Bài viết trình bày xác định việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị đối với 4 nhóm thuốc chính: Thuốc chống kết tập tiểu, thuốc chẹn thụ thể beta giao cảm (BB), thuốc ức chế men chuyển/thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (ACEi/ARB) và statin tại thời điểm xuất viện và sự liên quan giữa nguy cơ tử vong theo thang điểm GRACE với việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo.
Trang 1ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG THUỐC THEO KHUYẾN CÁO ĐIỀU TRỊ
Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH CẤP
Nguyễn ương hảo * , Võ Thị ch hượng * , Huỳnh Ng c Hoàn Mỹ ** ,
ai rần hánh inh *** , Nguyễn Thắng **
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hội chứng vành cấp (HCVC) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
trên thế giới và việc điều trị thường phải kết hợp rất nhiều thuốc, đó c ng là một thách thức cho các chuyên gia y tế
Mục tiêu: Xác định việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị đối với 4 nhóm thuốc chính: thuốc
chống kết tập tiểu, thuốc chẹn thụ thể beta giao cảm (BB), thuốc ức chế men chuyển/thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (ACEi/ARB) và statin tại thời điểm xuất viện và sự liên quan giữa nguy cơ tử vong theo thang điểm GRACE với việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành thu thập hồ sơ bệnh án của các bệnh
nhân HCVC tại các bệnh viện Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí inh để đánh giá việc sử dụng 4 nhóm thuốc chính dựa vào các chỉ số kê đơn Hồi quy logistic đa biến được dùng để xác định sự liên quan giữa nguy cơ
và việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo
Kết quả: Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thuốc chống kết tập tiểu cầu là
98,7%, ACEi/ARB là 95,5%, statin là 95,7%, BB là 70,0% và chỉ có 67,7% bệnh nhân được sử dụng đầy đủ 4 nhóm thuốc chính Bên cạnh đó, việc chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính giữa các nhóm nguy cơ
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,03)
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thuốc theo khuyến cáo điều trị là khá cao, nhất là thuốc chống
kết tập tiểu cầu và thấp nhất là BB Hiện nay có nhiều bằng chứng chỉ rõ lợi ích vượt trội nguy cơ trong việc chỉ định nhóm BB cho bệnh nhân HCVC, vì thế bác sĩ có thể cân nhắc kê thuốc này cho những bệnh nhân đã loại trừ chống chỉ định
Từ khóa: hội chứng vành cấp, nguy cơ tử vong, khuyến cáo điều trị, thang điểm GRACE
ABSTRACT
EVALUATION OF MEDICATION USE ACCORDING TO GUIDELINES
IN PATIENTS WITH ACUTE CORONARY SYNDROME
Nguyen Huong Thao, Vo Thi Bich Phuong, Huynh Ngoc Hoan My, Mai Tran Khanh Linh, Nguyen Thang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 2 - 2020: 153 - 158
Background: Acute coronary syndrome (ACS) is one of the leading causes of death in the world and
treatment often requires a combination of drugs, which is also a challenge for medical experts
Objectives: To determine medication use according to guidelines of four main medications including
antiplatelet, beta blocker (BB), angiotensin-converting enzyme inhibitor/ angiotensin receptor blocker (ACEi/ARB) and statin at discharge, and association between the risk of death (based on GRACE risk score) and the use of medications adhered to guidelines
* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
** Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ *** Trung tâm Y tế Thị xã Tân yên, ình Dương
Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Hương Thảo ĐT: 0918177254 Email: thao.nh@ump.edu.vn
Trang 2Materials and methods: We collected data from medical records of patients with ACS in Can Tho City and
Ho Chi Minh City and evaluated the use of four main medications using prescribing indicators Multivariate logistic regression was used to determine the association between risk groups and medication use in accordance with guidelines
Results: At discharge, results of prescribing indicators were: antiplatelet (98.7%), ACEi / ARB (95.5%),
