Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu về hình thái của cây ngô rau của các công thức thí nghiệm suất giống ngô rau LVN23 ở các công thưc thí nghiệm Bảng 3.9.. Các nước tư bản, trên 70
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -NGUYỄN THỊ NAM HỢP
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ RAU LVN23 VỤ XUÂN 2008
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
VINH – 1.2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Nam Hợp Lớp: 45 k2 Nông học
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu trong khoá luận này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào
Vinh, Ngày 27 tháng 12 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Thị Nam Hợp
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình củathầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Phổ đã dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên đễnvới khoa học Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu đó
Xin chân thành cảm ơn tổ bộ môn Nông Học, Khoa Nông Lâm Ngư, vànhà trường, các thầy cô giáo, chính quyền và nhân dân xã Nghi Phong đã tạođiều kiện giúp đỡ về thời gian cũng như cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm để tôihoàn thành đề tài ngghiên cứu của chính mình
Xin chân thành cảm ơn sự động viên, cổ vũ, giúp đỡ của người thân vàbạn bè trong suốt quá trình tôi làm luận văn này
Vinh, Ngày 20 tháng 12 năm 2009
Tác giảNguyễn Thị Nam Hợp
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DL: Chiều dài lõi
ĐK: Đường kính
KLB: Khối lượng bắp
LAI: Leaf area Index (chỉ số diện tích lá)
LSD: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
NSLT: Năng suất lý thuyết
NSTT: Năng suất thực thu
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Động thái tăng truởng chiều cao cây của các công thức thí
nghiệm
Hình 3.3 Diện tích lá của các công thức thí nghiệm
Hình 3.4 Chỉ số diện tích lá qua một số thời kỳ sinh trưởng
Hình 3.5 Năng suất bắp lý thuyết và năng suất bắp thực thu của giống
ngô rau Hình 3.6 Năng suất lõi lý thuyết và năng suất lõi thực thu của ngô rau
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Giá trị xuất khẩu ngô bao tử ở Thái Lan (triệu bạt)
Bảng 1.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau so với các loại rau khác
Bảng 1.3 Thành phần hoá học của cây không bắp, thân, lá và lá bi của ngô
rau Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô rau ở Thái Lan (1988 – 2001) Bảng 1.5 Quy trình kỹ thuật bón phân cho cây ngô rau
Bảng 1.6 Diễn biến khí hậu vụ Xuân ở Nghi Lộc, Nghệ An năm 2008
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh
trưởng, phát triển của các công thức thí nghiệm Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng
chiều cao cây qua các thời kỳ theo dõi Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến số lá và tốc độ ra lá của các công thức
thí nghiệm Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá qua
một số thời kỳ sinh trưởng Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng tích luỹ chất khô của các
công thức thí nghiệm Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu về hình thái của cây
ngô rau
của các công thức thí nghiệm
suất giống ngô rau LVN23 ở các công thưc thí nghiệm Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu về bắp và lõi ngô rau
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế của ngô rau trong vụ xuân 2008 ở các công thức
thí nghiệm
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Việt Nam
10
Trang 8rau LVN23 ở các công thức thí nghiệm
2.5.3.5 Đánh giá chỉ tiêu khối lượng, kích thước và chất lượng lõi
của giống ngô LVN23
24
giống ngô rau LVN23
26
phát triển
26
chiều cao cây
30
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ đến số lá và tốc độ ra lá của các công thức 33
năng chống đổ của giống ngô rau LVN23
44
năng suất của ngô rau LVN23
47
giống ngô rau LVN23
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tiến hoá của khoảng 1000 loài cây trồng phổ biến nhất hiệnnay, cây ngô là một trong những loài có lịch sử lâu đời, và phát triển một cáchnhanh chóng nhất Ngô là một trong những cây cốc chính, cổ nhất và phổ biếnrộng, có năng suất cao và giá trị kinh tế lớn của loài người Trong vòng 30 nămgần đây, sản lượng ngô trên thế giới đã tăng gấp đôi, hiện nay sản lượng ngôchiếm trên 1/4 tổng lượng ngũ cốc của thế giới Những thổ dân da đỏ ở Châu Mỹ
Trang 9đã biết trồng ngô từ 3000 năm Trước Công Nguyên và sau nửa cuối thế kỷ XV,ngô đã được phổ biến nhanh ra hầu khắp các nước trên thế giới nằm ở nhiều vĩ
độ rất khác nhau Điều này đã giải thích tại sao cây ngô đứng thứ nhất về năngsuất, đứng thứ hai về sản lượng (sau lúa mỳ) và đứng thứ ba về diện tích (sau lúa
mỳ và lúa nước) [14], [17]
Trên thế giới, càng ngày vị trí cây ngô trong nông nghiệp và trong nềnkinh tế càng tăng Nó là loại cây giàu dinh dưỡng, cung cấp lương thực cho gần1/3 dân số trên toàn cầu Ở tất cả các nước trồng ngô thì nhu cầu sử dụng khácnhau Các nước tư bản, trên 70% sản lượng ngô được dùng làm thức ăn gia súc,khoảng 20% được dùng làm lương thực thực phẩm, số còn lại được dùng trongcông nghiệp và để giống Ở các nước có nền nông nghiệp quy mô lớn và pháttriển, ngô thường chiếm trên 50% tổng số thức ăn gia súc [14], [22]
Trong những năm gần đây cây ngô là một cây thực phẩm rất được ưachuộng, từ ngô có thể chế biến ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau, của cácnghành công nghiệp, lương thực, thực phẩm [15, tr 11 - 15] Xu thế hiện nay,người ta đang sử dụng ngô rau là một trong những cây trồng lý tưởng cho sảnphẩm rau sạch dưới dạng bao tử hoặc đóng hộp Bắp bao tử được thu hoạch ởgiai đoạn ít bị sâu bệnh hại nên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được hạn chế[16, tr 8 - 12] Hiện ngô rau là một loại rau cao cấp đang được thị trường quốc tế
ưa chuộng Nhiều khách hàng quốc tế đã quan tâm và đặt mua sản phẩm đồ hộpngô bao tử từ những nước sản xuất ngô rau như Thái Lan, Trung Quốc…đặc biệtTrung Quốc đã có ngô rau thái khoanh chất lượng cao Những năm gần đây đồhộp ngô rau của Việt Nam sản xuất đã đảm bảo được các yêu cầu về chất lượng
so với các sản phẩm cùng loại của Thái Lan và Trung Quốc [20]
Sau khi thu hoạch ngô non, phần thân lá xanh là khối lượng thức ăn xanhgiàu dinh dưỡng cho gia súc, nguồn thức ăn này có thể sử dụng trực tiếp ăn tươihoặc ủ chua làm thức ăn trong những mùa đông nghèo nàn cỏ xanh Ở đồng bằngSông Hồng và đồng bằng Sông Cửu long việc xen canh cây ngô rau vào hệ thốngcây trồng lương thực đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần đa dạng
Trang 10hoá cây trồng, cải thiện hệ sinh thái và tỏ ra là một phương thức sản xuất có lãi[4], [16].
