1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị ở bệnh nhân hội chứng vành cấp

6 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị đối với 4 nhóm thuốc chính: Thuốc chống kết tập tiểu, thuốc chẹn thụ thể beta giao cảm (BB), thuốc ức chế men chuyển/thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (ACEi/ARB) và statin tại thời điểm xuất viện và sự liên quan giữa nguy cơ tử vong theo thang điểm GRACE với việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG THUỐC THEO KHUYẾN CÁO ĐIỀU TRỊ

Ở BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG VÀNH CẤP

Nguyễn ương hảo * , Võ Thị ch hượng * , Huỳnh Ng c Hoàn Mỹ ** ,

ai rần hánh inh *** , Nguyễn Thắng **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hội chứng vành cấp (HCVC) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong

trên thế giới và việc điều trị thường phải kết hợp rất nhiều thuốc, đó c ng là một thách thức cho các chuyên gia y tế

Mục tiêu: Xác định việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị đối với 4 nhóm thuốc chính: thuốc

chống kết tập tiểu, thuốc chẹn thụ thể beta giao cảm (BB), thuốc ức chế men chuyển/thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (ACEi/ARB) và statin tại thời điểm xuất viện và sự liên quan giữa nguy cơ tử vong theo thang điểm GRACE với việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành thu thập hồ sơ bệnh án của các bệnh

nhân HCVC tại các bệnh viện Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí inh để đánh giá việc sử dụng 4 nhóm thuốc chính dựa vào các chỉ số kê đơn Hồi quy logistic đa biến được dùng để xác định sự liên quan giữa nguy cơ

và việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo

Kết quả: Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thuốc chống kết tập tiểu cầu là

98,7%, ACEi/ARB là 95,5%, statin là 95,7%, BB là 70,0% và chỉ có 67,7% bệnh nhân được sử dụng đầy đủ 4 nhóm thuốc chính Bên cạnh đó, việc chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính giữa các nhóm nguy cơ

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,03)

Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thuốc theo khuyến cáo điều trị là khá cao, nhất là thuốc chống

kết tập tiểu cầu và thấp nhất là BB Hiện nay có nhiều bằng chứng chỉ rõ lợi ích vượt trội nguy cơ trong việc chỉ định nhóm BB cho bệnh nhân HCVC, vì thế bác sĩ có thể cân nhắc kê thuốc này cho những bệnh nhân đã loại trừ chống chỉ định

Từ khóa: hội chứng vành cấp, nguy cơ tử vong, khuyến cáo điều trị, thang điểm GRACE

ABSTRACT

EVALUATION OF MEDICATION USE ACCORDING TO GUIDELINES

IN PATIENTS WITH ACUTE CORONARY SYNDROME

Nguyen Huong Thao, Vo Thi Bich Phuong, Huynh Ngoc Hoan My, Mai Tran Khanh Linh, Nguyen Thang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 24 - No 2 - 2020: 153 - 158

Background: Acute coronary syndrome (ACS) is one of the leading causes of death in the world and

treatment often requires a combination of drugs, which is also a challenge for medical experts

Objectives: To determine medication use according to guidelines of four main medications including

antiplatelet, beta blocker (BB), angiotensin-converting enzyme inhibitor/ angiotensin receptor blocker (ACEi/ARB) and statin at discharge, and association between the risk of death (based on GRACE risk score) and the use of medications adhered to guidelines

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ *** Trung tâm Y tế Thị xã Tân yên, ình Dương

Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Hương Thảo ĐT: 0918177254 Email: thao.nh@ump.edu.vn

Trang 2

Materials and methods: We collected data from medical records of patients with ACS in Can Tho City and

Ho Chi Minh City and evaluated the use of four main medications using prescribing indicators Multivariate logistic regression was used to determine the association between risk groups and medication use in accordance with guidelines

Results: At discharge, results of prescribing indicators were: antiplatelet (98.7%), ACEi / ARB (95.5%),

statin (95.7%), BB (70.0%) and only 67.7% of patients were indicated a combination of all the medications In addition, the prescribing the combination among risk groups was significantly different (p = 0.03)

Conclusions: The rates of patients prescribed with guideline-recommended medications were quite high,

particularly antiplatelet BB was indicated with the lowest rate There is sufficient evidence proving the benefits of BB greater than its risks, so physician should consider prescribing BB to ACS patients who have no contraindications

