1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư đại học vinh

63 953 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai L16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm Nông học Khoa Nông Lâm Ngư - Đại học Vinh
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Nông học
Thể loại đề tài thực tập tốt nghiệp
Thành phố Vinh, Nghệ An
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 588,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, hàm lượngmùn và chất hữu cơ trong đất lại quyết định lớn đến hàm lượng N tổng số và dễtiêu của đất, quyết định đến khu hệ Vi Sinh Vật đất đặc biệt là vi sinh vật cố địng N2 háo

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Vấn đề cần nghiên cứu

Cây lạc (Arichis Hypogaea) còn gọi là cây đậu phộng là cây công nghiệp

ngắn ngày có giá trị kinh tế cao

Trong tất cả các loại cây trồng làm thực phẩm thì lạc được xếp vào một vịtrí đặc biệt quan trọng vì sản phẩm chính của nó có chứa một hàm lượng dầu(lipid) và prôtêin cao, sản phẩm chính của cây lạc ngày nay đang được con ngườiquan tâm đến nhằm giải quyết vấn đề thực phẩm phục vụ cho nhu cầu sử dụng ởhiện tại và tương lai Đồng thời cây lạc là cây trồng có khả năng xen canh vớinhiều loại cây trồng khác có tác dụng cải tạo đất, cân bằng nguồn đạm sinh học

tự nhiên

Prôtêin và lipid là thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong cây lạc.Với hàmlượng Prôtêin là 26-34%, lipid chiếm khoảng 40-60%, ngoài ra trong cây lạcthành phần dinh dưỡng còn chứa nhiều Vitamin khác

Ngày nay khoa học công nghệ phát triển đã tạo ra các sản phẩm có giá trịdinh dưỡng rất cao từ sản phẩm cây lạc: dầu lac, bơ lạc…đảm bảo nhu cầu thịhiếu của con người trong cuộc sống Mặt khác, lạc là cây trồng có sản phẩmchính là quả lạc, tuy nhiên các sản phẩm phụ từ các bộ phận của cây cũng có giátrị kinh tế đáng kể: sản phẩm của ngành ép dầu (khô dầu lạc) được sử dụng trongchăn nuôi, thân lá lạc làm thức ăn xanh Khô dầu lạc có thành phần dinh dưỡngtương đương với các loại khô dầu khác và nó chiếm tới 25-30% trong khẩu phần

ăn của gia súc

Cám vỏ quả lạc là một sản phẩm phục vụ chăn nuôi gia súc có giá trị dinhdưỡng tương đối và nó tương đương cám gạo để nuôi lợn, gà, vịt…

Giá trị trong cây lạc là rất lớn Ngoài ra, lạc là cây trồng cải tạo đất tốt nhờ

hệ thống vi sinh vật có khả năng cố định đạm trong đất Vi sinh vật cộng sinh cốđịnh đạm ở cây lạc là Rhizocbium, Rhizocbium có thể tạo thành nốt sần ở rể cây

Trang 2

bộ đậu, tuy nhiên ở lạc có khả năng tạo nốt sần cố định đạm, lượng đạm cố địnhcủa lạc có thể đạt 70-110 kgN/ha/vụ [14 ]

Cũng nhờ khả năng cố định này mà hàm lượng Prôtêin ở hạt và các bộ phậnkhác của cây cao hơn nhiều loại cây trồng khác Sau khi thu hoạch lạc hoá tínhcủa đất trồng được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinhvật háo khí trong đất được tăng cường cho cây trồng sau, nhất là đối với các loạicây trồng cần sử dụng nhiều đạm

Cũng phải thấy rằng tuỳ theo thành phần cơ giới của đất khác nhau sẻ quyếtđịnh rất lớn đến hàm lượng mùn và chất hữu cơ trong đất Mặt khác, hàm lượngmùn và chất hữu cơ trong đất lại quyết định lớn đến hàm lượng N tổng số và dễtiêu của đất, quyết định đến khu hệ Vi Sinh Vật đất đặc biệt là vi sinh vật cố địng

N2 (háo khí và yếm khí Clostridium Pasteurianum và Azotobacter Chrococcum).Trong đất cát các yếu tố về đạm dễ tiêu và tổng số đều hạn chế cho nên vấn đềbón phân đạm vô cơ bổ sung là rất cần thiết đối với loại đất này Nhưng vấn đềbón với liều lượng bao nhiêu là hợp lý để mặt trái của tác dụng của đạm vô cơkhông xảy ra Bởi vì, như chúng ta đã biết cây họ đậu được cung cấp bởi hainguồn Nitơ khác nhau đó là: - Đạm vô cơ từ đất cung cấp với 2 dạng chính đó là

NO3- và NH4

- Đạm hữu cơ chủ yếu là từ vi sinh vật cố định đạmcộng sinh ở nốt sần dạng axitamin và Prôtêin là chủ yếu và có thể trực tiếp trong cây.Hai dạng đạm nói trên, loại nào cây dùng hiệu quả hơn cho sinh trưởng, chotạo năng suất và chất lượng nông sản? Cho nên việc bón đạm vô cơ cho câytrồng họ đậu cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện về vai trò ảnh hưởngcủa nó

Tuy nhiên với một đề tài thực tập tốt nghiệp thời gian và các điều kiện cóhạn chúng tôi tiến hành nghiên cứu trong phạm vi hep

“Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai L16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm Nông nghiệp khoa Nông Lâm Ngư - Đại học vinh”

Trang 3

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Tìm hiểu sự ảnh hưởng của các mức đạm khác nhau đến sinh trưởng pháttriển và năng suất lạc ở vùng đất cát pha xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An.Trên cơ sở đó đưa ra được liều lượng bón đạm thích hợp mang lại năng suất vàhiệu kinh tế cao nhất

1.3.2 Điều kiện thí nghiệm.

Thí nghiệm được tiến hành tại trại thực nghiệm Khoa Nông Lâm Ngư, Đạihọc Vinh – Xã Nghi Phong –Nghi Lộc - Nghệ an

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Với các mức đạm khác nhau đó thì mức nào đảm bảo năng suất cao nhấtcho vùng đất cát pha xã Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Khoảng 90% diện tích trồng lạc tập trung ở lục địa Á Phi, ở Châu Á (60%)

và Châu Phi ( 30%) Châu Á bao giờ cũng đứng đầu thế giới về sản lượng(chiếm 70% sản lượng lạc của thế giới trong thời gian trước đại chiến tranh thếgiới thứ 2) Trên 60% sản lượng lạc thuộc về 5 nước sản xuất chính: Ấn Độ(chiếm khoảng 31% sản lượng toàn thế giới), Trung Quốc (15%), Xênêgan,Nigiêria và Mĩ Xênêgan là nước có diiện tích trồng lạc lớn (trên 1.000.000ha),chiếm 50% diện tích canh tác [1]

