1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng penaeus vannamel, boone

39 384 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng penaeus vannamel, boone
Tác giả Đặng Văn Thành
Người hướng dẫn TS. Ngô Anh Tuấn, TS. Nguyễn Văn Sơn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Động vật học
Thể loại Luận văn thạc sĩ sinh học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 10,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, tôm he chân trắng là đối tượng nuôi mới với người dân, quytrình kỷ thuật nuôi chưa được hoàn chỉnh, đồng thời người nuôi không xácđịnh được nuôi với mật độ bao nhiêu thì đem l

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học VINH

-ĐẶNG VĂN THÀNH

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ LấN SINH TRƯỞNG

CỦA TễM HE CHÂN TRẮNG PENAEUS VANNAMEI, BOONE

Chuyên ngành : Động vật học

Mã số : 62.42.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Nguời hướng dẫn khoa học: 1 TS NGÔ ANH TUấN

2 TS NGUYễN VĂN SƠN

VINH- 2009

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm gần đây, dịch bệnh, đặc biệt là bệnh WSSV gây

thiệt hại nghiêm trọng đối với nghề nuôi tôm sú Penaeus monodon ở Việt

Nam và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng Mặt khác giá đầu ra của tôm sú trênthị trường nuội địa và các nước trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, các nước

châu Âu bị cạnh tranh rất mạnh bởi giá tôm he chân trắng Litopenaeus vannamei được sản xuất ở các nước Trung Quốc, Thái Lan Do vậy, việc

nuôi đối tượng mới như tôm he chân trắng vừa có năng suất cao, vừa có giáthành thấp là cần thiết

Tôm he chân trắng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, tuy nhiên hiện nay, đốitượng này đã được du nhập vào nhiều quốc gia trên thế giới và được nhập vàonước ta từ những năm 2000 Theo Matthew Briggs et al (2004)[29], tôm hechân trắng có độ tăng trưởng nhanh, có thể nuôi được với mật độ cao, là loàirộng muối và nhu cầu protein thấp hơn tôm sú

Tại Việt Nam, tôm he chân trắng đã được thử nghiệm nuôi trên nhiềuđịa bàn khác nhau, một trong những địa bàn được áp dụng là tỉnh Thừa ThiênHuế Với bờ biển dài trên 81 km và hàng chục ngàn ha bãi triều ven biển, điềukiện được thiên nhiên ưu đãi, Thừa Thiên Huế có nhiều lợi thế để phát triểnnghề nuôi trồng thuỷ sản Huyện Phong Điền là một trong bốn huyện giápbiển của tỉnh Thừa Thiên Huế, trong thời gian qua Phong Điền có diện tíchnuôi thuỷ sản và sản lượng nuôi thuỷ sản rất lớn đặc biệt là sản lượng tôm thẻchân trắng Tuy vậy, dịch bệnh, giá thành và giá bán tôm thương phẩm là vấn

đề gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của nghề nuôi tôm thẻ chântrắng ở nước ta nói chung và địa bàn xã Điền Môn - Huyện Phong Điền -Tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng (Đào Văn Trí, 2005)[10]

Tôm he chân trắng có những ưu điểm vượt trội so với tôm sú, thể hiện

ở chu kỳ nuôi ngắn, từ 2,3 - 3,0 tháng là cho thu hoạch, chi phí đầu tư thấp donhu cầu protein không cao Mật độ nuôi tôm he chân trắng rất cao, thườngnuôi với mật độ 90-180 con/m2, thậm chí lên đến 400 con/m2

Trang 3

Tuy nhiên, tôm he chân trắng là đối tượng nuôi mới với người dân, quytrình kỷ thuật nuôi chưa được hoàn chỉnh, đồng thời người nuôi không xácđịnh được nuôi với mật độ bao nhiêu thì đem lại kết quả cao nhất

Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của

mật độ lên sinh trưởng tôm he chân trắng (Penaeus vannamei Boone,

1931) tại xã Điền Môn - Huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế"

2 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở thử nghiệm nuôi tôm he chân trắng tại các ao nuôi nhằmđánh giá và tìm ra một mật độ nuôi thương phẩm thích hợp nhất và hiệu quảkinh tế cao của tôm thẻ chân trắng tại xã Điền Môn - Huyện Phong Điền -Tỉnh Thừa Thiên Huế

Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của tôm he chântrắng tại các ao nuôi nhằm đưa ra các khuyến cáo hợp lý

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Đề tài cung cấp các dẫn liệu về các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá trong các

ao nuôi góp phần đưa ra các giải pháp can thiệp kịp thời tăng năng suấtnuôi trồng tôm he chân trắng

Cung cấp thêm dẫn liệu về tăng trưởng ở các nuôi mật độ khác nhaunhằm đánh giá tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của các khu vực thử nhiệm có

ý nghĩa đánh giá tốc độ sinh trưởng của loài

Mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường - mật độ - tỷ lệ sống và năng suất là

cơ sở đánh giá tiềm năng và nguồn lợi động vật ở khu vực này

Ý nghĩa thực tiễn

Khu vực Phong Điền - Thừa Thiên Huế hiện đang phát triển mạnh nghềnuôi tôm he chân trắng, kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc để xác định nuôitôm ở các mật độ, góp phần làm cho nghề nuôi tôm phát triển một cách bềnvững, cộng đồng dân cư ven biển ở đây sẽ có cuộc sống ổn định và được cảithiện

Trang 4

Các thử nghiệm trên các khu vực nuôi là cơ sở để áp dụng thả trên diệnrộng với mật độ thích hợp có ý nghĩa kinh tế cho vùng.

