Từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: " Ảnh hưởng của liều lượng phân Đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc Sen Lai L14 trên đất cát pha, vụ Xuân 2008,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC SEN LAI l14 TRÊN ĐẤT CÁT PHA, VỤ XUÂN 2008, TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG NGHIỆP KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
VINH - 1.2009
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lạc (arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh
dưỡng cao được dùng làm thực phẩm cho người và thức ăn gia súc, đồng thời làcây cải tạo đất tốt và là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng đem lại lợinhuận cao
Cây lạc là cây trồng có nguồn gốc từ Nam Mỹ được trồng ở hơn 100 nướctrên thế giới, với diện tích gần 22 triệu ha lạc là cây công nghiệp ngắn ngày cungcấp nguồn thực phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao Cây lạc chiếm một vị tríquan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do trồng trên diện tích lớn màcòn hạt lạc được sử dụng rất rộng rói để làm thực phẩm và làm nguyên liệu chocông nghiệp
Sản phẩm chính của cây lạc là hạt lạc, thành phần chính của hạt lạc là cácchất béo, protein, carbonhydrate, các nguyên tố khoáng và một số vitamin, lipit(40-60%),protein thô (26-34%), các vitamin hoà tan trong dầu B1,B2,PP,E,F.Ngoài giá trị kinh tế của lạc mang lại đối với công nghiệp ép dầu, côngnghiệp thực phẩm và chăn nuôi lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất
do khả năng cố định đạm của nó Rễ lạc có thể tạo các nốt sần vi sinh vật cộngsinh cố định đạm hình thành đó là Rhizocbium vigna Lượng đạm cố định của lạc
có thể đạt 70-110 kgN/ha/vụ Nhờ khả năng cố định này mà hàm lượng protein ởhạt và các bộ phận khác của lạc cao hơn cây trồng khác, giúp lượng đạm trongđất tăng lên và khu hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được tăng cường
Đối với nước ta, lạc là một loài cây trồng truyền thống, ở nhiều địa phương
nó đóng vai trò là cây trồng chủ lực Nhìn được tầm quan trọng của cây lạc trongviệc bố trí sản xuất và khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới để phát triểnnông nghiệp, trong những năm gần đây Đảng và chính phủ đã có chủ trương vàchính sách khuyến khích sản xuất lạc
Trang 3Nghệ An có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho sự phát triển cây lạc,diện tích trồng lạc hiện nay của tỉnh là 27.300 ha Tuy nhiên, năng suất lạc cònthấp chỉ đạt 1,2- 1,4 tấn/ ha Một trong những nguyên nhân quan trọng làm chonăng suất lạc còn thấp là công tác giống và chế độ dinh dưỡng cho cây lạc
Người dân Nghệ An có truyền thống trồng lạc lâu đời nổi tiếng với cácvùng trồng lạc chủ yếu như Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc.Vì thế lạc là câycông ngiệp ngắn ngày chủ lực của Nghệ An, là mục tiêu, dự án ưu tiên đầu tư củachương trình phát triển nông nghiệp Nghệ An từ nay đến 2010
Bảng 1 Diện tích,năng suất, sản lượng lạc Nghệ An
NămChỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005Diện tích(ha) 26,60 23,20 22,62 24,86 24,08Năng suất(tạ/ha) 13,5 17,5 16,2 20,1 16,73Sản lượng(tấn) 36 40,7 36,70 48,7 45,50
Nghệ An đứng thứ 2 về diện tích và sản lượng lạc sau Tây Ninh (28000 ha)nhưng năng suất lại đứng thứ 13 trong cả nước và không ổn định qua các năm Qua điều tra của cơ quan khoa học tỉnh Nghệ An thì nguyên nhân làmgiảm năng suất lạc ở Nghệ An là do sự kết hợp của các yếu tố kinh tế-xã hội, yếu
tố sinh học và phi sinh học Tuy nhiên một trong những nguyên nhân chính làmlac Nghệ an có năng suất thấp là việc đầu tư thâm canh chưa đầy đủ tới 75-80%
số hộ nông dân thiếu vốn đầu tư dinh dưỡng cho lạc Dinh dưỡng cung cấp cholạc đã thiếu lại không hợp lí, cân đối làm cho sự sinh trưởng phát triển của lạc bịhạn chế
Do đặc tính sinh lí của cây lạc yêu cầu về điều kiện lí tính của đất chặt chẽnên đất trồng lạc phải thoát nước nhanh, tơi xốp, phù sa pha cát đầy đủ can xi vàlượng chất hữu cơ vừa phải, tuy nhiên những vùng trồng lạc chính ở Nghệ An lànhững vùng có thành phần cơ giới nhẹ, mức giữ nước thấp, độ phì nhiêu tự nhiênthấp, hàm lượng chất hữu cơ lớp đất mặt <1%, hàm lượng đạm 0,04-0,08%, kali
Trang 4dễ tiêu thấp chỉ có 2,5mg/100g đất Như vậy vùng trồng lạc chính ở Nghệ Anđều có độ phì thấp hơn so với yêu cầu của cây lạc.