Keywords: acute coronary syndrome, risk of death, guidelines, GRACE risk score

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới

năm 2015, ước tính khoảng 17,7 triệu người tử

vong vì bệnh lý tim mạch trên toàn cầu, chiếm

31% các trường hợp tử vong do tất cả các

nguyên nhân Trong số các trường hợp tử

vong do bệnh lý tim mạch, có hơn phân nửa

số ca tử vong do HCVC Đến năm 2018, HCVC

vẫn là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu

gây ra tử vong trên toàn cầu, đặc biệt đây

cũng là nguyên nhân gây ra tử vong cao

không chỉ ở các nước có thu nhập thấp đến

trung bình mà còn ở các nước có thu nhập

cao(1,2)

Các bệnh nhân HCVC cần được điều trị kịp

thời và việc điều trị cần dựa vào các hướng

dẫn/khuyến cáo trong và ngoài nước Theo

hướng dẫn/khuyến cáo của Hội Tim Mạch Học

Việt Nam, Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ, Hiệp hội

Tim Mạch Châu Âu các thuốc/nhóm thuốc chính

được sử dụng cho bệnh nhân HCVC khi xuất

viện để phòng ngừa biến cố thứ phát bao gồm

thuốc chống kết tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB và

statin(3-8) Việc sử dụng riêng biệt từng nhóm

thuốc giúp làm giảm các biến cố tim mạch

khoảng 25% và khi kết hợp hợp lý các nhóm

thuốc với nhau thì tỷ lệ này tăng lên 67 – 75%(9)

Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu khảo sát sự

liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và sử

dụng thuốc theo khuyến cáo vẫn còn hạn chế Vì

thế chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với các

mục tiêu: Xác định việc sử dụng thuốc theo

khuyến cáo điều trị đối với 4 nhóm thuốc chính (chống kết tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB và statin) tại thời điểm xuất viện và sự liên quan giữa nguy

cơ tử vong của bệnh nhân (theo thang điểm GRACE) với việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân có chẩn đoán xuất viện là HCVC bao gồm đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT có ST chênh lên và NMCT không ST chênh lên) hoặc nhồi máu cơ tim tiến triển trong khoảng thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2015 tại Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh và có thông tin sống còn trong vòng 1 năm sau xuất viện

Phương pháp nghi n cứu

Thiết kế nghiên cứu

Đoàn hệ tiến cứu

Cỡ mẫu

Tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn và loại trừ mẫu

hương pháp

Việc sử dụng 4 nhóm thuốc chính (chống kết

tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB và statin) tại thời

điểm xuất viện được đánh giá dựa vào 5 chỉ số kê đơn (chống kết tập tiểu cầu, BB, ACEi/ARB, statin, đầy đủ 4 nhóm thuốc chính) Các chỉ số kê đơn này đã được xây dựng từ các nghiên cứu trước đó dựa trên các khuyến cáo của Hội Tim Mạch Học

Trang 3

Việt Nam (2008), hướng dẫn của Hiệp hội Tim

Mạch Hoa Kỳ ACC/AHA (2014) và Hiệp hội Tim

Mạch Châu Âu SC (2015), hướng dẫn của Hiệp

hội Tim Mạch Hoa Kỳ ACC/AHA (2013) và Hiệp

hội Tim Mạch Châu Âu ESC (2012)(3-8)

Chỉ số kê đơn được tính toán dựa theo công

thức sau(10):

x 100 (%)

Trong đó:

Bệnh nhân được chỉ định thích hợp là bệnh

nhân thực tế đã được chỉ định trong số các bệnh

nhân được khuyến cáo

Sử dụng thang điểm GRACE 2.0 để phân

nhóm nguy cơ tử vong của bệnh nhân thành 3

nhóm: nhóm nguy cơ cao, nhóm nguy cơ trung

bình và nhóm nguy cơ thấp

Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác

định sự liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và

việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị

Biến phụ thuộc là các chỉ số kê đơn tại thời

điểm xuất viện, bao gồm “thuốc chống kết tập

tiểu cầu”, “ ”, “AC i/ AR ”, “statin”, “đầy đủ 4

nhóm thuốc chính”

Biến độc lập gồm “nhóm nguy cơ tử vong

theo thang điểm GRACE 2.0”, “giới tính”, “chẩn

đoán xuất viện”, “THA”, “ĐTĐ”, “RLLM”, và

“can thiệp ngoại khoa tại bệnh viện”

Các biến này được lựa chọn dựa trên các

nghiên cứu trước đó về các yếu tố liên quan đến

việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị(11-13)