4 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tiến hành với các nội dung như sau:

- Xác định các yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm he chân trắng

- Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng tại các ao

nuôi

- Ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ sống của các ao nuôi tôm he chân trắng.

- Ảnh hưởng của mật độ lên năng suất của các ao nuôi tôm he chân trắng.

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lược sử nghiên cứu tôm he chân trắng

1.1.1 Lược sử nghiên cứu nuôi tôm he chân trắng trên thế giới và Việt Nam

Tôm he chân trắng là đối tượng nuôi có nguồn gốc ở khu vực Nam vàTrung Mỹ (Wyban J., 2007 ) [26] Đây là đối tượng được nuôi phổ biến ở Tâybán cầu, chiếm hơn 70% các loài tôm he Nam Mỹ Sản lượng tôm he chântrắng chỉ đứng sau tổng sản lượng tôm sú trên toàn thế giới Các quốc giachâu Mỹ như Ecuado, Mexico, Panama là những quốc gia có nghề nuôi tômthẻ chân trắng phát triển từ đầu những năm 1900 Tổng sản lượng của tôm thẻchân trắng ở các nước Nam Mỹ đạt 200.000 tấn trị giá 1,2 tỷ USD vào năm2002

Ngày nay tôm thẻ chân trắng được du nhập, thuần hoá và nuôi ở nhiềunước trên thế giới, trong đó có các nước ở châu Á (Mathew Briggs et al.,2004)[26]

Bảng 1 Du nhập tôm thẻ chân trắng ở một số nước châu Á [33]

nhậpkhẩu

TaxasHawaiiĐài LoanTrung QuốcĐài LoanHawaiiĐài LoanĐài Loan

Đa dạng hoá đối tượng nuôi, trình diễn

Bệnh đốm trắng trên P.monodon Bệnh đốm trắng trên P.monodon Bệnh đốm trắng trên P.monodon, chịu

lạnh

Bệnh đốm trắng trên P.monodon Bệnh đốm trắng trên P.monodon Bệnh đốm trắng trên P.monodon Bệnh đốm trắng trên P.monodon

Tôm he chân trắng được nuôi thí điểm ở châu Á từ những năm 1978

-1979, nhưng về phương diện thương mại thì chỉ bắt đầu từ năm 1996 khi nó

Trang 6

được nhập vào Trung Quốc, Đài Loan và tiếp sau là Philippines, Indonesia,Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Ấn Độ [29] So sánh với loài tôm bản địa

nuôi phổ biến ở châu Á mà cụ thể là tôm P.monodon, những lý do sau giúp tôm

L vannamei có thể được du nhập và nuôi ở nhiều nước thuộc châu lục này.

Theo Nguyễn Dũng Tiến, 2005 (trích dẫn bởi Đào Văn Trí, 2005)[10],sản lượng tôm he chân trắng ở nước ta năm 2004 đạt 5.000 tấn, diện tích nuôikhoảng 1.600 ha, tổng diện tích nuôi tôm bị bệnh là 110 ha (thống kê chưađầy đủ) Theo Đào Văn Trí, 2005 hiệu quả trong việc nuôi tôm he chân trắng

ở nước ta đáp ứng được yêu cầu của người nuôi Kết quả điều tra của ĐàoVăn Trí (2005)[10] cho biết, 80% số hộ nuôi tôm he chân trắng tại các tỉnhNam Trung Bộ cho rằng thời gian nuôi ngắn (90-110 ngày), dễ nuôi, chi phísản xuất thấp, lợi nhuận thu được trên 120 triệu đồng/ha/vụ Nguyên nhân thấtbại trong nuôi thương phẩm tôm he chân trắng là: Con giống mua trôi nổi,nguồn giống thả không rõ ràng, chưa thật sự hiểu biết về quy trình nuôi,trong khi ao nuôi nằm trong vùng nuôi có điều kiện môi trường xấu, thường

có dịch bệnh xuất hiện

Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong giáp xác và trong nuôi trồng thuỷsản, sản lượng nuôi tôm năm 2000 của thế giới là 1.087.111 tấn, chiếm66,0% giáp xác nuôi, trị giá 6.880 tỷ USD, chiếm 73,4% giá trị trong nuôigiáp xác (Phạm Minh Đức, 2002)[3]

Năm 2002, sản lượng thuỷ sản thế giới đạt mức 38,9 triệu tấn với mứcgiá trị 53,8 tỷ USD Tuy nhiên, giáp xác nuôi chỉ chiếm 5,3% về sản lượngthuỷ sản thế giới và chiếm 20,1% về giá trị thuỷ sản toàn cầu vào năm 2002(Matthew et al., 2004)[29]