statin (95.7%), BB (70.0%) and only 67.7% of patients were indicated a combination of all the medications In addition, the prescribing the combination among risk groups was significantly different (p = 0.03)
Conclusions: The rates of patients prescribed with guideline-recommended medications were quite high,
particularly antiplatelet BB was indicated with the lowest rate There is sufficient evidence proving the benefits of BB greater than its risks, so physician should consider prescribing BB to ACS patients who have no contraindications
Keywords: acute coronary syndrome, risk of death, guidelines, GRACE risk score
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới
năm 2015, ước tính khoảng 17,7 triệu người tử
vong vì bệnh lý tim mạch trên toàn cầu, chiếm
31% các trường hợp tử vong do tất cả các
nguyên nhân Trong số các trường hợp tử
vong do bệnh lý tim mạch, có hơn phân nửa
số ca tử vong do HCVC Đến năm 2018, HCVC
vẫn là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu
gây ra tử vong trên toàn cầu, đặc biệt đây
cũng là nguyên nhân gây ra tử vong cao
không chỉ ở các nước có thu nhập thấp đến
trung bình mà còn ở các nước có thu nhập
cao(1,2)
Các bệnh nhân HCVC cần được điều trị kịp
thời và việc điều trị cần dựa vào các hướng
dẫn/khuyến cáo trong và ngoài nước Theo
hướng dẫn/khuyến cáo của Hội Tim Mạch Học
Việt Nam, Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ, Hiệp hội
Tim Mạch Châu Âu các thuốc/nhóm thuốc chính
được sử dụng cho bệnh nhân HCVC khi xuất
viện để phòng ngừa biến cố thứ phát bao gồm
thuốc chống kết tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB và
statin(3-8) Việc sử dụng riêng biệt từng nhóm
thuốc giúp làm giảm các biến cố tim mạch
khoảng 25% và khi kết hợp hợp lý các nhóm
thuốc với nhau thì tỷ lệ này tăng lên 67 – 75%(9)
Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu khảo sát sự
liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và sử
dụng thuốc theo khuyến cáo vẫn còn hạn chế Vì
thế chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với các
mục tiêu: Xác định việc sử dụng thuốc theo
khuyến cáo điều trị đối với 4 nhóm thuốc chính (chống kết tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB và statin) tại thời điểm xuất viện và sự liên quan giữa nguy
cơ tử vong của bệnh nhân (theo thang điểm GRACE) với việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân có chẩn đoán xuất viện là HCVC bao gồm đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT có ST chênh lên và NMCT không ST chênh lên) hoặc nhồi máu cơ tim tiến triển trong khoảng thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2015 tại Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh và có thông tin sống còn trong vòng 1 năm sau xuất viện
Phương pháp nghi n cứu
Thiết kế nghiên cứu
Đoàn hệ tiến cứu
Cỡ mẫu
Tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn và loại trừ mẫu
hương pháp
Việc sử dụng 4 nhóm thuốc chính (chống kết
tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB và statin) tại thời
điểm xuất viện được đánh giá dựa vào 5 chỉ số kê đơn (chống kết tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB, statin, đầy đủ 4 nhóm thuốc chính) Các chỉ số kê đơn này đã được xây dựng từ các nghiên cứu trước đó dựa trên các khuyến cáo của Hội Tim Mạch Học
Trang 3Việt Nam (2008), hướng dẫn của Hiệp hội Tim
Mạch Hoa Kỳ ACC/AHA (2014) và Hiệp hội Tim
Mạch Châu Âu SC (2015), hướng dẫn của Hiệp
hội Tim Mạch Hoa Kỳ ACC/AHA (2013) và Hiệp
hội Tim Mạch Châu Âu ESC (2012)(3-8)
Chỉ số kê đơn được tính toán dựa theo công
thức sau(10):
x 100 (%)
Trong đó:
Bệnh nhân được chỉ định thích hợp là bệnh
nhân thực tế đã được chỉ định trong số các bệnh
nhân được khuyến cáo
Sử dụng thang điểm GRACE 2.0 để phân
nhóm nguy cơ tử vong của bệnh nhân thành 3
nhóm: nhóm nguy cơ cao, nhóm nguy cơ trung
bình và nhóm nguy cơ thấp
Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác
định sự liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và
việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị
Biến phụ thuộc là các chỉ số kê đơn tại thời
điểm xuất viện, bao gồm “thuốc chống kết tập
tiểu cầu”, “ ”, “AC i/ AR ”, “statin”, “đầy đủ 4
nhóm thuốc chính”
Biến độc lập gồm “nhóm nguy cơ tử vong
theo thang điểm GRACE 2.0”, “giới tính”, “chẩn
đoán xuất viện”, “THA”, “ĐTĐ”, “RLLM”, và
“can thiệp ngoại khoa tại bệnh viện”
Các biến này được lựa chọn dựa trên các
nghiên cứu trước đó về các yếu tố liên quan đến
việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị(11-13)
Xử lý số li u
Dữ liệu được phân tích với phần mềm thống
kê Statistical Package for the Social Science 22
(SPSS 22), MedCalc phiên bản 18.5 và Microsoft
Excel 2010
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được sự đồng ý của các bệnh
viện nơi thực hiện nghiên cứu Thông tin của
bệnh nhân hoàn toàn được giữ bí mật và chỉ sử
dụng vì mục đích nghiên cứu
KẾT QUẢ
Có 455 bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 67,6 ± 13
Các kết quả về đặc điểm bệnh nhân được ghi
nhận ở Bảng 1. Việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân HCVC tại thời điểm xuất viện được đánh giá bằng chỉ số kê
đơn được trình bày ở Bảng 2
Kết quả sử dụng thuốc cho bệnh nhân HCVC thuộc các nhóm nguy cơ khác nhau được trình
bày ở Bảng 3
Sự liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị sau khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu được ghi nhận
ở Bảng 4
Bảng 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (N = 455)
nhân
Tỷ lệ phần trăm (%)
Đặ điểm bệnh nhân
Can thiệp ngo i khoa t i bệnh viện Can thiệp ngo i khoa (PCI hoặc
CABG)
Ch đ á x ất viện
Yếu tố g y ơ BMV/bệnh lý kèm theo
P â ó g y ơ ử v g điể g y ơ GRA E 2.0
CABG (Coronary Artery Bypass Grafting - Phẫu thuật bắc
cầu mạch vành); ĐTNKÔĐ – Đau thắt ngực không ổn
định; GRACE - Global Registry of Acute Coronary Events; NMCT – Nhồi máu cơ tim; PCI (Percutaneous Coronary Intervention) – Can thiệp mạch vành qua da
Trang 4Bảng 2 Kết quả các chỉ số kê đơn
Stt Tên chỉ số kê đơn Tổng số bệnh nhân thích hợp cần được chỉ định (N) Tổng số bệnh nhân thích hợp thực tế được chỉ định (n) Chỉ số kê đơn (%)
Bảng 3 Sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị cho bệnh nhân HCVC theo thang điểm GRACE 2.0 khi xuất viện
% (n/N)
N óm nguy ơ trung bìn
% (n/N)
N óm nguy ơ o
Bảng 4 Sự liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị
(*) Nhóm nguy cơ cao (so với nhóm nguy cơ thấp); (OR: Odds Ratio); (95% CI: 95% Confidence Interval)
BÀN LUẬN
Thuốc chống kết tập tiểu cầu
Hầu hết bệnh nhân HCVC được chỉ định
chống kết tập tiểu cầu tại thời điểm xuất viện
(98,7%) và chiếm tỷ lệ cao nhất Kết quả này
cũng tương tự với các nghiên cứu của Duong
ML (2016) 98,8%, Longenecker JC (2012)
98,1%(14,15) Chống kết tập tiểu cầu là liệu pháp cơ
bản đã được chứng minh là đem lại lợi ích lớn
trong điều trị và phòng ngừa thứ phát HCVC,
làm giảm nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch(6)
do đó tỷ lệ bệnh nhân ở các nhóm nguy cơ được
chỉ định chống kết tập tiểu cầu rất cao, cụ thể
96,7% cho nhóm nguy cơ thấp và 100% bệnh
nhân nhóm nguy cơ cao
Thuốc chẹn thụ thể beta giao c m
Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ bệnh nhân
được chỉ định là 70,0%, cao hơn kết quả của
Duong ML (2016) 52,4%(14), nhưng thấp hơn kết
quả của Longenecker JC (2013) 79,1%(15) Khi so
sánh với các nhóm thuốc khác, thì tỷ lệ chỉ định
BB là thấp nhất và việc chỉ định BB giữa các nhóm nguy cơ có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p < 0,001) Cụ thể, nhóm nguy cơ cao được chỉ định ít hơn so với 2 nhóm còn lại (trung bình – thấp) Việc hạn chế chỉ định có thể do sự
lo ngại của bác sĩ về tác dụng phụ làm chậm nhịp tim hay sốc tim, tuy nhiên các nguy cơ này chỉ có thể xảy ra ở nhóm đối tượng có CCĐ Kết quả từ một bài tổng quan cho thấy BB giúp phòng ngừa biến cố tim mạch thứ phát sau NMCT, đồng thời giảm 23% nguy cơ tử vong cho bệnh nhân sau HCVC(16) Điều này cho thấy cần cải thiện hơn nữa việc kê đơn cho các bệnh nhân HCVC không có CCĐ tại thời điểm xuất viện(5)