Ngoài ra quá trình khoáng hoá diễn ra mạnh mẽ, lấy đi lượng lớn chất dinhdưỡng trong đất do rửa trôi Do đó vấn đề dinh dưỡng của cây trồng và việc bónphân trở nên rất quan trọng
Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón hợp lí, đẩy mạnh thâmcanh, nâng cao hiệu quả kinh tế với sản xuất lạc, cách bón phân, xác định mức phânbón hợp lí, cân đối với từng giai đoạn thời vụ là vấn đề cần được nghiên cứu
Bón phân cân đối và đầy đủ là chìa khóa để tăng năng suất cây trồng, vàđảm bảo một nền nông nghiệp bền vững Hiện nay không một Quốc gia nào dù lànước phát triển hay đang phát triển, lại không sử dụng biện pháp bón phân cânđối và hợp lí như là một giải pháp quan trọng để tăng sản lượng chất lượng cácsản phẩm nông nghiệp Việc áp dụng bón phân cân đối sẽ góp phần tích cực đểđưa Việt Nam từ một nước sản xuất nông nghiệp quảng canh chủ yếu dựa vàokhai thác đất sang một nền nông nghiệp thâm canh dựa vào phân bón
Muốn đạt năng suất lạc cao và phẩm chất tốt thì việc mức bón Đạm phù hợpvới cây lạc trên từng loại đất, điều kiện sinh thái và trình độ thâm canh của mỗi vùng
là rất cần thiết cho sản xuất Từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"
Ảnh hưởng của liều lượng phân Đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc Sen Lai L14 trên đất cát pha, vụ Xuân 2008, tại trại thực nghiệm Nông nghiệp khoa Nông – Lâm – Ngư ĐH Vinh”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
* Mục đích
- Đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng phân Đạm khác nhau đến sinhtrưởng, phát triển, và năng suất giống lạc L14 để đề xuất liều lượng phân Đạmbón hợp lí nhất
-Thông qua kết quả nghiên cứu có thể giúp cho người dân hiểu thêm tácdụng của Đạm đến sinh trưởng phát triển của cây lạc, góp phần nâng cao năngsuất và hiệu quả kinh tế
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các liều lượng phân Đạm bón cho cây Lạc
- Vậy liệu nghiên cứu là giống lạc L14
- Các nghiên cứu của đề tài được tiến hành tại trại thực nghiệm NôngNghiệp, xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Trên cơ sở nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 ởcác liều lượng phân Đạm khác nhau để đánh giá được năng suất giống lạc L14
- Cung cấp các tài liệu khoa học cho việc tăng năng suất cho cây Lạc nóichung và giống lạc L14 nói riêng
- Đưa ra được liều lượng phân Đạm phù hợp cho giống lạc L14 trên chânđất cát pha tại xã Nghi Phong – Nghi Lộc – Nghệ An
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới
Trên thế giới cây lạc được trồng rộng rãi từ vùng nhiệt đới nóng ẩm, nóngkhô, đến Á nhiệt đới và cả một vùng ôn đới tương đối ẩm và có nhiều mưa Khắpnăm châu, châu nào cũng có điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp để trồng lạc
Từ nguồn gốc Nam Mỹ đến nay cây lạc được phân bố rộng trên toàn thế giới Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước trồng lạc Lạc chỉ đứng sau Đậutương về diện tích trồng cũng như sản lượng Năm 2003 diện tích trồng lạc củaThế giới đạt 22,73 triệu ha, và đến năm 2004 diện tích đã tăng lên 26,37 triệu ha.Diện tích, năng suất và sản lượng lạc có xu hướng tăng trong vòng 10 năm qua
So với năm 1992 diện tích lạc tăng 10,3%, năng suất tăng 28,8%, và sản lượngtăng 42,3%
Khoảng 90% diện tích trồng lạc ttrên thế giới chủ yếu tập trung ở lục địa ÁPhi Diện tích và sản lượng trồng lạc trên thế giới tạp trung chủ yếu ở Châu Á(chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lac trên thế giới ).ở châu Phi chiếm30%, khu vưc Bắc Mỹ với diện tích trồng lạc không nhiều (820-850 ngìn ha)nhưng lại là nơi có năng suất lạc đạt cao hơn 3,54 tấn/ha, nên sản lượng lạc cũngđạt 10% Tiếp đến là các vùng Nam Mỹ 5%, Úc 0,2% và cuối cùng là Châu Âu ítnhất chỉ chiếm 0,1% sản lượng lạc trên toàn Thế giới
Các nước sản xuất nhiều lạc trên thế giới bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ,
Mỹ, Indonexia, Xenegan, Miến Điện, Nigieria, Achentina Nước đứng đầu trênthế giới về diện tích trồng lạc là Ấn Độ chiếm 40,2% diện tích trồng lạc trên thếgiới (8 triệu ha) và chiếm 30% sán lượng lạc của Thế giới Tuy nhiên sản lượnglạc của Ấn Độ lại không phải là cao nhất do năng suất lạc của Ấn Độ còn thấp(0,94 tấn/ha) do cây lạc được trồng chủ yếu trong đất khô hạn
Trang 7Trung Quốc là nước đứng thứ 2 sau Ấn Độ về diện tích trồng lạc với 5,1triệu ha chiếm 22,4% tống diện tích trồng lạc của thế giới, nhưng sản lượng lạclại đứng hàng đầu thế giới (đạt 15,1 triệu tấn ) chiếm 45,1% tống sản lượng, vànăng suất lạc đạt cao gấp 2 lần năng suất lạc bình quân của thế giới.
Niên vụ 2001/2002 Trung Quốc thu được 14,2 triệu tấn lạc, với năng suấtbình quân là 2,96 tấn/ha Niên vụ 2002/2003 thu được 14,82 triệu tấn với năngsuất bình quân là 2,96 tấn/ha Niên vụ 2003/2004 thu được 15,1 triệu tấn vớinăng suất bình quân là 2,89 tấn/ha
Theo các nhà khoa học Trung Quốc đạt được những thành tựu nói trên lànhờ chiến lược đấy mạnh nghiên cứu, và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nhằm pháthuy tiềm năng to lớn còn ít được khai thác của cây lạc trong sản xuất Hiện tạiTrung Quốc đã có tới 60 viện, trường, và trung tâm nghiên cứu triển khai về câylạc Trong thời gian 1982-1995 các nhà khoa học Trung Quốc đã cung cấp chosản xuất 82 giống lạc mới, với nhiều ưu điểm nổi bật như năng suất cao, thời giansinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chịu phèn, thích ứng rộng… Bên cạnh các công tác nghiên cứu về giống thì việc áp dụng các biện pháp
kĩ thuật thâm canh đạt năng suất cao, đã được áp dụng rộng rãi như cày sâu, bónphân cân đối phù hợp cho từng loại đất, mật độ trồng thích hợp, phòng trừ sâubệnh tổng hợp và đặc biệt kĩ thuật che phủ nilon được coi là cuộc “cách mạngtrắng trong sản xuất lạc”.Với những tiến bộ đó gần đây Trung Quốc đã vượt Ấn
Độ để trở thành nhà sản xuất lạc hàng đầu thế giới
Achentina là nước có diện tích lạc không lớn (180000ha/năm) nhưng cónhiều thành công trong nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật để phát triển vànâng cao hiệu quả sản xuất lạc Năm 1991 năng suất lạc bình quân của Achentinađạt 2,0 tấn/ha, gấp 2 lần so với 1980 Các giống lạc mới chất lượng cao đượctrồng trên 70% diện tích lạc cả nước, đưa Achentina trở thành nước xuất khấu lạcđứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Trung Quốc
Trang 8Bảng 1.2 Diện tích năng suất sản lượng lạc của một số nước trên Thế Giới năm
2003-2004
Nước Diện tích
(triệu ha)
Năng Suất(tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
1.1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam
Cây lạc là cây có tính thích nghi trên diện rộng và không đòi hỏi điều kiệnchăm sóc cao nên cây Lạc được người nông dân ưu thích và được gieo trồng ởnhững vùng khác nhau vì thế đã hình thành nên nhiều khu vực trồng lạc ở Việt Nam Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên có điều kiện tựnhiên thuận lợi cho trồng lạc Cây lạc được trồng hầu hết ở các vùng sinh tháinông nghiệp Việt Nam Diện tích lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệphàng năm (đay, cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá )
Trong những năm vừa qua Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng
kể về diện tích trồng, năng suất cũng như sản lượng lạc Trong vòng 10 năm qua(1994-2004) sản xuất lạc ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực, về
Trang 9năng suất, sản lương, cũng như diện tích Diện tích trồng lạc ở các tỉnh phía bắctăng dần từ 123,3 nghìn ha năm 1995 lên 250,0 nghìn ha năm 2003 tăng 17%.