Sản lượng tôm nuôi toàn cầu năm 2002 đạt mức 1,48 triệu tấn (FAO,

2002; Chamberlain, 2003) Tôm P.monodon Vẫn dữ vai trò ổn định khoảng

600.000 tấn từ năm 1994 - 2002, tuy nhiên sự đóng góp về sản lượng lại giảm

từ 63% xuống 40% vào năm 2002, nguyên nhân do sản lượng tôm

P.chinensis và đặc biệt lúc bấy giờ là sản lượng P.vanamei hơn 500.000 tấn

Trang 7

(FAO, 2002) Hiện tại P.vanamei đang phát triển mạnh ở các nước châu Á đặc

biệt là Trung Quốc đại lục và Thái Lan

Hiện nay các loài tôm được nuôi nhiều nhất là P.monodon, tôm P.chinensis và tôm P.vanamei Riêng 3 loài này đã chiếm trên 86% sản lượng tôm nuôi của thế giới Nếu tính về sản lượng thì tôm P.monodon chỉ xếp thứ

20 trong số các loài thuỷ sản nuôi, nhưng về giá trị thì chúng đứng đầu với4.046 tỷ USD trong năm 2000 Các loài giáp xác nuôi khác bao gồm cả nuôinước ngọt đạt 386.185 tấn, chiếm 23,4% sản lượng nuôi giáp xác, các loài cua140.256 tấn, chiếm 8,5%

Nhìn chung nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã và đang đạt được nhữngthành tựu đáng kích lệ, song vấn còn những tồn tại làm hạn chế kết quả vàhiệu quả nuôi tôm

Nghiên cứu về kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng có thể kể đến HonculataPrimavera J (1992), cũng như hệ thống nuôi trồng thuỷ sản khác, các trangtrại nuôi tôm thịt hiện nay có 4 hình thức nuôi sau: Quảng canh truyền thống,quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh (trích dẫn bởi Phạm XuânThuỷ, 2004), nhưng theo Ronnback (2001) có 5 mức đầu tư nuôi với mức đầu

tư khác nhau từ quảng canh truyền thống đến siêu thâm canh, nhưng về mặt

kỷ thuật có thể chia thành 3 mức chung đó là quảng canh, bán thâm canh vàthâm canh Cách phân chia này dựa vào trình độ nuôi, mức độ đầu tư và trình

độ kỷ thuật Hình thức nuôi thương phẩm tôm he chân trắng được FAO chialàm hình thức quảng canh, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh,tương ứng vơi mật độ thả nuôi thấp, trung bình, cao và cực kỳ cao (Boone K,1931)[24]

Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng chủ yếu xuất hiện ở các nước châu Á

và một vài trang trại nuôi tôm ở châu Mỹ La Tinh Tôm được nuôi chủ yếutrong các ao nuôi đất hình vuông, hình tròn có diện tích từ 0,1 - 1,0 ha, mựcnước ao thường 1,5 m, mật độ nuôi thả 60- 300 con/m2 Cho tôm ăn thức ănnhân tạo 4-5 lần trên mỗi ngày với hệ số FCR 1,4-1,8 Năng suất nuôi tôm

Trang 8

7.000- 20.000kg/ha/vụ, mỗi năm có thể nuôi 2-3 vụ, năng suất tối đa lên đến30-35 000kg/ha/vụ [24].

Đối với mô hình nuôi siêu thâm canh tôm he chân trắng đã được thựchiện ở Mỹ trong hệ thống mương nổi đặt trong nhà kính Con giống dòng SPF

có chất lượng tốt, cỡ giống 0,5- 2g Hệ thống mương nổi có diện tích 282m2.Mật độ thả nuôi 300- 450 con/m2 sau 3-5 tháng đạt năng suất 28.000-68.000kg/ha/vụ Tốc độ tăng trưởng 1,5g/tuần, tỷ lệ sống đạt 55-91%, khốilượng trung bình 16-26g và FCR là 1,5-2,6 [24]

Trên cơ sở đó các mô hình khép kín như mô hình nuôi ít thay nước, môhình tuần hoàn hình thành và được giới thiệu vào năm 1994 ở Thái Lan, trongquá trình phát triển nuôi tôm ở Thái Lan, để mở rộng diện tích người nuôi đãxây dựng ao nuôi sâu vào vùng nước ngọt (khoảng 100km), lấy nước lợ từ cáccon sông để nuôi tôm, từ đó hình thành nên mô hình nuôi tôm ở độ mặn thấp.Quá trình phát triển của mô hình này diễn ra mạnh mẽ vào những năm cuốitôm ở độ mặn thấp cũng trên cơ sở ít thay nước nhưng do xa biển, hạn chế vềnguồn nước mặn nên độ mặn rất thấp Theo ước tính ở Thái Lan có khoảng18.530 ha nuôi tôm ở độ mặn thấp, đóng góp khoảng 40% sản lượng tôm củaThái Lan (Szuster & Flaherty, 2002) Hạn chế ở mô hình này là chi phí xâydựng cơ bản cao, kỷ thuật quản lý môi trường tốt,

Một mô hình khác cũng xuất hiện trong khoảng thời gian này là môhình nuôi thâm canh kết hợp với nuôi cá Kỷ thuật đã được thử nghiệm đầutiên tại Philippines để sử dụng hiệu quả các vùng nuôi tôm bị bỏ hoang làchuyển các ao nuôi bỏ hoang sang nuôi cá rô phi Từ đó đá hình thành nên kỷthuật nuôi kết hợp giữa các rô phi và tôm nước lợ tại đảo Nergos khoảng năm