Với nhu cầu sử dụng và tiêu thụ ngày càng tăng đã và đang khuyến khíchnhiều nước đầu tư nghiên cứu, phát triển lạc với quy mô lớn Trong vài thập niêncuối thế kỷ XX sản xuất lạc của nhiều nước trên thế giới đã đạt được nhữngthành tựu to lớn Bí quyết thành công trong chiến lược phát triển lạc ở các quốcgia này là ứng dụng rộng rãi các thành tựu KHKT mới vào sản xuất như: Ấn Độ

- nước đứng đầu thế giới về diện tích trồng lạc đã thực hiện chương trình nghiêncứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên diện rộng nên trên cơ bản đã

tự túc dầu ăn cho đất nước (Ấn Độ là một nước có số dân gần 1 tỷ người và rất ít

sử dụng mở động vật nên nhu cầu sử dụng dầu ăn thực vật rất lớn) Kinh nghiệmcủa Ấn Độ là áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến (bón phân cân đối, sử dụnggiống mới có năng suất cao,…)

Trung Quốc là nước có diện tích trồng lạc lớn thứ 2 trên thế giới sau Ấn Độ(khoảng 3 triệu ha/năm) và là nước có năng suất lạc cao nhất thế giới hiện nay:bình quân năng suất cả nước đạt trên 30 tạ/ha Sản phẩm lạc là mặt hàng xuấtkhẩu nổi tiếng trên thị trường quốc tế Trong nhiều năm qua đã lai tạo được hàngtrăm giống mới có nhiều ưu điểm nổi bật: Năng suất cao, khả năng thích ứngrộng, chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi khá…,diện tích gieo trồng nhữnggiống mới này đạt 90-95% diện tích trồng lạc hàng năm

Trang 5

Cùng thời gian này các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến được ápdụng rộng rãi trong sản xuất đại trà như: Bón phân cân đối, mật độ gieo trồnghợp lý, phòng trừ sâu bệnh,…Vì vậy, năng suất không ngừng tăng lên: năm

1980 năng suất bình quân đạt 17 tạ/ha, năm 1990 đạt 25 tạ/ha và năm 2002 đạttrên 30 tạ/ha [15]

Trên thế giới, cây lạc được phân bố rộng rãi từ vĩ độ 56o Bắc-Nam, từ vùngnhiệt đới nóng ẩm và nóng khô tới vùng nhiệt đới tương đối ẩm và có nhiềumưa Cây lạc không đòi hỏi nghiêm ngặt về đất, thậm chí cả loại đất bị rửa trôithoái hoá vẫn trồng được lạc

Cho nên nhiều nước đang phát triển mạnh cây lạc như Braxin, Thái Lan,Nam Phi, Xu Đăng chủ yếu để làm nguồn nông sản xuất khẩu [1]

Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiệnqua bảng sau:

Bảng 1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới

trong những năm gần đây

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (triệu ha)

Tổng sản lượng (triệu tấn)

Năng suất (Tấn/ha)

Trang 6

Việt Nam là một trong những nước trồng lạc nhiều trên thế giới Trong số

25 nước trồng lạc ở Châu Á, Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích cũng như về sảnlượng Sản xuất lạc ở Việt Nam có chiều hướng ngày càng tăng về diện tíchnhưng năng suất còn rất thấp [7 ]

Cây lạc được trồng khắp cả nước từ các tỉnh miền Đông Nam Bộ đến miềnnúi phía Bắc, nhiều vùng sinh thái khác nhau, dưới các điều kiện kinh tế - xã hộikhác nhau Năng suất, sản lượng và diện tích trồng ở các vùng chênh lệch nhaukhá lớn

Năm 1998, Miền Bắc trồng 269,400 ha với năng suất trung bình là 14,3tạ/ha, miền Nam trồng 132,600 ha với năng suất trung bình 16,1 tạ/ha Nhìnchung, năng suất lạc còn thấp và đang còn nhiều nguyên nhân hạn chế như: thiếu

kỹ thuật canh tác tiến bộ, thiếu giống năng suất cao, sâu bệnh,…[20]

Những năm gần đây các nhà khoa học nghiên cứu về lạc của Việt Nam đãtập trung tổng kết kinh nghiệm các điển hình tiên tiến trong thực tiễn sản xuất,tiếp cận những thành tựu khoa học về lạc của thế giới, nhu cầu đề xuất các kỹthuật trồng lạc mới phổ biến rộng rãi cho nhân dân đã góp phần làm tăng năngsuất lạc ở Việt Nam đáng kể Năm 1990 năng suất đạt bình quân là 10 tạ/ha, sảnlượng là 218 tấn, năm 1995 năng suất tăng lên 134 tạ/ha và năm 2002 năng suấtlạc bình quân cả nước là 18 tạ/ha với sản lượng 400 tấn Tuy nhiên so với năngsuất lạc ở Miền Nam Trung Quốc thì năng suất của ta còn rất thấp chỉ 50-60%của nước bạn [7 ]

Nước ta có nhiều loại đất trồng được lạc Những diện tích lớn đất bạc màu,thoái hoá ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, những dải đất cát ven biển từ ThanhHoá chạy dài tới giáp Đông Nam Bộ, những vùng đất xám, vàng nâu, đất đỏbazan ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên,…đều có thể trồng được lạc Nhiều vùng(nhất là ở Miền Nam) có thể trồng được 2 vụ lạc trong một năm[12]

1.1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Nghệ An

Trang 7

Nhìn chung so với diện tích của cả nước, Nghệ An là tĩnh đúng thứ hai vềdiện tích và sản lượng lạc với diện tích 30.000 ha, sau Tây Ninh.

Trước đây diện tích lạc tập trung nhiều nhất ở khu IV cũ (Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh) rồi tới đồng bằng và trung du Bắc Bộ Từ năm1970 NghệTĩnh đã dựng dần được vùng lạc tập trung, chủ yếu ở vùng đất cát ven biển từQuỳnh Lưu tới Nghi Lộc mà điễn hình là vùng Diễn Châu diện tích lên tới trên

300 ha [1 ]

Với diện tích như vậy thì Nghệ An đã đạt được sản lượng 30.000 tấn, đãmang lại thu nhập lớn cho người nông dân và xuất khẩu của tĩnh Vì thế, pháttriển nghề trồng lạc tăng sản lượng nông sản đang là một hướng đang được quantâm

Trong những năm gần đây, cây lạc được trồng phân bố trên khắp 19 huyệntrong tĩnh mà tập trung chủ yếu là các huyện như: Quỳnh Lưu, Diễn Châu,Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc Tuy nhiên năng suất giữa các huyện chênhlệch lớn, ngay trong trong các xã cũng có sự khác nhau quá lớn như: Hưng Lam,Nghi Hoa, Nghi Long đạt tới 17-30 tạ/ha đối với những giống lạc sen lai 75/23,lạc Sen và V79

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc một số huyện ở Nghệ An trong những nămgần đây

Trang 8

1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc

Lạc là cây họ đậu nhưng nhu cầu sử dụng đạm của lạc cao song, nhờ hệthống nốt sần ở bộ rể cung cấp một lượng đạm đáng kể Tuy nhiên, nốt sần củacây chỉ hình thành sau khi cây mọc 1 tuần Hơn nữa, hệ vi sinh vật trong nốt sần

có nhu cầu sử dụng phân đạm để phát triển nên cần bón lót và thúc sớm để lạcphát triển ngay từ đầu và tạo nhiều nốt sần hữu hiệu Trên các chân đất bạc màu,

