1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát độc tính cấp đường uống và tác động hạ đường huyết của các cao chiết từ phát hoa Thốt nốt đực (Borassus flabellifer L.)

7 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc khảo sát độc tính cấp đường uống và tác động hạ đường huyết của các cao chiết từ phát hoa Thốt nốt đực nhằm cung cấp cơ sở khoa học về tính an toàn và hiệu quả của các cao chiết.

Trang 1

KHẢO SÁT ĐỘC TÍNH CẤP ĐƯỜNG UỐNG VÀ TÁC ĐỘNG

HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA CÁC CAO CHIẾT TỪ PHÁT HOA THỐT NỐT ĐỰC

(BORASSUS FLABELLIFER L.)

Bùi Thị Phương Trang * , Nguyễn Thị Kim Oanh ** , Nguyễn Lê Thanh Tuyền ** ,

Trần Thị Quế *** , Đỗ Thị Hồng Tươi *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đề tài khảo ộc tính c p ường uố à c ộng hạ ường huyết của các cao chiết từ phát hoa

Thốt nố c nhằm cung c p c khoa học về tính an toàn và hiệu quả của các cao chiết

Đối tượng và phương pháp: Các thử nghiệm ược tiến hành trên chuột nhắt Swiss albino, 6-7 tuần tuổi,

trọ lượng trung bình khoảng 20 g gồm: khảo ộc tính c p ường uống trong 72 giờ; khảo sát c ộng hạ ường huyết trên chuột nhắt c y i o ường bằ c c i m ĩ mạch liều duy nh t streptozotocin 170 mg/kg và chuột nhắ c b ường, sử dụng glibenclamid 5 mg/kg làm thuốc ối chứng

Kết quả: Các cao BC96, BCHH và BN60 chiết từ phát hoa Thốt nố c không thể hiệ ộc tính c p ường

uống trên chuột nhắt v i liều tối a ua im (D max ) là 80 g/kg cho BC96 và BCHH, 60 g/kg cho BN60 Trên chuột

bị i o ường, sau 2 tuầ iều trị, BC96 cho uống liều 440 mg/kg và 880 mg/kg giảm ường huyết lầ lượt là 42,4% và 35,7%, BCHH cho uống liều 400 mg/kg và 800 mg/kg giảm ường huyết lầ lượt là 38,4% và 43,2%, BN60 cho uống liều 700 mg/kg và 1400 mg/kg giảm ường huyết lầ lượt là 43,4% và 44,2%, so v i 43,7% của

lô uống glibenclamid 5 mg/kg Trên chuộ b ường, cao Thốt nốt BCHH không làm hạ ường huyế cũ

ư ả ư ng thể trọng của chuột

Kết luận: Cao BC96, BCHH, BN60 không thể hiệ ộc tính c p ường uống liều tối a D max lầ lượt là 80 g/kg, 80 g/kgvà 60 g/kg Trên chuột bị i o ườ (ĐTĐ), cả 3 cao ều thể hiệ c ộng hạ ường huyết sau

14 ngày uống cao ư t ối chứng glibenclamid 5 mg/kg

Từ khóa: Thốt nốt, p oa c, ộc tính c p, c ộng hạ ường huyết

ABSTRACT

STUDY ON ACUTE ORAL TOXICITY AND HYPOGLYCEMIC EFFECT

OF EXTRACTS FROM MALE INFLORESCENCES OF BORASSUS FLABELLIFER L

Bui Thi Phuong Trang, Nguyen Thi Kim Oanh, Nguyen Le Thanh Tuyen,

Tran Thi Que, Do Thi Hong Tuoi

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine* Vol 24 - No 2 - 2020: 258 - 264

Objectives: Study on acute oral toxicity and hypoglycemic effect of extracts from Borassus flabellifer L

male inflorescence

Materials and methods: In vivo experiments were carried out in Swiss albino mice, aging 6 -7 weeks,

weighing about 20 g The acute oral toxicity of tested extracts was examined within 72 hours The hypoglycemic effect was studied in diabetic male mice induced by an intravenous dose of 170 mg/kg of streptozotocine and normal male mice, using 5 mg/kg glibenclamide as a positive control

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Trung tâm Công nghệ Dược Sài Gòn, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

***Trung tâm Công nghệ Sinh học Tỉnh An Giang

Tác giả liên lạc: PGS.TS Đỗ Thị Hồng Tươi ĐT: 0908683080 Email: hongtuoi@ump.edu.vn