1996, trước hết là nuôi luân canh tôm và cá, dần dần có các hình thức khácnhư nuôi cá trong lồng đặt trong ao tôm, hay nuôi cá trong ao lắng (ao chứanước cấp cho ao tôm) Trong vài năm gầy đây, cá rô phi cũng được nuôi phổbiến trong các trại nuôi tôm tại các nước ở tây bán cầu (Mexico, Ecuado vàPeru), nhằm hạn chế dịch bệnh tôm và tận dụng cơ sở hạ tầng của các trại tômnhằm tạo ra sản phẩm xuất khẩu (thịt cá rô phi filles) trong điều kiện nuôi tôm

Trang 9

không đạt hiệu quả, chính vì thế sản lượng cá rô phi tăng nhanh sau khi xẩy radịch bệnh tôm ở Nam Mỹ Hình thức nuôi phổ biến là nuôi luân canh tôm và

cá rô phi trong ao lắng chứa nước và xử lý nước thải

Tại Thái Lan, theo kết quả điều tra của dự án PD/A CRSP năm 2002,việc nuôi tôm kết hợp nước lợ với cá rô phi đang trở nên phổ biến trong vàinăm gần đây (Yang Yi & K.Fitzsimmons, 2002) Các hình thức nuôi kết hợpgồm: Nuôi cá rô phi trực tiếp trong ao tôm, nuôi cá rô phi trong lồng hay dăngquầng lưới trong ao tôm, nuôi cá rô phi trong ao lắng - chứa nước cấp cho aonuôi tôm, hình thức nuôi tôm luân canh với cá rô phi sau khi dịch bệnh xẩy ra

Lý do mà người nuôi tôm áp dụng các mô hình này là nhằm cải thiện chấtlượng nước, giảm chất thải, hạn chế dịch bệnh cho tôm nuôi và giảm sử dụngthuốc, hoá chất Khi so sánh hiệu quả kinh tế, mô hình nuôi tôm kết hợp với

cá rô phi cho kết quả cao hơn nuôi tôm đơn và cũng cao hơn nuôi luân canhtôm và cá rô phi

Mô hình nuôi thuỷ sản thân thiện vơi rừng (Mangrove- frendlyaquaculture) đã được hình thành từ vài thập kỷ qua ở nhiều quốc gia như:Indonesia, Myanmar, Việt Nam, Thái lan, Philippines, Malaysia, Kenya,Tanzania và Jamaica nhằm mục đích vừa khôi phục và bảo vệ rừng vừa pháttriển kinh tế thông qua nuôi trồng thuỷ sản (Fitzgerald JR,2006) [7]

Trên thế giới đã có nhiều nước trở thành cường quốc nhờ xuất khẩuthuỷ sản, như Trung Quốc hay Mỹ là nước đi đầu, mà gần đây có nhữngnước như Đài Loan, Bănglades…và có những thành tựu nghề nuôi tôm, trởthành ngành mũi nhọn, đồng thời các nước có rất nhiều kinh nghiệm, kỷ thuậtnuôi tôm Một số công trình nghiên cứu khoa học được công bố như sản xuấtgiống nhân tạo 1963 và sau đó là những công trình khám phá ra những loạithức ăn nhân tạo, tự nhiên có giá trị thích hợp trong nuôi trồng thuỷ sản Từnhững bước ngoặt đó nghề nuôi tôm sú đã có những bước đột phá mạnh mẽ

từ mức độ tăng trưởng 1,2% năm 1993 lên đến 9,4% năm 2003

Qua những thành công đó các nhà khoa học tiếp tục áp dụng các đốitượng khác như tôm bạc, tôm thẻ hay cua…đưa con giống chủ động vào sản

Trang 10

xuất nhân tạo và nâng sản lượng ngày một tăng Hiện nay với xu thế tiến rabiển và đa dạng hoá đối tượng nuôi là một hướng phát triển của các nước trênthế giới.

Ở nước ta, nghề nuôi tôm đã có từ lâu với các hình thức nuôi quảngcanh truyền thống, nguồn giống và thức ăn hoàn toàn từ tự nhiên Tuy nhiên,nghề nuôi này mới chỉ phát triển mạnh vào cuối những năm của thập kỷ 80khi sảm phẩm tôm được xuất khẩu ra thị trường thế giới Cùng với sự pháttriển của nghề nuôi tôm, rừng ngập mặn bị phá dẫn đến nguồn giống tự nhiên

bị giảm sút, lúc này người nuôi mới bắt đầu sử dụng giống nhân tạo thả bổsung vào ao nuôi tôm từ đó hình thành hình thức nuôi tôm quảng canh cảitiến Sau đợt dịch bệnh tôm vào năm 1994-1995, hình thức nuôi quảng canhtruyền thống không còn hiệu quả và gần như được thay thế hoàn toàn bằnghình thức quảng canh cải tiến Từ sau khi kỷ thuật nuôi tôm ít thay nước đượcgiới thiệu vào Việt Nam vào năm 1996 (Trương Quốc Phú et al., 1997) thìhình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh mới bắt đầu phát triển, đặc biệtsau khi chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất của Chính phủ được ban hành