Trang 9

nghèo dinh dưỡng nếu không bón phân đạm thì hệ vi sinh vật cộng sinh nốt sầnphát triển kém vì vậy, năng suất sẽ rất kém Thiếu đạm, thân lá có màu xanhvàng, lá nhỏ, khả năng vươn cao, đâm cành kém Thiếu đạm trong giai đoạn đầucây cằn cỗi, khó hình thành nốt sần và tỷ lệ nốt sần hữu hiệu thấp [18]

Lượng dinh dưỡng mà lạc hấp thụ từ đất được nhiều tác giả nghiên cứu.Nói chung các kết quả nghiên cứu trên các loại đất khác nhau đều cho thấy quyluật chung của sự hấp thụ dinh dưỡng khoáng của lạc

Theo Colin và Morit, lạc trồng ở Mỹ với năng suất quả 2230 Kg/ha (1430

Kg hạt + 800 kg vỏ quả) và 1480 kg thân lá/ha Lượng nguyên tố lấy đi từ đấtđược trình bày ở bảng sau:

Bảng 1.4 Nguyên tố khoáng do lạc hấp thụ từ đất

Lượng lấy đi tính

bằng g cho kg/ha của

27 Kg/ha; Magie: 18 Kg/ha [21]

Bảng 1.5 Động thái hút các dinh dưỡng của lạc

Trang 10

1.3 Vai trò của đạm đối với cây lạc

Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và quan trọng đối với cây Đạm lànguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin,các enzim và nhiều loại Vitamin trong cây Bón đạm thúc đẩy quá trình tăngtrưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều, lá cây cókích thước to, có màu xanh, lá quang hợp mạnh, do đó lám tăng năng suất cây.Phân đạm cần cho cây suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinhtrưởng mạnh [24]

Phần lớn đạm được hút thu nằm trong hạt (dưới dạng protein), lạc là cây bộđậu nên lấy được một lượng đạm nào đó trong khí quyển thông qua hoạt độngcủa Rhizobium Những cây không có nốt sần chứa một lượng đạm rất thấp và bộ

rễ rất nhỏ, xanh nhạt do quá trình hình thành diệp lục bị kìm hãm

Những cây thiếu đạm đều mảnh yếu có dáng cao, tuy độ lớn không kháclắm so với cây đủ đạm Hình dáng trên là do sinh trưởng bị ngừng khá sớm do lánon không thể phát triển đầy đủ Những lá già đã mọc có cuống dài hơn bìnhthường, điều này làm cho cây có vẻ như bị trụi lá và bị héo [1]

Cây thiếu đạm sinh trưởng kém, lá vàng, chất khô tích luỹ bị giảm, số quả

và trọng lượng quả đều giảm, nhất là thiếu đạm ở thời kỳ sinh trưởng cuối.Lượng đạm lạc hấp thụ rất lớn, để đạt 1 tấn lạc quả khô cây cần sử dụng tới 50-

75 Kg N

Thời kỳ lạc hấp thụ đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa – làm quả và hạt Thời

kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thụ tới 40-50%nhu cầu đạm của cả chu kỳ sinh trưởng

Có 2 nguồn cung cấp đạm cho lạc là đạm do bộ rễ hấp thụ từ đất và đạm cốđịnh ở nốt sần do hoạt động cố định N2 của vi sinh vật cộng sinh cố định đạm.Nguồn đạm cố định có thể đáp ứng được 50-70% nhu cầu đạm của cây Ngoài

ra, lá cũng có khả năng hấp thụ đạm, phương pháp bón đạm qua lá là nguồn bổsung đạm có ý nghĩa, nhất là thời kỳ sinh trưởng cuối khi mà khả năng hấp thụcủa rể và khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần giảm sút [14]

Trang 11

1.4 Đạm trong đất

* Đạm tổng số trong đất

Đạm là một nguyên tố dinh dưỡng cần tương đối nhiều cho các loại câynhưng trong đất thường chứa ít Hàm lượng đạm tổng số trong các loại đất ViệtNam trung bình khoảng 0,1-0,2%, có loại dưới 0,1% như đất xám bạc màu Bởivậy, trong sản xuất nông nghiệp muốn nâng cao độ phì cho đất và đảm bảo năngsuất cao cần bón đạm

Tỷ lệ đạm tổng số trong đất thường có tương quan đồng biến với mùn trongđất ( thường N =5% của mùn) Đất càng giàu mùn tỷ lệ đạm tổng số càng cao [8]

Tỷ lệ đạm trong đất phụ thuộc rất nhiều yếu tố, đó là thành phần cơ giới,nhiệt độ và ẩm độ đất Ở nhiều nước theo Sepfe-Satsaben, tỷ lệ đạm đạm trungbình từ 0,02-0,4% ở các nước cộng hoà, trừ một số loại đất potzon bị rửa trôimạnh, các loại đất khác nhau đều có tỷ lệ đạm trên 0,1% Một số chân đất vùngviễn đông, đạm tổng số có thể đạt tới 1%

Ở nước ta, những chân đất giàu đạm tổng số nhất là những chân đất mùntrên núi, đất mới vỡ hoang, đất than mùn, đất trũng, đất đỏ baza, đất maegalit(thấp nhất là 0,2% và cao nhất cũng có thể đạt đến 0,4%) như đất magalit ở PhủQuỳ- Nghệ An, đất chiêm trũng Nam Hà 0,2% Đất nghèo đạm nhất là các chânđất bạc màu, đất phù sa cổ chua, đất cát ven biển, hàm lượng đạm tổng số trongđất trung bình đạt 0,05%

Đất miền trung do có điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt nắng nhiều,mưa lớn và tập trung nên quá trình khoáng hoá đạm hữu cơ xảy ra mạnh, rửa trôivới cường độ lớn các chất khoáng, trong đó có đạm do vậy hàm lượng đạmthường thấp

Ngoài ra các con sông miền Trung thường ngắn, hẹp lại chảy qua một địahình dốc do vậy độ phì cũng thấp hơn đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằngSông Hồng Đạm tổng số trên các loại đất phù sa các tĩnh miền Trung vì vậycũng thấp hơn

* Thành phần đạm trong đất

Trang 12

Trong cây đạm chủ yếu có ở 2 dạng là đạm hữu cơ và đạm vô cơ (theoAdre.Gros – CH Pháp –1967) thì đạm trong đất có ở 3 dạng: đạm hữu cơ, đạm

vô cơ và đạm khoáng

- Đạm hữu cơ trong đất

Đạm hữu cơ trong đất chiếm 95% đạm tổng số Đạm hữu cơ trong đất phátsinh từ prôtit của thực vật bị VSV phân giải ra Dạng đạm này cây không húttrực tiếp mà phải thông qua quá trình phân giải

Dựa vào khả năng hoà tan và khả năng thuỷ phân mà chia thành 3 dạng:+ Đạm hữu cơ tan trong nước