Trang 2

Results: Three extracts BC96, BCHH and BN60 from B flabellifer male inflorescence had no acute oral

toxicity in mice at the maximum oral dose (D max ) of 80 g/kg for the BC96 and BCHH extract or 60 g/kg for the BN60 extract In streptozotocin-induced diabetic mice, the plasma glucose reduced 42.4% and 35.7%, respectively, at dose of 440 mg/kg and 880 mg/kg of the BC96 extract At dose of 400 mg/kg and 800 mg/kg, mice administered with BCHH extract cut down to 38.4% and 43.2% on the blood sugar, respectively With 700 mg/kg and 1400 mg/kg dose of the BN60 extract, the plasma glucose levels were respectively decreased to 43.4% and 44.2% These were comparable with glibenclamid positive control at 5 mg/kg dose (43.7%) In normal mice, the BCHH extract at the oral doses of 400 and 800 mg/kg did not affect the weight or plasma glucose level

Conclusions: The BC96, BCHH and BN60 extracts had no acute oral toxicity in mice at the maximum oral

dose (D max ) of 80, 80 and 60 g/kg, respectively In hyperglycemic mice, all 3 extracts showed hypoglycemic effect after 14 days treatment; this effect was similar to that of 5 mg/kg glibenclamide

Key words: Borassus flabellifer L., male inflorescence, acute toxicity, hypoglycemic effect

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Liên đoàn đái tháo đường quốc tế, Việt

Nam có 3,54 triệu người mắc đái tháo đường

(ĐTĐ) trong độ tuổi từ 20-79 vào năm 2017 và

tăng lên 6,13 triệu người vào năm 2045 ĐTĐ là

một trong những nguyên nhân gây tử vong

hàng đầu tại Việt Nam, ước tính năm 2017 có

29.000 người lớn tử vong liên quan đến ĐTĐ,

tương đương mỗi ngày có 80 ca tử vong do

ĐTĐ(1) Hiện nay, các thuốc hóa tổng hợp điều trị

ĐTĐ có thể gây ra tác dụng không mong muốn

như hạ đường huyết, tăng cân, rối loạn tiêu hóa,

nhiễm acid lactic… và tình trạng giảm đáp ứng

điều trị(2) Do đó, sử dụng thảo dược được xem là

liệu pháp thay thế tiềm năng trong kiểm soát

đường huyết, hạn chế tác dụng phụ khi sử dụng

lâu dài

Thốt nốt trồng phổ biến ở các tỉnh miền Tây

và Đông Nam Bộ, giáp biên giới Campuchia từ

Tây Ninh đến Kiên Giang Đặc biệt, cây Thốt nốt

được trồng nhiều nhất ở An Giang Trong dân

gian, cuống cụm hoa, nước chảy từ cụm hoa,

đường Thốt nốt… được dùng chữa sốt, viêm tấy,

sốt rét, lá lách to, vàng da, lỵ, khó tiểu tiện(3) Gần

đây, một số nghiên cứu đã báo cáo tác động

dược lý của cao chiết từ phát hoa, rễ, hạt… của

cây Thốt nốt như chống oxy hóa, độc tế bào ung

thư, tác động giảm đau, kháng viêm, hạ đường

huyết(4) Từ đó, đề tài khảo sát độc tính cấp

đường uống và tác động hạ đường huyết của các

cao chiết từ phát hoa Thốt nốt đực nhằm cung

cấp cơ sở khoa học về tính an toàn và hiệu quả của các cao chiết này với mục tiêu cụ thể khảo sát độc tính cấp đường uống, tác động hạ đường huyết trên chuột nhắt gây đái tháo đường bằng streptozotocin và trên chuột nhắt bình thường

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu thử

Các cao chiết từ phát hoa Thốt nốt đực được cung cấp bởi Trung tâm Công nghệ Sinh học An Giang Phát hoa Thốt nốt đực được định danh và thu hái lúc sáng sớm ở xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang vào tháng 4/2018 Mẫu dược liệu được rửa sạch, cắt lát, phơi khô và xay nhỏ Sau đó, tiến hành chiết bằng các dung môi

và phương pháp khác nhau, thu được 03 cao ký hiệu BC96, BCHH và BN60 có hiệu suất chiết lần lượt là 7,19%, 12,88% và 8,13%; độ ẩm trung bình lần lượt là 19,57%, 21,78% và 12,19%