Kỷ thuật nuôi tôm ở độ muối thấp cũng được giới thiệu vào Việt Nam cuốithập kỷ 90, Nguyễn Văn Vượng (2003) năm 2001 ở Bạc Liêu có 2.099 hanuôi tôm ở độ mặn thấp (0-5‰) Ngoài Bạc Liêu, các tỉnh khác như SócTrăng, Cà Mau, Kiên Giang đã chuyển đổi trồng lúa trong vùng nhiễm mặntheo mùa sang nuôi tôm ở độ mặn thấp

Việt Nam có bờ biển dài, nghề nuôi thuỷ sản được mở rộng nên diệntích nuôi khá lớn 902.900 ha mặt nước nuôi Năm 2004 giá trị sản lượng đạttới 33.999,2 tỷ đồng trong đó ngành nuôi đạt 18.886,8 tỷ đồng Điều đó chứng

tỏ ngành nuôi là một ngành phát triển mạnh đem lại giá trị, thu nhập cao chongười nuôi Ở nước ta mấy năm gần đây phát triển rất mạnh

Năm 2000 sản lượng đạt 97.628 tấn, năm 2004 đạt 290.797 tấn

Những năm gần đây do không kiểm soát được dịch bệnh, lượng tôm đãgiảm đi rất nhiều, đồng thời do mất giá nên việc đầu tư cũng không nhiều,diện tích hầu như không được mở rộng mà còn thu hẹp Việc phát triển tôm

Trang 11

thẻ là một bước đi đem lại hiệu quả cao Năm 2004 sản lượng tôm sú đạt285.000 tấn thì tôm thẻ chân trắng đạt 16.000 tấn Hiện nay việc nuôi tôm thẻđang được khuyến khích vì khả năng kháng bệnh và phát triển tốt trong điềukiện khắc nghiệt Nhiều mô hình nuôi kết quả thu được rất tốt và đang được

mở rộng tại các tỉnh miền Trung (Hoàng Tùng, 2004)[19]

Từ khi Bộ Thuỷ sản quyết định cho phép nhân rộng các mô hình nuôitôm thẻ chân trắng các mô hình nuôi tôm thẻ từ Bình Thuận đến Quảng Ninhđem lại hiệu quả cao

1.1.2 Lược sử nghiên cứu và tình hình nuôi tôm he chân trắng tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Các mô hình nuôi tôm he chân trắng ở Tỉnh Thừa Thiên Huế bắt đầu từnăm 2007 Năm 2006, cá tỉnh có tổng diện tích nuôi tôm sú là 4.021 ha, chưa códiện tích nuôi tôm he chân trắng Cuối năm 2007 tổng diện tích nuôi tôm củatỉnh Thừa Thiên Huế là 4.057 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chỉ đạt 50 ha,

Đến nay tổng diện tích nuôi tôm của tỉnh là 4.101 ha, trong đó diện tíchnuôi tôm thẻ chiếm 400 ha và đang tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo.Hiện nay đối tượng này đã được nuôi phổ biến tại các huyện có bãi nganggiáp biển của tỉnh Nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là Huyện Phong Điền,Tỉnh Thừa Thiên - Huế (Công ty Globest & IMeiindustrial, 2009)[21]

Nhằm đa dạng hoá đối tượng nuôi, tận dụng tiềm năng diện tích đủđiều kiện phát triển nuôi tôm he chân trắng, chủ động cung cấp nguồn nguyênliệu cho chế biến xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập

Từ khi ban hành chỉ thị 228/2008/CT - BNN, ngày 25 tháng 01 năm

2008 của Bộ NN&PTNT về việc phát triển nuôi tôm he chân trắng ở các tỉnhMiền Trung, phong trào nuôi tôm chân trắng hiện đang phát triển mạnh ở cáctỉnh: Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận, Nha trang, Phú Yên, Qui Nhơn,Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh,Nghệ An, Thanh Hoá, Tuy nhiên, việc sản xuất nhân rộng đối tượng nàychưa đồng bộ trong sản xuất và quản lý, thiếu qui hoạch, chưa được kiểm soát

Trang 12

thấu đáo từ khâu con giống đến qui trình nuôi, kênh thông tin thị trường cònnhiều bất cập.

Đầu năm 2007 Sở thuỷ sản Thừa Thiên Huế cho phép công ty cổ phầnTrường Sơn thử nghiệm nuôi 15 ha, công ty cổ phần Đông Phương, thửnghiệm nuôi 7 ha tôm thẻ chân trắng thay thế toàn bộ diện tích nuôi tôm sú đãthất bãi trong nhiều năm qua thuộc huyện Phong Điền, bước đầu thành công.Đến cuối năm 2007 đã có 50 ha diện tích nuôi tôm thẻ, Đầu năm 2008 các công

ty xin đất để đào ao nuôi tôm thẻ chân trắng một cách ồ ạt cụ thể là công tyTrường Sơn xin mở thêm 2 khu mới có tổng diện tích 50ha, Ông Mai XuânLọng xin được 60ha, các hộ gia đình đồng loạt làm ao nuôi tôm thẻ chân trắng.đến cuối năm 2009 Tỉnh có tổng diện tích nuôi tôm thẻ là 400ha Các hộ nuôitôm thẻ chân trắng bình quân từ 80-90 ngày là thu hoạch, cỡ tôm đạt bình quân

từ 60-90 con/kg Nếu theo tính toán của người nuôi thì với giá thành khoảng30-35000đg/kg, trong đó giá bán trên thị trường dao động từ 50-60000đ/kg tuỳtheo mùa vụ Nếu vụ nuôi thành công và được giá thì người nuôi lãi từ 20-30000đ/kg Mặt khác năng suất thu hoạch và lợi nhuận cũng phụ thuộc vào mật