Nói chung có dưới 5% đạm tổng số, bao gồm một số axit amin, amit tươngđối đơn giản Một số hợp chất đạm hữu cơ này phân tán trong dung dịch đất nênrất dể bị thuỷ phân để chuyển thành NH4 có thể cung cấp trực tiếp cho cây

+ Đạm hữu cơ thuỷ phân

Đó là dạng đạm hữu cơ khi ở trong môi trường axit, kiềm hoặc lên men cóthể thuỷ phân tạo thành dạng tương đối đơn giản, dễ tan trong nước, hàm lượng

có thể trên 50% đạm tổng số

+ Đạm hữu cơ không thuỷ phân

Loại này chiếm 30-50% trong đạm hữu cơ Nó không những không tantrong nước mà cũng không thể dùng axit hay kiềm để thuỷ phân Loại này cầnthông qua hoạt động của VSV trong một thời gian dài mới chuyển thành NH4 ,

NO3-

- Đạm vô cơ trong đất

Lượng đạm vô cơ trong đất rất ít, ở tầng mặt chỉ chiếm 1-2% của đạm tổng

số (khoảng 1-50ppm) nhiều nhất cũng không vượt quá 8%

Dạng đạm vô cơ trong đất chủ yếu là NH4 và NO3- có thể còn có NO2nhưng cũng rất ít, NH4 được sinh ra do tác động amon hoá của VSV khi phângiải chất hữu cơ chứa đạm Trong điều kiện háo khí nó dể bị nitrat hoá thành

-NO3- và do đó chỉ trong đất lúa nước NH4 mới được ổn định và tích luỹ NH4

và NO3- đều hoà tan trong nước, NH4+ được keo đất hấp phụ nên ít bị rửa trôi còn

Trang 13

NO3- không được keo đất giữ nên dễ bị rửa trôi Có một ít NH4 nằm trong tinhthể keo sét và được gọi là “Đạm ở dạng giữ chặt”.

- Đạm khoáng

Chiếm khoảng 5% đạm hữu cơ trong đất, bao gồm đạm dạng amôn vànitrat Đây là loại đạm mà cây trồng có thể hút được Ở nước ta đất giàu đạmamon nhất là đất mùn Ffralit và đất bồi tụ thung lũng đá vôi Ở đất đồng bằng đấtgiàu đạm amon nhất là đất chiêm trũng Đất bạc màu tuy có hàm lượng đạm tổng

số thấp nhưng hàm lượng đạm amon lại tương đương đất phù sa [8]

1.5 Một số công trình nghiên cứu bón phân cho lạc trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Trên thế giới

Trong 2 thập kỷ gần đây, sản xuất lạc của nhiều nước trên thế giới đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn, bí quyết thành công của các quốc gia này là nhờ ápdụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ mới, áp dụng trực tiếp đồngruộng của người nông dân

Lạc là cây có dầu, được trồng phổ biến trên thế giới, việc nghiên cứu nhằmtăng năng suất lạc đã và đang là đối tượng được các nhà khoa học quan tâm,nghiên cứu, nhằm tìm cách khai thác một cách có hiệu quả ưu thế của cây lạc.Gần đây, tại Viện Quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn(UCRISAT) Ấn Độ đã thông báo sự chênh lệch giữa năng suất lạc của trạm trạinghiên cứu với năng suất lạc trên đồng ruộng của nông dân từ 3-4 tạ/ha Điều đócho thấy rằng, năng suất của lạc trên thực tế còn khác xa so với năng suất tiềmnăng và đó là cơ sở cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

để khai thác những tiềm năng năng suất của lạc

Chokheisingh và Pathak (1996) đã thấy, bón phân cho lạc có hiệu quả kinh

tế, dù trong điều kiện nước trời Kết quả 200 thí nghiệm bón phân cho lạc ở Ấn

Độ dẫn đến kết luận là bón trên 22 kgN/ha thì không có hiệu quả (Manu 1965)

Trang 14

Thí nghiệm ở Venezuêla là bón 160kgN/ha, năng suất lạc tăng 57,3% sovới công thức bón 40 kgN/ha Tuy nhiên bón lượng đạm quá lớn hiệu quả tăngsản của phân bón sẻ giảm nhiều.

Năm 1970 Cox và cộng sự nghiên cứu thấy rằng: Trong quá trình sinhtrưởng và phát triển của lạc, nồng độ các chất dinh dưỡng thay đổi như sau:Nồng độ N và P giảm khi cây có độ tuổi từ 2-21 tuần Nồng độ K tăng gần 100%

từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 6, sau đó lại giảm dần Nồng độ Ca và S thì thấtthường nhưng không đáng kể, trong suốt các giai đoạn Mg có xu hướng tăngchậm cho đến tuần từ 10-12 tuần rồi sau đó giảm dần Mn giảm trong suốt quátrình sinh trưởng, Zn tăng lên đến tuần thứ 6, sau đó giảm rõ rệt đến tuần 21.Tìm hiểu thành phần và tỷ lệ các chất trong cây để từ đó đưa ra phươngpháp và liều lượng thích hợp Dưới đây là bảng kết quả phân tích của TrungQuốc về các chất đa lượng ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lạc[22]

Trang 15

Quốc để đạt năng suất 30 ta./ha cần 22,5 tấn phân chuồng, 20 kg P2O5 sau khi đãbón thêm 30 kg N/ha.

Ở Braxin bón P và K khi gieo và bón N 15 ngày sau gieo cho năng suất tối

đa hơn bón N toàn bộ trước khi gieo hoặc 30 ngày sau khi gieo (Internato 1970) Giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất vàphẩm chất của lạc Đến nay trên thế giới đã có nhiều thành công trong việc lựachọn và tạo ra nhiều giống lạc có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năngchống chịu sâu bệnh hại Theo nguồn tin của tạp chí Nông nghiệp và phát triểnnông thôn số 4/1998 Có 3 giống lạc mới được trường ĐHNN Gijarut (Ấn Độ)công nhận đó là GG5, GG20, GG13

1.5.2 Ở Việt Nam

Lạc ở Việt Nam được xem là một trong những cây trồng chủ đạo, trongnhững năm gần đây năng suất lạc ở nước ta đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên mứctăng này so với các nước khác chưa cao nhưng cũng thấy được những tiến bộtrong sản xuất nông nghiệp nước nhà

Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường, 1969 thí nghiệm bón thúc đạm cho lạctrên đất cát pha nông màu, ít chua ở hợp tác xã Nội Hoàng (Quảng Ninh) chothấy: Bón thúc 108 kg N/ha thì mỗi cây có 27,7 quả (không bón chỉ cho 20 quả),

tỷ lệ chắc đạt 73,6%, năng suất đạt 4,02 tấn/ha (không bón chỉ đạt 3,38 tấn/ha).Như vậy cứ 1kg N thu thêm 6kg quả lạc Bón thúc chia làm 2 đợt vào ngày thứ

15 và ngày thứ 35 sau trồng thì năng suất cao hơn bón thúc 1 đợt

Theo Tạ Quốc Tuấn và CTV (1999), sự phối hợp giữa các mức bón là 60,

90 và 120 kgP2O5/ha đều cho rằng năng suất cao tương ứng với việc đầu tư thêmđạm ở mức 240 kgN/ha trên cùng mức lân này Do đó, trong điều kiện thâmcanh để tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cao nên áp dụng mức bón 200 kgN/ha và 90 kg P2O5/ha [13 ]

Nhìn chung, trải qua nhiều công trình nghiên cứu, những tác giả nghiên cứu

về phân bón cho lạc ở nước ta đã gặt hái được nhiều kết quả thiết thực Đây

Trang 16

chính là những điều kiện cơ bản quan trọng để góp phần thúc đẩy sự nghiệp pháttriển nông nghiệp của đất nước.

CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Cơ sở khoa học

Nhiệm vụ chủ yếu của công tác kế hoạch phân bón là xây dựng chế độ bón phân

cụ thể cho các loại cây trồng ở một cơ sở sản xuất nhằm không ngừng nâng cao tổngsản lượng hạ chi phí sản xuất, đồng thời làm tăng độ phì cho đất

Xây dựng chế độ bón phân cho cây trồng trong một cơ sở sản xuất tức là căn cứtrên nhiệm vụ được giao về diện tích và sản lượng, dựa trên tình hình cụ thể về đất đai,khí hậu, thủy lợi, canh tác, khả năng đầu tư, để xác định loại phân, dạng phân, lượngphân, thời kỳ bón, cách bón đối với từng loại cây trồng, trên từng cánh đồng cụ thể.Quy định loại phân, lượng phân, thời kỳ bón và cách bón cho một loại cây nhấtđịnh, gọi là chế độ bón cho từng cây, quy định kế hoạch bón phân cho các cây trongmột chu kỳ luân canh

Trang 17

Một chế độ hợp lý cần đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Cây trồng được cung cấp tương đối đầy đủ hoặc với điều kiện tốt nhất các loạichất dinh dưỡng cần thiết để cho năng suất cao và phẩm chất nông sản tốt

- Không ngừng tăng độ phì của đất

- Phối hợp tốt các biện pháp kỹ thuật canh tác khác, để nâng cao hiệu lựccủa phânbón, làm cho chi phí đầu tư phân bón ít nhất mà đưa lại hiệu quả kinh tế cao nhất

- Phù hợp với điều kiện, khả năng của cơ sở sản xuất và trình độ sản xuất hiện tại.Giữa chế độ bón phân với đặc điểm sinh lý của cây trồng, tính chất đất, điều kiệnkhí hậu thời tiết, kỹ thuật canh tác có liên quan rất mật thiết với nhau

Đối với phân bón nói chung và phân đạm nói riêng trong quá trình sinh trưởngphát triển của cây trồng bao giờ cũng xảy ra đồng thời hai quá trình: Quá trình thu thêm

và quá trình mất đi

1 Phần thu nhập đạm của đất

- Sự cố định đạm của vi sinh vật tự do: Có một số loại vi sinh vật có khả năng hútđạm của khí trời như các loại rong xanh, rong lam Những loại này cần có ánh sáng đểphát triển và sự hoạt động của nó phụ thuộc pH đất và hàm lượng đạm trong phần khícảu đất

Nói chúng, các loại vi sinh vật này hút đạm khí trời vào cho đất không nhiều lắm.Mỗi năm, ở các nước châu Âu, lượng đạm hút vào khoảng từ 5 – 10 kgN/ha (Tiurin1956)

- Sự cố định đạm của vi sinh vật cộng sinh: Một loại vi sinh vật cộng sinh với nốtsần rễ cây họ đậu có khả năng cố định được rát nhiều đạm Đó là loại Rhizobiumleguminosarum, có rất nhiều chủng khác nhau tùy theo loại cây

- Sự cung cấp đạm của nước mưa: Trong không khí có một số đạm amoniacphátsinh từ sự phân giải chất hữu cơ và do các nhà máy thải ra Khi trời mưa, nước mưahòa tan amoniacđó và làm rởitở lại xuống đất

2 Phần tiêu hao đạm của đất

Đạm trong đất bị tiêu hao bởi những nguyên nhân sau đây:

Trang 18

- Cây hút: Lượng đạm cây hút hàng năm của đất là một lượng khá lớn Theo sốliệu thống kê ở Cộng hòa liên bang Đức , trong năm 1957, trên đất trồngtrọt , cứ mỗi hađất bị cây trồng lấy đi 76kg N, trong đó cây họ đậu lấy đi 8 kg N

- Hiện tưọng rửa trôi: Đạm trong đấtở thể nitratraats dễ bị rửa trôi, trong khi đó thìđạm amoniac hoặc bị đất hấp phụ ở thể trao đổi, hoặc bị đất giữ chặt Trong đất cát thìđạm bị rửa trôi mạnh hơn là trong đất thịt, đất sét

- Hiện tượng xói mòn: Hiện tượng này làm đất mất đạm ở cả thể vô cơ lẫn hữu

cơ Lớp đất bị xói mòn chủ yếu là lớp đất mặt là lớp đất giàu đạm nhất Theo những sựtính toán của các tác giả Mỹ (Blac 957) thì lượng đạm mất do xói mòn tương đươngvới lượng đạm do cây trồng lấy đi

- Sự mất đạm ở thể khí: Trong đất xó nhiều quá trình phân giải protit phát sinh ranhiều hợp chất đạm ở thể khí như: N2O, N2 và NH3 bay lên khí quyển [5 ]

Như vây, trong đất luôn xảy ra sự mất và thu thêm đạm Để đảm bảo cho câytrồng phát triển tốt thì phải tiến hành bón với lượng đạm bao nhiêu là phù hợp?

2.1.2 Cơ sở thực tiến

Ở nước ta, lạc được coi là hàng nông sản xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao.Những năm gần đây cây lạc đang có một vị trí rất quan trọng trong nền sản xuất nôngnghiệp hàng hóa Lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp của ViệtNam với diện tích chiếm 40% tổng diện tích gieo trồng các cây công nghiệp ngắnngày

Nhìn chung, trong cả nước năng suất bình quân chưa được cao, diện tích chưađược mở rộng nhiều so với những năm trước Theo thống kê diện tích lạc của ViệtNam năm 2000 có 0,27 triệu ha, năng suất đạt 1,44 tấn/ha, thấp hơn nhiều so với một

số nước như Trung Quốc 2,78 tấn/ha, Mỹ 2,87 tấn/ha Một trong những yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến năng suất lạc là liều lượng phan bón bón cho lạc

Trước đây, ở Miền Bắc lạc được trồng chủ yếu ở vụ xuân hàng năm Đa số nôngdân giữ lạc từ vụ xuân năm trước để làm giống cho vụ xuân năm sau Khối lượnggiống để lại chiếm 1/10 lượng sản phẩm nhưng sức nảy mầm không cao và thời gianbảo quản quá lâu Một số địa phương miền Bắc đã trồng lạc hè thu (tháng 6-7 đến

Trang 19

tháng 10-11) để giữ giống cho vụ xuân năm sau Vụ lạc này làm giống ngoài tăng thêmthu nhập, tăng lượng lạc xuất khẩu hàng năm còn có những ưu điểm như chất lượng lạcgiống được đảm bảo, lạc không cần xử lý mầm mà gieo thẳng và có thể trộn giống vớithuốc phòng nấm,bệnh, hạn chế được bệnh hại lạc Hạt giống lạc hè thu chịu rét khỏe,khắc phục được thời tiết lạnh khi gieo trỉa lạc xuân ở miền Bắc.