Ở các tỉnh phía Bắc, diện tích lạc tăng chủ yếu ở các tỉnh Nam Định, NinhBình, Thanh Hoá và Hà tĩnh Diện tích trồng lạc ở các tỉnh phía Nam giảm từ136,6 nghìn ha năm 1995 xuống 98,5 nghìn ha năm 2003 Diện tích giảm mạnhnhất ở Tây Ninh và tiếp đến là Long An, diện tích ở các tỉnh phía nam giảm docây ăn quả và cây cà phê phát triển ồ ạt
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm vừa qua
2001 2002 2003 2004 2005 tỷ lệ %
Cả nước Diện tích 244.6 246.7 243.8 263.7 269.9 100
Sản lượng 363.1 400.4 406.2 469.0 485.5Đồng bằng
sông Hồng
Diện tích 30.9 30.6 31.4 33.6 34.6 12.82Sản lượng 56.4 58.3 64.7 75.7 75.2
Đông Bắc Diện tíchSản lượng 32.540.7 31.539.5 31.442.0 34.556.9 37.057.3 13.71Tây Bắc Diện tích 7.0 7.3 7.6 7.7 8.6 3.18
Sản lượng 7.1 7.2 7.8 9.6 11.0Bắc trung
Bộ
Diện tích 74.9 74.3 74.0 79.2 82.6 30.60Sản lượng 105.0 121.6 118.8 138.8 133.6
Nam trung
Bộ
Diện tích 26.1 24.1 23.1 24.5 25.2 9.34Sản lượng 35.3 35.1 36.8 38.7 43.7
Tây
Nguyên
Diện tích 23.0 25.4 24.3 25.3 24.8 9.19Sản lượng 28.8 27.8 33.8 17.3 32.0
Đông Nam
Bộ
Diện tích 42.1 43.3 41.8 46.0 43.3 16.04Sản lượng 73.2 87.2 78.5 97.8 92.5
Đồng Bằng
Sông Cửu
Long
Diện tích 8.1 10.2 10.2 12.9 13.8 5.12Sản lượng 16.6 23.7 23.8 34.2 40.2
(Niên Giám thống kê 2006 [1])
Ghi chú : Diện tích : 1000 ha
Sản lượng: 1000 tấn
Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học cũng như những giống mới, từ 12,8ta/ha năm 1999 lên đến 17,4 tạ/ha năm 2004 nhưng so với các nước trồng lạc trênthế giới năng suất lạc nước ta vẫn còn đứng sau Mỹ, Trung Quốc, Achentina(Fao, 2004 )
Trang 10Với tốc độ tăng nhanh như vậy, sản phẩm lạc không chỉ đáp ứng nhu cầutrong nước mà còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu xuất khẩu quan trọng Trong cácmặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam, lạc nhân được xếp vào mặt hàng thứ 11 Sovới các cây trồng hàng năm, khối lượng lạc xuất khẩu chỉ đứng thứ 2 sau lúa.
Sản xuất lạc ở Việt Nam nhìn chung được phân bố trên tất cả các vùngsinh thái nông nghiệp của cả nước Tuy nhiên nước ta đã hình thành nên 6 vùngsản xuất chính:
Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: Trồng chủ yếu ở Hà Nội, Hà Tây, NamĐịnh, Ninh Bình với diện tích 31400 ha chiếm 29,3%
Vùng Đông Bắc: Trồng chủ yếu ở ốăc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên vớidiện tích 31000 ha chiếm 28,9%
Vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ: Là vùng trọng điểm lạc của các tỉnh phíaBắc với diện tích 74000 ha chiếm 30,5% Tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá(16800ha ), Nghệ An ( 22600ha ), Hà Tĩnh ( 19900 ha )
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: Diện tích 23100 ha chiếm 9,5% đượctrồng tập trung ở 2 tỉnh Quảng Nam và Bình Định
Vùng Tây Nguyên: Diện tích 22900 ha chiếm 9,4% chủ yếu ở ĐăcLăc Vùng Đông Nam Bộ: Tổng diện tích 42000 ha tậpp trung ở các tỉnh TâyNinh, Bình Thuận, Bình Dương
Trong những năm qua Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu, áp dụng khoahọc kỹ thuật vào sản xuất lạc, trong đó có những chương trình hợp tác vớiICRISAT (Viện nghiên cứu cây trồng cạn quốc tế ), CLAN (Mạng lưới cây đậu
đỗ và cây ngũ cốc Châu Á ), nhằm đánh giá tình hình sản xuất, tìm hiểu nhữnghạn chế và cải tiến sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lạc được nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.