Động vật thử nghiệm

Chuột nhắt Swiss albino, đực và cái, 6-7 tuần

tuổi, trọng lượng 20-22 g do Viện Vaccin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang cung cấp Chuột khoẻ mạnh, không có biểu hiện bất thường, nuôi ổn định ở môi trường thí nghiệm 5 ngày trong lồng nhựa 25 x 35 x 15 cm (6 chuột/lồng) và cung cấp thức ăn, nước uống đầy đủ trong thử nghiệm

Hóa chất

Streptozotocin, ethylen diamin tetra-acetic (EDTA) (Sigma-Aldrich, Hoa Kỳ), kit định lượng glucose (Clinitech, Pháp), glibenclamid

Trang 3

(Biogaran, Pháp), cồn 96%, ether ethylic

(Guangdong Guanghua, Trung Quốc), NaCl

0,9% (OPV, Việt Nam)

Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát độc tính cấp đường uống

Mỗi cao thử được tiến hành trên 10 chuột (5

đực, 5 cái) Cho chuột nhịn đói ít nhất 12 giờ

trước khi cho uống các cao thử (BCHH, BC96,

BN60) Chuột được uống liều duy nhất ở nồng

độ cao thử tối đa có thể qua kim, thể tích 40

ml/kg trong điều kiện ổn định Theo dõi và ghi

nhận cử động tổng quát, biểu hiện về hành vi,

trạng thái lông, ăn uống, tiêu tiểu và số lượng

chết của chuột trong 72 giờ theo “Hướng dẫn

thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng thuốc

đông y, thuốc từ dược liệu” của Bộ Y tế ban hành

theo quyết định số 141/QĐ-K2ĐT ngày

27/10/2015(5) Nếu sau 72 giờ, chuột không có dấu

hiệu bất thường hoặc chết, tiếp tục theo dõi

trong vòng 14 ngày Nếu có chuột chết, mổ chuột

để đánh giá đại thể các cơ quan và giảm liều để

tìm liều tối thiểu gây chết 100% chuột (LD100),

liều tối đa không gây chết chuột nào (LD0) và

liều gây chết 50% chuột (LD50)

Khảo sát tác động hạ đường huyết trên chuột

bị đái tháo đường

Chuột nhịn đói ít nhất 12 giờ, chia thành 2

nhóm: Nhóm chuột bình thường: tiêm tĩnh mạch

(iv) NaCl 0,9%; nhóm chuột bị ĐTĐ: iv

streptozotocin (pha trong NaCl 0,9%) liều 170

mg/kg, thể tích tiêm 10 ml/kg(6) Sau 6 ngày, định

lượng đường huyết (chuột nhịn đói ít nhất 12

giờ) Chuột tiêm streptozotocin có đường huyết

đói ≥ 200 mg/dL được xem bị đái tháo đường và

chia đều vào các lô, sao cho đường huyết trung

bình của các lô tương đương nhau (p > 0,05): Lô

chứng bệnh: uống nước cất; lô đối chiếu: uống

glibenclamid 5 mg/kg; Lô Ia và Ib: uống cao

BCHH liều 400 và 800 mg/kg; lô IIa và IIb: uống

cao BC96 liều 440 và 880 mg/kg; Lô IIIa và IIIb:

uống cao BN60 liều 700 và 1400 mg/kg Cho

chuột uống nước cất, glibenclamid hoặc cao Thốt

nốt 1 lần/ngày vào buổi sáng (8-10 giờ), thể tích

10 ml/kg trong 14 ngày liên tiếp Theo dõi đường huyết của chuột thử nghiệm mỗi 7 ngày bằng cách lấy máu tĩnh mạch đuôi (chuột được cho nhịn đói)

Khảo sát tác động hạ đường huyết trên chuột bình thường

Chuột khỏe mạnh bình thường được chia ngẫu nhiên thành các lô (n = 8): Lô sinh lý: uống nước cất; lô Ia: uống cao BCHH liều 400 mg/kg;

lô Ib: uống cao BCHH liều 800 mg/kg Cho chuột uống nước cất hoặc cao Thốt nốt 1 lần/ngày vào buổi sáng (8-10 giờ), thể tích 10 ml/kg trong 14 ngày Theo dõi đường huyết của chuột thử nghiệm mỗi 7 ngày bằng cách lấy máu tĩnh mạch đuôi (chuột được cho nhịn đói)

Định lượng glucose huyết theo nguyên tắc enzym màu bằng kit thử của Clinitech Tính nồng độ glucose:

Nồng độ glucose (mg/dl) = [(Athử -

Atrắng)/(Achuẩn - Atrắng)] x Cchuẩn x độ pha loãng

Xử lý kết quả và phân tích thống kê

Kết quả trình bày dạng trung bình ± độ lệch chuẩn của giá trị trung bình (Mean ± SEM) Số liệu được phân tích thống kê bằng phép kiểm Kruskal-Wallis và Mann-Whitney với phần mềm SPSS 22.0 Sự khác biệt có ý nghĩa khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Độc tính cấp đường uống trên chuột nhắt của các cao Thốt nốt

Khảo sát trên 10 chuột với nồng độ tối đa có thể bơm qua kim, thể tích 40 ml/kg là: BC96: 80 g/kg; BCHH: 80 g/kg; BN60: 60 g/kg Sau khi cho chuột uống, chuột giảm hoạt động, đi lại chậm chạp hơn Sau khoảng 90 phút, chuột linh hoạt trở lại, ăn cám viên, uống nước, tiêu tiểu, cử động bình thường Chuột hoạt động bình thường, không có chuột nào chết trong 72 giờ và

14 ngày quan sát Quan sát đại thể các cơ quan sau 14 ngày không ghi nhận dấu hiệu bất thường nào của tim, gan, thận, phổi và hệ tiêu hóa Như vậy, đề tài không thể xác định được

LD50 Các cao Thốt nốt BC96, BCHH, BN60

Trang 4

không thể hiện độc tính cấp đường uống với liều

tối đa có thể cho uống qua kim (Dmax) lần lượt là

80; 80 và 60 g/kg trọng lượng chuột

Tác động lên trọng lượng và đường huyết của chuột đái tháo đường

Tác động lên trọng lượng của chuột đái tháo đường

Bảng 1 Trọ lượ u b c c lô c uộ ĐTĐ o ày (N: ày)