Tuy nhiên, một số khó khăn thường xuyên gặp trong vụ lạc này là thời tiết khôngthuận lợi, khi cây ra hoa gặp nhiệt độ và độ ẩm cao, khó khăn cho việc hình thành quả.Mặt khác, biện pháp kỹ thuật chưa phù hợp với mùa vụ dẫn tới năng suất thấp do đóchưa được người dân chú trọng

Ở Nghệ An diện tích trồng lạc lớn thứ hai cả nước (28000 ha) nhưng chủ yếu làđất cát ven biển có độ phì tự nhiên thấp, hàm lượng hữu cơ lớp đất mặt < 1%, giữ nướckém Hàng năm khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các trận bão lụt nên diện tíchđất này chưa phát huy được tiềm năng, chưa có cây trồng phù hợp với mùa vụ Do vây,nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cho lạc đặc biệt là sử dụng phân bón (bón đạm) để gópphần tăng năng suất lạc phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu ở vùng đất cát Nghệ

An này [4 ]

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm trên đối tượng là giống lạc Sen lai (lạc cao sản L16)

- Thời gian sinh trưởng 100 –120 ngày

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

2.3.1 Thời gian.

Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Xuân 2007 – 2008

Ngày gieo hạt: 01/03/2008

Ngày thu hoạch: 16/06/2008

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu

Tiến hành ở trại thực nghiệm Đại Học Vinh, vùng đất cát pha tại xã NghiPhong – Nghi Lộc - Nghệ an

PH: 4,9

2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Trang 20

- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu trình tự bậc thang với 3 lần nhắc lại

- Thí nghiệm gồm 6 công thức có tổng 18 ô thí nghiệm

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 2 x 5m =10m2

Dãi bảo vệ

Trong đó: I, II, III, IV,V,VI là công thức thí nghiệm

a, b, c là các lần nhắc lại

2.4.1 Phân bón

Thí nghiệm sử dụng các loại phân:

- Phân chuồng hoai

1 Phân chuồng: 7 tấn/ha

2 Phân lân (P2O5): 90kg/ha

3 Phân kali (KCl): 60kg/ha

Trang 21

- Chăm sóc sau khi gieo: Tiến hành 2 lần

Lần 1: khi cây có 3-5 lá thật: xới xáo và làm cỏ kết hợp bón thúc lần 1Lần 2: Thực hiện khi lạc tàn lứa hoa đầu, xới xáo, diệt cỏ dại kết hợp bónthúc lần 2 và vun gốc cho lạc

Trang 22

- Thu hoạch

2.4.3 Thời tiết khí hậu vụ Xuân 2008

Các loại cây trồng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của mình đều chịuảnh hưởng rất lớn của các yếu tố khí hậu thời tiết, các yếu tố ảnh hưởng tới năngsuất của lạc là nhiệt độ, chế độ nước và ẩm độ không khí

Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan tới thời gian sinhtrưởng của lạc Là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, lạc là cây ưa ẩm Nhiệt độtrung bình thích hợp cho suốt đời sống của lạc là 25-30oC

Thời kỳ nảy mầm nhiệt độ thích hợp 25-30oC, tốc độ nảy mầm tốt nhất là32-34oC, nhiệt độ cao hơn sức sống của hạt giảm đi và hạt bị mất sức nảy mầm ởnhiệt độ 54oC [14 ]

Mặt khác, nhiệt độ ngày đêm chênh lệch quá lớn cũng không có lợi chosinh trưởng và kéo dài thời kỳ cây con Ngay ở nhiệt độ trung bình gần nhiệt độtối thích nhưng nhiệt độ ngày đêm chênh lệch 20oC thì lạc cũng không ra hoađược [1]

Nhiệt độ để lạc ra hoa thuận lợi là 24-33oC Quá trình chín đòi hỏi nhiệt độgiảm hơn so với thời kỳ trước Trong thời kỳ chín, nhiệt độ trung bình 25-28oC

là thích hợp

Nước cũng là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến năng suất lạc Lạc chỉ có khả năng chịu hạn ở một thời kỳ sinh trưởng nhất định Trong thời gian nảy mầm, nước là nhân tố quan trọng thứ 2 sau nhiệt độ ảnh hưởng tới thời gian nảy mầm và tỷ lệ mọc Trong điều kiện đồng ruộng hạt lạc nảy mầm tốt nhất là ở độ ẩm đất đai 70-80% Ở thời kỳ trước ra hoa, nhu cầu về nước của lạc không lớn lắm nhưng thời kỳ ra hoa rộ cần lượng nước lớn cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, thiếu nước trong thời kỳ này làm giảm nghiêm trọng số hoa, đợt rộ không hình thành được, thời gian ra hoa kéo dài, tỷ lệ hoa hữu hiệu giảm Cây cần nước nhiều cho tới khi bắt đầu hình thành quả già thì không cần nữa [1]

Trang 23

Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ xuân 2008

Nguồn: Đài khí tượng Thủy Văn Bắc Trung Bộ

- Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng dần từ tháng hai đến tháng sáu, đây là điều kiệnhết sức thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của lạc Trong quá trình hạtnảy mầm nhiệt độ trung bình thấp 13,79oC gây khó khăn cho sự nảy mầm củahạt và sự lớn lên của cây con Trong những tháng tiếp theo nhiệt độ trung bìnhbắt đầu tăng lên, thời kỳ này lạc ra hoa, đâm tia và hình thành quả, nhiệt độ tănglên dao động trong khoảng 21-31oC thuận lợi cho quá trình hạt vào chắc

- Lượng mưa: Vụ lạc Đông Xuân 2008 có lượng mưa tương đối thấp và ổnđịnh nên không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển Ngược lại, đây

là điều kiện lý tưởng đảm bảo năng suất cao cho cả vụ Trong suốt vụ ĐôngXuân số ngày mưa chỉ dao động trong khoảng 8-18 ngày, tháng có số ngày mưa

ít nhất là tháng 3 và tháng mưa nhiều nhất là

2.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.4.4.1.Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm)

Mỗi công thức theo dõi 10 cây đã được đánh dấu (đo từ mắt 2 lá mầm đếnđỉnh sinh trưởng)

Bắt đầu theo dõi khi cây có 3 lá thật và định kỳ 10 ngày tiến hành đo 1 lầncho đến lúc thu hoạch

Phương pháp: Đo bằng thước

2.4.4.2 Theo dõi sự ra lá của cây lạc ở các mức đạm khác nhau

Trang 24

Theo dõi khi cây có 2-3 lá thật đầu tiên.