Xử lý số li u

Dữ liệu được phân tích với phần mềm thống

kê Statistical Package for the Social Science 22

(SPSS 22), MedCalc phiên bản 18.5 và Microsoft

Excel 2010

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được sự đồng ý của các bệnh

viện nơi thực hiện nghiên cứu Thông tin của

bệnh nhân hoàn toàn được giữ bí mật và chỉ sử

dụng vì mục đích nghiên cứu

KẾT QUẢ

Có 455 bệnh nhân được lựa chọn vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 67,6 ± 13

Các kết quả về đặc điểm bệnh nhân được ghi

nhận ở Bảng 1. Việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân HCVC tại thời điểm xuất viện được đánh giá bằng chỉ số kê

đơn được trình bày ở Bảng 2

Kết quả sử dụng thuốc cho bệnh nhân HCVC thuộc các nhóm nguy cơ khác nhau được trình

bày ở Bảng 3

Sự liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị sau khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu được ghi nhận

ở Bảng 4

Bảng 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (N = 455)

nhân

Tỷ lệ phần trăm (%)

Đặ điểm bệnh nhân

Can thiệp ngo i khoa t i bệnh viện Can thiệp ngo i khoa (PCI hoặc

CABG)

Ch đ á x ất viện

Yếu tố g y ơ BMV/bệnh lý kèm theo

P â ó g y ơ ử v g điể g y ơ GRA E 2.0

CABG (Coronary Artery Bypass Grafting - Phẫu thuật bắc

cầu mạch vành); ĐTNKÔĐ – Đau thắt ngực không ổn

định; GRACE - Global Registry of Acute Coronary Events; NMCT – Nhồi máu cơ tim; PCI (Percutaneous Coronary Intervention) – Can thiệp mạch vành qua da

Trang 4

Bảng 2 Kết quả các chỉ số kê đơn

Stt Tên chỉ số kê đơn Tổng số bệnh nhân thích hợp cần được chỉ định (N) Tổng số bệnh nhân thích hợp thực tế được chỉ định (n) Chỉ số kê đơn (%)

Bảng 3 Sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị cho bệnh nhân HCVC theo thang điểm GRACE 2.0 khi xuất viện

% (n/N)

N óm nguy ơ trung bìn

% (n/N)

N óm nguy ơ o

Bảng 4 Sự liên quan giữa nguy cơ của bệnh nhân và việc sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị

(*) Nhóm nguy cơ cao (so với nhóm nguy cơ thấp); (OR: Odds Ratio); (95% CI: 95% Confidence Interval)

BÀN LUẬN

Thuốc chống kết tập tiểu cầu

Hầu hết bệnh nhân HCVC được chỉ định

chống kết tập tiểu cầu tại thời điểm xuất viện

(98,7%) và chiếm tỷ lệ cao nhất Kết quả này

cũng tương tự với các nghiên cứu của Duong

ML (2016) 98,8%, Longenecker JC (2012)

98,1%(14,15) Chống kết tập tiểu cầu là liệu pháp cơ

bản đã được chứng minh là đem lại lợi ích lớn

trong điều trị và phòng ngừa thứ phát HCVC,

làm giảm nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch(6)

do đó tỷ lệ bệnh nhân ở các nhóm nguy cơ được

chỉ định chống kết tập tiểu cầu rất cao, cụ thể

96,7% cho nhóm nguy cơ thấp và 100% bệnh

nhân nhóm nguy cơ cao

Thuốc chẹn thụ thể beta giao c m

Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ bệnh nhân

được chỉ định là 70,0%, cao hơn kết quả của

Duong ML (2016) 52,4%(14), nhưng thấp hơn kết

quả của Longenecker JC (2013) 79,1%(15) Khi so

sánh với các nhóm thuốc khác, thì tỷ lệ chỉ định

BB là thấp nhất và việc chỉ định BB giữa các nhóm nguy cơ có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p < 0,001) Cụ thể, nhóm nguy cơ cao được chỉ định ít hơn so với 2 nhóm còn lại (trung bình – thấp) Việc hạn chế chỉ định có thể do sự

lo ngại của bác sĩ về tác dụng phụ làm chậm nhịp tim hay sốc tim, tuy nhiên các nguy cơ này chỉ có thể xảy ra ở nhóm đối tượng có CCĐ Kết quả từ một bài tổng quan cho thấy BB giúp phòng ngừa biến cố tim mạch thứ phát sau NMCT, đồng thời giảm 23% nguy cơ tử vong cho bệnh nhân sau HCVC(16) Điều này cho thấy cần cải thiện hơn nữa việc kê đơn cho các bệnh nhân HCVC không có CCĐ tại thời điểm xuất viện(5)

Thuốc ức chế men chuyển/thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II

Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định ACEi/ARB

là 95,5% Tỷ lệ này cao hơn so với việc chỉ định

Trang 5

BB (70,0%), tương đương statin (95,7%), và

thấp hơn chống kết tập tiểu cầu (98,7%) Khi

so sánh với các nghiên cứu trong và ngoài

nước, việc sử dụng ACEi/ARB có phần cao

hơn nghiên cứu của Duong ML (2016)

91,8%(15), Chew DP (2007) 73% (17) Điều này

cho thấy có sự tuân thủ tốt trong việc chỉ định

ACEi/ARB cho bệnh nhân HCVC tại thời điểm

xuất viện trong nghiên cứu này

Statin

Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định statin tương

đối cao (95,7%) Kết quả này tương đồng với kết

quả Duong ML (2016) 94,2%(14) Việc chỉ định

statin cho bệnh nhân thuộc các nhóm nguy cơ

khác nhau là tương tự nhau Việc sử dụng statin

giúp giảm các biến cố tim mạch bao gồm tử vong

do bệnh mạch vành, tái NMCT, các biến cố mạch

máu não và tử vong do tất cả các nguyên nhân

Statin được khuyến cáo chỉ định cho tất cả bệnh

nhân HCVC và nên được bắt đầu càng sớm sàng

tốt(5,18)

Đầy đủ 4 nhóm thuốc chính

Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định đầy đủ 4

nhóm thuốc chính tại thời điểm xuất viện là

67,7% Kết quả này thấp hơn hẳn so với kết quả

sử dụng các nhóm thuốc riêng lẻ, mặc dù đã có

nhiều nghiên cứu chứng minh việc sử dụng đầy

đủ 4 nhóm thuốc chính khi xuất viện giúp cải

thiện hiệu quả điều trị và giảm các biến cố tim

mạch của bệnh nhân Chẳng hạn như kết quả

nghiên cứu của Kaufmann CP và cộng sự (2014)

cho thấy việc sử dụng riêng biệt từng nhóm

thuốc giúp làm giảm các biến cố tim mạch

khoảng 25%, nhưng khi kết hợp hợp lý các nhóm

thuốc với nhau thì tỷ lệ này tăng lên 67 – 75%(9)

Tuy nhiên, kết quả này vẫn cao hơn so với kết

quả của Duong ML (2016) 43,6%, Tra J (2015)

49,1%(14,19) Bên cạnh đó, việc chỉ định đầy đủ 4

nhóm thuốc chính giữa các nhóm nguy cơ có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,03) Điểm

đáng lưu ý là nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao

lại ít được chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính

hơn so với 2 nhóm còn lại, có lẽ do bác sĩ còn lo

ngại về tác dụng phụ của BB Vì thế để cải thiện

tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính tại thời điểm xuất viện cần phải cải thiện việc chỉ định , đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao

Với kết quả phân tích hồi quy logistic (Bảng 4),

nguy cơ của bệnh nhân hầu như ít liên quan đến việc chỉ định thuốc tại thời điểm xuất viện, ngoại trừ việc chỉ định BB tại thời điểm xuất viện còn hạn chế và có liên quan đến mức độ nguy cơ của bệnh nhân Nhóm bệnh nhân nguy cơ cao ít được chỉ định hơn nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp (p = 0,019; OR = 0,451; 95% CI: 0,232 – 0,876)

Tỷ lệ chỉ định BB ở nhóm N nguy cơ thấp tương đương nhóm nguy cơ trung bình Điều này có thể được lý giải do bác sĩ lo ngại rằng các nguy cơ của vượt trội hơn so với lợi ích mà thuốc này đem lại cho bệnh nhân Đây có thể là một khó khăn cho bác sĩ khi cân nhắc giữa những lợi ích và các mối nguy hại tiềm ẩn, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao

KẾT LUẬN

Tại thời điểm xuất viện, tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng thuốc theo khuyến cáo điều trị là khá cao Việc chỉ định nhóm BB còn hạn chế (đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao) và chỉ

có khoảng hai phần ba bệnh nhân được chỉ định đầy đủ 4 nhóm thuốc chính Nghiên cứu tiếp theo có thể khảo sát ý kiến bác sĩ về khó khăn/thuận lợi trong việc sử dụng các nhóm theo khuyến cáo (đặc biệt là BB), từ đó, có thể cải thiện việc chỉ định nhóm thuốc này cho bệnh nhân HCVC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 World Health Organization (2017) World Health Statistics 2017: Monitoring health for the SDGs URL: https://www.who.int/gho/publications/world_health_statistics/ 2017/en/#:~:targetText=World%20Health%20Statistics%202017