Sinh

26,1

± 0,8

26,9 ± 0,8

27,2 ± 0,7

28,2 ± 0,7

28,4 ± 0,7

28,6 ± 0,8

28,6 ± 0,9

28,9 ± 1,0

29,1 ± 0,8

29,8 ± 0,8

30,1 ± 0,9

30,0 ± 0,7

30,6 ± 0,7

30,6 ± 0,7 Chứng

bệnh

20,8 ±

0,8**

20,6 ± 0,9**

20,4 ± 0,9**

20,3 ± 1,0**

19,9 ± 1,2**

20,1 ± 0,9**

20,5 ± 1,0**

20,1 ± 1,0**

20,4 ± 1,1**

20,2 ± 1,0**

19,9 ± 1,1**

19,7 ± 0,9**

20,1 ± 1,0**

20,2 ± 0,9**

Gliben-clamid

20,9 ±

1,2**

21,3 ± 1,2**

21,8 ± 1,3**

22,0 ± 1,2**

22,4 ± 1,2**

22,3 ± 1,2**

21,7 ± 1,3**

22,2 ± 1,3**

22,0 ± 1,5**

22,1 ± 1,5**

21,9 ± 1,5**

21,8 ± 1,6**

21,7 ± 1,7**

22,1 ± 1,5** BC96

440 mg/kg

20,7 ±

1,2**

20,8 ± 1,4**

20,5 ± 1,2**

20,6 ± 1,2**

20,1 ± 1,3**

20,5 ± 1,2**

20,4 ± 1,3**

20,7 ± 1,3**

20,4 ± 1,3**

20,6 ± 1,3**

20,0 ± 1,2**

20,4 ± 1,4**

20,8 ± 1,5**

20,6 ± 1,4** BC96

880mg/kg

21,1 ±

1,2**

20,8 ± 1,3**

21,2 ± 1,3**

21,0 ± 1,3**

21,2 ± 1,3**

21,3 ± 1,4**

20,8 ± 1,6**

21,4 ± 1,4**

21,3 ± 1,3**

22,1 ± 1,4**

21,3 ± 1,4**

21,4 ± 1,4**

21,9 ± 1,4**

21,2 ± 1,4** BCHH

400mg/kg

22,6 ±

1,1*

22,7 ± 1,2*

22,6 ± 1,2**

22,1 ± 1,2**

22,9 ± 1,2**

23,0 ± 1,2**

22,7 ± 1,3**

22,3 ± 1,4**

21,9 ± 1,6**

22,2 ± 1,5**

21,6 ± 1,6**

22,2 ± 1,6**

22,5 ± 1,6**

22,1 ± 1,3** BCHH

800mg/kg

22,0 ±

1,2*

21,9 ± 1,3**

21,4 ± 1,4**

21,3 ± 1,5**

21,8 ± 1,5**

22,4 ± 1,5**

22,6 ± 1,4**

22,3 ± 1,1**

22,5 ± 1,1**

22,6 ± 1,1**

22,8 ± 1,2**

23,0 ± 1,2**

23,4 ± 1,2**

23,6 ± 1,3** BN60

700mg/kg

20,9 ±

1,0**

21,2 ± 1,2**

21,4 ± 1,1**

21,6 ± 1,0**

21,9 ± 0,9**

21,9 ± 0,9**

22,2 ± 0,9**

22,4 ± 1,1**

21,8 ± 1,2**

22,2 ± 1,3**

22,6 ± 1,3**

22,1 ± 1,3**

22,3 ± 1,3**

22,7 ± 1,3** BN60

1400mg/kg

21,9 ±

1,3*

22,0 ± 1,4**

21,7 ± 1,4**

22,6 ± 1,8**

22,1 ± 1,5**

21,3 ± 2,1*

22,0 ± 1,6**

21,6 ± 1,5**

22,0 ± 1,6**

21,3 ± 1,3**

21,8 ± 1,5**

21,5 ± 1,4**

22,0 ± 1,5**

22,1 ± 1,7**

*p < 0,05: so v i lô sinh lý; # p < 0,05: so v i lô chứng bệ c ời iểm ảo

Tại thời điểm bắt đầu điều trị (N0), chuột

sinh lý có trọng lượng trung bình 26,1 g trong

khi chuột đái tháo đường có trọng lượng trung

bình 21,3 g, thấp hơn có ý nghĩa (p < 0,01) có

thể do streptozotocin gây độc tế bào tụy dẫn

đến tăng đường huyết và giảm trọng lượng cơ

thể chuột Trong thời gian thử nghiệm, chuột

ở các lô tiêm streptozotocin có trọng lượng cơ

thể giảm khoảng 3,5 - 7,0 g so với chuột sinh lý

(p <0,01) Chuột ở các lô điều trị với cao BCHH

800 mg/kg, BN 700 mg/kg và glibenclamid có

trọng lượng cơ thể ổn định và tăng 1 - 2 g Dù

sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các lô điều trị so với lô chứng bệnh (p >0,05,

Bảng 2), kết quả bước đầu gợi ý các cao thử

BCHH 800 mg/kg, BN 700 mg/kg có thể giúp duy trì thể trạng của chuột đái tháo đường tương tự glibenclamid

Kết quả tác động hạ đường huyết của cao Thốt nốt trên chuột đái tháo đường trình bày ở

Bảng 2

Bảng 2 Đường huyết trung bình của các lô chuột ĐTĐ vào ngày 0, 7 và 14

Trang 5

*p < 0,05 và **p < 0,01: so v i lô i lý c ời iểm ảo ; # p < 0,05 và ## p < 0,01: so v i lô chứng bệ c ời iểm ảo ; $ p < 0,05 và $$ p < 0,01: so v i lô lib clamid c ời iểm ảo

Tại thời điểm ban đầu, chuột được tiêm

streptozotocin có đường huyết tăng 3,1 lần so

với chuột sinh lý (p < 0,01) Những chuột có

đường huyết ≥ 200 mg/dl được chia vào 8 lô

(lô chứng bệnh, glibenclamid và các lô uống

cao thử) sao cho đường huyết trung bình

trước khi điều trị (N0) giữa các lô này khác

nhau không có ý nghĩa thống kê (p >0,05)

Kết quả cho thấy lô chuột uống glibenclamid

liều 5 mg/kg sau 7 và 15 ngày đều có đường huyết

giảm khoảng 45% so với thời điểm trước khi điều

trị (p <0,05) và thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với

lô chứng bệnh ở cùng thời điểm khảo sát (p <0,05)