Định kỳ 10 ngày tiến hành theo dõi 1 lần cho đến lúc thu hoạch

2.4.4.3 Theo dõi sự phát sinh phát triển của cành lạc

Tiến hành đo 10 cây đã được đánh dấu từ trước

- Theo dõi khả năng phân cành của lạc

- Theo dõi tổng số cành trên cây

- Theo dõi chều dài cành cấp 1/cây (đo từ cành cấp 1 đến đỉnh ngọn cấp 1)

2.4.4.4 Theo dõi số lượng nốt sần

Theo dõi 3 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc

- Cây nhổ về, rửa sạch và tiến hành đếm số lượng nốt sần trên mỗi cây

2.4.4.5 Xác định các chỉ tiêu sinh lý

Xác định diện tích lá, chỉ số diện tích lá trên cây

- Xác định diện tích lá ở 3 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ, quả vào chắc

- Chọn 5 cây trên mỗi ô thí nghiệm với 3 lần nhắc lại

- Cây sau khi nhổ về đem rửa sạch để ráo nước, tiến hành ngắt

Phương pháp: - Diện tích lá: Dùng máy đo diện tích lá Cl-202

- Chỉ số diện tích lá (LAI): Đơn vị là m2lá/m2 đất

Công thức tính: LAI = Số cây/m2 x Diện tích lá/cây (m2)

2.4.4.6 Xác định trọng lượng chất khô

- Xác định 3 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và quả vào chắc

- Chọn 5 cây trên một ô thí nghiệm với 3 lần nhắc lại

- Cây được rửa sạch sau khi nhổ, cắt nhỏ cả rể đem cân Sau đó đưa vào tủsấy tăng nhiệt độ lên đến 105o trong 30 phút để diệt men, hạ nhiệt độ xuống 60-

700 sấy đến khi trọng lượng không đổi

2.4.4.7 Xác định hiệu suất quang hợp

Tính theo công thức của Brigơ (1929), Bagiesv (1953) và Nisiprovits(1956)

W2 – W1

HSQH = - (g/m2 lá/ngày)

1/2 x (S1 + S2) x T

Trang 25

Trong đó:

- W1,, W2 là trọng lượng khô tuyệt đối bình quân của một cây ở định kỳ lấymẫu ở lần thứ nhất và lần thứ hai

- S1, S2 là diện tích tướng ứng với W1, W2.

- T là số ngày giữa 2 lần lấy mẫu

2.4.4.8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Yếu tố cấu thành năng suất:

+ Số quả bình quân trên cây ( kể cả quả già, quả non, quả bánh tẻ)

+ Đếm và tính số quả chắc ( quả kinh tế) bình quân trên cây

Trọng lượng quả khô/cây

Năng suất quả khô (kg/1m2) =

- Năng suất lý thuyết:

Số quả chắc/cây x số cây/m2 x P100quả x 7500 m2

NSLT =

107

Năng suất thực thu:

Năng suất thực thu (tạ/ha) = năng suất 1m2 x 7500m2

2.4.4.10 Xác định tỷ lệ nhân trên quả

Lấy ngẫu nhiên 100 quả từng lần nhắc lại của mỗi ô thí nghiệm Tiếnhành cân trọng lượng 100 quả đó (1), sau đó bóc 100 quả rồi lấy hạt của 100 quả

Trang 26

đem cân ta được trọng lượng của hạt (2) Khi đó ta tính tỷ lệ nhân trên quả theocông thức:

3.1.1 Chiều cao thân chính

Thân cây lạc là bộ phận quan trọng, sự sinh trưởng phát triển của thânchính là tiền đề cho các bộ phận khác phát triển Sự phát triển của số lá và sốcành trên cây phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của thân chính, thân chính pháttriển mạnh chiều cao lớn sẻ cho số lá và số cành nhiều tạo điều kiện cho khảnăng tích luỹ chất hữu cơ và số hoa quả của cây Tuy nhiên nếu chiều cao thânchính phát triển quá mức thì nó lại có tác dụng ngược lại làm ảnh hưởng xấu đến

sự hình thành và phát triển quả sau này Do đó để cây phát triển với chiều caophù hợp mang lại hiệu quả cao nhất thì chúng ta cần cung cấp chất dinh dưỡngđầy đủ và thích hợp Chất dinh dưỡng tác động đến sự phát triển chiều cao thânchính ở các thời kỳ có sự khác nhau, thời kỳ cây con thân lạc có phát triển tuynhiên mức độ tăng trưởng không lớn lắm, chiều cao thân chính đạt cao nhất vàothời kỳ ra hoa đâm tia Ngoài ra sự tăng trưởng chiều cao còn phụ thuộc vào cácyếu tố về khí hậu thời tiết

Trang 27

Qua quá trình theo dõi ở các thời kỳ với số liệu thu thập thể hiện trongbảng dưới đây:

Bảng 3.1 Ảnh hưởng liều lượng đạm đến chiều cao thân chính cây lạc

II 2,66a 3,88a 6,10a 11,20b 19,36ab 24,35a 25,52ab 26,22aIII 2,63a 3,72a 6,04a 11,63bc 19,9bc 25,13ab 26,74bc 27,37ab

IV 2,55a 3,89a 6,44a 11,97cd 20,44cd 26,84bc 26,80bc 27,97ab

V 2,65a 3,86a 6,62a 12,32cd 21,09d 27,15cd 28,13cd 29,27bc

VI 2,44 3,33a 6,58a 12,38d 21,24d 28,83d 29,62d 30,75cLSD

0,05

(Trong cùng một cột các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác nhau vớiP<0,05)

+ Giai đoạn 15-25 ngày sau gieo

Thời tiết trong giai đoạn này rất thích hợp cho hạt nảy mầm, mặc dù trong

vụ xuân 2008 thời vụ gieo trồng muộn hơn các năm khác do trời lạnh kéo dài

Trang 28

Giai đoạn này chiều cao thân chính đã tăng nhưng mức độ tăng không cao.Vào thời điểm 25 ngày sau gieo không có sự sai khác có ý nghĩa về chiều caocây giữa các mức đạm khác nhau.