Cây lạc cần có một lượng dinh dưỡng rất lớn, nhất là đạm Tuy nhiên,trên thực tế nhu cầu bón đạm cho cây lại rất thấp Do cây có vi khuẩn cộng sinhtrong nốt sần ở rễ, có khả năng đồng hóa được đạm khí trời để cung cấp cho cây
Trang 11Nếu sản lượng thu hoạch khoảng 3 tấn quả (củ)/ha, cây lạc lấy đi cho cả quả vàthân lá là 192 kg N, 48 kg P2O5, 80 kg K2O, 79 kg CaO Ngoài ra, cây còn cầnrất nhiều các nguyên tố trung lượng và vi lượng khác như magiê, lưu huỳnh,đồng, kẽm, bo, molypđen, mangan, sắt v.v Như vậy, nếu xét về tỷ lệ phân bón
đa lượng cho cây, thì lạc có nhu cầu với tỷ lệ N:P2O5:K2O là xấp xỉ 4-1-2 Tuynhiên, trên thực tế, bón phân cho lạc thì lượng đạm cần bón được hạ thấp rấtnhiều, do đặc điểm tự tổng hợp đạm khí trời nhờ vi khuẩn cộng sinh Lượngcanxi cây cần và lấy đi từ đất cũng tương đương lượng kali, do vậy, cần chú ýđặc điểm này Theo một số tài liệu, lượng magiê cây hút cũng tương đương hoặccao hơn lượng canxi Ngoài ra, cây lạc cũng rất cần lưu huỳnh như những cây lấydầu khác
Theo Nguyễn Văn Bộ và cs (1999) [2], để thu được 1 tấn lạc vỏ ( kèm thânlá) cây lấy đi 64kg N; 16kg P205; 26,4kg K20; 26,4kg Ca0; 11,9kg Mg0
Ở Trung Quốc để đạt năng suất lạc quả 3 tấn/ha, cây lạc cần được bón 2,5tấn phân hữu cơ cùng với 20kg P205, sau đó bón 30kg N Để đạt 4,5 tấn /ha,người ta bón lót 3,75 tấn phân hữu cơ, 30kg P205 và 75kg K20 [3]
Cây lạc ở Mỹ thường được khuyến cáo bón như sau:
Bột đá vôi được rải ra và vùi vào đất trước khi gieo hạt nếu pH 5,5-6, 0
P và K cũng được rải ra và vùi vào đất trước khi gieo hạt với liều 45-90 kg/ha
P205 và 50-95 kg/ha K2O, tùy thuộc vào số liệu phân tích đất Mg cũng được bónvới liều 50 kg /ha MgO, nếu hàm lượng thấp và không được bón vôi Thạch caocũng được bón lúc cây có hoa đối với giống có hạt nhỏ với mức 250-315 kg/haCaO hay mức thấp hơn nếu bón theo hàng hoặc băng Liều thạch cao gấp đôi nhưvậy được bón cho các giống hạt lớn bất kể hàm lượng canxi thế nào Bo ở mức0,6 kg/ha B (trừ khi mức Bo 0,5 mg B/kg đất) thường bằng con đường phun qua
lá và được chia ra giữa 2 lần phun trừ nấm đầu tiên Đối với Đạm, có thể bón
thúc với mức 30- 40kg N/ha lúc cây con.[số 377 wepside Agroviet.com.vn]
Khi nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng cho cây lạc các nhà khoa học thuộcviện nghiên cứu Senegal cho thấy để có năng suất 1.000 kg/ha cây lạc lấy đi một
Trang 12lượng nguyên tố khoáng là 45 – 52 kg N; 2,2 -3,8 kg P; 11,8 -13,7 kg K; 5,9 –8,3 kg Ca; 3,7 – 7,2 kg Mg, như vậy cây lạc tích lũy lượng Đạm lớn nhất sau đóđến Kali [4]
Thí nghiệm bón phân Pujap cho thấy tổng lượng dinh dưởng để đạt đượcnăng suất 2.120 kg quả/ ha cần phải có 167 kg K, 97 kg P205 và 87 kg Ca0 [5] Theo Bouger một vụ lạc năng suất 1.500 kg/ha quả lạc cần một lượng dinhdưỡng như sau 105 kg N, 15 kg P205, 42 kg K20, 27 kg CaO [6]
Theo Nguyễn Thị Dần, Thái phiên và Cs, lượng dinh dưỡng cây lạc hấp thụqua các giai đoạn tăng trưởng như sau: [7]
trọng mà đất thiếu Lượng phân bón khuyến cáo dùng ở Việt Nam là:
- Phân chuồng: 8-12 tấn /ha (ở miền Bắc)
- Tro dừa: 1,5-2 tấn /ha (ở miền Đông Nam bộ)
- Vôi bột: 300-500 kg/ha
- Phân đạm: 30-40 kg N/ha
- Phân lân: 40-60 kg P2O5/ha
- Phân kali: 40-60 kg K2O/ha
Trang 13Chú ý, toàn bộ lượng phân đạm cho cây lạc nói trên, nên dùng ở dạngphân SA, vì có như vậy mới cung cấp đồng thời cho cây lượng dinh dưỡng lưuhuỳnh cần thiết Nên dùng toàn bộ lượng phân lân nung chảy Về phân vi lượng,các cây họ đậu nói chung thường rất cần molypđen, bo và đồng Các loại phânnày thường được dùng dưới dạng vi lượng tổng hợp để phun lên lá hoặc xử lý hạt
là kinh tế nhất
Bón phân cho lạc:
Để đạt năng xuất cao phẩm chất tốt cần bón cho cây lạc đầy đủ và cân đốicác chất đa, trung và vi lượng như Compomix 777 Đầu Trâu, NPK 9-16-16+TEĐầu Trâu, Đầu Trâu Lạc-đỗ Sử dụng các loại phân trên giúp cây lạc sinh trưởngphát triển tốt, tăng số củ, củ chắc, tăng năng suất và chất lượng Quy trình bónnhư sau:
Lượng bón:
- Bón phân cho lạc ở các tỉnh phía Nam (kg/ha): 10-15 tấn phân hữu cơ hoai+ 500-1000 kg vôi bột + 1000-1100 kg Compomix 777 hoặc 300-450kg NPK 9-16-16+TE Đầu Trâu
- Bón phân cho lạc ở các tỉnh phía Bắc (kg/ha): 10-15 tấn phân hữu cơ hoai+ 500-1000 kg vôi bột + 300-500 kg Đầu Trâu Lạc-đỗ
Cách bón:
- Đối với lạc không che phủ linon: Bón lót toàn bô phân hữu cơ + ½ lượngvôi bột và ½ lượng phân khoáng Phân hữu cơ và vôi bột bón khi làm đất lầncuối, phân khoáng bón vào rạch sau đó lấp một lớp đất 3-5cm rồi gieo hạt Bónthúc trước khi cây ra hoa bằng ½ vôi bột và ½ lượng phân khoáng còn lại, kếthợp làm cỏ sạch, vun cao tạo cho tia củ phát triển thuận lợi
- Đối với lạc trồng có che phủ linon: toàn bột lượng phân dùng bón lót trướckhi làm đất lần cuối sau đó phủ linon, đục lỗ và gieo hạt Việc che phủ nilon cótác dụng hạn chế bốc hơi nước, giữ ẩm đất, hạn chế cỏ dại, cây sinh trưởng khỏengay từ đầu, phân cành sớm, cành mập, ra hoa sớm, tập trung dinh dưỡng nuôi
Trang 14những quả hình thành sớm, nâng cao tỷ lệ quả chín, rút ngắn thời gian sinhtrưởng…
Yêu cầu chung: Lạc thích ứng với khí hậu bán khô hạn hoặc bán ẩm ướt,với lượng mưa khoảng 500-1200mm/năm Cây lạc ưa đất nhẹ, tơi xốp, từ cát phathịt đến thịt pha cát Giới hạn pH thích hợp là 5,5-6,
1.3 Thành phần đạm trong đất
Trong cây đạm chủ yếu có ở 2 dạng là đạm hữu cơ và đạm vô cơ (theo Adregros
- CH Pháp - 1967) thì đạm trong đất có ở 3 dạng đạm hữu cơ, amon và nitrat
* Đạm hữu cơ trong đất
Đạm hữu cơ trong đất chiếm 95% đạm tổng số Đạm hữu cơ trong đấtphát sinh từ prôtit của thực vật bị VSV phân giải ra Dạng đạm này cây không húttrực tiếp mà phải thông qua quá trình phân giải, sự phân giải các hợp chất hữu cơtrong đất thể hiện theo sơ đồ
Prôtit, mùn axit amin NH3 NO3 NO2 NO2 N2
Dựa vào khả năng hoà tan và khả năng thuỷ phân mà chia thành 3 dạng
- Đạm hữu cơ tan trong đất
Nói chung có dưới 5% đạm tổng số, bao gồm một số axit amin tương đối đơngiản Một số hợp chất đạm hữu cơ này phân tán trong dung dịch đất nên rất dể bịthuỷ phân để chuyển thành NH4 có thể cung cấp trực tiếp cho cây
- Đạm hữu cơ thuỷ phân
Đó là dạng đạm hữu cơ khi ở trong môi trường axit, kiềm hoặc lên men có thểthuỷ phân tạo thành dạng tương đối đơn giản, dễ tan trong nước, hàm lượng có thểtrên 50% đạm tổng số
- Đạm hữu cơ không thuỷ phân
Loại này chiếm 30 - 50% trong đạm hữu cơ Nó không những không tan trongnước mà cũng không thể dùng axit hay kiềm để thuỷ phân Loại này cần thông quahoạt động của VSV trong một thời gian dài mới chuyển thành NH4+, NO3-
Trang 15* Đạm vô cơ trong đất
Lượng đạm vô cơ trong đất rất ít, ở tầng mặt chỉ chiếm 1 - 2% của đạm tổng
số (khoảng 1 - 50 ppm) nhiều nhất củng không vượt quá 8%
Dạng đạm vô cơ trong đất chủ yếu là NH4+ và NO3- có thể còn có NO2- nhưngcũng rất ít, NH4- được sinh ra do tác động amon hoá của VSV khi phân giải chấthữu cơ chứa đạm Trong điều kiện háo khí nó dễ bị nitrat hoá thành NO3- và do đóchỉ trong đất lúa nước NH4- mới được ổn định và tích luỹ NH4- và NO3- đều hoàtan trong nước, NH4 được keo đất hấp phụ nên ít bị rửa trôi còn NO3- không đượckeo đất giữ nên dể bị rửa trôi Có một ít NH4+ nằm trong tinh thể keo sét và đượcgọi là “Đạm ở dạng giữ chặt”
Trang 16CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở khoa học.
2.1.1 Cơ sở lí luận
Hiệu quả kinh tế từ việc bón phân được biểu hiện trên nhiều phương diện
khác nhau: năng suất cây trồng tăng lên, giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tíchđược nâng cao, giữ ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ nguồn nước
và không gây ô nhiễm môi trương sinh thái…Vì vậy bón phân là một yếu tố đầu
tư được quan tâm và chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng chi phí sản xuất củangười trồng trọt
Phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân gia cầm…)là loại phân có thểtrả lại hầu hết các nguyên tố vi lượng cho đất, làm phong phú thêm tập đoàn visinh vật trong đất.Các chất hữu cơ sau khi mùn hoá làm tăng khả năng trao đổicủa đất, do vậy nó làm tăng tính đệm cho đất
Phân hữu cơ bón kết hợp với phân hoá học do tác động của nó đến lí và sinhtính đất mà tăng cường hiệu lực của phân hoá học, giảm việc rửa trôi phân hoá học.Phân hữu cơ tăng cường khả năng trao đổi của đất nên khiến cho cây chịu được mứcphân hoá học cao, phân hoá học thúc đẩy sự phân giải phân hữu cơ Trong quá trìnhphân giải đó có thể làm tăng khả năng hoà tan các chất khoáng khó tan.Việc hìnhthành các phức hữu cơ-vô cơ làm giảm khả năng di động của một số nguyên tốkhoáng, làm hạn chế việc đồng hoá kim loại nặng của cây
Đất là một vật thể sống chứa đựng trong đó những hoạt động sống khôngngừng nghỉ, trong đất có vô vàn các loài vi sinh vật sinh sống, có ý nghĩa quantrọng trong các mối tương tác giữa cây trồng, đất và phân bón Hầu như mọi quátrình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vậtnhư (chuyển lân kali trong đất từ dạng cây khó sử dụng thành dạng cây sử dụngđược, tiết ra các chất điều hoà sinh trưởng…)
Trang 17Hoạt động của vi sinh vật ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, làyếu tố hàng đầu quyết định tình trạng sức khoẻ và độ phì nhiêu của đất Vì thế từlâu người ta nghĩ đến tác động vào hoạt động của vi sinh vật nhằm tăng cường sốlượng hoạt động của của vi sinh vật có lợi cho cây trồng
Phân vi sinh vật là loại phân sinh học được sán xuất từ các vi khuẩn có íchnhư vi khuấn cố định đạm cộng sinh, cố định đạm tự do, vi khuẩn phân giải lânchưa có khả năng đồng hoá đạm nên cần thiết phải bón lót và bón thúc đạm sớm
để cây lạc vô cơ khó tan, vi khuẩn phân giải khoáng kali trong đất, vi khuẩn phângiải chất hữu cơ tiết ra chất kháng sinh Dùng phân vi sinh vật bón vào đất hoặc
xử lí cho cây chống lại sâu bệnh hại góp phần nâng cao năng suất phẩm chấtnông sản và tăng độ màu mỡ cho đất
Nhu cầu về đạm của cây lạc khá cao, song nhờ hệ thống nốt sần ở bộ rễnên cung cấp một lượng đạm đáng kể Tuy nhiên do đất trồng lạc hầu hết là đất
