Hiểu rõ về đặc điểm cấu tạo, nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ xăng dầu sẽ đóng góp một phần trong việc khẳng định vai trò của tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học- kỹ thuật, đóng góp thiết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô cu ̉a khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn ( Đa ̣i học Quốc gia Hà Nội) đã tạo điều kiê ̣n thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy hươ ́ ng dẫn khoa học, GS.TSKH Lý Toàn Thắng đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi những ý kiến quý báu
Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2009 Tác giả
Đôn Tú Anh
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Lý Toàn Thắng Các số liê ̣u kết quả nêu trong luâ ̣n văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ mô ̣t công trình nào khác
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2009
Đôn Tú Anh
Trang 5NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1
2
Hình 2.1 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các thuật ngữ là từ đơn tiếng
Anh với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương
Hình 2.2 Biểu đồ so sánh tỉ lệ các thuật ngữ là từ phái sinh
tiếng Anh với các thuật ngữ tiếng Việt tương đương
70
71
Trang 7MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn………5
Danh mục bảng biểu ……… 6
MỞ ĐẦU………7
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 7
2 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn………8
2.1 Đối tượng nghiên cứu……….……… 8
2.2 Mục đích nghiên cứu………8
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ………8
3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn ……… 8
3.1 Tư liệu……… 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu………10
4 Kết cấu của luận văn ………10
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN……… 11
1.1 Ngôn ngữ chuyên dụng và ngôn ngữ toàn dân……….11
1.2 Ngôn ngữ khoa ho ̣c……… 12
1.3 Thuật ngữ khoa học……… 13
1.3.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới……… 13
1.3.2 Những nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam……….15
1.3.3 Đặc điểm của thuật ngữ ……… ………17
1.4 Quan niệm của luận văn về thuật ngữ……… 22
1.5 Khái niệm về thuật ngữ xăng dầu 27
1.5.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành xăng dầu Việt Nam……….30
1.5.2 Sự hình thành và phát triển của thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt… 33
Chương 2 ĐỐI CHIẾU CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC HÌNH THỨC CỦA THUẬT NGỮ XĂNG DẦU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 2.1 Yếu tố cấu tạo của thuật ngữ 37
2.2 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh 39
2.2.1 Nhận xét chung 39
Trang 82.2.2 Phân loa ̣i các yếu tố cấu thành thuật ngữ 40
2.3 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh là các từ 44
2.3.1 Thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh là từ đơn 44
2.3.2 Thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh là từ phái sinh 45
2.3.3 Thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh là “từ ghép” (compound ords) 50
2.3.3.1 Cấu trúc hình thức của thuật ngữ ở dạng từ ghép…….51
2.3.3.2 Đặc điểm ngữ pháp của thuật ngữ ở dạng từ ghép……52
2.4 Thuật ngữ xăng dầu là các cụm từ (phrases) ……… 54
2.4.1 Thuâ ̣t ngữ xăng dầu tiếng Anh là cu ̣m danh từ….………55
2.4.2 Thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh là cụm động từ ….…… 59
2.5 Cấu trúc hình thức của thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt là các từ ….60 2.5.1 Nhận xét chung……… 60
2.5.2 Thuật ngữ xăng dầu là từ đơn ……… ……61
2.5.3 Thuật ngữ xăng dầu là từ ghép……… 62
2.6 Đặc điểm cấu ta ̣o của thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt là cu ̣m từ… 63
2.6.1 Nhận xét chung ……….…… 63
2.6.2 Nguyên tắc kết hợp giữa các yếu tố trong thuật ngữ là cụm từ tiếng Việt 64
2.6.3 So sánh thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt có cấu trúc cụm từ với tiếng Anh 66
2.7 Thuật ngữ ở dạng viết tắt……… 67
2.7.1 Thuật ngữ ở dạng viết tắt tiếng Anh……… 67
2.7.2 Sử dụng thuật ngữ viết tắt tiếng Anh trong tiếng Việt….…… 68
2.8 Bảng thống kê tỷ lệ và biểu đồ thể hiện cấu tru ́ c hình thức của thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh trong so sánh đối chiếu với tiếng Việt 69
2.9 Tiểu kết 71
Chương 3 ĐỐI CHIẾU CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC NỘI DUNG CỦA THUẬT NGỮ XĂNG DẦU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 3.1 Nhận xét chung 73 3.2 Sự tương ứng về nghĩa giữa các tiền tố và hậu tố của thuật ngữ
Trang 9tiếng Anh với những yếu tố cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt 75
3.2.1.Các hậu tố làm thay đổi từ loại và cộng thêm nghĩa cho thuật ngữ 75
3.2.1.1 Các chủ thể của hành động được cấu tạo từ động từ bằng cách thêm hậu tố -er ; -or; -ant; -ee, -ist .75 3.2.1.2 Các hoạt động, các quá trình trong lĩnh vực xăng dầu được thể hiện dưới dạng danh từ bằng cách cộng vào
động từ các hậu tố như –ment; -ture ; -tion ; -sion ; -is ;- y; -ance ….mang nghĩa “sự, việc, cuộc, hoạt động”… 76
3.2.1.3 Hình vị hậu tố –able và –ity mang nghĩa “khả năng”…77 3.2.2 Các tiền tố làm thay đổi từ loa ̣i và cô ̣ng thêm nghĩa cho thuâ ̣t ngữ 78
3.2.2.1 Tiền tố anti- diễn đạt nghĩa chống đối, phản đối của hành động, sự việc……… 78 3.2.2.2 Tiền tố multi- diễn đạt thêm nghĩa đa, nhiều của hành động, sự việc được thể hiện ……….……78 3.2.2.3 Tiền tố pre- diễn đạt nghĩa về một hành động xảy ra trước một quá trình khác ……….…79 3.2.2.4 Tiền tố re- diễn đạt thêm nghĩa làm lại … ………….79 3.2.2.5 Tiền tố de- diễn tả nghĩa loại bỏ, khử, tách….……… 80 3.2.2.6 Tiền tố mis- diễn đạt nghĩa sai, lỗi, nhầm , hòa trộn, pha tạp ……….………80
3.2.2.7 Các tiền tố diễn đạt nghĩa phủ định: dis-; in-; ir-
và non- ……… 80
3.3 Việc tạo nghĩa của thuật ngữ là từ ghép ……… 82
3.3.1 Từ ghép chính phụ theo kiểu “Adj + N”………….…….83 3.3.2 Từ ghép chính phụ theo kiểu“ N + N”……… 84 3.1.3 Từ ghép chính phụ theo kiểu “Verbial+ N”………….….86
3.4 Cách tạo nghĩa của thuật ngữ qua cấu trúc cụm từ……… 87
3.4.1 Thuật ngữ cụm từ với tư cách một đơn vị từ vựng ……… 87
Trang 103.4.2 Cách kết hợp các thành tố để tạo ra nghĩa của thuật ngữ là cụm từ 89
3.5 Tiểu kết ……….… 91
KẾT LUẬN……… ……… 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ….96
PHỤ LỤC ………
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, toàn cầu hóa là một qui luật phát triển tất yếu khách quan của xã hội Trong xu thế này,Việt Nam đang trên con đường đổi mới và hội nhập, cùng với những ngành kinh tế, các ngành khoa học – kỹ thuật ngày càng được chú trọng Ngành xăng dầu Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình chuyển đổi đó Xăng dầu là một trong những nguồn tài nguyên quí giá của đất nước, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, có nhiệm vụ đáp ứng mọi nhu cầu về xăng dầu và các sản phẩm hóa dầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và phục vụ đời sống nhân dân trên cả nước Nó chiếm một thị phần trong xuất khẩu, mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế đang phát triển nhanh của Việt Nam
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng việc nghiên cứu các thuật ngữ của ngành xăng dầu chưa được các giới nghiên cứu quan tâm đúng mức trong ngành xăng dầu nói chung, cũng như trong chuyên ngành thuâ ̣t ngữ ho ̣c của bô ̣ môn Ngôn ngữ học nói riêng Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu đối chiếu riêng cho ngành xăng dầu.Vì thế, song song với việc giảng dạy tiếng Anh Thương mại trong nhà trường, việc tiến hành nghiên cứu đối chiếu các thuật ngữ xăng dầu Anh-Viê ̣t là hết sức cần thiết Về mặt lí luận cũng như thực tiễn, việc nghiên cứu này sẽ góp phần sáng tỏ thêm một số vấn đề lí thuyết, cũng như giúp cho việc phát triển hoàn chỉnh các thuật ngữ xăng dầu bằng tiếng Việt
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, đào ta ̣o nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển, hiện đại hóa và hội nhập là một yêu cầu tất yếu và cấp thiết của Việt Nam.Vấn đề thuật ngữ ở Việt Nam hiê ̣n chưa có sự thống nhất cao giữa các quan điểm như: chuyển dịch thuật ngữ, đặt tên thuật ngữ mới, tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài dưới các hình thức khác nhau Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu các đặc điểm về cấu tạo, nội dung ngữ nghĩa của các
Trang 12thuật ngữ xăng dầu là cần thiết Hiểu rõ về đặc điểm cấu tạo, nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ xăng dầu sẽ đóng góp một phần trong việc khẳng định vai trò của tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học- kỹ thuật, đóng góp thiết thực vào truyền bá kiến thức, cũng như việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành trong các trường đại học và cao đẳng hiện nay
2 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ xăng dầu của tiếng Anh được khảo sát trong sự đối chiếu với thuật ngữ tương đương của tiếng Viê ̣t, về các phương diê ̣n như nguồn gốc, phương thức cấu tạo và nội dung ý nghĩa
2.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tiến hành khảo sát, phân tích, đối chiếu các thuật ngữ tương ứng Anh - Việt nhằm tìm ra sự giống nhau và khác nhau trong cách thức cấu tạo, cũng như nội dung ý nghĩa của các thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh và tiếng Việt
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Hệ thống hóa các quan điểm lí luận về thuật ngữ khoa học nói chung
- Hệ thống hóa các quan điểm lí luận về thuật ngữ học ở Việt Nam
- Khảo sát các đặc điểm về cấu trúc hình thức của hai hệ thống thuật ngữ xăng dầu Anh - Việt
3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
3.1 Tư liệu
Tư liệu nghiên cứu chính của luận văn là các thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh được chuyển dịch sang tiếng Việt, thu thập từ các từ điển đối chiếu thuật
Trang 13ngữ xăng dầu Anh- Việt, Việt- Anh, các từ điển thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt, thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh Cụ thể:
- Từ điển kỹ thuật tổng hợp Anh-Việt (1991), Nxb Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội
- Viện Dầu Khí (1996), Từ điển dầu khí Anh - Việt NXB Khoa học và
Kỹ thuật Hà Nội
- Các thông tin cập nhật trên Website (Terminology from Wikipedia,
the free encyclopedia) như:
- Dictionary Bamboo by the online Dictionary
- Bamboo -English - English - Dictionary http:www Socbay.com
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi áp dụng các phương pháp, các thủ pháp chính sau:
Trang 14-Phương pháp nghiên cứ u đối chiếu nhằm tìm ra những điểm chung và những điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ được đưa vào đối chiếu là tiếng Anh và tiếng Viê ̣t
- Phương pháp phân tích miêu tả để nghiên cứu cấu tạo và ý nghĩa của các thuật ngữ Cụ thể, chúng tôi phân tích và miêu tả hình thái, cấu trúc của các thuật ngữ xăng dầu, tìm ra các nguyên tắc cơ bản ta ̣o thành các thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh và các mô hình cấu ta ̣o cơ bản của chúng
- Cuối cùng là phương pháp thống kê định lượng để tính toán các số liê ̣u cần thiết về các thuật ngữ xăng dầu của hai ngôn ngữ
Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức các bảng biểu, giúp hình dung rõ hơn các nét đặc trưng cơ bản về cấu tạo, cấu trúc ngữ pháp, phương thức hoạt động của các thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh và tiếng Việt
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương sau đây:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC HÌNH THỨC CỦA THUẬT NGỮ XĂNG DẦU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC NỘI DUNG CỦA THUẬT NGỮ XĂNG DẦU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Trang 15Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong bối cảnh phát triển xã hội hiện nay, trình độ tri thức về khoa học
là thước đo chính xác và là động lực thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Sự phát triển vô cùng nhanh chóng và rộng rãi của khoa học và công nghệ là điều kiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển phong cách ngôn ngữ khoa học Các thành tựu về khoa học và công nghệ trong và ngoài nước ảnh hưởng một cách trực tiếp đến văn hóa công nghiệp và văn hóa chung của xã hội hiện đại, đến trình độ kiến thức chung và kiến thức khoa học, đến tư duy và ngôn ngữ của xã hội Việt Nam
Viê ̣t Nam phát triển không ngừng nên tiếng Viê ̣t cũng liên tục phát triển để kịp thời phản ánh được thực tiễn cuộc sống Điều này đă ̣c biê ̣t thấy rõ trong sự phát triển nhanh chóng, ma ̣nh mẽ của thuâ ̣t ngữ chuyên ngành liên quan đến mô ̣t số lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa ho ̣c như: ngân hàng, thương
ma ̣i, luâ ̣t pháp, tin ho ̣c, môi trường Ngôn ngữ thực sự giúp cho việc đáp ứng các nhu cầu mo ̣i mă ̣t trong mô ̣t xã hội phát triển, và hoàn thiện những lĩnh vực mới nảy sinh nhờ vào viê ̣c cung cấp, giúp cho con người quen với những từ ngữ mới được tạo ra
Trước khi đi sâu vào miêu tả, phân tích các thuật ngữ xăng dầu của tiếng Anh và tiếng Việt về hai phương diện đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng, về mặt lý luận , chúng ta cần tìm hiểu bao quát về vấn đề ngôn ngữ khoa học nói chung và thuật ngữ nói riêng
1.1 Ngôn ngữ chuyên dụng và ngôn ngữ toàn dân
Xét về mục đích và phạm vi sử dụng, có thể phân chia ngôn ngữ thành: Ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ chuyên dụng Ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ chuyên dụng đều nằm trong hê ̣ thống ngôn ngữ chung tuân thủ các quy luâ ̣t, nguyên tắc chung của ngôn ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, nhưng chúng cũng có những điểm khác nhau Nếu như ngôn ngữ toàn dân được đại
Trang 16đa số nhân dân sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, thì ngôn ngữ chuyên dụng có số lượng người sử dụng hạn chế hơn rất nhiều Thông thường, mỗi cá nhân phải nắm vững ngôn ngữ toàn dân trước khi tiếp cận với ngôn ngữ chuyên dụng
Khái niệm ngôn ngữ chuyên dụng, đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm đến, Chẳng ha ̣n như định nghĩa dưới đây của Hutchinson T., Water A sẽ giúp chúng ta hiểu rõ bản chất và chức năng của ngôn ngữ chuyên dụng: “ Ngôn ngữ chuyên dụng là ngôn ngữ được sử dụng với những mục đích khác nhau: dùng trong công việc hàng ngày, dùng cho mục đích nghiên cứu, học tập, dùng để thể hiện những ý tưởng nghệ thuật…Nó là một bộ phận của ngôn ngữ chung nhưng không phải là ngôn ngữ toàn dân vì nó có chứa nhiều nội dung chuyên môn mà không phải tất cả mọi người đều hiểu.” [29, pg.16]
1.2 Ngôn ngữ khoa học
Tuỳ thuô ̣c vào mu ̣c đích sử du ̣ng, trong ngôn ngữ chuyên du ̣ng có thể là: ngôn ngữ nghề nghiê ̣p, ngôn ngữ khoa ho ̣c và ngôn ngữ nghê ̣ thuâ ̣t Nói đến thuâ ̣t ngữ chuyên ngành là nói đến ngôn ngữ khoa ho ̣c, vì ngôn ngữ khoa
ho ̣c phục vụ cho công việc nghiên cứu và truyền bá các tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nhằm phát triển kinh tế và đời sống văn hóa - xã hội, trong đó có mô ̣t bộ phận cực kỳ quan trọng là các thuật ngữ khoa học
Các nhà nghiên cứu thường nêu lên một số đặc trưng tiêu biểu của thuật ngữ khoa ho ̣c như sau:
a Tính khái quát, trừu tượng: Khoa học luôn nhằm tới những quy luật khái
quát, trừu tượng, chứ không dừng lại ở những hiện tượng riêng lẻ, cá biệt Do
đó, thuâ ̣t ngữ khoa học cũng phải bảo đảm có tính trừu tượng, khái quát
b Tính lý trí - lôgic: Để thuyết phục người đọc công nhận những kết quả khoa
học và để diễn đạt các kết quả đó một cách khoa học thì ngôn ngữ trong các
văn bản khoa học phải bảo đảm có tính chặt chẽ, nghiêm ngặt
Trang 17C Tính khách quan, phi cá thể: Mục đích của khoa học là nhận thức và phản
ánh hiện thực khách quan, khám phá các quy luật của tự nhiên và xã hội Do
đó, ngôn ngữ trong các văn bản khoa học cũng phải bảo đảm có tính khách quan
d Cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ: Về mặt này, các nhà nghiên cứu
thường nêu lên một số đặc trưng tiêu biểu của ngôn ngữ khoa học như:
- Về chữ viết có sử dụng một số ký hiệu khoa học riêng mà người ta
phải biết thì mới dùng và hiểu được (thí dụ: cm, kg, S, O,…) v.v
- Về ngữ pháp thường dùng các kiểu câu có chủ ngữ không xác định
(người ta) hoặc khuyết chủ ngữ, câu có nghĩa bị động, các kiểu câu ghép có các quan hệ từ hô ứng (nếu…thì, tuy nhưng,…) v.v
- Về từ ngữ thường không dùng các từ ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội; từ ngữ thường được dùng theo nghĩa đen, thường mang sắc thái biểu cảm trung hòa Mỗi ngành khoa học thường có hệ thống thuâ ̣t ngữ riêng, đòi hỏi người dùng phải hiểu chính xác thì mới sử dụng được
1.3 Thuâ ̣t ngữ khoa ho ̣c
Cù ng với các ngành khoa ho ̣c khác, thuâ ̣t ngữ đươ ̣c hình thành và phát triển không ngừng, thu hút được rất nhiều sự quan tâm chú ý của các nhà chuyên môn nói riêng, cũng như của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ho ̣c nói chung Sau đây là mô ̣t số những kết quả trong nghiên cứu thuâ ̣t ngữ của thế giới và Viê ̣t Nam
1.3.1 Những quan niê ̣m về thuật ngữ trên thế giới
Theo các tài liệu thống kê, trong ngôn ngữ học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ chẳng ha ̣n tác giả J.C Sager ( Mỹ) đã đưa ra một số đặc điểm chung của thuật ngữ như sau:
- Thuật ngữ phải được hình thành một cách có hệ thống, chú trọng tới các đặc tính về hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng
Trang 18- Thuật ngữ phải tuân theo các qui tắc chung về hình thái, chữ viết và phát âm của ngôn ngữ
- Khi một thuật ngữ đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi, thì nó không thể bị thay đổi nếu không có những lý do bắt buộc và tự khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ mới thay thế cho nó sẽ đảm đương hoàn toàn giá trị của nó và sẽ được nhanh chóng chấp nhận
- Nếu một thuật ngữ mới chỉ truyền đạt được phần nào ý nghĩa của thuật ngữ đang dùng thì sẽ gây ra lầm lẫn, và trong trường hợp đó cần dùng tới khái niệm đồng nghĩa như vậy mới có thể giới thiệu thuật ngữ mới
Một số nhà ngôn ngữ khác nhấn mạnh về khái niệm và định nghĩa thuật ngữ Chẳng hạn, B.П.Дaниленко cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một ký hiệu tương ứng với một khái niệm”, và “bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” [38, c.35-36]
Hay theo các nhà soạn thảo của “Đại học Bách khoa toàn thư Xô- Viết”
đã định nghĩa: “ thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hoá, hạn định hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho phạm vi chuyên môn đó [36, c 473-474]
Gần đây, ở Nga xuất bản hai cuốn sách rất có giá tri ̣ về thuâ ̣t ngữ, đó là:
Trang 19Theo các tác giả này thì có thể định nghĩa “để làm việc” về thuật ngữ như sau:
- “Thuật ngữ là đơn vị từ vựng cu ̉a một thứ ngôn ngữ nhất định dùng cho những mục đích chuyên môn, nó biểu thị một khái niệm lý thuyết chung -
cụ thể hay trừu tượng của một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định”( 39, c.31-32)
“Thuật ngữ là từ (hay cụm từ) chuyên môn, được thừa nhận trong hoạt động chuyên ngành và được sử dụng trong những điều kiện đặc biệt Thuật ngữ là sự biểu đạt bằng từ ngữ một khái niệm của một hệ thống các khái niệm thuộc một lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhất định Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ sở của thứ ngôn ngữ dùng cho các mục đích chuyên môn”
- Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân
-Thuật ngữ phải được hình thành một cách có hệ thống, chú trọng tới các đặc tính về hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng
1.3.2 Những quan niê ̣m về thuật ngữ ở Việt Nam
Việc nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 40 và được đẩy ma ̣nh từ những năm 60 của thế kỷ XX
Nguyễn Văn Tu từ năm 1960 đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ trong cuốn “ Khái luận ngôn ngữ ho ̣c” [23, tr.176] như sau: “ Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ
Trang 20thuật v,v và có một nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm về tên các sự vật thuộc ngành nói trên”
Sau này có rất nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đi vào nghiên cứu bản chất của thuật ngữ như: Lưu Vân Lăng, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, v.v…Trong “ Giáo trình tiếng Viê ̣t” ( tập 2), Đỗ Hữu châu đã đưa ra định nghĩa thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy, có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao v.v Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật nhất định” [1, tr.167]
Hoàng Văn Hành đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, trong đó nhấn mạnh thêm tính xác định của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Ông viết: “Thuật ngữ là những
từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định, Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [9, tr.28]
Trong giáo trình “ Từ vựng ho ̣c tiếng Việt” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1978, sau nhiều lần tái bản, đến năm 1998, Nguyễn Thiện Giáp đã nêu ra quan niệm khá đầy đủ những đặc trưng cơ bản về thuật ngữnhư sau: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [7, tr 270]
Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam khá thống nhất quan niệm
về thuật ngữ ở những điểm chính sau:
- Thuật ngữ là những từ, cụm từ cố định biểu đạt chính xác một khái niệm hay sự vật, hiện tượng,… của một chuyên môn nào đó
Trang 21- Thuật ngữ phải mang tính khoa học, tính chính xác, tính hệ thống, tính đại chúng, tính dân tộc và tính quốc tế
Khi đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, các nhà ngôn ngữ còn đề nghi ̣ phân biệt rõ khái niệm thuật ngữ và danh pháp khoa học
Theo Nguyễn Thiện Giáp sự phân biê ̣t này là: “thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ ( VitaminA, VitaminB, v.v là một chuỗi các con số ( MA65, TU104, B40 v.v.) hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào
Như vậy, về mặt chức năng, danh pháp giống với các tên riêng.Về bản chất, danh pháp là tên riêng của các đối tượng nếu như ở thuật ngữ người ta nhấn mạnh chức năng định nghĩa của nó thì đối với danh pháp chức năng gọi tên mới là quan trọng (7, tr 270)
1.3.3 Đặc điểm của thuật ngữ
Cho đến nay, tuy còn có nhiều điều cần tranh luận, nhưng các nhà ngôn ngữ ho ̣c khá thống nhất với nhau trong viê ̣c tìm ra những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn từng đặc tính cơ bản của thuật ngữ:
(1) Tính khoa học
Tính khoa học của thuật ngữ thể hiện rất rõ ở những thuật ngữ có phạm
vi sử dụng hẹp, nên có thể dẫn đến quan niệm có phần cực đoan rằng thuật ngữ là thứ ngôn ngữ chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn Nhưng thực ra có một số ngành khoa học (như: nông nghiệp, kinh tế, điện tử, y, dược… ) gắn rất chặt với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong lĩnh vực kinh tế việc giao lưu mua bán hiện nay không còn bó hẹp trong từng địa phương nhỏ
lẻ, mà mở rộng giữa miền này với miền khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác; điều này có thể làm cho màu sắc khoa học của thuật ngữ đôi khi bị mờ
Trang 22đi.Trong những trường hợp như vậy, “trong ý thức của người bản ngữ, ranh giới giữa nghĩa thường dùng và nghĩa thuật ngữ không phải bao giờ cũng rõ nét Dường như nghĩa thường dùng (nghĩa gốc) và nghĩa thuật ngữ (cũng là nghĩa gốc) về căn bản đôi khi là đồng nhất” [9, tr.148].
Tính khoa học của thuật ngữ thể hiện ở tính chính xác, tính hệ thống, ngắn gọn và tính đơn nghĩa
a Tính chính xác
Tính chính xác ở đây được hiểu là chính xác về nội dung khái niệm do thuâ ̣t ngữ biểu thị Điều đó có nghĩa là thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm chuyên môn, phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm
Để có những thuật ngữ chính xác, cần cố gắng sao cho nội bộ một ngành khoa học mỗi khái niệm chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại chỉ được dùng để chỉ một khái niệm, nghĩa là không nên có hiện tượng đồng nghĩa Một yêu cầu cần có để đáp ứng được tính chính xác của thuật ngữ
là tính đơn nghĩa
b.Tính đơn nghĩa
Thuật ngữ luôn luôn hướng tới tiêu chí đơn nghĩa, tức là một thuật ngữ không nên miêu tả cùng một lúc nhiều hơn một khái niệm.Thống nhất với quan điểm thuật ngữ cần phải đơn nghĩa, tác giả Nguyễn Văn Tu đã viết: “ Thuật ngữ là những từ và những cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó…v.v Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từng ngành) [22, tr.114]
Như vậy, giữa các ngành khoa học khác nhau có những khái niệm về
cơ bản giống nhau thì nên thống nhất dùng chung một thuật ngữ chẳng han,
“structure” nên dùng thống nhất trong các ngành là “cấu trúc”
Trang 23Ngày nay, với sự phát triển ma ̣nh mẽ của khoa học kỹ thuật, thuật ngữ chuyên ngành đơn nghĩa có thể có nghĩa bổ sung và trở thành thuật ngữ khoa học kỹ thuật và công nghệ phổ biến đa nghĩa và ngược la ̣i có trường hợp còn thuật ngữ khoa học kỹ thuật và công nghệ phổ biến đa nghĩa có thể bị mất nghĩa của mình và trở thành thuật ngữ chuyên ngành đơn nghĩa
dễ dàng Nguyễn Thiện Giáp đã nêu ra : “Do tính hệ thống trong cách cấu tạo thuật ngữ mà người ta có thể dễ dàng nắm được khái niệm mà thuật ngữ diễn tả” [ 7, tr.274]
Mỗi thuật ngữ đều nằm trong một hệ thống nhất định và hệ thống ấy phải chặt chẽ, trước hết là phải bảo đảm tính hệ thống về mặt nội dung trong toàn bộ hệ thống các khái niệm của từng ngành Từ tính hệ thống về nội dung, dẫn đến tính hệ thống về hình thức biểu hiện.Tính hệ thống về hình thức, ngược lại giúp cho người ta biểu thị được và nhận ra được tính hệ thống trong nội dung
(3) Tính dân tộc
Thuật ngữ là đơn vị ngôn ngữ khoa học thuô ̣c vào hê ̣ thống ngôn ngữ chung Chú ng ta có thể tìm thấy các thuật ngữ xuất hiện trong lòng ngôn ngữ
toàn dân, so sánh: búa - búa thủy lực; chuột - chuột máy tính; trống - trống
mực máy in,…Đúng như quan điểm của Lưu Vân Lăng cho rằng: “Thuật ngữ” dù là thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc, do đó thuật ngữ phải có tính chất dân tộc và phải mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc” [14, tr.58]
Trang 24(4) Tính đại chúng
Bảo đảm tính dân tô ̣c của thuâ ̣t ngữ là góp phần xây dựng tính đa ̣i chúng của thuâ ̣t ngữ Giữa các thuật ngữ khoa học kỹ thuật và ngôn ngữ toàn dân có mô ̣t mối liên hê ̣ rất chặt chẽ Ví dụ: các khái niệm phổ biến chung như
"điện, nhiệt độ, xăng dầu" hay các từ thường được sử dụng như "Vitamin, kháng sinh, vi trù ng, vi khuẩn", nhiều từ thông dụng như "nước, đất, lửa, chất lỏng, lực, đất sét, bạc, áp suất" là các thuật ngữ trong ngữ cảnh khoa học và
kỹ thuật với sắc thái chuyên ngành đặc trưng của mình
Khoa học kỹ thuật gắn liền với quần chúng Sự phát triển vô cùng nhanh chóng và rộng rãi của khoa học và công nghệ là điều kiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển của hàng loạt các thuật ngữ mới Vì vậy, thuật ngữ không thể là những từ xa lạ với đông đảo quần chúng, chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn, mà còn phải được hình thành từ ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ đọc, dễ viết và được đông đảo quần chúng chấp nhận
(5) Tính quốc tế
Tính quốc tế là mô ̣t đă ̣c tính hết sức quan tro ̣ng của thuật ngữ Bởi vì, vốn từ vựng là của riêng từng ngôn ngữ mang sắc thái dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, nhưng khoa học là tài sản tri thức chung của toàn nhân loại.Trong cuốn sách “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp đã viết: “ Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng, tính quốc tế là đặc trưng quan trọng, phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng khác: thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc
tế của thuật ngữ.” [7, tr.275] Thông thường, nói tới tính quốc tế của thuật ngữ, người ta chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của nó, chú ý tới khía
Trang 25ca ̣nh là các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống nhau hoặc tương tự nhau, cùng có một gốc chung
Ví dụ:
1 Điện thoại, điện tín, điện tử v.v
- (tiếng Anh) telephone, (tiếng Đức) telephone, (tiếng Nga) телефон, (tiếng Pháp) téléphone
2 Xăng
- (tiếng Anh) petrol, ( tiếng Nga) бензин
3 Kinh tế
- tiếng Anh) economy, (tiếng Nga) экоHомика
Tính quốc tế của thuật ngữ không chỉ được thể hiện ở hình thức cấu tạo ngữ âm, mà còn thể hiện ở mặt hình thái bên trong của nó Ví du ̣, cùng một sự vật hoặc khái niệm khoa học, các ngôn ngữ chọn cùng chung một đặc trưng nào đó để làm cơ sở định danh và gọi tên Rõ nhất là những thuật ngữ của một thứ tiếng nào đó đã được sao phỏng để tạo thành các thuật ngữ trong những ngôn ngữ khác về nguồn gốc lẫn loại hình, chẳng hạn các tiếng Anh, Nga và Việt Thí dụ:
4 Toàn cầu hóa
Tiếng Anh: globalization
Tiếng Nga: глобализaция
5 Tự do hóa thương ma ̣i
- Tiếng Anh: liberalization of trade
- Tiếng Pháp: liberalisation du commerce
Tính quốc tế, trước hết phải là quốc tế hoá về mặt nội dung Cái khó là quốc tế hoá về mặt hình thức Không thể đòi hỏi sự quốc tế hoá hoàn toàn về mặt hình thức của các thuật ngữ, vì mỗi ngôn ngữ có những thuộc tính riêng của nó.Tuy vậy, thực tế cho thấy nhiều ngành khoa học ở một số khu vực trên thế giới đã có những hệ thống thuật ngữ ít nhiều mang tính quốc tế trong khu
Trang 26vực đó.Ví dụ: khu vực châu Âu với các ngôn ngữ Anh Pháp, khu vực Tiểu Á, Bắc Phi với tiếng A-rập; khu vực Đông Á và Nam Á với ảnh hưởng của tiếng Hán
1.4 Quan niệm của luận văn về thuật ngữ
Qua việc phân tích một số quan niệm về thuâ ̣t ngữ trên thế giới và ở Viê ̣t Nam cũng như về các đặc tính cơ bản của thuật ngữ, chúng tôi thấy rằng: Thuật ngữ là một bộ phận hạt nhân của ngôn ngữ khoa học Chúng là những
từ hay cụm từ chuyên môn, được thừa nhận trong hoạt động chuyên ngành và được sử dụng trong những điều kiện đặc biệt Chúng biểu đạt bằng từ ngữ các khái niệm của một hệ các khái niệm thuộc một lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhất định
Trong luâ ̣n văn này, chúng tôi cố gắng áp du ̣ng mô ̣t số ý tưởng mới do tác giả người Nga В М Лейчик đưa ra trong cuốn sách của mình ( 39, c 32-47) khi nói về đă ̣c điểm của thuâ ̣t ngữ
Trước hết, theo ông, cần phải thấy rõ hơn sự khác biê ̣t giữa mô ̣t bên là thuâ ̣t ngữ - đối tượng của thuâ ̣t ngữ ho ̣c với mô ̣t bên khác là các từ ngữ bình thường, các đơn vi ̣ từ vựng - đối tượng của ngôn ngữ ho ̣c, bởi vì thuâ ̣t ngữ có những đă ̣c trưng riêng của nó, đó là những từ ngữ “đă ̣c biê ̣t” Ta có thể xem xét những đă ̣c trưng này của thuâ ̣t ngữ từ hai phương diê ̣n:
- cấu trú c nô ̣i dung của thuâ ̣t ngữ
- cấu trú c hình thức của thuâ ̣t ngữ
Về cấu trúc nô ̣i dung, theo ông, không nên hiểu “nghĩa” của thuâ ̣t ngữ như nghĩa của các từ ngữ thông thường, mà nên quan niê ̣m rô ̣ng hơn, đó là bình diê ̣n “nô ̣i dung” của thuâ ̣t ngữ
Đáng chú ý là sự nghiên cứu của tác giả về “tính có lí do” của thuâ ̣t ngữ, cu ̣ thể là trong viê ̣c cho ̣n lo ̣c các thuô ̣c tính của đối tượng để đi ̣nh danh Theo ông, mô ̣t thuâ ̣t ngữ được coi là tối ưu khi nó chỉ sử du ̣ng mô ̣t thuô ̣c tính nổi trô ̣i để đi ̣nh danh đối tươ ̣ng
Trang 27Số lươ ̣ng thuâ ̣t ngữ “ tối ưu” như vâ ̣y thường rất lớn, theo khảo sát của Лейчик thì trong thuâ ̣t ngữ tin ho ̣c có:
- 92% là các thuâ ̣t ngữ “tối ưu” mà trong nô ̣i dung của nó chứa đựng tên go ̣i và mô ̣t thuô ̣c tính nổi trô ̣i;
- 6% là các thuâ ̣t ngữ mà trong nô ̣i dung của nó chứa đựng tên go ̣i và hơn một thuô ̣c tính nổi trô ̣i;
- 2% là các thuâ ̣t ngữ mà trong nô ̣i dung của nó thì chứa đựng thuần tuý tên go ̣i
Hê ̣ thuâ ̣t ngữ tin ho ̣c được coi là mới hình thành, còn những hê ̣ thuâ ̣t ngữ khác lâu đời hơn như thuâ ̣t ngữ sinh ho ̣c thì tình hình la ̣i khác hơn:
-70% là các thuâ ̣t ngữ “tối ưu” tức là trong nô ̣i dung của nó chứa đựng tên go ̣i và mô ̣t thuô ̣c tính nổi trô ̣i;
- 20% là các thuâ ̣t ngữ mà trong nô ̣i dung của nó chứa đựng tên go ̣i và
mô ̣t thuô ̣c tính nổi trô ̣i;
- 10% là các thuâ ̣t ngữ mà trong nô ̣i dung của nó chỉ chứa đựng thuần tuý tên go ̣i
Về cấu trúc hình thức, theo tác giả Лейчик (39, c 48-62), cần thấy rõ sự khác biê ̣t của thuâ ̣t ngữ so với các từ ngữ thông thường trong cách cấu ta ̣o từ và cu ̣m từ (ngữ)
Theo ông, trong mô ̣t hê ̣ thuâ ̣t ngữ gồm có nhiều “nhóm” thuâ ̣t ngữ:
- nhó m các thuâ ̣t ngữ “ cơ sở” (базовые), thí du ̣:
“ nguyên tố” trong ngành Hoá hữu cơ;
- nhó m các thuâ ̣t ngữ “ chủ yếu” (основые), thí du ̣:
“luâ ̣t pháp” trong ngành Luâ ̣t ho ̣c;
- nhó m các thuâ ̣t ngữ phái sinh và thuâ ̣t ngữ phức hơ ̣p thường là các
cu ̣m từ; thí du ̣: фототехника (kỹ thuâ ̣t sao chu ̣p) là thuâ ̣t ngữ chủ yếu кинофототехника (kỹ thuâ ̣t sao chu ̣p điê ̣n ảnh) là thuâ ̣t ngữ phái sinh цветная фототехника (kỹ thuâ ̣t sao chu ̣p màu) là thuâ ̣t ngữ phức hợp
Trang 28Trong các nghiên cứu thuâ ̣t ngữ ho ̣c ở Nga, các tác giả quan niê ̣m rằng: thuâ ̣t ngữ được cấu ta ̣o nên từ mô ̣t hay nhiều “yếu tố thuâ ̣t ngữ”
(терминоэлемент) Mỗi yếu tố này gắn kết với mô ̣t khái niê ̣m hay mô ̣t thuô ̣c tính khái niê ̣m của mô ̣t hê ̣ thống khái niê ̣m nhất đi ̣nh Thuâ ̣t ngữ có cấu trúc tối ưu là những thuâ ̣t ngữ mà các yếu tố của nó biểu thi ̣ mô ̣t cách đơn tri ̣ mối quan hê ̣ lôgic giữa các khái niê ̣m, như các mối quan hê ̣ giữa sự vâ ̣t và thuô ̣c tính hay chức năng của nó, giữa hành đô ̣ng và công cu ̣ hay phương tiê ̣n thực hiê ̣n nó v.v.; thí du ̣: phòng đo ̣c - thuâ ̣t ngữ của ngành Thư viê ̣n, máy hơi nước – thuâ ̣t ngữ của Cơ khí chế ta ̣o máy
Trong số các thuâ ̣t ngữ là từ đơn phái sinh, đáng chú ý là các thuâ ̣t ngữ đươ ̣c ta ̣o ra bằng phương pháp phu ̣ tố (affixes) hoă ̣c sử du ̣ng các tiền tố (prefixes) như: mini-, midi- để ta ̣o sinh nhiều thuâ ̣t ngữ khác
Đáng chú ý là trước đây trong tiếng Nga, phương thức “ghép’ ít dùng, không có sức sản sinh ma ̣nh Nhưng ngày nay do sự phát triển ma ̣nh mẽ của tiến bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t làm cho tri thức của con người ngày càng sâu rô ̣ng, cần phải có những từ ghép hay cu ̣m từ để biểu thi ̣ những khái niê ̣m phức ta ̣p hơn; thí du ̣ như tên go ̣i của những ngành khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t và công nghê ̣ liên ngành gần đây: биогеохимия (hoá ho ̣c đi ̣a sinh ho ̣c), нефтегазо промышленная геофизика (đi ̣a vâ ̣t lí ho ̣c công nghiê ̣p dầu khí) Do đó, hiê ̣n nay trong các hê ̣ thuâ ̣t ngữ của Nga số lượng các thuâ ̣t ngữ là từ ghép hay
cu ̣m từ là rất lớn; thí du ̣ : trong ngành Kỹ thuâ ̣t điê ̣n, thuâ ̣t ngữ là từ đơn chỉ có 5,3%, còn la ̣i là từ ghép và cu ̣m từ
Cũng theo các tác giả trên, mô ̣t điểm đáng chú ý là mô hình cú pháp ở các thuâ ̣t ngữ cu ̣m từ Trong ngành Ngôn ngữ ho ̣c, theo thống kê trên 10.000 thuâ ̣t ngữ thì có 24% thuâ ̣t ngữ là từ đơn, trong 76% còn la ̣i là từ ghép và cu ̣m từ thì có 02 mô hình ngữ pháp hay dùng nhất là:
- cụm danh từ: tính từ - danh từ: 18%
- cụm danh từ : danh - danh từ: 17%
Trang 29- cò n la ̣i là các mô hình khác như: tính từ - danh từ - danh từ: 6%,
- danh từ - tính từ- danh từ : 4,5%, danh từ - danh từ: 2%, tính từ - tính từ - danh từ: 2% v.v
Trong mô ̣t số hê ̣ thuâ ̣t ngữ của các chuyên ngành khác như Công nghê ̣ chế ta ̣o máy, Vâ ̣t lý ha ̣t nhân, Tin ho ̣c, Sinh ho ̣c, tình hình cũng tương tự trong
hê ̣ thuâ ̣t ngữ Ngôn ngữ ho ̣c Mă ̣c dù, các cu ̣m từ khác như cu ̣m đô ̣ng từ, cu ̣m tính từ đều có khả năng ta ̣o thành các thuâ ̣t ngữ, những cu ̣m danh từ vẫn chiếm ưu thế là vì chức năng cơ bản của thuâ ̣t ngữ là để đi ̣nh danh và trong vai trò tên go ̣i của đối tượng thì danh từ vẫn là chủ yếu
Khi bàn đến mối quan hê ̣ giữa các đă ̣c điểm về nô ̣i dung và hình thức của thuâ ̣t ngữ, cần chú ý rằng trong quá trình hình thành mô ̣t hê ̣ thuâ ̣t ngữ có khi do sự thay đổi có tính cách ma ̣ng của lí thuyết, của các tri thức và bô ̣ máy khái niê ̣m mà có thể xảy ra tình hình phức ta ̣p và tế nhi ̣ là: hình thức thuâ ̣t ngữ thì vẫn như cũ, nhưng nô ̣i dung la ̣i khác trước Điển hình là trường hợp của hê ̣ thuâ ̣t ngữ Hoá ho ̣c: với sự ra đời của Bảng tuần hoàn Men-đê-lê-ép thì
mă ̣c dù vẫn sử du ̣ng các thuâ ̣t ngữ đã có như: “sắt, vàng, ”, nhưng nô ̣i dung các khái niê ̣m vẫn được các từ này biểu thi ̣ đã thay đổi về cơ bản
Khi nói về công viê ̣c xây dựng hê ̣ thuâ ̣t ngữ, các nhà nghiên cứu thuâ ̣t ngữ ho ̣c người Nga có đề xuất thêm mô ̣t khía ca ̣nh mới Theo ho ̣ có bốn nguyên lý ta ̣o lâ ̣p mô ̣t hê ̣ thuâ ̣t ngữ chuyên ngành như sau:
1 Nguyên lý “phiên di ̣ch” thuâ ̣t ngữ ( bao gồm cả phiên âm, chuyển tự, chuyển di ̣ch, mươ ̣n nguyên da ̣ng) là nguyên lý thường sử du ̣ng khi mà hê ̣ thống thuâ ̣t ngữ của mô ̣t lĩnh vực tri thức mới đã xuất hiê ̣n và phát triển ở mô ̣t nước A và sau đó được nước B vay mượn những khái niê ̣m và từ ngữ của chuyên ngành đó Khi vay mượn như thế, nhiều khi có sự chuyển đổi về ý nghĩa; thí du ̣, khá nhiều thuâ ̣t ngữ của ngành Hàng không Nga là được phiên
di ̣ch theo thuâ ̣t ngữ hàng hải của tiếng Đức: ekipazh (gốc tiếng Đức có nghĩa là “thuỷ thủ đoàn” sang tiếng Nga thành екипаж “phi hành đoàn”), pilot (gốc
Trang 30tiếng Đức có nghĩa là “ người hoa tiêu” sang tiếng Nga thành пилот “người phi công”) Hiê ̣n nay, thuâ ̣t ngữ Tin ho ̣c và Quảng cáo của Nga cũng vay mươ ̣n từ tiếng Anh rất nhiều
2 Nguyên lý sử du ̣ng “nguồn lực sẵn có’ của ngôn ngữ, như trong tiếng Viê ̣t chúng ta sử du ̣ng các yếu tố từ ngữ tiếng Viê ̣t để cấu ta ̣o thuâ ̣t ngữ mà ta đã đề câ ̣p đến ở trên Cần chú ý rằng, trong quá trình hình thành mô ̣t hê ̣ thuâ ̣t ngữ có thể xảy ra tình hình là: hình thức thuâ ̣t ngữ thì vẫn giữ như cũ, nhưng
nô ̣i dung thì khác hẳn trước, như trong hê ̣ thuâ ̣t ngữ Hoá ho ̣c tuy vẫn sử du ̣ng thuâ ̣t ngữ đã có như “sắt”, “vàng”, nhưng với sự ra đời luâ ̣t tuần hoàn Men-đê-lê-ép thì nô ̣i dung khái niê ̣m của các từ này không còn được hiểu như cũ
3 Nguyên lý ta ̣o lâ ̣p thứ ba này rất đă ̣c thù, chỉ áp du ̣ng ha ̣n chế trong
mô ̣t số lĩnh vực tri thức và hoa ̣t đô ̣ng, trong đó từ ngữ chuyên ngành còn chưa ổn đi ̣nh hẳn, thâ ̣m chí có những từ ngữ chưa hẳn đã thành mô ̣t thuâ ̣t ngữ chắc chắn, chính xác có thể go ̣i nguyên lý này là “ nguyên lý thuâ ̣t ngữ hoá’ các yếu tố phi thuâ ̣t ngữ Nguyên lý này giống nguyên lý thứ hai là sử du ̣ng các yếu tố nô ̣i sinh của tiếng me ̣ đẻ, nhưng khác ở chỗ là: các từ ngữ thông thường của ngôn ngữ chung toàn dân được dùng làm thuâ ̣t ngữ ở đây chưa đươ ̣c “thuâ ̣t ngữ hoá” hoàn toàn
4 Nguyên lý ta ̣o lâ ̣p thuâ ̣t ngữ của mô ̣t số lĩnh vực tri thức và hoa ̣t
đô ̣ng thường được go ̣i là phức hợp hay liên ngành, đa ngành Đây là mô ̣t đă ̣c trưng của sự phát triển khoa ho ̣c - kỹ thuâ ̣t, sản xuất thực tiễn của xã hô ̣i hiê ̣n
đa ̣i Do đó có nhiều thuâ ̣t ngữ của mô ̣t lĩnh vực tri thức mới gồm hai yếu tố, kết hơ ̣p mô ̣t yếu tố của ngành chuyên môn này với mô ̣t yếu tố của ngành chuyên môn khác.Thí du ̣, thuâ ̣t ngữ Kinh tế Nông nghiê ̣p về “hoa ̣t đô ̣ng doanh nghiê ̣p trong hê ̣ thống kinh doanh nông nghiê ̣p ”bao gồm trong nó thuâ ̣t ngữ về kinh tế kết hợp với thuâ ̣t ngữ về nông nghiê ̣p
Trang 311.5 Khái niệm về thuật ngữ xăng dầu
Bên cạnh những nét chung với nhiều hệ thống thuật ngữ khoa học – kỹ thuật khác, hệ thống thuật ngữ xăng dầu có những đặc trưng riêng
Cho đến nay, ở Viê ̣t Nam hệ thuật ngữ xăng dầu trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt chưa được nghiên cứu sâu về mặt lý luận, cũng như về thực tiễn chưa có được mô ̣t hê ̣ thuâ ̣t ngữ xăng dầu hoàn chỉnh Cuốn từ điển thuật ngữ xăng dầu đầu tiên được xuất bản ở Viê ̣t Nam vào năm 1960, nó đã
là công cụ quan trọng để tra cứu của các giảng viên, sinh viên thuộc các khoa hóa dầu ở Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Bách khoa Đà Nẵng, v.v giúp ích rất nhiều cho các nhà doanh nghiệp, cũng như cho những người làm nghiên cứu và dịch thuật
Đứng về góc độ chuyên môn, trong ngành xăng dầu có rất nhiều thuật ngữ chuyên sâu Theo cuốn Petroleum Produccts Handbook, Mcgraw-Hill BookCompany INC , thì thuật ngữ “condensate” có hai nghĩa sau đây:
- Là chất lỏng có chứa một lượng lớn khí (hyđrocarbon) được lấy lên từ các giếng chứa khí ngưng (gas condensate wells) Sau khi tách khí hòa tan, phần lỏng còn lại được chuyển lẫn với dầu thô bằng đường ống cho các nhà máy lọc dầu
- Là danh từ dùng để chỉ sản phẩm ngưng tụ của một loại khí bất kỳ Theo tài liệu này, “condensate” nằm trong số các chất lỏng khí thiên nhiên và được định nghĩa như sau: Khí thiên nhiên hóa lỏng (Natural gas liquids) là các hyđrocacbon lỏng ở thể khí hoặc tan trong dầu thô trong các
mỏ dầu dưới lòng đất (reservoirs under ground), được thu hồi ở dạng lỏng bằng các quá trình ngưng tụ, hấp phụ tại các thiết bị phân tách (separators) ở giàn khoan, các phân xưởng xăng (gasoline plants, phân xưởng hồi lưu (cycling plants) Xăng tự nhiên, condensate, LPG là các sản phẩm thuộc loại
này.Tuy nhiên, condensate không phải là thành phẩm (sản phẩm thương mại)
Trang 32mà nó thường được cung cấp bằng đường ống cho các nhà máy lọc dầu và trở thành hợp phần của nguyên liệu thô cung cấp cho các phân xưởng chế biến
Theo cuốn Petroleum- Production and Refinery, Royal Dutch Sell Corp 1973, “condensate” được định nghĩa như sau:
- Là các hyđrocacbon lỏng được sản xuất ra cùng với khí thiên nhiên (Natural gas)
- Là chất lỏng thu được khi ngưng tụ hơi
Từ lời định nghĩa trên có thể thấy rằng thuật ngữ condensate có hai nghĩa chính:
- Nghĩa thứ nhất: được dùng phổ biến trong ngành khai thác và chế biến dầu mỏ
- Nghĩa thứ hai: chỉ thuần túy là một thuật ngữ chỉ khái niệm chung về một hiện tượng hóa lý
Thông thường, trong một số các giếng dầu tồn tại cả dầu thô và khí – khí đồng hành Giữa hai pha dầu thô và khí tồn tại một cân bằng pha trong đó một phần khí bị hòa tan vào trong dầu thô Lượng khí hòa tan này phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất dưới các giếng dầu Nhiệt độ càng thấp áp suất càng cao thì lượng khí hòa tan càng lớn và ngược lại
Khi khí đông lạnh được khai thác lên, nó kéo theo các cấu tử nặng hơn butane (như pentane, hexane, heptane…) các cấu tử nặng này đã tách ra khỏi chất lỏng khí thiên nhiên ở dạng lỏng, có tính chất gần giống xăng và được gọi là xăng tự nhiên (natural gasoline) và được sử dụng để bổ sung vào các sản phẩm chế biến từ phần nhẹ của dầu thô như xăng, nhiên liệu hàng không… ngay bản thân khí khai thác từ các mỏ khí thiên nhiên (không có dầu thô) cũng có các cấu tử nặng này và chúng cũng được thu hồi, sử dụng tương
tự như trong trường hợp khí đồng hành
Trang 33Tuy cũng được xếp chung vào trong số các sản phẩm lỏng thu hồi từ chất lỏng khí thiên nhiên nhưng thành phần và nguồn gốc của condensate có
sự khác biệt so với xăng tự nhiên
Từ các phân tích trên ta có thể rút ra các kết luận sau:
- Từ “condensate” có nhiều nghĩa khác nhau , tùy từng trường hợp và bối cảnh sử dụng mà chọn nghĩa thích hợp
- Condensate chủ yếu được sản suất từ các mỏ khí ngưng hoặc các mỏ dầu nằm sâu dưới lòng đất
- Condensate có tính chất và thành phần tương tự như dầu thô nhẹ So với xăng tự nhiên, nó nặng hơn, có thành phần phức tạp hơn và nhiều tạp chất hơn
- Ứng dụng chủ yếu của condensate là trộn lẫn với dầu thô làm nguyên liệu cho nhà máy lọc dầu
- Từ condensate có thể chế biến để thu được xăng Tuy nhiên, xăng đi
từ condensate có trị số octane không cao Để khắc phục, phải pha thêm TEL hoặc các phụ gia tăng trị số octane khác như toluol, MTBE… Tuy nhiên, quá trình này không kinh tế vì giá của condensate thường cao hơn giá xăng thành phẩm Đối với các nước có công nghiệp lọc dầu phát triển, condensate thường được dùng làm nguyên liệu để chế biến các sản phẩm tinh khiết có giá trị kinh
Khí đồng hành từ mỏ dầu Bạch Hổ cung cấp cho nhà máy điện Phú
Mỹ, sau khi xử lý phân tách khí lấy khí gas để cung cấu cho các tổ máy nhiệt điện, phần còn lạ được coi là condensate Chất lượng của condesate ở mỏ dầu Bạch Hổ có thể coi là tương đối tốt Vì vậy, Việt Nam thực sự hấp dẫn để các
Trang 34doanh nghiệp đầu tư công nghệ sử dụng và chế biến condensate để pha chế tạo các sản phẩm xăng dầu có giá trị thương phẩm cao như xăng ô tô, dầu hỏa…[12, tr 381-383]
Toàn bô ̣ phần giải thích về thuật ngữ “condensate” ở trên chỉ là một trong số rất nhiều những thuật ngữ của công nghệ hóa dầu thuộc hệ thuật ngữ xăng dầu Để hiếu rõ bản chất của các thuật ngữ đó, chúng ta phải có những hiểu biết cơ bản về chuyên môn của ngành
1.5.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành xăng dầu Việt Nam
Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), tiền thân là Tổng Công ty Xăng dầu mỡ được thành lập theo Nghị định số 09/BTN ngày 12/01/1956 của Bộ Thương nghiệp và được thành lập lại theo Quyết định số 224/TTg ngày 17/04/1995 của Thủ tướng Chính phủ Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam hiện có 41 Công ty thành viên, 34 Chi nhánh và Xí nghiệp trực thuộc các Công ty thành viên 100% vốn Nhà nước, có 23 Công ty cổ phần có vốn góp chi phối của Tổng công ty, có 3 Công ty Liên doanh với nước ngoài
và có 1 Chi nhánh tại Singapore
Là doanh nghiệp nhà nước trọng yếu, được xếp hạng đặc biệt, có quy
mô toàn quốc, bảo đảm 60% thị phần xăng dầu cả nước, Petrolimex luôn phát huy vai trò chủ lực, chủ đạo bình ổn và phát triển thị trường xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước và bảo đảm an ninh quốc phòng
Chặng đường 50 năm xây dựng và phát triển của Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam luôn gắn liền với các sự kiện lịch sử trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước:
Giai đoạn 1956 - 1975: Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam có nhiệm vụ
đảm bảo nhu cầu xăng dầu cho sự nghiệp khôi phục, phát triển kinh tế để xây dựng CNXH và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc; Cung cấp đầy đủ, kịp thời xăng dầu cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam
Trang 35thống nhất Tổ quốc Với thành tích xuất sắc trong giai đoạn này, đến nay Nhà nước đã phong tặng 8 đơn vị thành viên của Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, một cá nhân Anh hùng lao động và công nhận 31 CBCNV là liệt sỹ trong khi làm nhiệm vụ
Giai đoạn 1976 - 1986: Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam bắt tay khôi
phục các cơ sở xăng dầu bị tàn phá ở miền Bắc, tiếp quản các cơ sở xăng dầu
và tổ chức mạng lưới cung ứng xăng dầu ở các tỉnh phía Nam, thực hiện cung cấp đầy đủ, kịp thời nhu cầu xăng dầu cho sản xuất, quốc phòng và đời sống nhân dân đáp ứng yêu cầu hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước Trong giai đoạn này Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương độc lập hạng nhì cho Tổng công ty, phong tặng một cá nhân danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều huân chương lao động cho các tập thể,
cá nhân
Giai đoạn 1986- đến nay: Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam thực hiện
chiến lược đổi mới và phát triển theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN, từng bước xây dựng Tổng công ty trở thành hãng xăng dầu quốc gia mạnh và năng động để tham gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Trong giai đoạn này Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì cho Tổng công ty, phong tặng
02 đơn vị thành viên danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, 05 chiến
sỹ thi đua toàn quốc và 114 Huân chương Lao động các hạng cho các tập thể,
cá nhân
Lĩnh vực hoạt động Kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực kinh doanh chủ đạo của Petrolimex Hàng năm, Tổng công ty nhập khẩu 7-8 triệu m3 xăng dầu, chiếm khoảng 60% thị phần nội địa Doanh thu xăng dầu trung bình năm đạt trên 25.000 tỷ đồng, chiếm 80% tổng doanh thu toàn ngành
Trang 36Phục vụ cho hoạt động kinh doanh, Petrolimex có hệ thống kho bể với sức chứa trên 1.200.000 m3 được phân bổ dọc theo chiều dài đất nước đảm bảo cho dự trữ và cung ứng xăng dầu theo nhu cầu của thị trường như: Tổng kho Xăng dầu Đức Giang (Hà Nội), Thượng Lý (HảI Phòng), Tổng kho Xăng dầu Nhà Bè (thành phố Hồ Chí Minh), Cụm kho Xăng dầu miền Trung (Phú Khánh - Bình Định - Đà Nẵng - Nghệ An), miền Tây Nam bộ, Cụm kho xăng dầu B12 (Quảng Ninh),…
Nhận thức rõ “xăng dầu là mạch máu quốc gia”, Tổng công ty coi kinh doanh xăng dầu không chỉ là vì lợi nhuận của công ty mà còn là nhiệm vụ chính trị đối với đất nước Petrolimex xác định phải đảm bảo cung cấp đủ nhiên liệu với chất lượng tốt cho nền kinh tế trong mọi hoàn cảnh
Thông qua hệ thống phân phối gần 1.500 cửa hàng bán lẻ và hệ thống đại lý 6.000 điểm bán trên toàn quốc, Petrolimex hiện nay là đơn vị lớn nhất cung cấp các chủng loại xăng dầu tốt nhất phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước [1, tài liê ̣u trực tuyến]
1.5.2 Sự hình thành và phát triển của ca ́ c thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt
Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Nhà nước non trẻ lại phải đương đầu với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Chúng ta gặp