+ Giai đoạn 45 ngày sau gieo

Chiều cao thân chính đã có sự tăng trưởng so với các giai đoạn trước, đặcbiệt đã thấy xuất hiện sự sai khác giữa các công thức bón đạm khác nhau Chiềucao thân chính tăng dần theo các mức tăng của đạm ở các công thức Sự sai khác

có ý nghĩa về mặt thống kê được thể hiện giữa công thức I với các công thức II,III, IV, V Đặc biệt, sự sai khác này thể hiện rõ hơn khi so sánh giữa công thức

VI với công thức I, II, III

+ Giai đoạn 55-85 ngày sau gieo sự tăng trưởng chiều cao thân chính tăngtheo thời gian sinh trưởng Đây là giai đoạn cây có tốc độ tăng trưởng về chiềucao thân chính mạnh nhất, ở thời điểm 85 ngày sau khi gieo chiều cao cây đạtcao nhất dao động trong khoảng 25,57 – 30,75 cm và các công thức bón nhiềuđạm IV, V, VI không có sự khác với nhau nhưng lại thể hiện sự sai khác so vớicác công thức I, II, III về chỉ tiêu này Tuy nhiên sau 85 ngày thì tốc độ tăngtrưởng chiều cao thân chính rất chậm và ngừng hẳn nhường chổ cho sự tăngtrưởng và phát triển về kích thước của quả

Đây là giai đoạn mà cây đã hoàn thiện bộ rể nên dinh dưỡng tập trung chủyếu để phát triển chiều cao thân chính Có sự sai khác về mặt thống kê ở mứcđạm thấp nhất đến cao nhất của các công thức

Như vậy, đạm là yếu tố ảnh hưởng lớn đến chiều cao thân chính, lượng đạmbón càng nhiều thì khả năng tăng trưởng chiều cao cây càng tăng Điều này đượcthể hiện rõ ràng ở các giai đoạn 45, 55, 65, 75 ngày sau khi gieo

Trang 29

Chiều cao thân chính

Đồ thị 3.1 Ảnh hưởng liều lượng đạm đến chiều cao thân chính lạc

3.1.2 Số lá trên thân chính

Lá là bộ phận giữ chức năng quan trọng trong quá trình quang hợp của cây,biến năng lượng mặt trời thành năng lượng hoá học tích luỹ trong các hợp chấthữu cơ Bên cạnh sự tăng trưởng chiều cao thân chính là sự gia tăng số lá trêncây Lá trên cây và trên cành phát triển tốt thì tổng hợp được nhiều chất hữu cơ

và tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển mạnh và do đó khả năng tích luỹchất khô của cây lớn Sự phát triển của lá lạc phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Giống,điều kiện thời tiết và dinh dưỡng cung cấp từng thời kỳ

Theo dõi sự phát triển của lá lạc chúng tôi thu thập số liệu qua bảng sau:Bảng 3.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số lá trên thân chính

Trang 30

II 3,17a 4,93a 5,87a 6,73a 7,30a 8,43a

b

9,13a

10,20aIII 3,23a 4,90a 5,93a 6,73a 6,90a 8,10b 8,83

IV 3,33a 4,80a 5,97a 6,63a 7,10a 8,20a

b

8,80a

11,20a

b

9,20a

10,03a

VI 3,27a 4,90a 5,67a 6,40a 6,97a 8,17a

b

9,07a

10,00aLSD

+ Giai đoạn 15 ngày sau gieo:

Đây là giai đoạn cây sống nhờ vào dinh dưỡng trong hai lá diệp tử, do đó ởgiai đoạn này số lá trên thân chính của các công thức chưa có sự sai khác có ýnghĩa, bộ rễ của cây chưa hoàn chỉnh nên khả năng hút dinh dưỡng còn hạn chếnên các công thức bón đạm chưa ảnh hưởng đến sự ra lá

+ Giai đoạn 25, 35, 45 ngày sau gieo:

Giai đoạn này chất dinh dưỡng trong hai lá diệp tử đã hết, cây phải tự hútchất dinh dưỡng trong đất để nuôi cây, tuy nhiên trong những giai đoạn này cáccông thức bón đạm khác nhau ít ảnh hưởng tới tổng số lá trên thân chính nênkhông có sự giao động lớn giữa các công thức

+ Giai đoạn 75 – 85 ngày sau gieo:

Trang 31

Cây bắt đầu bước sang giai đoạn hình thành quả, các chất dinh dưỡng câyhút được tập trung cho hai quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinhthực Quá trình tổng hợp chất hữu cơ của tổng số lá trên cây cũng như thân chínhchủ yếu phục vụ cho sự hình thành quả Các công thức bón đạm đã có sự ảnhhưởng đến tổng số lá trên thân chính Giai đoạn cây 75 ngày sau gieo công thứcIII, IV lần lượt là thấp nhất và công thức II, V là những công thức có tổng số lácao nhất Với mức bón đạm này phù hợp cho sự tăng trưởng của lá và hạn chếđược sâu bệnh

+ Giai đoạn 85 ngày sau gieo các mức bón đạm ảnh hưởng rõ nét giữa cáccông thức đặc biệt là ở công thức V với lượng đạm 60KgN/ha đạt 11,2 lá/cây và

ở giai đoạn này số lá vẫn đạt cao nhất trong tất cả các giai đoạn Tuy nhiên saugiai đoạn này bước sang giai đoạn thu hoạch một số lá phía dưới thân chính đã bịvàng và rụng nên khi thu hoạch tổng số lá xanh trên cây giảm xuống

Qua bảng số liệu trên ta thấy được đạm không phải là yếu tố có ảnh hưởngtrực tiếp đến sự ra lá của lạc trong tất cả các giai đoạn phát triển

Số lá trên thân chính

024681012

IIIIIIIVVVI

Đồ thị 3.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số lá trên thân chính

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới (Trang 5)
Bảng 1.4. Nguyên tố khoáng do lạc hấp thụ từ đất - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 1.4. Nguyên tố khoáng do lạc hấp thụ từ đất (Trang 9)
Bảng 1.6. Hàm lượng các nguyên tố đa lượng có trong lạc so với chất khô - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 1.6. Hàm lượng các nguyên tố đa lượng có trong lạc so với chất khô (Trang 14)
Bảng 2.1. Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ xuân 2008 - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 2.1. Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ xuân 2008 (Trang 23)
Bảng 3.1. Ảnh hưởng liều lượng đạm đến chiều cao thân chính cây lạc - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 3.1. Ảnh hưởng liều lượng đạm đến chiều cao thân chính cây lạc (Trang 27)
Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng liều lượng đạm đến chiều cao thân chính lạc - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
th ị 3.1. Ảnh hưởng liều lượng đạm đến chiều cao thân chính lạc (Trang 29)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều dài cành cấp 1 đầu tiên.                                                                                           Đơn vị: cm/cây - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều dài cành cấp 1 đầu tiên. Đơn vị: cm/cây (Trang 32)
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số cành cấp 1 của lạc. - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số cành cấp 1 của lạc (Trang 35)
Đồ thị 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số cành cấp 1 của lạc. - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
th ị 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số cành cấp 1 của lạc (Trang 36)
Đồ thị 3.5. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số lượng nốt sần. - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
th ị 3.5. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số lượng nốt sần (Trang 39)
Đồ thị 3.6.  Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến diện tích lá qua các thời kỳ - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
th ị 3.6. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến diện tích lá qua các thời kỳ (Trang 42)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hiệu suất quang hợp của lạc qua các thời kỳ STPT - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hiệu suất quang hợp của lạc qua các thời kỳ STPT (Trang 44)
Đồ thị 3.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khả năng tích lũy chất khô - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
th ị 3.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khả năng tích lũy chất khô (Trang 48)
Bảng 3.11. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây lạc - Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc sen lai l16 trên đất cát pha ở trại thực nghiệm nông học khoa nông lân ngư   đại học vinh
Bảng 3.11. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây lạc (Trang 50)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w