Thuốc ức chế men chuyển/thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II
Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định ACEi/ARB
là 95,5% Tỷ lệ này cao hơn so với việc chỉ định
Trang 5BB (70,0%), tương đương statin (95,7%), và
thấp hơn chống kết tập tiểu cầu (98,7%) Khi
so sánh với các nghiên cứu trong và ngoài
nước, việc sử dụng ACEi/ARB có phần cao
hơn nghiên cứu của Duong ML (2016)
91,8%(15), Chew DP (2007) 73% (17) Điều này
cho thấy có sự tuân thủ tốt trong việc chỉ định
ACEi/ARB cho bệnh nhân HCVC tại thời điểm
xuất viện trong nghiên cứu này
Statin
Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định statin tương
đối cao (95,7%) Kết quả này tương đồng với kết
quả Duong ML (2016) 94,2%(14) Việc chỉ định
statin cho bệnh nhân thuộc các nhóm nguy cơ
khác nhau là tương tự nhau Việc sử dụng statin
giúp giảm các biến cố tim mạch bao gồm tử vong
do bệnh mạch vành, tái NMCT, các biến cố mạch
máu não và tử vong do tất cả các nguyên nhân
Statin được khuyến cáo chỉ định cho tất cả bệnh
nhân HCVC và nên được bắt đầu càng sớm sàng
tốt(5,18)
Đầy đủ 4 nhóm thuốc chính
Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định đầy đủ 4
nhóm thuốc chính tại thời điểm xuất viện là
67,7% Kết quả này thấp hơn hẳn so với kết quả
sử dụng các nhóm thuốc riêng lẻ, mặc dù đã có
nhiều nghiên cứu chứng minh việc sử dụng đầy
đủ 4 nhóm thuốc chính khi xuất viện giúp cải
thiện hiệu quả điều trị và giảm các biến cố tim
mạch của bệnh nhân Chẳng hạn như kết quả
nghiên cứu của Kaufmann CP và cộng sự (2014)
cho thấy việc sử dụng riêng biệt từng nhóm
thuốc giúp làm giảm các biến cố tim mạch
khoảng 25%, nhưng khi kết hợp hợp lý các nhóm
thuốc với nhau thì tỷ lệ này tăng lên 67 – 75%(9)
Tuy nhiên, kết quả này vẫn cao hơn so với kết
quả của Duong ML (2016) 43,6%, Tra J (2015)
49,1%(14,19) Bên cạnh đó, việc chỉ định đầy đủ 4
nhóm thuốc chính giữa các nhóm nguy cơ có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,03) Điểm
đáng lưu ý là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao
lại ít được chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính
hơn so với 2 nhóm còn lại, có lẽ do bác sĩ còn lo
ngại về tác dụng phụ của BB Vì thế để cải thiện
tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính tại thời điểm xuất viện cần phải cải thiện việc chỉ định , đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao
Với kết quả phân tích hồi quy logistic (Bảng 4),
nguy cơ của bệnh nhân hầu như ít liên quan đến việc chỉ định thuốc tại thời điểm xuất viện, ngoại trừ việc chỉ định BB tại thời điểm xuất viện còn hạn chế và có liên quan đến mức độ nguy cơ của bệnh nhân Nhóm bệnh nhân nguy cơ cao ít được chỉ định hơn nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp (p = 0,019; OR = 0,451; 95% CI: 0,232 – 0,876)
Tỷ lệ chỉ định BB ở nhóm N nguy cơ thấp tương đương nhóm nguy cơ trung bình Điều này có thể được lý giải do bác sĩ lo ngại rằng các nguy cơ của vượt trội hơn so với lợi ích mà thuốc này đem lại cho bệnh nhân Đây có thể là một khó khăn cho bác sĩ khi cân nhắc giữa những lợi ích và các mối nguy hại tiềm ẩn, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao
KẾT LUẬN
Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị là khá cao Việc chỉ định nhóm BB còn hạn chế (đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao) và chỉ
có khoảng hai phần ba bệnh nhân được chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính Nghiên cứu tiếp theo có thể khảo sát ý kiến bác sĩ về khó khăn/thuận lợi trong việc sử dụng các nhóm theo khuyến cáo (đặc biệt là BB), từ đó, có thể cải thiện việc chỉ định nhóm thuốc này cho bệnh nhân HCVC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 World Health Organization (2017) World Health Statistics 2017: Monitoring health for the SDGs URL: https://www.who.int/gho/publications/world_health_statistics/ 2017/en/#:~:targetText=World%20Health%20Statistics%202017
%20compiles,as%20data%20on%20life%20expectancy (access
on 15/7/2019)
2 World Health Organization (2018) The top 10 causes of death: Fact sheets URL: http://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/the-top-10-causes-of-death (access on 15/8/2019)
3 Hội Tim Mạch Học Việt Nam (2008) Khuyến cáo 2008 về
các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa Nhà Xuất Bản Y
Học, TP Hồ Chí Minh
Trang 64 Amsterdam EA, Wenger NK, Brindis RG, Casey DE, et al
(2014) 2014 AHA/ACC guideline for the management of
patients with non-ST-elevation acute coronary syndromes
Circulation, 130(25):e344-426
5 Jneid H, Addison D, Bhatt DL, Fonarow GC, et al (2017) 2017
AHA/ACC clinical performance and quality measures for
adults with st-elevation and non-st-elevation myocardial
infarction: a report of the american college of
cardiology/american heart association task force on
performance measures J Am Coll Cardiol, 70(16):2048-2090
6 Marco R, Carlo P, Collet JP (2016) 2015 ESC Guidelines for the
management of acute coronary syndromes in patients
presenting without persistent ST-segment elevation European
Heart Journal, 37:267-315
7 O’Gara PT, Kushner G, Ascheim DD, Casey D , et al (2013)
2013 ACCF/AHA guideline for the management of
ST-elevation myocardial infarction Circulation, 127(4):e362-e425
8 Steg PG, James SK, Atar D, Badano LP et al (2012) ESC
Guidelines for the management of acute myocardial infarction
in patients presenting with ST-segment elevation European
Heart Journal, 33(20):2569-2619
9 Kaufmann CP, Tremp R, Hersberger KE, Lampert ML (2014)
Inappropriate prescribing: a systematic overview of published
assessment tools Eur J Clin Pharmacol, 70(1):1-11
10 Đặng Vạn Phước (2006) Bệnh động mạch vành trong
thực hành lâm sàng, pp.13-48 Nhà Xuất Bản Y Học,
TP Hồ Chí Minh
11 Võ Thị ích Phượng, Nguyễn Thắng, Nguyễn Hương Thảo
(2015) Khảo sát và đánh giá việc điều trị bệnh nhân sau hội
chứng vành cấp ở một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí
Minh Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 19(S3):380-385
12 Chen HY, Saczynski JS, Lapane KL, et al (2015) Adherence to
evidence-based secondary prevention pharmacotherapy in
patients after an acute coronary syndrome: A systematic
review Heart & Lung, 44(4):299-308
13 Roe MT, Peterson ED, Chen A, et al (2006) The influence of risk
status on guideline adherence for patients with
non-ST-segment elevation acute coronary syndromes American Heart
Journal, 151(6):1205-1213
14 Duong LM, Nguyen HQ, Nguyen TH (2016) Adherence to clinical practice guidelines on prescribing for patients with acute coronary syndrome in Vietnamese hospital practice and
its association with clinical outcomes Mahidol Univ J Pharm Sci,
43(3):143-152
15 Longenecker JC, Alfaddagh A, Zubaid M, Rashed W, et al (2013) Adherence to ACC/AHA performance measures for myocardial infarction in six Middle-Eastern countries: association with in-hospital mortality and clinical
characteristics Int J Cardiol, 167(4):1406-1411
16 Freemantle N, Cleland J, Young P, Mason J, et al (1999) Beta Blockade after myocardial infarction: systematic review and
meta regression analysis BMJ, 318(7200):1730-1737
17 Chew DP, Amerena J, Coverdale S, Rankin J, et al (2007) Current management of acute coronary syndromes in Australia: observations from the acute coronary syndromes
prospective audit Intern Med J, 37(11):741-748
18 Ibanez B, James S, Agewall S, Antunes MJ, et al (2018) 2017 ESC Guidelines for the management of acute myocardial infarction in patients presenting with ST-segment elevation: The Task Force for the management of acute myocardial infarction in patients presenting with ST-segment elevation of
the European Society of Cardiology (ESC) Eur Heart J,
39(2):119-177
19 Tra J, van der Wulp I, Appelman Y, de Bruijne MC, Wagner C (2015) Adherence to guidelines for the prescription of secondary prevention medication at hospital discharge after
acute coronary syndrome: a multicentre study Neth Heart J,
23(4):214–221
Ngày nhận bài báo: 22/10/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/10/2019 Ngày bài báo được đăng: 20/03/2020