độ nuôi Ngành thuỷ sản cũng đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các vănbản quản lý, tổ chức hội thảo, tập huấn kỷ thuật, hoàn chỉnh qui trình kỷ thuật,kiểm tra nghiêm ngặt các bệnh đốm trắng, taura bằng phương pháp PCR đốivới tôm giống vận chuyển về nuôi trên địa bàn của tỉnh

Tuy bước đầu có các hộ nuôi thành công nhưng vấn đề quan tâm cácngành chủ quản Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh, chưa đủ điều kiện để pháttriển tôm chân trắng Nhiều hộ nuôi mua giống không qua kiểm dịch, xuất xứkhông rõ ràng, chất lượng kém, nhất là các hộ mua giống qua trung gian, thảnuôi không tuân thủ theo mùa vụ, tỷ lệ sống thấp, rất dễ phát sinh dịch bệnh

Do vậy dịch bệnh gây thiệt hại cao Trong năm 2008 đã có 12,5 ha bị thiệt hạichiếm 6,9% diện tích thả giống Nguyên nhân, do điều kiện thời tiết, môitrường không thuận lợi, con giống kém chất lượng, quản lý kỷ thuật củangười nuôi còn hạn chế, thiết kế ao nuôi chưa đủ độ sâu, thiếu hệ thống cungcấp oxy, làm cho tôm có sức đề kháng kém, dễ phát sinh dịch bệnh Tôm chân

Trang 13

trắng là đối tượng nuôi mới nên việc qui hoạch vùng nuôi chưa hoàn chỉnh,

cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo, chưa có cơ sở sản xuất giống qui mô lớn, chấtlượng cao Trong năm 2008 cho thấy một số mô hình nuôi có năng suất, chấtlượng đạt yêu cầu Tổng sản lượng sản lượng tôm he chân trắng đạt 1.800 tấn.Tuy nhiên mạng lưới thu mua trong tỉnh hiện nay đang khó khăn do chưa cónhà máy nào vào thu mua với số lượng lớn Chủ yếu là bán tôm sống đi HàNội và Hải Phòng Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm sú đang bị dịchbệnh liên tục, đã có rất nhiều hộ nuôi tôm không có tiền để trả nợ ngân hàng,nên diện tích nuôi tôm sú đang bị thu hẹp và đã có những vùng bỏ ao không thểnuôi được nữa vì không có tiền để đầu tư, bên cạnh đó thì đối tượng nuôi tômthẻ đang phát triển rất tốt và đem lại lợi nhuận khá hấp dẫn, nên nhà nhà, công ty

đổ nhau ra mua đất để làm ao hồ Năm 2008 riêng sản lượng tôm thẻ thươngphẩm đạt 7200 tấn, đến cuối năm 2009 tổng sản lượng tôm thẻ thương phẩm đạt

10800 tấn, đạt 150% so với năm trước

1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội - Thừa Thiên Huế

Điều kiện và khí hậu tự nhiên

Thừa Thiên Huế là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểmmiền Trung, nằm ở toạ độ địa lý:

16002 đến 16,80o Vĩ độ Bắc 107,8o đến 108,20o Kinh độ đôngCách thủ đô Hà Nội 688 km về phía Nam

Phía Bắc Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thànhphố Đà Nẵng với ranh giới là đèo Hải Vân, phía tây giáp với nước Cộng HoàDân Chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp với biển Đông

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5054 km2 Tỉnh Thừa Thiên Huế nằmtrên trục đường giao thông quan trọng xuyên suốt Bắc Nam trên quốc lộ 1 vàtuyến đường sắt xuyên việt chạy dọc theo tỉnh, trục hành lang Đông- Tây nốiThái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9 Bờ biển của tỉnh dài 120 km, cócảng Thuận An và vĩnh Chân Mây với độ sâu 18-20 mét, đủ điều kiện xâydựng cảng nước sâu với công suất lớn Đường hàng không có sân bay Phú Bài

Trang 14

nằm trên trục quốc lộ 1 Hệ thống sông ngòi gồm các sông chính như sôngHương, sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Truồi.

Thừa Thiên Huế nằm trên giải đất hẹp với chiều dài 127 km, chiều rộngtrung bình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi, đồng bằngduyên hải, đầm phá và biển tập trung một không gian hẹp, thấp dần từ Tâysang Đông, phía Tây là dãy núi cao, phía dưới là đồi núi thấp và phía Đông làdải đồng bằng nhỏ hẹp

Thừa Thiên Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chấtchuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, ảnh hưởng của khí hậuchuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta

Thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đếntháng 11 với lượng mưa trung bình từ 2.500 - 2.700 mm mùa khô kéo dài từtháng 3 đến tháng 7, mưa ít, lượng nước bốc hơn lớn, thường có mưa giông.Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất là 35,9oC và thấp nhất là 12oC, nhiệt

độ trung bình là 21,9oC Số giờ nắng trung bình 2.000giờ/năm Độ ẩm trungbình 84% số lượng bão khá nhiều, thường bắt đầu từ tháng 6 nhiều nhất làtháng 9, 10

Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 3.501 tỷ đồngThu ngân sách 1.289,6 tỷ đồng