Ngày nay, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục công tác nghiên cứu và sảnxuất các giống ngô nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đáp ứng nhu cầu ngàycàng cao của nguời tiêu dùng Đồng thời phải có thời gian sinh trưởng ngắn đểquay vòng được nhiều vụ trong năm, có nhiều bắp để tăng năng suất, mặt khác có
độ đồng đều cao để quá trình thu hoạch được tập trung Trong suốt thời gian gầnđây Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo, nhập nội đẩy mạnh công tác chọn giống vàsản xuất các giống ngô làm thực phẩm như ngô đường, ngô ngọt, đặc biệt là ngôbao tử mang lại hiệu quả kinh tế cao [2], [5], [15]
Trong nền kinh tế thị trường thì ngô làm rau tươi, đóng hộp đã và đangđược các nhà khoa học nghiên cứu, sản xuất và chế biến ngày càng được mởrộng Bước đầu nước ta nghiên cứu và nhập nội một số giống như: LVN23,LVN36, TN819, Paxific421, VN4, TN819…phần nào đã đáp ứng được nhu cầu
đó Trong đó LVN23 là giống phát triển tốt tại nhiều vùng trong cả nước, giống
có tỷ lệ 2 – 3 bắp sinh lý/cây cao LVN23 do Viện ngô lai tạo cho năng suất bao
tử cao, dễ thu hái, lá bi mỏng, trồng được mật độ dày, có thời gian sinh trưởngngắn, có khả năng chống sâu bệnh và đặc biệt LVN23 còn cho giá trị dinh dưỡngcao hơn giống nhập nội [9]
Chính vì vậy, năm 2008 chúng tôi đã tiến hành đưa cây ngô rau trồng thíđiểm tại trại thực nghiệm nông nghiệp, trường Đại học Vinh trên nền đất cát phaven biển Nghi Lộc - Nghệ An Muốn phát huy hết tiềm năng, năng suất và hiệuquả của giống ngoài yếu tố di truyền của giống, đồng thời phải tác động các biệnpháp như chế độ chăm sóc, tưới nước, bón phân, mật độ, trong đó mật độ là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới năng suất quần thể cây trồng
và hiệu quả sản xuất cao Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô rau LVN23 vụ Xuân 2008 ”.
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
Trang 112.1 Mục tiêu
Từ những mật độ trồng khác nhau, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, theodõi nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển và năng suất, khả năng chốngchịu sâu bệnh của giống ngô rau LVN23 Từ đó tìm ra mật độ trồng thích hợpnhất mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người sản xuất
2 2 Yêu cầu của đề tài
Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năngsuất và năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh, đồng thời quan sát phẩm chất,
độ đồng đều, màu sắc của lõi giữa các công thức thí nghiệm để đưa ra kết luậnchính xác nhất
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở xác định mật độ ngô rau hợp lý đạt năng suất cao, chất lượngtốt trong việc thâm canh cây trồng vụ Xuân
Ngô rau là một loại cây trồng lý tưởng cho sản phẩm nông nghiệp sạch,vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, việc xác định mật độ gieo ngô hợp lý
sẽ góp phần xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp cho vụ Xuân trên vùng đất cátpha ở Nghệ An
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về cây ngô rau
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại
Ngô rau (baby corn) xuất phát từ ngô lấy hạt, nhưng thu hoạch sản phẩm
sớm ở giai đoạn ngô non (bao tử), do đó nó có nguồn gốc của giống ngô lấy hạt ởvùng Mêhicô khoảng 7.000 – 10.000 năm về trước, từ một loại cây thảo hoangdại Dựa vào tài liệu tế bào học, Anderson E (1945) đã nêu ra giả thiết cây ngôtrồng xuất hiện ở Đông Nam Á, là một song nhị bội của hai loài có số nhị bội thể
Trang 12nhiễm sắc là 10, một loài thuộc loại coix và loài khác sorghum Nhưng khó cóthể coi đây là một quan niệm chín chắn [5], [15].