%20compiles,as%20data%20on%20life%20expectancy (access

on 15/7/2019)

2 World Health Organization (2018) The top 10 causes of death: Fact sheets URL: http://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/the-top-10-causes-of-death (access on 15/8/2019)

3 Hội Tim Mạch Học Việt Nam (2008) Khuyến cáo 2008 về

các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa Nhà Xuất Bản Y

Học, TP Hồ Chí Minh

Trang 6

4 Amsterdam EA, Wenger NK, Brindis RG, Casey DE, et al

(2014) 2014 AHA/ACC guideline for the management of

patients with non-ST-elevation acute coronary syndromes

Circulation, 130(25):e344-426

5 Jneid H, Addison D, Bhatt DL, Fonarow GC, et al (2017) 2017

AHA/ACC clinical performance and quality measures for

adults with st-elevation and non-st-elevation myocardial

infarction: a report of the american college of

cardiology/american heart association task force on

performance measures J Am Coll Cardiol, 70(16):2048-2090

6 Marco R, Carlo P, Collet JP (2016) 2015 ESC Guidelines for the

management of acute coronary syndromes in patients

presenting without persistent ST-segment elevation European

Heart Journal, 37:267-315

7 O’Gara PT, Kushner G, Ascheim DD, Casey D , et al (2013)

2013 ACCF/AHA guideline for the management of

ST-elevation myocardial infarction Circulation, 127(4):e362-e425

8 Steg PG, James SK, Atar D, Badano LP et al (2012) ESC

Guidelines for the management of acute myocardial infarction

in patients presenting with ST-segment elevation European

Heart Journal, 33(20):2569-2619

9 Kaufmann CP, Tremp R, Hersberger KE, Lampert ML (2014)

Inappropriate prescribing: a systematic overview of published

assessment tools Eur J Clin Pharmacol, 70(1):1-11

10 Đặng Vạn Phước (2006) Bệnh động mạch vành trong

thực hành lâm sàng, pp.13-48 Nhà Xuất Bản Y Học,

TP Hồ Chí Minh

11 Võ Thị ích Phượng, Nguyễn Thắng, Nguyễn Hương Thảo

(2015) Khảo sát và đánh giá việc điều trị bệnh nhân sau hội

chứng vành cấp ở một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí

Minh Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 19(S3):380-385

12 Chen HY, Saczynski JS, Lapane KL, et al (2015) Adherence to

evidence-based secondary prevention pharmacotherapy in

patients after an acute coronary syndrome: A systematic

review Heart & Lung, 44(4):299-308

13 Roe MT, Peterson ED, Chen A, et al (2006) The influence of risk

status on guideline adherence for patients with

non-ST-segment elevation acute coronary syndromes American Heart

Journal, 151(6):1205-1213

14 Duong LM, Nguyen HQ, Nguyen TH (2016) Adherence to clinical practice guidelines on prescribing for patients with acute coronary syndrome in Vietnamese hospital practice and

its association with clinical outcomes Mahidol Univ J Pharm Sci,

43(3):143-152

15 Longenecker JC, Alfaddagh A, Zubaid M, Rashed W, et al (2013) Adherence to ACC/AHA performance measures for myocardial infarction in six Middle-Eastern countries: association with in-hospital mortality and clinical

characteristics Int J Cardiol, 167(4):1406-1411

16 Freemantle N, Cleland J, Young P, Mason J, et al (1999) Beta Blockade after myocardial infarction: systematic review and

meta regression analysis BMJ, 318(7200):1730-1737

17 Chew DP, Amerena J, Coverdale S, Rankin J, et al (2007) Current management of acute coronary syndromes in Australia: observations from the acute coronary syndromes

prospective audit Intern Med J, 37(11):741-748

18 Ibanez B, James S, Agewall S, Antunes MJ, et al (2018) 2017 ESC Guidelines for the management of acute myocardial infarction in patients presenting with ST-segment elevation: The Task Force for the management of acute myocardial infarction in patients presenting with ST-segment elevation of

the European Society of Cardiology (ESC) Eur Heart J,

39(2):119-177

19 Tra J, van der Wulp I, Appelman Y, de Bruijne MC, Wagner C (2015) Adherence to guidelines for the prescription of secondary prevention medication at hospital discharge after

acute coronary syndrome: a multicentre study Neth Heart J,

23(4):214–221

Ngày nhận bài báo: 22/10/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/10/2019 Ngày bài báo được đăng: 20/03/2020

Ngày đăng: 14/07/2021, 09:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w