Hàng nắm tạo việc làm mới 7.000 người, trồng mới 686 ha rừng

Trang 15

2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Xã Điền Môn - Huyện Phong Điền - Tỉnh Thừa Thiên Huế

2.3 Thời gian nghiên cứu:

Bản đồ 1 Địa điểm nghiên cứu (•)

2.4 Phương pháp nghiên cứu:

2.4.1 Bố trí quy trình và kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng tại xã Điền Môn - Huyện Phong Điền - Tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chuẩn bị ao nuôi

Trang 16

Công việc chuẩn bị ao bao gồm nhiều khâu đòi hỏi phải thực hiện trướckhi đưa vào sử dụng lần đầu cũng như mỗi vụ nuôi Mục đích chính củachuẩn bị ao là tạo cho tôm nuôi có được một nền đáy ao sạch, chất lượngnước thích hợp và ổn định tạo điều kiện thuận lợi giúp tôm nuôi phát triểnmột cách tốt nhất.

Việc chuẩn bị ao nuôi bao gồm các khâu: Cải tạo và gây màu nước

- Địa điểm: Xã Điền Môn, Huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế.

Tổng diện tích farm nuôi được bố trí thí nghiệm:

- Tổng diện tích: 20ha

- Số ao bố trí thí nghiệm: 4 ao liền kề nhau, có diện tích như nhau, được bố tríthí nghiệm lặp lại 3 lần, đánh số thứ tự là:

- Ao: Số 3: Diện tích 4.000 m2, mật độ 90 con/m2

- Ao: Số 4: Diện tích 4.000 m2,mật độ 120 con/m2

- Ao: Số 5: Diện tích 4.000 m2,mật độ 150 con/m2

- Ao: Số 6: Diện tích 4.000 m2, mật độ 180 con/m2

Quy trình chuẩn bị ao nuôi

- Nền đáy cát: Lót bạt

- Cải tạo ao nuôi: Bơm nước vào 0,3m, rửa sạch bạt đáy và xả nước sạch Quá trình lấy nước nuôi

- Độ mặn khi lấy vào ao nuôi là 25-27‰

- Dùng máy bơm nước trược tiếp từ biển vào ao nuôi là 1,5m-1,6m

Quá trình xử lý nước

- Nước ao nuôi lấy được 1,5m sau đó để 4 ngày và dùng quạt để quạt nhằmlàm cho tất cả các loại trứng (cá, tép, cua, còng ) nở hết sau đó dùngCholorin để xử lý với liều lượng 30ppm

Cải tạo ao

Nền đáy ao nuôi không những ảnh hưởng đến tính chất môi trường nước

ao nuôi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tôm nuôi [5] Theo Nguyễn TrọngNho (1997), chất đáy ao đìa nuôi tôm không những ảnh hưởng đến quá trìnhcải tạo ao, quá trình chăm sóc và quản lý chất lượng nước mà nó còn ảnh

Trang 17

hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi Ao đìa có chất đáydạng cát sạn, cát thường dễ cải tạo nhưng khó nuôi cấy và duy trì tảo hơn cácloại đáy khác.

Theo Phạm Xuân Thuỷ (2004), đáy bùn cát, cát bùn là phù hợp cho aođìa nuôi tôm bởi dễ nuôi cấy tảo và duy trì màu nước (do giàu dinh dưỡnghơn các loài đất khác), bờ ao chắc chắn, dữ nước tốt (do độ kết dính cao) Nềnđáy ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở Huyện Phong Điền toàn bộ là cát trắng Nêntất cả các farm nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn 100% lót bạt hoàn toàn từ

bờ tới đáy Ưu điểm là cải tạo nhanh, mất ít thời gian và tốn ít nhân công Hạnchế đó là khó gây màu nước hơn

Gây màu nước

Gây màu nước có tác dụng thúc đẩy phiêu sinh vật phát triển tốt tạo bức màn(tảo) che khuất nền đáy, ngăn cản sự phát triển của các loài tảo đáy có hại,tránh gây sốc cho tôm, tăng hệ đệm của nước thông qua việc kích thích sựphát triển của hệ sinh vật sẵn có trong nước, điều hoà môi trường và tạonguồn thức ăn tự nhiên cho tôm chúng ta áp dụng giải pháp kỷ thuật gây màunước cho ao nuôi ở đây được gây lại màu bằng các phân bón NPK và Urê tỷ

lệ 1:2 hoặc 1:1 với nồng độ 2-5ppm

Sau khi gây màu xong ta tiến hành cho chạy quạt hàng ngày để kíchthích sự phát triển của phiêu sinh vật Khi đã lên màu, độ trong đạt khoảng40-50 cm thì kiểm tra các yếu tố môi trường khi đã ổn định và thích hợp thìbắt đầu công việc thả giống

Sau khi xử lý Chlorin 48 giờ, tiến hành gây màu nước

Trang 18

Nguồn giống tôm thẻ chân trắng thả nuôi ở khu vực huyện PhongĐiền được mua từ các công ty tại Ninh Thuận Và Bình Thuận trong đó chủyếu là công ty CP Việt Nam, công ty TNHH Việt - Úc.