Sau 7 ngày điều trị, cao BCHH liều 400

mg/kg và 800 mg/kg làm giảm đường huyết

lần lượt khoảng 10,7% và 28,0% so với trước

khi điều trị, khác biệt không có ý nghĩa thống

kê so với lô chứng bệnh ở cùng thời điểm

khảo sát (p >0,05) Sau 15 ngày, lô chuột uống

cao BCHH liều 400 mg/kg và 800 mg/kg có

đường huyết giảm lần lượt 38,4% và 43,2% so

với ngày 0 (p <0,05); tuy nhiên, chỉ có lô cao

BCHH 800 mg/kg có đường huyết thấp hơn có

ý nghĩa so với lô chứng bệnh (p <0,05) Giữa 2

liều 400 mg/kg và 800 mg/kg, đường huyết của

chuột thử nghiệm khác biệt không có ý nghĩa

ở 2 thời điểm khảo sát sau điều trị (p >0,05) So

với glibenclamid 5 mg/kg, lô BCHH 800 mg/kg

có đường huyết không khác biệt sau 7 và 14

ngày điều trị (p >0,05); lô BCHH 400 mg/kg có

đường huyết cao hơn có ý nghĩa thống kê sau

7 ngày (p <0,05) nhưng không khác biệt sau 14

ngày điều trị (p >0,05)

Cao BC96 liều 440 mg/kg và 880 mg/kg

làm giảm đường huyết lần lượt khoảng 24,2%

và 14,7% sau 7 ngày; khoảng 42,4% và 35,7%

sau 15 ngày điều trị, thấp hơn có ý nghĩa

thống kê so với trước khi điều trị (p <0,05)

nhưng không có ý nghĩa thống kê so với lô

chứng bệnh ở cùng thời điểm khảo sát

(p >0,05) Đường huyết giữa 2 liều khác biệt

không có ý nghĩa (p >0,05) So với lô

glibenclamid, đường huyết của lô BC96 liều

440 mg/kg khác biệt không có ý nghĩa thống

kê sau 7 và 14 ngày điều trị (p >0,05); lô BC96

880 mg/kg có đường huyết cao hơn có ý nghĩa vào ngày 7 (p <0,05) nhưng không khác biệt vào ngày 14 (p >0,05)

Vào ngày 7 và ngày 15, đường huyết của chuột uống cao BN60 liều 700 mg/kg giảm khoảng 44% so với trước khi điều trị (p <0,05) Cao BN60 liều 1400 mg/kg làm giảm đường huyết chuột 16,3% vào ngày 7 và 44,2% vào ngày

15 (p >0,05) Tuy nhiên, đường huyết của 2 lô cao BN60 đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê

so với lô chứng bệnh ở tất cả các ngày khảo sát (p >0,05) So với glibenclamid 5 mg/kg, lô BN60

700 mg/kg có đường huyết không khác biệt sau 7

và 14 ngày điều trị (p >0,05); lô BN60 1400 mg/kg

có đường huyết cao hơn có ý nghĩa sau 7 ngày (p <0,05) nhưng không khác biệt sau 14 ngày điều trị (p >0,05)

Như vậy, các cao BCHH, BC96 và BN60 đều thể hiện tác dụng hạ đường huyết sau 14 ngày điều trị ở cả 2 mức liều khảo sát, làm giảm 35% - 45% đường huyết của chuột đái tháo đường so với trước khi điều trị, đặc biệt BCHH liều 800 mg/kg có tác dụng hạ đường huyết tương tự thuốc đối chiếu glibenclamid 5 mg/kg

Tác động lên trọng lượng và đường huyết của chuột bình thường

Tác động lên trọng lượng của chuột bình thường

Dựa trên kết quả về hiệu suất chiết, tính khả thi trong thực tế, hiệu quả kinh tế so với tác động

hạ đường huyết, đề tài chọn cao BCHH là cao tiềm năng và tiếp tục khảo sát tác động hạ đường huyết của cao chiết này trên chuột bình thường ở

2 mức liều 400 mg/kg và 800 mg/kg Kết quả tác động của cao BCHH trên trọng lượng cơ thể

chuột bình thường được trình bày trong Bảng 3

Chuột ở các lô đều tăng trọng lượng cơ thể tương tự nhau, khoảng 3 - 4 g/tuần Trọng lượng

cơ thể ở lô uống cao BCHH liều 400 mg/kg và

Trang 6

800 mg/kg ở hầu hết các ngày đều khác biệt

không có ý nghĩa thống kê so với lô sinh lý

(p >0,05) Như vậy, uống cao BCHH với liều 400

mg/kg và 800 mg/kg trong 14 ngày không ảnh hưởng lên trọng lượng của chuột bình thường

Bảng 3 Trọ lượng tru b của các lô chuột b ường o ày (N: ày)