có thành phần cơ giới nhẹ nên dễ rửa trôi, mặt khác trong giai đoạn cây con lạcphát triển manh ngay từ đầu
Lân cũng là yếu tố quan trọng đối với lạc Lân có tác dụng lớn trong sựhình thành nốt sần, sự ra quả và tỉ lệ đậu quả, tăng tính chống chịu rét Lạc hấpthụ lân nhiều nhất vào giai đoạn ra hoa và hình thành quả (chiếm 45%) tổnglượng lân mà cây cần Lân có hiệu quả chậm nên chủ yếu dùng bón lót
Canxi là yếu tố không thể thiếu khi trồng lạc từ xưa nông dân đã biết đếncâu "Không lân không vôi thì thôi trồng lạc" đã nói lên vai trò quan trọng củavôi Bón vôi tạo điều kiện môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố định đạm hoạtđộng, là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo quả và hạt Bản thân tia lạc
có thể đồng hoá trực tiếp canxi, thiếu canxi vào giai đoạn đâm tia, phát triển quả
sẽ làm cho tia không phát triển được thành quả, hoặc làm cho quả ép nhiều gânkhông nổi rõ Canxi xúc tiến sự chuyển đạm từ thân lá về hạt để tạo protêin dựtrữ, nhu cầu canxi của lạc cao nhất vào thời kì hình thành quả hạt Bón canxi làmtăng khả năng hút kali của cây, tạo cho cây phát triển tốt
Trang 18Cây lạc có nhu cầu cao về các yếu tố vi lượng và các chất điều hoà sinhtrưởng Các nguyên tố vi lượng (Mo,Bo) tăng hoạt tính hoạt động của vi khuẩnnốt sần, tăng khả năng đồng hoá nitơ, hạn chế nấm bệnh xâm nhập giảm hạt lép
Từ những căn cứ đó có thể lấy đó làm cơ sở khoa học cho việc bón phânđầy đủ, cân đối và hợp lí cho lạc nhằm đạt được năng suất cao, giảm chi phí đầuvào và tăng hiệu quả kinh tế
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc bón phân cho cây lạc
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có gió mùa, khí hậu nóng ẩm Mùamưa, mưa nhiều lượng mưa nhiều hơn lượng bốc hơi, mùa khô lượng bốc hơi lạilớn hơn lượng mưa Phong hoá hoá học mạnh hơn phong hoá vật lí, quá trìnhkhoáng hoá diễn ra mạnh mẽ làm cho đất bị mất đi lượng dinh dưỡng lớn
Nghệ An có điều kiện nhiệt độ cao, nóng ẩm, mùa mưa bão kéo dài, quátrình khoáng hoá diễn ra mạnh mẽ làm cho đất bị rửa trôi hàng năm dẫn đến thiếudinh dưỡng nghiêm trọng không cung cấp đủ cho cây trồng Ngoài ra nhiều vùngđất bị xói mòn nghiêm trọng dẫn đến trơ sỏi đá không thể gieo trồng được câylàm mất đi lượng lớn diện tích nông nghiệp đáng kể Vì thế việc trả lại độ mùncho đất là vấn đề cấp bách cần được quan tâm hàng đầu khi muốn tăng năng suấtcây trồng
Hàng năm cây trồng lấy đi lượng dinh dưỡng trong đất theo sản lượng màcây trồng mang lại do đó lượng dinh dưỡng mất đi hàng năm, vì thế cần phải trảlại dinh dưỡng cho đất
Ở Nghệ An cây lạc mang lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên nó cũng phảicạnh tranh nguồn phân bón với các cây trồng khác cùng thời vụ do đó việc xácđịnh lượng phân bón hợp lí cân đối, mang lại hiệu quả kinh tế cao là cần thiết,tránh trường hợp mang lại năng suất cao cho cây trồng nhưng hiệu quả kinh tếmang lại lại không đáng kể do chi phí đầu vào quá cao
Cho đến nay đa số người dân đã biết đến tác dụng của phân hữu cơ đối vớiviệc tăng năng suất lạc, sự cần thiết của việc bón lân, bón vôi khi trồng lạc Tuynhiên khi trồng lạc đa số nông dân lại ít quan tâm đến nguyên tố Đạm về lượng
Trang 19bón cũng như thời điểm bón Vì thế sau khi trồng cây làm kiệt màu ,hoặc đất bịrửa trôi mạnh, hoặc bón lân trong một thời gian dài làm đất thiếu kali trên mộtphạm vi rộng do đó làm giảm năng suất của lạc, giảm hiệu quả kinh tế, khôngcân đối tỉ lệ N-P-K Do đó qua nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của Đạm trong việclàm tăng năng suất lạc, giúp cho người dân hiểu thêm tác dụng của việc bón phâncân đối để mang lại năng suất cao, và tạo sự bền vững nông nghiệp
2.2 Nội dung
2.2.1 Nghiên cứu về chỉ sinh trưởng.
- Thời gian sinh trưởng của các thời kỳ và tổng thời gian sinh trưởng pháttriển của giống lạc L14
- Khả năng sinh trưởng: Sinh trưởng chiều cao cây; Số cành hữu hiệu/ cây;
Số cành 1/ cây
2.2.2 Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý.
- Chỉ số diện tích lá (LAI);
- Khả năng tích lũy chất khô của cây;
2.2.3 Nghiên cứu về sự hình thành năng suất của cây lạc.
- Các yếu tố cấu thành năng suất: Bình quân số quả/ cây; Tỷ lệ quả lép/ cây;
Số quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt/ cây; Tỷ lệ hạt lép; Trọng lượng 100 hạt; Trọng lượnghạt/ cây
- Năng suất (kg/ ha): Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu
2.2.4 Nghiên cứu một số chỉ tiêu về chất lượng
- P100 hạt
- Tỷ lệ nhân
2.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu trên đồng ruộng
- Xác định sinh trưởng chiều cao cây: Sử dụng thước để đo
- Xác định thời gian sinh trưởng (ngày): Theo dõi và quan sát sự sinh trưởng
và phát triển của cây lạc trên đồng ruộng để xác định
Trang 20- Xác định: Số cành hữu hiệu/ cây; Số cành cấp 1/ cây; Số quả/ cây; Tỷ lệquả lép/ cây; Số quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt/ cây: Sử dụng phương pháp trực quan đểxác định.