Mặc dù người nuôi đã ý thức được vai trò chất lượng con giống đối vớinăng suất và hiệu quả kinh tế của vụ nuôi, nhưng người mua tôm giống chỉchọn dựa vào kinh nghiệm của mình mà ít khi sử dụng phương pháp hiện đại

để xét nghiệm bệnh ở những cơ sở có uy tín để kiểm tra chất lượng con giống Kích cỡ tôm giống thả ở farm nuôi chủ yếu là từ P10 -12 với mật độtrung bình 130con/m2 dao động từ 120- 150con/m2, tùy theo mùa vụ, mùađông mật độ thả cao hơn mùa hề rất nhiều Lý do chính là mùa hè lượng tôm

sú nuôi nhiều nên phải nuôi tôm lớn (60-70con/kg) thì bán mới có giá, còn vềmùa lạnh thì nuôi mật độ dày vì tôm chậm lớn, lúc thu có sản lượng

Trên thế giới, tôm thẻ chân trắng được nuôi với nhiều mật độ khácnhau tuỳ thuộc vào mô hình nuôi Nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở TháiLan 120 -200con/m2 , ở Equador 125-150con/m2

Để đem lại hiệu quả cao nhất cho vụ nuôi tôm ngoài việc chuẩn bị ao

thì khâu chọn giống (postlarvae) là rất quan trọng, ảnh hưởng đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của tôm sau này Chất lượng tôm giống là yếu tố quyếtđịnh chính đến sự thành công của vụ nuôi Một trong những khó khăn lớn củangười nuôi hiện nay là làm sao để có được tôm giống chất lượng tốt, sạchbệnh để thả nuôi Do vậy công tác chọn giống là vô cùng quan trọng

Mục đích của việc chọn giống là chọn được đàn tôm giống tốt, khoẻmạnh, đều, không mang mầm bệnh… cho nên ta có thể lựa chọn theo cácbước sau:

Trang 19

Khi chọn đàn tôm ta có thể dựa vào các tiêu chí sau:

-Về ngoại hình: Tôm giống phải có kích cỡ đồng đều, không phân đàn,màu sắc tươi sáng, vỏ bóng, đuôi xoè khi bơi, phụ bộ đầy đủ, đầu không to,ruột đầy thức ăn liên tục, không đứt quãng, không gom cục ở giữa

- Hoạt động: Trong môi trường nước tĩnh tôm có hiện tượng bám vách

là tôm khoẻ, còn nếu những con bơi liên tục là bất thường, trong môi trườngnước thì tôm phải có hiện tượng bơi ngược dòng nước và búng mạnh ra xungquanh Tôm phản xạ nhanh với tiếng động và ánh sáng, ta có thể thử tômgiống bằng cách múc tôm ra chậu, dùng tay khuấy nước, tôm khoẻ phải nhanhchóng bám vào thành chậu còn tôm yếu sẽ tụ lại giữa chậu

- Đặc điểm hình thể:

+ Kích cỡ: Tôm giống dài đòn, PL 12 chiều dài thân ít nhất phải đạt 9 mm

- Gây sốc để kiểm tra chất lượng tôm giống:

+ Dùng formol: Cho 100 con tôm giống vào trong nước với nồng độformol là 200mg/l Nếu sau 2 giờ, hơn 90% con giống còn sống sót thì giốngtốt nếu nhỏ hơn thì con giống không tốt cần loại ngay

+ Thử sốc độ mặn:

Giảm độ mặn đột ngột từ 30 ‰ xuống 20 ‰ sau 1 giờ nếu con giống cònsống sót ≥ 90% là giống tốt, nếu < 90% thì giống không tốt phải loại ngay

+ Kiểm tra kính hiển vi: Gan lớn, mặt gan nhẵn, chân bò, chân bơi đầy

đủ không bị dị tật, cơ thể không có nhiều protozoa

- Bệnh: Con giống phải được kiểm dịch trước khi thả nuôi (lấy mẫu đi kiểmtra PCR) không bị nhiễm các loại bệnh sau: taura, đốm trắng, đầu vàng, MBV…

Thả giống

- Nguồn giống được mua tại trại giống Công ty CP Việt Nam

- Trước khi thả tiến hành kiểm tra các điều kiện môi trường để trạigiống thuần dưỡng (độ mặn) Sau khi đã kiểm tra các điều kiện độ mặn, nhiệt

độ, pH của nước trong túi chứa tôm giống và nước ao trong ao nuôi tươngđương với nhau thì đưa giống vào thả, giống vận chuyển bằng ôtô chuyên chởtôm giống, mỗi túi chỉ chứa 2.000 post

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Các yếu tố môi trường trước khi  thả tôm giống   (trung bình cho 3 đợt thả giống) - Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng penaeus vannamel, boone
Bảng 2. Các yếu tố môi trường trước khi thả tôm giống (trung bình cho 3 đợt thả giống) (Trang 20)
Hình 1 - Tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei - Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng penaeus vannamel, boone
Hình 1 Tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei (Trang 32)
Sơ đồ 1. Chu kỳ phát triển của tôm thẻ chân trắng - Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng penaeus vannamel, boone
Sơ đồ 1. Chu kỳ phát triển của tôm thẻ chân trắng (Trang 35)
Bảng 5. Kết quả độ mặn trong ao nuôi - Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng của tôm he chân trắng penaeus vannamel, boone
Bảng 5. Kết quả độ mặn trong ao nuôi (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w