Sinh

23,9 ±

0,7

24,0 ± 0,7

25,0 ± 0,6

25,2 ± 0,6

25,7 ± 0,6

25,7 ± 0,6

26,2 ± 0,7

26,6 ± 0,7

27,0 ± 0,7

27,0 ± 0,7

27,3 ± 0,7

27,7 ± 0,7

28,1 ± 0,8

28,1 ± 0,8

BCHH

400mg/kg

22,9 ±

0,4

23,1 ± 0,4

22,9 ± 0,5*

23,1 ± 0,5*

23,7 ± 0,5*

24,1 ± 0,5

24,4 ± 0,6

25,6 ± 0,5

25,7 ± 0,6

25,5 ± 0,6

25,7 ± 0,6

26,8 ± 0,6

27,0 ± 0,6

27,5 ± 0,6

BCHH

800 mg/kg

22,3 ±

0,7

22,5 ± 0,6

22,9 ± 0,5

23,5 ± 0,5

23,8 ± 0,6*

24,3 ± 0,8

24,5 ± 0,7

25,5 ± 0,8

25,5 ± 0,8

25,8 ± 0,9

26,1 ± 0,9

26,4 ± 1,0

26,8 ± 1,0

26,9 ± 1,2

*p < 0,05 và **p < 0,01: so v i lô i lý c ời iểm ảo

$ p < 0,05: so v i lô cùng cao thử ư liều th p h c ời iểm ảo

Tác động lên đường huyết của chuột bình

thường

Đường huyết của chuột bình thường ở các

lô sau 7 và 14 ngày uống cao BCHH nằm trong

giới hạn bình thường (< 126 mg/dL)(7) Điều này

cho thấy việc uống cao BCHH trong 14 ngày

không ảnh hưởng lên đường huyết chuột

bình thường

Bảng 4 Đường huyết trung bình của các lô chuột

b ường vào ngày 7 và 14

Lô (n = 8)

Đường huyết trung bình ± SEM

(mg/dL)

BCHH 400 mg/kg 96,07 ± 3,95 85,01 ± 2,19

BCHH 800 mg/kg 108,53 ± 2,83*$ 92,34 ± 2,06**

*p <0,05 và **p <0,01: so v i lô i lý c ời iểm

ảo

$ p <0,05: so sánh lô BCHH liều 800 mg/kg v i lô cao BCHH

liều m c ời iểm ảo

BÀN LUẬN

Đề tài cho thấy tác động hạ đường huyết của

cao Thốt nốt sau 14 ngày trên chuột nhắt giảm

dần theo thứ tự: BN60 liều 1400 mg/kg (44,2%) >

BN60 liều 700 mg/kg (43,4%) > BCHH liều 800

mg/kg > BC96 liều 440 mg/kg (42,4%) >

BCHH liều 400 mg/kg (38,4%) > BC96 liều 880

mg/kg so với glibenclamid 5 mg/kg (44,74%) Kết

quả phù hợp với một số báo cáo trước đây Theo

Kavatagimath (2016), sau 15 ngày cho chuột

cống gây ĐTĐ bằng alloxan, cao cồn từ hoa Thốt

nốt liều 200 mg/kg có tác dụng hạ đường huyết tương tự glibenclamid 2,5 mg/kg(8) Pradeep (2014) báo cáo hiệu quả hạ đường huyết của cao cồn từ phát hoa Thốt nốt liều 600 mg/kg 43,13% sau 28 ngày so với 50,01% của glibenclamid 10 mg/kg(9)

Tác động hạ đường huyết của phát hoa Thốt nốt đực có thể do flavonoid và saponin steroid trong dược liệu này Flavonoid được báo cáo có tác dụng hạ đường huyết(8) Theo Yoshikawa (2007), dioscin (saponin steroid) trong hoa Thốt nốt thể hiện tác dụng hạ đường huyết tốt hơn metformin sau khi cho chuột uống liều nạp sucrose(10) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu báo cáo hoạt tính chống oxy hóa của cao cồn từ phát hoa Thốt nốt đực(8,11) Trong bệnh ĐTĐ, đường huyết cao và kéo dài có thể gây rối loạn chuyển hóa ở tế bào, sinh ra gốc tự do làm tổn thương lớp tế bào nội mạc, tạo mảng xơ vữa, là nguyên nhân của các biến chứng mạn tính của ĐTĐ Vì vậy, hoạt tính chống oxy hóa của cao hoa Thốt nốt

có thể phòng ngừa biến chứng cho bệnh nhân ĐTĐ bên cạnh khả năng ngăn chặn sự phá hủy tế bào β tụy