Trái với giả thiết của Anderson, nhiều nghiên cứu cho rằng nguồn gốc củangô là ở Châu Mỹ Vavilov (1926) cho rằng: Mêhicô và Pêru là những trung tâmphát sinh và đa dạng di truyền của cây ngô Mêhicô là trung tâm thứ nhất (trungtâm phát sinh), vùng Andet (Peru) là trung tâm thứ hai, nơi mà cây ngô đã trảiqua quá trình tiến hoá nhanh chóng Theo Wilkes (1988) ngô bắt nguồn từ câyhoang dại ở miền trung Mêhicô trên độ cao 1.500m của vùng bán hạn có mưamùa hè khoảng 350mm Người ta tìm thấy hoá thạch phấn ngô Tesointe vàTripsacum trong khi khai quật ở Ballas Ares Thành phố Mêhicô Mẫu phấn ngô
cổ nhất được tìm thấy ở độ sâu 70 m và xác định vào niên đại sông băng, ít nhấtcách đây khoảng 3.600 năm Trước công nguyên Điều đó chứng tỏ Mêhicô làtrung tâm phát sinh của ngô [15, tr 5 - 8]
Trước khi Cripxtop columbo tìm ra Châu Mỹ, thực tế cây ngô đã gắn bóchặt chẽ với người dân bản xứ Trung Mỹ Ngô được suy tôn như bậc thánh thần,được cúng tế lúc gieo trồng, khi thu hoạch, thậm chí còn được coi như sinh racon người Năm 1449 Cripxtop columbo mang ngô vào Châu Âu, đầu tiên trồng
ở Tây Ban Nha Người Châu Âu nhanh chóng, nhận biết được giá trị lương thựccủa cây ngô và phổ biến rộng rãi Vào những năm đầu của thế kỷ XVI bằngđường thuỷ các tàu biển của các nước Châu Âu đã dần đưa cây ngô lan rộng khắpcác lục địa của thế giới Theo Rumphius, năm 1946 người Bồ Đào Nha đã nhậpngô vào Inđônexia có thể trực tiếp từ Nam Mỹ, từ Indonexia ngô chuyển sangĐông Dương và Miến Điện [15, tr 7-9]
Ngô là cây trồng ít kén đất đã được hoan nghênh ở Miến Điện và trở thànhloại cây trồng bổ sung khi thiếu gạo Người ta trồng ngô ở những chân đất xấu và
ở đây phát sinh một đột biến làm xuất hiện một thành phần tinh bột mới trong hạtngô và những dạng có loại tinh bột đó được gọi là ngô nếp [15], [17]
Từ Miến Điện ngô nếp phổ biến khắp vùng Đông Nam Á và sang Châu
Mỹ và Châu Âu Theo Kulesohv (1928) ngoài tinh bột mới, ở Miến Điện, ngô
Trang 13còn có thêm một loạt những đặc điểm sinh thái di truyền mới và ở đây chính lànơi phát sinh một trung tâm phát triển phụ mới của ngô [15, tr 9-10].
Ngô vào Việt Nam đi theo hai con đường từ Trung Quốc và Indonexia,Miến Điện qua Tập quán trồng ngô ở đồng bào dân tộc Tây Nguyên là chọc lỗ,tra hạt, còn vùng núi phía bắc là gieo hàng Điều này cho thấy hai khuynh hướngtrồng ngô khác nhau phải chăng do hai con đường ngô vào nước ta đã mang theohai tập quán trồng ngô khác nhau [5], [6]
Ở các trung tâm nông nghiệp sơ khai, bản địa cách biệt, các bộ lạc cổ xưacủa nhân loại dã thuần hoá được một số đáng kể các loại cây cốc Nhiều cây cổnày đã không vượt qua được giới hạn định cư của chính dân tộc trồng chúng lầnđầu tiên Chỉ có ba trong số các cây cốc đó là lúa nước (Đông Nam Á, Ấn Độ),lúa mỳ (Tây Á) và ngô (Trung Quốc) trở thành những cây trồng của thế giới [2],[5]
Hiện nay, diện phân bố của các cây trồng này bao gồm gần toàn bộ tráiđất Ngô ăn hạt được chia ra nhiều loại: Ngô đá, ngô nổ, ngô đường, ngô bột, ngônếp Tất cả các loại ngô từ ngô lấy hạt, ngô đường, ngô rau đều thuộc một loạiZeamays, chi Zea [4, tr 31 - 33] Ngô bao tử trong điều kiện trồng trọt bìnhthường, đảm bảo chu trình sinh trưởng cũng biểu hiện hoàn toàn như ngô lấy hạt.Tuy nhiên không phải tất cả các loại ngô khi thu hoạch non đều có thể làm ngôrau Thông thường các loại Ngô bao tử thường được thu hoạch bắp ở giai đoạncòn rất non, chưa phun râu các giống ngô rau đang được trồng hiện nay trong sảnxuất thuộc hai nhóm giống chính là ngô thụ phấn tự do và ngô lai Ở Viện nghiêncứu ngô đã tạo ra các giống ngô rau đặc chủng [4], [9]
1.1.2 Giá trị kinh tế của ngô rau
1.1.2.1 Giá trị xuất khẩu
Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, vấn đề bức thiếtnhất hiện nay là nông sản phẩm sạch đang rất được coi trọng Ngô rau là một loạinông sản rất lý tưởng đáp ứng được yêu cầu đó vì bắp ngô được thu hoạch khicòn rất non lại được bọc kín trong lá bi do đó rất ít bị sâu phá hoại, vì vậy việc
Trang 14dùng thuốc hoá học là rất hạn chế Ngô bao tử là một loại rau ăn tươi cao cấpchứa nhiều chất dinh dưỡng và các loại vitamin, khoáng chất…nên rất được ưachuộng trên thị trường thế giới, có rất nhiều khách hàng ngoại quốc quan tâm vàđặt mua đồ hộp ngô bao tử.
Trên thế giới nhiều nước chú trọng phát triển ngô rau vì nó đem lại lợi tứccao Các nước vùng lãnh thổ sản xuất chính: Thái Lan, Đài Loan, Guatemala,Nam Phi, Zambia, Zimbabue Thái Lan là nước dẫn đầu ở Châu Á trong sản xuất
và xuất khẩu ngô rau sang Châu Âu, Mỹ, Nhật, Hồng Kông, Úc, Malaysia vàSingapore Năm 1997, họ xuất khẩu gần 60.000 tấn, trị giá 64 triệu USD Sau 16năm (1975 - 1989) giá trị xuất khẩu mặt hàng này tăng 846 lần Mỗi năm NhậtBản xuất khẩu khoảng 10.000 tấn ngô rau đóng hộp nhưng phải nhập khẩu từThái Lan để đáp nhu cầu tiêu dùng trong nước Theo số liệu của cục xúc tiếnThái Lan thì công nghiệp sản xuất ngô rau triển vọng hơn các sản phẩm nôngnghiệp khác: lúa, ngô,…vì lợi nhuận cao Nếu đầu tư 359 USD/ha (1997) thì thuđược 550 USD, lợi nhuận 200 USD/ha [4], [14]
Ở Thái Lan, ngô rau chính là một mặt hàng xuất khẩu đóng góp lớn trongviệc sản xuất và sử dụng ngô bao tử làm rau Ngay từ những năm đầu của thế kỷ
70, Thái Lan đã có đề xuất việc dùng ngô non làm rau và xuất khẩu sang rấtnhiều nước ở châu Âu và châu Á Sản lượng ngô rau xuất khẩu tăng nhanh và đãmang lại một lượng ngoại tệ đáng kể cho Thái Lan [4], [14] Giá trị xuất khẩungô bao tử ở Thái Lan được thể hiện ở bảng sau 1.1
Bảng 1.1 Giá trị xuất khẩu ngô bao tử ở Thái Lan (triệu bạt)
Nước nhập
khẩu
Giá trị1989*
(1000 bạt) 1990*(triệu bạt) 1991**(triệu bạt) 1992**(triệu bạt) 1975-1992(triệu bạt)
Trang 151988 - 1992 đã đạt trung bình 1.800 tấn với 1,6 triệu USD Về tỷ lệ giữa xuấtkhẩu tươi ở Thái Lan cho thấy: xuất khẩu hộp chiếm 90% tổng thu (khoảng 900triệu bạt), xuất khẩu tươi 3%, còn lại 7% số lượng ngô sản xuất ra được tiêu dùngtrong nước.