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Xác định diện tích lá: Sử dụng máy đo diện tích lá
- Xác định chỉ số diện tích lá (LAI): Sử dụng công thức tính:
LAI = Diện tích lá bình quân/ cây x Số cây/ 1m2 đất
- Xác định sự tích lũy chất khô của cây (g/ cây): Sử dụng phương pháp sấykhô, và cân bằng cân điện tử
- Xác định: Khối lượng hạt/ cây; Khối lượng 100 hạ, khối lượng 100quả, Tỷ
lệ nhân: Sử dụng cân điện tử; phương pháp trực quan để xác định
- Tính tỉ lệ nhân (%): Cân khối lượng 100 quả khô , bóc vỏ cân khối lượnghạt tính ra tỉ lệ nhân
- Xácđịnh năng suất (kg/ ha): giống lạc thu hoạch về được phơi khô riêng biệt, tránhkhông để lẫn lộn Sử dụng cân đồng hồ và các công thức tính năng suất để xácđịnh năng suất lý thuyết, năng suất thực tế
- Năng suất cá thể (g/cây)
Cân khối lượng quả chắc khô của 10 cây, lấy trung bình
- Năng suất lí thuyết (tạ/ha):
- Năng suất lí thuyết = (năng suất cá thể) x (mật độ cây ) x 10000 m2 (tạ/ha)
- Năng suất thực thu : Dựa trên năng suất ô (ta/ha)
NSTT = Khối lượng thu được trên 1 ô x 10000m2(tạ/ha)
10m2
2.3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Tỉ lệ nhân = Khối lượng hạt của 100 quả x100%
Khối lượng 100 quả
Trang 21Thí nghiệm bố trí theo phương pháp tuần tự bậc thang, với 6 công thức và 3lần nhắc lại.
Tổng diện tích : 18ô x 10m2 = 180m2
Diện tích mỗi ô: 10 m2 (2m x 5m)
Khoảng cách giữa các ô: 30 cm
Dải bảo vệ bằng cây lạc : 40m2
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Trong đó : - I , II , III ,IV , V, VI là công thức thí nghiệm
- a , b , c là các lần nhắc lạiCông thức I : Nền + 20kg NCông thức II : Nền + 30kg N Công thức III : Nền + 40kg NCông thức IV : Nền + 50kg NCông thức V : Nền + 60kg NCông thức VI : Nền + 70kg N
2.3.4 Quy trình kỹ thuật
- Thời vụ: Thí nghiệm tiến hành vào vụ xuân 2008
- Ngày gieo hạt : 05/03/2008
- Điều kiện thí nghiệm: Đất thịt pha cát
- Địa điểm thí nghiệm: trại thực nghiệm nông học khoa Nông - Lâm - Ngư
ĐH Vinh tại xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Trang 22- Làm đất: Đất được cày, bừa kỹ cho tơi, nhỏ, bằng phẳng, nhặt sạch cỏ dại.Sau đó chia đất thành các ô với diện tích (2m x 5m), rãnh cao 30 cm.
- Bón phân: Lượng phân bón cho 1ha: với nền phân bón chung:
- Chăm sóc:
Đợt 1: Khi cây có 3- 5 lá thật, xới nông đều trên mặt luống
Đợt 2: Khi cây có 6- 8 lá, sắp ra hoa: Xới sát gốc 3- 5 cm, nhạt sạch cỏ dại.Đợt 3: Sau thời kỳ ra hoa rộ: tiến hành xới sâu 5- 7 cm, diệt cỏ dại, vun gốcchạm cặp cành cấp 1 kết hợp bón 1/2 lượng vôi còn lại
- Phòng trừ sâu bệnh: Tiến hành phòng trừ các loại sâu, bệnh khi đến
ngưỡng phòng trừ
- Thu hoạch : 17/06/08 (khi nhổ cây đã thấy hạt chắc 90% )
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Statitic và exel 2003
2.3.6 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội vùng nghiên cứu
Trang 23Nghệ An là tỉnh lớn nằm trong khu vực Bắc Miền Trung, vị trí địa líkhoảng từ 18o35|- 19o30| vĩ độ Bắc và 103o52| - 105o42| kinh độ Đông, với diệntích 1.637.068 ha
Khí hậu Nhệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc tính nóng ẩm
và mưa nhiều theo mùa lượng mưa trung bình cả năm 1600-2000mm Khí hậuNghệ An có hai mùa, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưanóng từ tháng tháng 4 đến tháng 10
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.951.500 người(2002) Mật độ trung bình toàn tỉnh 181,8 người/km2 dân cư phân bố không đềugiữa các tỉnh đồng bằng và miền núi
Nghi Lộc là một trong những huyện của Nghệ An Đây là vùng đồngbằng chủ yếu là đất cát, đất thịt nhẹ và trung bình Là khu vực có khí hậu nhiệtđới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng
Điều kiện địa lí, đất đai , khí hậu huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi
để gieo trồng các cây trồng cạn trong đó cây lạc là cây
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trang 243.1 Ảnh hưởng của liều lượng Đạm đến sinh trởng và phát triển của giống Lạc L14
3.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng Đạm đến sự tăng trưởng chiều cao thân chính của giống lạc L14.