vô vàn khó khăn: cơ sở vật chất nghèo nàn, hệ thống giáo dục còn thưa thớt,
có một số trường Đại học được thành lập Trong những điều kiện ban đầu hết sức khó khăn nhưng vẫn rấy quan tâm đến việc đào tạo nhân lực có chất lượng cao nên đã bắt đầu gửi lưu học sinh đi học ở các nước Xã hội Chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Bungari, Hungari, Tiệp khắc, … Sau Hòa bình lập lại năm 1954, một số trường đại học được thành lập,
đó là như: Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Y- Dược, Đại học
Sư phạm và Đại học Nông lâm Tiếp theo, một loạt các trường đại học khác
ra đời, trong đó có trường Đại học Mỏ Địa chất thành lập vào năm 1966 Sau
Trang 3740 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Mỏ -Địa chất thực sự là trung tâm đào tạo lớn nhất của cả nước về các lĩnh vực Mỏ, Địa chất, Trắc địa - Bản
đồ, Dầu khí, với trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học Đây là một lĩnh vực khoa học còn non trẻ, nhưng cũng có thuận lợi là trường đã sử dụng các chương trình, giáo trình giảng dạy có sẵn của Liên Xô, biên dịch, biên soạn lại cho phù hợp Để phục vụ giảng dạy và tiện cho sinh viên tra cứu, chủ yếu đã dùng từ điển song ngữ Nga-Việt và các tài liệu có liên quan đến ngành xăng dầu được dịch từ tiếng Nga, điều này đã góp phần không nhỏ vào viê ̣c xây dựng và phát triển hệ thống thuật ngữ của các ngành xăng dầu
Cuối những năm 1989-1990 là thời kỳ tan rã của Liên bang Xô viết, lúc này tiếng Nga không còn là ngoại ngữ được sử dụng chủ yếu ở các trường đại học, trong số đó có cả Trường cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại (nay thuộc Bộ Công Thương) Tiếng Anh trở thành ngoại ngữ độc tôn để giảng dạy môn “ngoại ngữ chuyên ngành”, một số giáo viên của trường và các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này đã chuyển hướng đi tu nghiệp tại các nước phương Tây, vì thế việc du nhập thuật ngữ từ các ngôn ngữ phương Tây bắt đầu mạnh mẽ
Để đáp ứng nhu cầu phát triển như vũ bão của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn mới, các trường Đại học và Cao đẳng trong cả nước đã thay đổi chương trình giảng dạy, sử dụng các chương trình tiên tiến đang được giảng dạy tại các trường đại học lớn nhằm nhanh chóng hòa nhập với hệ thống đào tạo thế giới, do đó ảnh hưởng của các thuật ngữ xăng dầu bằng tiếng Anh ngày càng rõ rê ̣t hơn trong các giáo trình cũng như trong các từ điển xăng dầu song ngữ Anh-Việt
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, “xăng dầu là mạch máu quốc gia”, xăng dầu luôn là thị trường sôi động mang tính quyết định sự phát triển bền vững và lớn mạnh của một nền kinh tế quốc gia Xăng dầu chiếm một thị phần lớn của nền kinh tế quốc dân Do vậy, nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu
Trang 38những tri thức mới về lĩnh vực này trở nên vô cùng cấp bách, đòi hỏi hàng loạt các thuật ngữ ra đời đáp ứng được vấn đề nắm bắt tri thức khoa học-kỹ thuật mới nói chung và qui trình công nghệ cao của các nước phát triển trên thế giới Phần lớn các thuật ngữ xăng dầu là vay mượn của nước ngoài, trước kia là của tiếng Nga, tiếng Pháp, hiê ̣n nay là của tiếng Anh
Một số các từ điển Anh -Việt về lĩnh vực xăng dầu đã được xuất bản như:
- N/A, (1983), Từ điển Dầu khí ANH - VIỆT - 280 thuật ngữ, Nxb Khoa
học & Kỹ thuật, Hà Nội
- JODIE LEECRAFT, (1983) A Dictionary of Petroleum Terms - Third
edition, Nxb Petroleum Extension Service
- N/A, (1990), Từ điển Dầu khí - ANH - VIỆT - 200 thuật ngữ, có giải thích Viện DẦU KHÍ, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội
- Từ điển kỹ thuật tổng hợp Anh-Viê ̣t (1991), Nxb Khoa học và Kỹ
- Hệ thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt được xây dựng chủ yếu là qua con đường vay mượn các thuật ngữ nước ngoài theo các phương thức phổ biến là: chuyển dịch, phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng Ban đầu chủ yếu dựa trên các thuật ngữ xăng dầu tiếng Nga, vào những năm 90 trở la ̣i đây chủ yếu là tiếng Anh
- Về nguồn gốc, các thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt được cấu tạo từ các
yếu tố thuần Việt rất ít, phần lớn được tạo lập từ các yếu tố Hán -Việt Các thuật ngữ xăng dầu tiếng Việt được hình thành từ lối phiên chuyển từ tiếng
Trang 39Anh, thí dụ: petrol bomb → bom xăng, bán hàng online → bán hàng trên mạng, High- octane gasoline → xăng có chỉ số octane cao v.v
Ngoài ra, chúng ta còn sử dụng một số thuật ngữ viết tắt như:
+ EFI: Electonic Fuel Injection (hệ thống phun xăng điện tử),
+ CFL:Continuous Fuel Injection system ( hệ thống phun xăng liên tục),
+MFI system: Multiport Fuel Injection system ( hệ thống bơm xăng đa cồng),
+ SFI system: Sequential Multiport Fuel Injection system ( hệ thống bơm xăng đa cồng khép kín),
+ IFI: Indirect Fuel Injection system ( hệ thống phun xăng gián tiếp) …
Trang 40Chương 2: ĐỐI CHIẾU CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC
HÌNH THỨC CỦATHUẬT NGỮ XĂNG DẦU
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Để tìm hiểu các đặc điểm về cấu trúc hình thức của thuật ngữ xăng dầu tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta phải tiến hành phân tích, khảo sát các phương diện sau:
- Các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ, đặc điểm của những yếu tố đó
- Các yếu tố đó kết hợp với nhau như thế nào, theo mô hình nào để cấu tạo nên thuật ngữ nói chung và thuật ngữ xăng dầu nói riêng
2.1 Yếu tố cấu tạo của thuật ngữ
Như chúng ta đã trình bày ở chương 1, thuật ngữ là những từ ngữ “đặc biệt”, có những đặc trưng riêng của nó về cấu trúc hình thức
Về cấu trúc hình thức, cần thấy sự khác biệt của thuật ngữ so với các
từ ngữ thông thường trong cách cấu tạo từ và cụm từ (ngữ)
Thuật ngữ được cấu tạo nên từ một hay nhiều “yếu tố thuật ngữ”
(terminoelement) Yếu tố thuật ngữ có nhiều chỗ tương đồng với khái niệm
“hình vị” hay “từ tố” (morpheme) trong tư cách là yếu tố cấu tạo từ: chúng đều là đơn vị có nghĩa (từ vựng hay ngữ pháp) tối giản, không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn mà không vi phạm vào nghĩa của nó hoặc làm
những phần còn lại không có nghĩa
Xét về mặt cấu trúc hình thức, thuật ngữ xăng dầu có thể là thuâ ̣t ngữ
“đơn” chỉ gồm một yếu tố; thí dụ các thuâ ̣t ngữ “ xăng”, “ dầu” của tiếng Viê ̣t hay các thuâ ̣t ngữ sau đây của tiếng Anh:
petrol (xăng),
oil (dầu),
float (phao xăng),
flap ( nắp khóa chỗ đổ xăng),
tank ( bể/ bình chứa xăng),