Ở nước ta, đã có nhiều cơ quan nghiên cứu như Viện nghiên cứu ngô,Viện nghiên cứu Rau - Hoa - Quả, các Trường Đại học Nông Nghiệp…Và cónhiều công ty kinh doanh sản xuất và chế biến đồ hộp ngô bao tử như Xí nghiệpchế biến thực phẩm MEKO hay “Baby corn - Ngô bao tử”, cơ sở sản xuất TrungThành (công ty chế biến thực phẩm An Nam - Hà Nội)… Trong những năm quathì đồ hộp ngô bao tử sản xuất theo quy trình công nghệ của Việt nam hoàn toànđảm bảo mọi yêu cầu về chất lượng và cảm quan [16, tr 8 - 12]
1.1.2.2 Thành phần dinh dưỡng của bắp bao tử
Ngô rau là một loại rau cao cấp có chứa lượng dinh dưỡng cao, nhiềuvitamin E, các khoáng chất và Protein Là loại rau an toàn, cho thu hoạch vàogiai đoạn bắp non (bao tử) giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất, ít bị sâu bệnh nênkhông phải dùng thuốc bảo vệ thực vật, phần ăn được bao kín trong lá bi nên tồn
Trang 16dư chất độc do nấm là không có và hàm lượng NO3 trong sản phẩm cũng rất thấp[4, tr.32- 35] Qua bảng sau cho chúng ta thấy được giá trị dinh dưỡng của ngôrau so với các loại rau khác là rất cao.
Bảng 1.2 Giá trị dinh dưỡng của ngô rau so với các loại rau khác
Trang 17Qua bảng số liệu cho chúng tôi thấy rằng: Hàm lượng Protein trong ngôrau đạt 1,90(g), chỉ đứng sau Sulơ (2,40g) và cao hơn rất nhiều lần so với Càchua và Cà (1g), Dưa chuột (0,60g) Trong ngô rau có hàm lượng Hydratcacbon(mg) đạt cao nhất 8,20 mg Hàm lượng Photpho (mg) ở ngô rau là 86,00mg caogấp 7 lần so với dưa chuột (12mg), gấp 4 lần so với cà chua (18g), và cao hơn sovới cải bắp (26mg), cà (27mg) và sulơ (50mg).
1.1.2.3 Ngô rau cung cấp thức ăn chăn nuôi giàu dinh dưỡng
Ngô rau được thu hoạch vào giai đoạn bắt đầu phun râu khi tích luỹ cácchất đồng hoá ở mức độ cao nhất, là giai đoạn cho năng suất sinh học Ngoài rathân lá và lá bi sau khi thu hoạch còn rất non là nguồn thức ăn xanh giàu dinhdưỡng cho chăn nuôi đại gia súc (nhất là bò sữa), cá, một hướng chăn nuôi đangphát triển mạnh ở nước ta Ngô rau thích ứng rộng, có thể trồng quanh năm trêncác loại đất tận dụng, 2 vụ, đất mạ… Đặc biệt trồng vụ đông muộn, góp phầnđáng kể thức ăn xanh cho chăn nuôi trong mùa đông giá rét Ngô rau cho năngsuât thân lá xanh từ 13,6 – 30,4 tấn/ha và 3 – 5 tấn lá bi/ha tuỳ thuộc vào giống
và mùa vụ gieo trồng [4], [14] Thành phần hoá học của cây không bắp, thân, lá
và lá bi của ngô rau (%) được thể hiện rõ ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Thành phần hoá học của cây không bắp, thân, lá và lá bi của ngô rau
bắp (%)
Lá bi bắpxanh (%)
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô rau trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô rau trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất ngô rau trên thế giới
Trang 18Trên thế giới nhiều nước chú trọng phát triển ngô rau vì nó đem lại lợi tứccao Các nước, vùng lãng thổ sản xuất chính: Đầu tiên phải nói đến là nước TháiLan, sau đó Đài Loan, Guatemala, Nam Phi, Zambia, Zimbabue Ngay từ nhữngnăm đầu của thập kỷ 70 Thái Lan là một trong những nước của khu vực đề xuấtviệc dùng ngô non làm rau và xuất khẩu sang nhiều nước Châu Âu và Châu Á, lànước đã có đóng góp rất lớn trong việc sản xuất và sử dụng dạng ngô bao tử làmrau [15], [17] Từ đó cho đến nay việc phát triển ngô làm rau ở Thái Lan ngàycàng được nâng cao về diện tích, năng suất và sản lượng được thể hiện ở bảngsau 1.4
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô rau ở Thái Lan (1988 - 2001)
(Nguồn: Demand for Raw Meterials of Agricultuer-Related Factories)
Qua bảng số liệu cho thấy rằng: Diện tích ngô rau ở Thái Lan ngày mỗi
mở rộng từ năm 1988 chỉ với 58.374 ha, nhưng sau đó 13 năm diện tích tăng lên127.600 ha Diện tích tăng lên thì năng suất và sản lượng ngô rau cũng sẽ tăng,
cụ thể: Năng suất không ngừng tăng năm 1988 đạt 1.100 kg/ha và vào năm 2001đạt tới 1.370 kg/ha
Trang 19Sản lượng trong những năm đầu 1988 đạt 64,197 (tấn), năm 2000 sảnlượng gấp 2,5 lần với các năm trước đó đạt 163,500 (tấn), năm 2001 đạt 174,812tấn.
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngô rau trên thế giới
Trên thế giới, Thái Lan là nước trồng ngô rau sớm nhất Năm 1976 đánhdấu sự phát triển đa dạng các giống ngô rau ở Thái Lan, với công nghệ thụ phấnmới (OPV) Được các khu vực nghiên cứu của chính phủ và cá nhân thực hiện,kết quả đạt được có thể phát triển giống Rangsit 1, đây là giống lai phức hợpđược tạo ra dựa trên những mục tiêu từ sau năm 1981 đó là: phải đạt năng suấtcao, màu vàng đẹp, lõi gọn, có khả năng kháng nấm và thích nghi tốt Hiện nay ởThái Lan, chủ yếu sử dụng 5 chủng loại ngô bao tử lai khác nhau đó là: Suwan 1,Suwan 2, Suwan 3, Rang sit 1 và Chiangmai 90, những giống này đã được pháttriển trên quy mô lớn, do có khả năng cho năng suất cao và chống được nấm mốc[20], [23]
Theo nguồn tài liệu nghiên cứu dòng ngô lai 8/2547 xuất bản số ISBN974-436-360-6 ở Thái Lan Cho thấy hiện nay, việc sản xuất ngô rau lai đang rấtđược quan tâm nghiên cứu, họ đã khảo sát sơ bộ các dòng từ 2543 – 2546, con lai2542/43, 2443/44, 2544/45 so sánh các giống cơ bản như: CP-IB9710, CP5588,PAC271, G5414, SG18, SG17 super, KU1 [23]
Năm 1997, Carol và Owen trồng và định giá 10 loại ngô khác nhau chosản phẩm ngô bao tử ở Montesano, Washington Dựa trên cơ sở của sản lượng vàchất lượng dùng để ăn, thì những giống: Kandy, GH 2283, Tuxedo, Custer,Tendertreat và Bodaciosu cho sản phẩm ngô rau phù hợp nhất Sự giảm chấtlượng của ngô rau, ở các bắp thu hoạch sau trên cùng một cây là rất phổ biến.Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy nếu cung cấp điều kiện tốt nhất về dinh dưỡng và
Trang 20giữ ẩm cho cây thì có thể nâng cao chất lượng ngô rau trong một thời gian dàihơn [22].
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô rau ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất ngô rau trong nước
Ngô rau vào Việt Nam từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi
đó nước ta nhập một số giống ngô rau nhập nội của Thái Lan Thời gian đầu pháttriển còn chậm, nó được trồng rải rác với diện tích nhỏ chưa theo hướng hànghoá Tuy nhiên, hiện nay các vùng trồng ngô rau ngày mỗi mở rộng ở nhiều địaphương trong cả nước, nhằm đáp ứng mục tiêu mở rộng diện tích, thị trường mặthàng này [4, tr 31 - 36] Tại Hà Tây, ngô rau được du nhập từ cuối thập kỷ 90,ban đầu chỉ một số hộ trồng theo đơn đặt hàng của khách, rồi sau đó rộ lên trongtoàn xã, đến nay đã lan ra các xã khác trong huyện và lan rộng ra môt số vùng ởphía bắc Vào khoảng những năm 1999 - 2000, trên thị trường xuất hiện nhiềusản phẩm ngô rau, ngô đóng hộp được nhập khẩu từ nơi khác, ngô rau phải chịu
sự canh tranh từ nhiều phía Trước tình hình đó, cơ quan nhà nước, chính quyềnđịa phương đã vào cuộc phối hợp các đoàn thể hỗ trợ thu mua, rồi sơ chế đónghộp để xuất bán đi các nơi [25]
Hiện nay, ngô rau đang là hướng chuyển đổi cây trồng có hiệu quả ở SongPhượng - Hà Tây Theo Ông Nguyễn Huy Hoàng, chủ tịch Hội nông dân xã SongPhượng hồ hỡi: Cây ngô rau này hay lắm, dễ trồng, không tốn nhiều công chămsóc và có thể thâm canh 4 vụ trong năm, lứa nọ tiếp lứa kia, chỉ sau 40 - 70 ngày
là có thể thu hoạch Mỗi sào đạt năng suất khoảng 1 - 1,5 tạ ngô thành phẩm, trừchi phí, lãi khoảng 400.000 - 500.000 đồng mỗi vụ, cao gấp nhiều so với trồnglúa và ngô hạt Giá trị mang lại trong việc canh tác ngô rau ở đây đạt khoảng gần
80 triệu đồng/1 năm Ông Hoàng cũng cho biết: Để người dân yên tâm sản xuất,UBND huyện đã ký hợp đồng dài hạn với 3 Hợp tác xã nông nghiệp ĐanPhượng, Song Phượng, Đồng Tháp, theo hợp đồng này ngô rau của nông dânđược tiêu thụ với giá 1.700 đồng/kg và đồng thời Hợp tác xã chế biến nông sảnViệt – Úc đóng tại huyện nhận thu mua sản phẩm này với số lượng không hạn
Trang 21chế Cũng theo Ông Hoàng, UBND huyện có kế hoạch mở rộng diện tích trồngngô rau lên 300 ha vào năm 2005 Chị Giang Thị Phượng ở đội 1, thôn Đoàn khêkhẳng định, trồng ngô rau đem lại lợi nhuận gấp ba lần trồng lúa Sau khi thuhoạch, nông dân bán ngô theo kilogam với giá trung bình từ 2.000 – 2.500 đồng/
kg, những lúc cao điểm giá này có thể lên tới 8.000 – 10.000 đồng/kg Ngoài ranông dân còn có thể bán cả thân và lá ngô cho những gia đình chăn nuôi bò sữathu được 50.000 – 60.000 đồng/sào, vụ đông rét giá ngô có khi “đội” lên 100.000đồng/sào [25]
Ở đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long ngô rau dần dần xenvào hệ thống độc canh cây lúa và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần đadạng hoá cây trồng, cải thiện hệ sinh thái và là một phương thức sản xuất có lãi.Ngoài ra ở những vùng cây công nghiệp, ngô cũng là cây trồng xen, gối rất tốtvừa mang lại lợi ích kinh tế vừa chống xói mòn [4], [16]
Trong những năm qua sản xuất rau màu ở Nghệ An đã đem lại lợi nhuậnkhá cao trên đơn vị diện tích, góp phần nâng cao giá trị sử dụng đất Việc trồngngô rau đem lại giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế đã được kiểm chứng ở nhiềuđịa phương trong cả nước, đây là một loại cây trồng mang lại thu nhập cao chongười dân
Để phát triển loại rau cao cấp này ở Nghệ An cần phải xây dựng mô hìnhtrọng điểm, sau đó tổ chức sản xuất tập trung có quy mô lớn, khâu nối với cácdoanh nghiệp chế biến và xuất khẩu rau, quả để hợp tác đầu tư sản xuất, tiêu thụsản phẩm, tạo thị trường ổn định
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngô rau trong nước
Trong suốt giai đoạn từ năm 1992 đến nay viện nghiên cứu ngô đã lai tạo
và làm thí nghiệm ở tất cả các vụ hàng loạt các giống ngô làm rau Lúc đầu cácgiống ngô lấy hạt thụ phấn tự do và các giống ngô lai nhập nội, về sau có cácgiống ngô lai đặc chủng để làm rau như LVN23, LVN36, Pacific 11, DK 49 [9]
Trang 22Ở nước ta, trong những năm gần đây viện nghiên cứu ngô đã thực hiện thínghiệm luân giao, chọn lọc từ một số dòng kết quả cho thấy LVN 23, LVN36 có
tỷ lệ bắp sinh lý cao, và cho năng suất cao hơn các giống khác [11], [15]
Để trồng ngô rau đạt năng suất cao, chất lượng thương phẩm tốt cần tácđộng các biện pháp kỹ thuật như chọn giống phù hợp với điều kiện địa phương,lượng giống, mật độ, khoảng cách trồng, kỹ thuật chăm sóc, thời vụ gieo trồng.Khi tiến hành trồng ngô rau mà gặp thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh sẽ ảnhhưởng rất lớn đến sự ra bắp và chất lượng bao tử cũng kém
Ngô rau thu hoạch bắp non, do vậy về nguyên lý ta nên cần bón phân đạm, giảmlân và kali [3], [4]
Xí nghiệp MEKO hướng dẫn bón phân trên một ha:
Phân chuồng bón càng nhiều càng tốtUre: 200 kg
Supe lân: 400kgClorua kali: 150kgDAP: 300kgVới cách bón
Bảng 1.5 Quy trình kỹ thuật bón phân cho cây ngô rau
(trước gieo)
Bón thúc 1(15 ngày)*
Bón thúc 2(32 ngày)*
Bón thúc 3(50 ngày)*
(* tính từ ngày sau gieo)
Công ty Pacific Seed khuyến cáo bón lót NPK (nguyên chất) theo tỷ lệ
16 : 20 : 10 hoặc 15 : 15 : 15 với tổng lượng 200kg Sau khi gieo 28 ngày thì bón
tỷ lệ 46 : 0 : 0 với lượng 200kg/ha
Kết quả nghiên cứu của viện nghiên cứu ngô năm 1993 cho thấy mật độgieo trồng tuỳ thuộc rất nhiều vào giống và thời vụ [4, tr 34 - 45] Viện nghiên
Trang 23cứu ngô đã khuyến cáo trong điều kiện Việt nam, ngô rau nên gieo ở mật độ 11,1
- 12,2 vạn cây/ha, với khoảng cách gieo
60cm x 15cm x 1cây70cm x 25cm x 2cây 70cm x 35cm x 3câyTheo công ty Pacific Seed khuyến cáo trồng với mật độ 10,6 - 15,9 vạncây/ha, khoảng cách hàng cách hàng 75 cm, cây cách cây 25 cm, 2 – 3 cây/hốc
Xí nghiệp chế biến thực phẩm MEKO khuyến cáo: Mật độ 12,5 vạncây/ha, gieo hàng đôi hoặc hàng 3 với khoảng cách giữa hai luống 80cm, hàngcách hàng 40 cm, cây cách cây 30 cm, 2 – 3 cây/hốc Với mật độ 14 vạn cây/hanếu gieo hàng ba với 3 cây/hốc và 9,3 vạn cây/ha nếu gieo hàng ba với 2 cây/hốc[4, tr 36 - 45]
1.3 Diễn biến thời tiết khí hậu trong vụ xuân 2008 ở Nghệ An
Điều kiện khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng để xác định thời vụ hợp lý,
và qua đó bố trí mật độ, khoảng cách sao cho cây trồng sinh trưỏng và phát triểnđược thuận lợi
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính gió mùa với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm
và mưa nhiều theo mùa Hàng năm, ở Nghệ An nhận được trung bình từ 120
-140 kcal/cm2 bức xạ mặt trời Số giờ nắng thường đạt trên 160 giờ/năm, nhiệt độtrung bình 23 - 240C Tổng nhiệt độ trên 90000C, mỗi năm có trên 30 ngày nhiệt
độ dưới 100C và 20 - 25 ngày nhiệt độ trên 300C Ẩm độ không khí là 85%,lượng mưa trung bình là 1600 - 2000mm Khí hậu Nghệ An có 2 mùa, mùa khôhanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nóng từ tháng 4 đến tháng 10
Nghi Lộc nằm trong tổng thể điều kiện chung của vùng với vị trí 18054’ vĩ
Trang 243/2008 20,8 25,6 15,1 8 32,7 86,8
(Nguồn: Trung tâm khí tượng Bắc Trung Bộ)
Qua bảng số liệu khí tượng thuỷ văn chúng tôi nhận xét:
Nhiệt độ: Vụ xuân (tháng 3 – tháng 5) nhiệt độ trung bình khá ổn định,mặc dù ở đầu vụ nhiệt độ trung bình khá thấp 20,80C, nhưng đối với cây ngô raunhiệt độ này vẫn đảm bảo cho cây hoàn thành giai đoạn mọc mầm và các giaiđoạn sau khá nhanh Ở các tháng tiếp theo nhiệt độ đã tăng lên và nhiệt độ cuối
Trang 25Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học
Trong hệ thống cây trồng nói chung, cây ngô rau nói riêng quá trình sinhtrưởng phát triển có mối liên hệ với nhau để tạo năng suất Quá trình sinh trưởng,phát triển của cây bị chi phối với nhiều quy luật, trong đó có quy luật canh tranhtrong loài Đó là sự cạnh tranh về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, quá trình hấp thụnước dinh dưỡng của từng cá thể Cây trồng sẽ phát triển tốt nếu như đảm bảotình trạng cân đối và hài hoà các nhu cầu trên đối với từng loại giống, điều kiệnkhí hậu, thời tiết, đất đai, mùa vụ…cụ thể
Mật độ và khoảng cách gieo trồng cần phải bố trí hợp lý để đảm bảo cấutrúc quần thể ruộng ngô thích hợp khi đó mới phát huy hết khả năng cho năngsuất của giống Đồng thời với mật độ trồng thích hợp tạo điều kiện cho ngô rausinh trưởng và phát triển thuận lợi nhất, tăng khả năng chống chịu với điều kiệnngoại cảnh bất lợi cũng như sâu bệnh hại là một khâu có ý nghĩa quan trọng, giữ
vị trí hàng đầu trong công tác thâm canh tăng năng suất
Nếu mật độ trồng thưa, cây sinh trưởng mạnh, diện tích lá trên cây lớn, chỉ
số diện tích lá thấp do đó hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng của cây thấp gâylãng phí các nguồn lực nông nghiệp Mật độ thưa, số cây trên đơn vị diện tíchthấp, tổng số cây trên quần thể ít dẫn đến khả năng cho năng suất không cao
Trang 26Ngược lại, nếu mật độ trồng dày, thì các cây cạnh tranh về dinh dưỡng, ánh sáng,cây sẽ vươn cao, đường kính thân nhỏ, diện tích lá trên cây thấp nhưng chỉ sốdiện tích lá lại cao nên các lá phía dưới không nhận được ánh sáng mà chỉ tốndinh dưỡng hô hấp vô hiệu, đồng thời làm cho lõi nhỏ, trọng lượng lõi thấp
Mặt khác, mật độ gieo trồng còn ảnh hưởng đến phát sinh gây hại của sâubệnh Gieo trồng thưa là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu bệnh, cỏ dại pháttriển cạnh tranh chất dinh dưỡng, nước với cây trồng Và ngược lại, gieo trồngdày, ruộng không thoáng, độ ẩm cao dẫn đến sâu bệnh phát triển mạnh, cây vươncao dễ đổ ngã
Chính vì vậy, việc bố trí mật độ và khoảng cách trồng hợp lý để phát huyhết tiềm năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, hiệu quả kinh tế cao phải dựatrên cơ sở phù hợp với đặc điểm từng giống, từng vùng sinh thái, trong từng mùa
vụ cụ thể, ở từng vùng địa phương khác nhau
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, vấn đề an toànlương thực đang được quan tâm tạo ra sản phẩm sạch, không có dư lượng thuốcbảo vệ thực vật mà năng suất và chất lượng không hề giảm Trồng cây ngô raumang lại một giá trị cao và đồng thời thúc đẩy một số mặt hàng khác phát triểnnhư công nghệ xuất khẩu chế biến, đóng hộp… Đồng thời ngô rau có chất lượngdinh dưỡng cao như Vitamin, các khoáng chất và Protêin Là loại rau an toàn, thuhoạch vào giai đoạn bắp non (bao tử), giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất, ít bị sâubệnh nên không phải dùng thuốc bảo vệ thực vật, phần ăn được bao kín trong lá
bi nên tồn dư chất độc do nấm là không có và hàm lượng NO3 trong sản phẩm làrất ít Ngoài ra phần thân lá và lá bi khi thu hoạch còn rất non là nguồn thức ănxanh giàu dinh dưỡng cho cho chăn nuôi đại gia súc Hơn nữa ngô rau là một loạirau cao cấp đang được thị trường ưa chuộng và đặt mua sản phẩm đồ hộp ngô
bao tử Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật
độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô rau LVN23
vụ Xuân 2008”
Trang 27Với mục đích tìm ra mật độ trồng thích hợp nhất, mang lại hiệu quả kinh
tế cao nhất, từ đó áp dụng vào thực tế sản xuất
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Vụ Xuân 2008, từ tháng 3 đến tháng 5/2008
Địa điểm: Trại thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Lâm Ngư (Đại họcVinh) thuộc xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An Đất thuộc loại đất cát pha
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Giống ngô rau LVN23
2.4 Vật liệu nghiên cứu:
- Đặc điểm của giống: Giống LVN23 có nhiều ưu điểm như thời gian sinhtrưởng ngắn, chịu được mật độ dày, có tỷ lệ 2 – 3 bắp/cây cao, hàm lượng chấtkhô, protêin, các vitamin C, B1 cao và có khả năng chống bệnh khô vằn, đồm lá
- Phân bón: Phân chuồng, phân đạm, phân lân, phân kali, vôi bột
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối bậc thang với 6 công thức và 3 lần nhắc lại
Tổng số ô thí nghiệm: 18 ô, diện tích mỗi ô 5 x 2,8 = 14 m2
Dải bảo vệDải
bảo
vệ
bảovệ
Dải bảo vệ Trong đó: I, II, III, IV, V, VI lá các công thức thí nghiệm
a, b, c là các lần lặp lại
- Công thức I: 50 x 25 x 1 hạt (8 vạn cây/ha)
- Công thức II: 40 x 30 x 1 hạt (8,3 vạn cây/ha)
- Công thức III: 40 x 25 x 1 hạt (10 vạn cây/ha)
- Công thức IV: 50 x 20 x 1 hạt (10 vạn cây/ha)
Trang 28- Công thức V: 40 x 20 x 1 hạt (12,5 vạn cây/ha)
- Công thức VI: 50 x 15 x 1 hạt (13,3 vạn cây/ha)
2.5.2 Quy trình kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc
2.5.2.3 Bón phân
Lượng phân bón tính cho 1ha: 10 tấn phân chuồng + 350 kg Đạm ure +
400 kg Supe Lân +80 kg Kaliclorua + 500 kg Vôi (tương ứng với 140 kg N + 60
Trang 29Khi cây ngô đạt 7 - 9 lá: Xới xáo, diệt cỏ, bón thúc đợt 2, đồng thời vuncao và tưới nước khi cần thiết.
Khi bông nhú cờ phải rút toàn bộ cờ trên ruộng
Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi và kiểm tra thường xuyên tình hình pháttriển sâu bệnh để có biện pháp phòng trừ kịp thời
Thu hoạch: Bắt đầu thu hoạch khi bắp phun râu 0,5 – 1,5 cm tuỳ từnggiống có thể thu hái bắp ngay, nếu để râu dài bắp non kém chất lượng Kíchthước đạt tiêu chuẩn dài tử 6,5 – 8 cm, đường kính: 1,0 – 1,4 cm Ngô rau nênthu hoạch 2 lần trong ngày vào buổi sáng sớm và vào buổi chiều tránh sự sót bắptrong quá trình thu hái
2.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi
2.5.3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển
- Ngày thu hái bắp lần 1 (30% số cây phun râu 3 - 5 cm)
- Ngày thu bắp cuối cùng
2.5.3.2 Các chỉ tiêu về hình thái của giống ngô rau
- Số lá trên cây: Dùng sơn đánh đấu lá thứ 5 (kể cả lá mầm) và lá thứ 10
để đế số lá chính xác Mỗi ô theo dõi 10 cây, theo dõi 10 ngày/1 lần đến khi số láđạt tối đa
- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc sát mặt đất đến mút lá cao nhất để đochiều cao của cây qua các thời kỳ theo dõi Nếu vun cao gốc thì dùng que đánhdấu độ vun cao gốc thêm bao nhiêu để từ đó xác định chiều cao cây chính xác
Đo chiều cao lần đầu tiên sau mọc 20 ngày, sau đó cứ 10 ngày đo 1 lần
- Chiều cao cây cuối cùng (cm): Đo từ gốc sát mặt đất đến điểm phânnhánh đầu tiên của bông cờ
Trang 30- Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ sát mặt đất đến vị trí đóng bắp trên cùng(bắp thu hoạch đợt 1).
- Diện tích lá đóng bắp: Diện tích lá (m2) được tính theo công thức:
S = (D1 x R1 +……+ Dn x Rn) x 0,75 Trong đó: D1, R1 là chiều dài và chiều rộng của lá thứ nhất
Dn, Rn là chiều dài và chiều rộng của lá thứ n 0,75 là hệ số diện tích lá
- Chỉ số diện tích lá:
LAI = Diện tích lá trung bình của 1 cây x Số cây/m2 (m2lá/m2đất)
- Đường kính lóng gốc (cm): Đo đường kính lóng gốc của 10 cây theo dõi
Tổng số cây theo dõi
Sâu xám: Theo dõi lúc cây ngô mọc mầm và lúc cây có đến 2- 3 láthật
Sâu đục thân: Theo dõi những cây có lỗ đục và phân cử của sâu tiết
ra trên thân và bẹ lá
Sâu cắn lá: Theo dõi lúc ngô có 3 – 5 lá đến khi thu hoạch bắp
- Bệnh hại: Xác định tỉ lệ cây bị hại: nh t l b nh (%) ỉ lệ cây bị hại: ệ cây bị hại: ệ cây bị hại:
Tỉ lệ bệnh (%) =
Số lá bị bệnh
x 100%
Tổng số lá theo dõi Mỗi ô thí nghiệm điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1m2 Tính tỷ lệ % số
lá bị bệnh trên tổng số lá theo dõi
Bệnh đốm lá (lớn và nhỏ): cho điểm từ 1- 5 điểm
Điểm 1: 0 - 5% số lá bị bệnhĐiểm 2: 5 - 15% số lá bị bệnh Điểm 3: 15 - 30% số lá bị bệnh
Trang 31Điểm 4: 30 - 50% số lá bị bệnhĐiểm 5: > 50% số lá bị bệnh
- Đổ rễ: Tính % số cây bị nghiêng một góc 300 so với chiều thẳng đứng củacây sau khi có mưa to, gió lớn
- Đổ gãy thân: Tính % số cây bị gãy ở đoạn thân dưới bắp trên số cây có trong
ô thí nghiệm
2.5.3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Xác định số bắp hữu hiệu/cây
- Xác định số cây/m2
- Xác định KLB cả lá bi bình quân và KLB bao tử trung bình
- Xác định năng suất lý thuyết bắp cả lá bi (tạ/ha):
NSLT bắp cả lá bi = KLB cả lá bi x Số bắp hữu hiệu/cây x Số cây/ha x 10.000
- Xác định năng suất thực thu: Cân toàn bộ các lần thu hoạch ở các ô thínghiệm, từ đó tính được NSTT của các công thức
- Xác định năng suất lý thuyết bao tử (tạ/ha):
NSLT bao tử = KLB bao tử x Số bắp hữu hiệu/cây x Số cây/ha x 10.000
- Xác định năng suất thực thu lõi: Cân toàn bộ lõi thực thu của các côngthức thí nghiệm
2.5.3.5 Đánh giá chỉ tiêu khối lượng, kích thước và chất lượng lõi của giống ngô
LVN23
- Đường kính lõi (cm)
- Khối lượng lõi/bắp (g)
- Chiều dài lõi (cm)
- Phân lo i lõi: ại:
loại I, II bị gãy
Trang 32- Các chỉ tiêu về chất lượng lõi của giống ngô rau LVN23
hạt thẳng, đều, nhát cắt ở cuống phẳng, không gãy vỡ