Thân lạc đóng vai trò là nơi vận chuyển vật chất trung gian từ rể về lá, quả,hạt và vận chuyển sản phẩm đồng hoá các chất dinh dưởng từ lá vào hạt.Do đó lá
là bộ phận rất quan trọng của cây lạc Sự sinh trưởng chiều cao thân chính phảnánh khả năng tích luỹ vật chất khô và sự di truyền giống Mối tương quan giữasinh trưởng dinh dưỡng được biểu hiện bằng tốc độ tăng trưởng chiều cao Vìvậy tăng trưởng chiều cao thân chính của cây lạc ảnh hưởng không nhỏ đến năngsuất.Thân lạc vươn nhanh từ khi mọc mầm đến lúc ra lá, sau đó chậm dần khi cây
có hoa tốc độ thời kỳ này tăng trưởng khoảng 0.45 – 1.1cm/ngày.Giai đoạn đâmtia 0.2 – 0.46 cm/ ngày.Vào thời kỳ chín nếu gặp điều kiện thuận lợi thì chiều caothân chính tăng mạnh đạt 0.4 – 0.8cm/ngày vào thời kỳ thu hoạch Do vậy khi rahoa cây lạc có chiều cao chỉ bằng khoảng 30 % - 40% chiều cao thân chính khithu hoạch.khoảng 2/3 chiều cao thân chính là tăng trưởng trong thời kỳ sinhtrưởng sinh thực
Qua nghiên cứu ngoài đồng ruộng cho được kết quả ở bảng 3.1
Trang 25Bảng 3.1 Ảnh hưởng của liều lượng Đạm đến chiều cao thân chính của giống lạc L14
I 3,40a 6,41a 7,91a 10,02a 13,34a 20,36a 26,44a 29,21a 32,35a 35,46c 38,00a 38,78a
II 3,29a 6,15ab 7,31a 10,20a 14,71a 23,52a 30,99a 33,68ab 36,70ab 39,41ab 41,07ab 41,77b
III 3,33a 5,89ab 7,65a 9,82a 14,84a 22,96a 31,81a 34,29b 37,39ab 39,68ab 41,11ab 41,85b
IV 3,47a 5,83ab 7,34a 10,09a 15,51a 23,42a 30,52a 33,4ab 38,10ab 40,67a 41,92b 42,59b
V 3,54a 5,98ab 7,76a 9,79a 14,44a 20,98a 27,55a 30,53ab 36,45ab 38,68ab 40,19ab 40,84ab
VI 3,29a 5,45b 7,61a 9,97a 14,51a 22,16a 27,08a 31,41ab 34,83b 37,19bc 38,85ab 39,97ab
(Trong đó : đơn vị là cm, CT viết tắt của Công thức )
Ghi chú: Các công thức giống nhau biểu tị cùng một chữ cái, các chữ cái khác nhau được biểu thị sự sai khác ý nghĩa ở mức 0,05.
Trang 26Qua bảng số liệu phân tích sự tăng trưởng của chiều cao thân chính trongthời gian phát triển, nhận thấy rằng:
- Giai đoạn 15 ngày sau khi gieo:
Ở giai đoạn này,cây lạc còn chịu tác động của không khí lạnh và thời tiết
âm u cộng với mưa phùn nên bộ rễ kém phát triển,cây lạc chủ yếu sinh trưởngdựa vào hai lá tử diệp là chính nên chưa chịu sự tác động của lượng phân bón.Chiều cao của thân chính ở các công thức biến động từ 3,29 cm – 3,54cm, Ở giaiđoạn này chiều cao thân chính chưa có sự biến động lớn, và chưa có sự sai khác
ý nghĩa về mặt thống kê giữa các công thức
- Giai đoạn 23 ngày sau khi gieo:
Giai đoạn này chất dinh dưởng trong 2 lá tử diệp đã cạn kiệt, bộ rễ pháttriển mạnh, cùng với các bộ phận trên mặt đất.Chính vì vậy cây lạc có thể hútdinh dương trong đất để sinh trưởng.giai đoạn này điều kiện thời tiết cũng thuậnlợi cho cây lạc phát triển, ở giai đoạn này chiều cao thân chính biến động trongkhoảng 5,45cm – 6,41cm trong đó giữa công thức I đã có sự sai khác ý nghĩa vềmặt thống kê với công thức VI Công thức I, VI so với các công thức II, III, IV,
V không có sự sai khác ý nghĩa về mặt thống kê
- Giai đoạn 30 – 58 ngày sau khi gieo
Trong giai đoạn này giữa các công thức bón Đạm, chiều co cây không có sựsai khác mang tính ý nghĩa thống kê,nhưng chiều cao cây của các công thức quacác giai đoạn có sự tăng trưởng rất nhanh do cây đã phát triển toàn diện nên cầnmột lượng dinh dưỡng rất lớn Chiều cao cây trong giai đoạn 30 -58 ngày sau khigieo tăng từ 7,31cm – 31,81cm trong giai đoạn này với mức bón Đạm khácnhau không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của chiều cao thân chính
- Giai đoạn 65 ngày sau khi gieo :
Trong giai đoạn này cây cần một lượng đạm rất lớn để cung cấp cho quátrình hình thành quả và vào quả chắc Ở các công thức chiều cao cây biến động
từ 29,21cm – 34,29cm so sánh giữa công thức I và công thức III thì thấy sự saikhác mang ý nghĩa về mặt thống kê có nghĩa là chiều cao cây chịu sự tác động
Trang 27của mức bón Đạm So sánh giữa công thức I, III với các công thức II, IV, V, VIthì chiều cao không có sự sai khác ý nghĩa về mặt thống kê.
- Giai đoạn 72 ngày sau khi gieo:
Giai đoạn này chiều cao cây biến động từ 32.35cm – 38.10cm So sánh giữacông thức I và công thức IV chúng tôi nhận thấy sự biến động chiều cao lớn,chiều cao cây phụ thuộc vào lượng Đạm bón cho các công thức I và IV So sánhgiữa công thức I, IV với các công thức II, III, V, VI chiều cao cây biến động lớnnghĩa là giữa các công thức này không có sự sai khác về mặt thống kê.ở giaiđoạn này chiều cao cây tăng trưởng trung binh 0,9cm/ ngày
- Giai đoạn 82 ngày sau khi gieo
Đây là giai đoạn chín của hạt nên quá trình sinh trưởng dinh dưỡng của cây
bị chững lại chiều cao cây biến động ở các giai đoạn là không lớn, so sánh giữacác công thức với nhau thì chiều cao cây biến động từ 35,46cm – 40,67cm trong
đó ở công thức IV chiều cao cây đạt 40,67cm cao hơn so với các công thứckhác.so sánh giữa công thức I, VI và công thức IV thì thấy sự biến động chiềucao của công thức IV cao hơn với công thức I và VI có nghĩa là giữa công thức
IV với công thức I và VI có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê.giữa công thức I
và VI không có sự sai khác So sánh giữa công thức I với công thức II, III, Vchiều cao cây không có sự biến động lớn nghĩa giữa các công thức này không có
sự sai khác về mặt thống kê.Giữa công thức I và công thức VI cũng không có sựsai khác mang ý nghĩa thống kê
- Giai đoạn 92 ngày sau khi gieo hạt
Giai đoạn này cây gần hoàn thành thời kỳ chín của hạt nên chiều cao câycủa công thức giữa các giai đoạn khác nhau không có sự biến động nhiều.chiềucao cây biến động từ 38,003cm – 41,9232cm Qua bảng số liệu chúng tôi nhậnthấy sự biến động chiều cao giữa các công thức với nhau không đáng kể So sánhgiữa công thức IV và công thức I,chiều cao của công thức IV cao hơn 3,92cmcông thức I giữa các công thức này đã có sự sai khác về mặt ý nghĩa thống kê, có