Cao Thốt nốt không thể hiện độc tính cấp

ở liều Dmax là 80 g/kg (BC96, BCHH) hoặc 60 g/kg (BN60) Liều Dmax của các cao lớn hơn liều điều trị từ 42 lần trở lên, gợi ý tính an toàn khi

sử dụng cao Thốt nốt Ngoài ra, cao tiềm năng BCHH cho chuột bình thường uống cao liên

Trang 7

tục 14 ngày ở 2 liều khảo sát không gây hạ

đường huyết hoặc ảnh hưởng đến trọng

lượng của chuột Kết quả là tiền đề để

nghiên cứu phát triển sản phẩm thích hợp

ứng dụng trong phòng và/hoặc hỗ trợ điều

trị bệnh đái tháo đường

KẾT LUẬN

Các cao từ phát hoa Thốt nốt đực BC96,

BCHH và BN không thể hiện độc tính cấp

đường uống trên chuột nhắt ở liều tối đa có thể

qua kim (Dmax) là 80 g/kg, 80 g/kg và 60 g/kg Sau

14 ngày điều trị trên chuột đái tháo đường, cao

hoa Thốt nốt thể hiện tác động hạ đường huyết

tương tự glibenclamid 5 mg/kg Cao BCHH cho

chuột uống liên tục trong 14 ngày ở liều 400 và

800 mg/kg không ảnh hưởng lên trọng lượng và

đường huyết của chuột bình thường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 International Diabetes Federation (2017) IDF Diabetes Atlas, 8 th

ed, pp.1-150 International Diabetes Federation, LonDon UK

2 Bộ Y tế (2017) Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ

trong một số bệnh không lây nhiễm: Hướng dẫn thực hành

dược lâm sàng trong bệnh đái tháo đường Quyết định số

https://kcb.vn/vanban/quyet-dinh-so-3809-qd-byt-ngay-27-

thang-8-nam-2019-ve-viec-ban-hanh-huong-dan-thuc-hanh-

duoc-lam-sang-cho-duoc-sy-trong-mot-so-benh-khong-lay-nhiem (access on 25/12/2019)

3 Đỗ Tất Lợi (1999) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam,

pp.265-266 N à u ả Y Học, Hà Nội

4 Gummadi VP, Battu GR, Keerthana Diyya M, et al (2016) A

review on palmyra palm (Borassus flabellifer) Int J Curr Pharm

Res, 8(2):17-20

5 Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Quyết định số 141/QĐ-K2ĐT, pp.13-17 URL: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/the- thao-y-te/Quyet-dinh-141-QD-K2DT-2015-Huong-dan-thu-nghiem-tien-lam-sang-lam-sang-thuoc-dong-y-414589.aspx (access on 25/12/2019)

6 Ngô Thị Nga, Mai Thị Cúc, Đỗ Thị Hồng Tươi (2017) Khảo sát tác dụng hạ lipid huyết và hạ đường huyết của cao cồn 50% từ

trà thảo mộc Panas Karantina trên chuột nhắt Y Học Thành Phố

Hồ Chí Minh, 21(2):7-15

7 Mark A, Suckow PD, Cory Braytor (2011) The Laboratory

Mouse CRC Press LLC, Washiongton DC

8 Kavatagimath SA, Jalalpure SS, Hiremath RD (2016) Screening

of ethanolic extract of Borassus flabellifer flowers for its antidiabetic and antioxidant potential Journal of Natural

Remedies, 16(1):22-32

9 Pradeep G, Kumar AA, Lakashminarasimhaiah SG (2014)

Antidiabetic and antihyperlipidemic effect of Borassus flabellifer

in streptozotocin (STZ) induced diabetic rats World Journal of

Pharmacy Pharmaceutical Sciences, 4(1):1172-1184

10 Yoshikawa M, Xu F, Morikawa T, et al (2007) Medicinal flowers XII 1 New spirostane-type steroid saponins with

antidiabetogenic activity from Borassus flabellifer Chemical

Pharmaceutical bulletin, 55(2):308-316

11 Paschapur M, Patil MB, Kumar R, et al (2009) Evaluation of

anti-inflammatory activity of ethanolic extract of Borassus

flabellifer L male flowers (inflorescences) in experimental

animals Journal of Medicinal Plant Research, 3(2):49-54

N ày ậ bài: 02/01/2020 Ngày p ả biệ ậ xé bài b o: 07/01/2020

N ày bài b o ược ă : 20/03/2020

Ngày đăng: 14/07/2021, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm