
/ 让”dùng trong khẩu ngữ Trường hợp chính thức, trang trọng, nghiêm túc thì dùng “被”, không dùng “叫 / 让”
2) Khi sau giới từ “叫 / 让” là danh từ chỉ người thì dễ nhầm lẫn với cách sử dụng của động từ; “被” không có hiện tượng này
3) “被” thường trực tiếp dùng trước động từ, là trợ từ biểu thị bị động Trong cuốn “Tiếng Hán 800 câu” đã chỉ rõ rằng “叫 / 让”dùng trong khẩu ngữ, và khi sau giới từ “叫 / 让”là danh từ chỉ người thì có thể sẽ bị nhầm lẫn với cách sử dụng của động từ, “被” không có hiện tượng này Do
đó có thể thấy, “被/叫 / 让”về mặt ý nghĩa tồn tại rất nhiều sự khác biệt,
giới từ “被” là từ chuyên chỉ nghĩa bị động, “叫 / 让” biểu thị bị động chỉ là một lớp nghĩa trong nhiều lớp nghĩa của hai từ này
Hiểu câu chủ động với ý nghĩa xử lý thì câu bị động sẽ được hiểu với ý nghĩa bị xử lý, cũng chính là người hay sự vật làm chủ ngữ đều là chủ thể chịu sự tác động của hành động, do động từ thực hiện hành vi xử lý, ý nghĩa
xử lý chủ yếu căn cứ vào sự chuyển đổi của “被”, hành vi xử lý mang lại ảnh hưởng nhất định đối với chủ ngữ, có thể đưa đến sự thay đổi về mặt trạng
Trang 27thái, hoặc thay đổi về kết quả, quan hệ ngữ pháp phức tạp này chính là do hành vi xử lý gây ra Thông thường hành vi bị xử lý sẽ làm cho chủ ngữ có những thay đổi bất hợp lý, vì vậy, trong việc sử dụng ngữ pháp thực tế thì被
thường nói lên một vài ý nghĩa làm cho người ta không hài lòng
Bất kể là câu bị động có dấu hiệu nhận biết hoặc không có dấu hiệu nhận biết, đều có thể diễn đạt rất rõ về chủ thể phát ra hành động và chủ thể chịu sự tác động của hành động, ví dụ câu bị động không có dấu hiệu nhận
biết nếu muốn diễn đạt ý nghĩa ăn xong, có thể nói 吃完了饭 ( đã ăn cơm xong ) hoặc 饭吃完了( cơm ăn xong rồi) Câu thứ nhất biểu thị hành động,
chỉ người nào đó đã ăn cơm, còn câu thứ hai biểu thị sự tác động của hành động, cơm bị người nào đó ăn hết rồi Nhưng câu bị động có dấu hiệu nhận biết sẽ thể hiện rõ hơn quan hệ phát ra hành động và chịu sự tác động của hành động, và câu có từ “被” chính là mẫu câu điển hình cho câu bị động có dấu hiện nhận biết
2 Đặc điểm và kết cấu câu bị động tiếng Hán
Chủ ngữ của phần lớn các câu trong tiếng Hán đều là chủ thể thực hiện hành động, nhưng cũng có khi về mặt ý nghĩa chủ ngữ lại là người hay vật chịu sự chi phối của hành động ấy Loại câu này là câu bị động về ý nghĩa Chẳng hạn như :
- 入 学 通 知 书 寄 来 了 : Giấy báo nhập học đã được gửi tới rồi
- 飞 机 票 还 没 买 到 : Vé máy bay còn chưa mua được
Trong tiếng Hán câu bị động biểu thị thay đổi trạng thái Trạng thái ngữ nghĩa của câu bị động là chỉ chữ “被”thay đổi từ biểu thị ngữ nghĩa của hành động “gánh chịu” đến biểu thị ngữ nghĩa trạng thái bị động Diễn biến ngữ nghĩa này của chữ “被”được biểu hiện là hình thức phân chia và tính thời
Trang 28gian của cú pháp chữ “被”giảm dần thành không phân chia và không mang tính thời gian
Trong câu bị động, những câu có chữ như chữ “被”được cho là dấu hiệu nhận biết điển hình của câu bị động, bởi vậy, để nghiên cứu câu bị động thay đổi về trạng thái, chúng ta nên tìm hiểu sự thay đổi về chữ “被” trước
Trong ngữ nghĩa tiếng Hán, “被”nghĩa chính là “cái chăn”, là danh từ, sau này qua nhiều giai đoạn phát triển đã được sử dụng như động từ, và bắt đầu mang nghĩa “che đậy”, “chịu đựng” (“Từ Hải”) “被”được dùng là động từ
đã bao gồm tính thời gian của động tác, cũng chính là “bị bao nhiêu lần”, trong thực tiễn cuộc sống, thông thường chúng ta nói “chịu đựng bao nhiêu lần” Theo nghĩa này, nhờ đó mà từ “被”trong quá trình thao tác về măt ngữ pháp thì có thể được coi là là động từ có thể tiến hành phân chia động tác, ví
dụ “bị bát thương”, chính là bị thương nhiều lần, tổng cộng có tám lần “Rất nhiều lần” nói lên một khái niệm mang tính thời gian, “tổng cộng có tám lần” chính là đặc trưng phân chia về lượng
Về mặt sử dụng ngữ nghĩa thực tế, đặc trưng phân chia về lượng của
“被” chủ yếu là do bản thân nó có khái niệm biểu thị thời gian, thuộc tính thời gian được thể hiện ở chỗ có thể thêm trạng ngữ thời gian phía trước nó
- Câu bị động biểu thị quan hệ phát ra động tác và chịu sự tác động của động tác Một hành động cần phải có chủ thể phát ra hành động đó, đôi khi còn có chủ thể chịu sự tác động của hành động đó hoặc đối tượng mà hành động đó hướng tới, cả quá trình thực hiện hành động bao gồm hai bình diện quá trình và kết quả của hành động Khi phân tích quá trình tiến hành hành động, nếu xem xét từ góc độ chủ thể phát ra hành động thì nên tập trung vào
Trang 29việc hành động đó được phát ra như thế nào, và trạng thái thời gian của nó ….; nếu xem xét từ góc độ chủ thể chịu tác động của hành động thì nên chú ý đến trạng thái và kết quả của nhiều hơn chủ thể đó, cũng chính là ảnh hưởng mà đối tượng phải gánh chịu
Bất kể là câu bị động có dấu hiệu nhận biết hoặc không có dấu hiệu nhận biết, đều có thể diễn đạt rất rõ về chủ thể phát ra hành động và chủ thể chịu sự tác động của hành động, ví dụ câu bị đông không có dấu hiệu nhận biết nếu muốn diễn đạt ý nghĩa ăn xong, có thể nói 吃完了饭”(đã ăn cơm xong) 饭吃完了(cơm ăn xong rồi) câu thứ nhất biểu thị hành động, chỉ người nào đó đã ăn cơm câu thứ hai biểu thị chịu sự tác động của hành động, cơm bị người nào đó ăn hết rồi Nhưng câu bị động có dấu hiệu nhận biết sẽ thể hiện
rõ hơn quan hệ phát ra hành động và chịu sự tác động của hành động, câu có
từ “被”chính là mẫu câu điển hình cho câu bị động có dấu hiện nhận biết
Đánh giá một hành động là thực hiện hay chịu sự tác động, quan trọng
là dựa trên nhận thức của chúng ta về thế giới khách quan, chúng ta xuất phát
từ góc độ chủ thể thực hiện hành động hay chủ thể chịu sự tác động thì góc độ khác nhau sẽ cho chúng ta nhận thức về hiện tượng khác nhau, nhưng ý nghĩa kết quả mà nó biểu đạt thì giống nhau
Trong tiếng Hán loại câu bị động thường được đánh dấu bằng các giới
từ 被 / 叫 / 让 hay bằng các trợ từ 给 và 所 Những cũng có loại câu bị động không có dấu hiệu nhận biết Những câu này được gọi là câu mang hàm ý
bị động, câu mang khái niệm bị động Ví dụ như :
饭吃完了 : Cơm ăn hết rồi
Trang 302.1 Loại câu bị động có giới từ 被 / 叫 / 让
Câu thuộc dạng cấu trúc bị động này có thể được công thức hóa như sau: chủ ngữ + 被 / 叫 / 让 + tác nhân + động từ + thành phần khác
Trong đó chủ ngữ là người hay vật chịu sự chi phối của hành động, còn tác nhân thực hiện hành động lại là tân ngữ của giới từ 被 / 叫 / 让 Chẳng hạn như :
- 新 画 报 被 同 学 借 走 了。Hoạ báo mới học sinh đã mượn đi rồi
- 录 音 机 叫 爸 爸 送 上 了。Cát-xét bị ba tắt rồi
Loại câu bị động này có những đặc điểm sau :
a Động từ vị ngữ của loại câu này phải là động từ cập vật ( động từ có tân ngữ ), về ý nghĩa có thể chi phối được chủ ngữ
b Phía sau động từ nói chung thường có thành phần khác như 走 了,
上 了,在 家 里 了 trong ba câu ví dụ trên
c 被,叫,让 cùng với tác nhân theo sau tạo thành ngữ giới tân làm trạng ngữ
d 被 thường được dùng trong cả viết lẫn nói, còn 叫 hay 让 thường được dùng trong khẩu ngữ Tân ngữ sau 被 có thể có mà cũng có thể không, còn sau 叫 hoặc 让 bắt buộc phải có tân ngữ, nếu không biết hoặc không thể nói ra thì dùng 人 Ví dụ :
- 那 个 工 人 被 救 活 了。 Người công nhân ấy đã được cứu sống
Trang 31- 他 的 自 行 车 叫 人 偷 走 了。 Xe đạp của anh ấy bị người ta lấy cắp rồi
Nếu câu có động từ năng nguyện và phó từ phủ định, chúng sẽ được đặt trước 被,叫,让 Ví dụ:
妹 妹 的 衣 服 没 有 让 雨 弄 湿 : Áo của em gái không bị mưa ướt
这 个 玩 具 现 有 不 能 叫 孩 子 看 见 : Đồ chơi này bây giờ chưa thể cho
con nhìn thấy
Câu bị động có sự xuất hiện của 被 có những dạng thức như sau :
a Do “被” dẫn ra chủ thể phát ra động tác, dạng thức là :
受事+被十施事+动词性词语 chủ thể chịu sự tác động + 被 + chủ thể phát ra động tác +
từ mang tính chất động từ
Ví dụ :
b Sau “被” , chủ thể phát ra động tác không xuất hiện, dạng thức là:
Trang 32có hai âm tiết
Ví dụ :
biểu hiện bề ngoài
sinh đã bị cảm động sâu sắc bởi những lời dạy của những người cao tuổi, quyết tâm học hành thật tốt
phải rời bỏ quê hương suốt 30 năm
động tác + 给 + từ mang tính chất động từ
Trang 33Ví dụ :
cái gì đó cắt vào
thấy, làm thế nào?
e Cấu trúc “被……把”格式 :
这种句式里的两个受事往往有领属、同一等关系 Hai chủ thể chịu sự tác động của hành động trong câu này
luôn có quan hệ phụ thuộc, ngang nhau
Ví dụ :
ấy bị thuốc nổ gãy mất 1 chân (“ông ấy” và “1 chân” đều là chủ thể chịu sự tác động, hai chủ thể đều có quan hệ phụ thuộc)
Trong cấu trúc này thì “把” có ý nghĩa “xử lý”, và câu chữ “被”
cũng có ý nghĩa “bị xử lý” Tức là người hoặc sự vật mà chủ ngữ biểu thị
về hàm ý là chủ thể chịu sự tác động, bị xử lý bởi hành động mà động từ
vị ngữ biểu thị Hành vi xử lý bắt nguồn từ thành phần đứng sau chữ
“被”, kết thúc việc xử lý làm cho sự vật chủ ngữ có một kết quả nào đó, hoặc có sự thay đổi hay rơi vào một trạng thái, hoặc có một sự trải nghiệm nào đó, tính phức tạp của một phần vị ngữ chính là kết quả của việc phải thể hiện quá trình xử lý này Các ý nghĩa bị xử lý của chủ ngữ đối với chủ ngữ mà nói luôn là không như ý muốn hoặc kỳ vọng Điều
này khiến cho câu chữ “被” thường diễn đạt những sự việc không hài
lòng, không mong muốn
Trang 34Ví dụ :
2.2 Loại câu bị động có trợ từ 给 và 所
Trong tiếng Hán bên cạnh việc sử dụng các giới từ 被 / 叫 / 让 để biểu thị ý nghĩa bị động, người ta còn sử dụng các trợ từ 给 và 所.Câu có sự xuất
hiện của các trợ từ này có những đặc điểm sau :
a Trợ từ 给 có thể dùng trước động từ để biểu thị ý nghĩa bị động Nó
có thể dùng trong câu bị động và cả câu chủ động Chẳng hạn như :
- 教 室 都 让 我 们 给 打 扫 干 净 了。Lớp học đều đã được chúng
tôi quét sạch sẽ
- 老 虎 给 打 死 了。 Hổ đã bị đánh chết
- 大 家 把 新 房 都 给 布 置 好 了。Mọi người đã bày biện xong nhà mới
b Trợ từ 所 có thể dùng cùng với 为 hoặc 被 để biểu thị bị động Loại câu này thường dùng trong văn viết Xét các ví dụ sau :
- 大 家 都 为 他 的 勇 敢 精 神 所 感 动。Mọi người cảm động bởi
tinh thần anh dũng của anh ấy
- 这 个 科 学 结 论 早 已 被 实 践 所 证 明。Kết luận khoa học này
đã được thực tiễn chứng minh từ lâu