1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát đặc điểm sử dụng kháng sinh nội trú trong điều trị viêm phổi cộng đồng tại một bệnh viện hạng I thành phố Hồ Chí Minh

8 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát việc sử dụng kháng sinh, đánh giá tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh và xác định các yếu tố liên quan đến khả năng thất bại điều trị trên bệnh nhân viêm phổi cộng đồng.

Trang 1

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG KHÁNG SINH NỘI TRÚ TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG

TẠI MỘT BỆNH VIỆN HẠNG I THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thiên Dung 1 , Nguyễn Như Hồ 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Viêm phổi cộng đồng là một trong các nguyên nhân gây nhập viện và tử vong hàng đầu trên

thế giới cũng như ở Việt Nam Bệnh nhân viêm phổi cộng đồng đa phần là người cao tuổi mắc nhiều bệnh kèm khiến cho việc điều trị gặp nhiều khó khăn Do đó, việc sử dụng kháng sinh điều trị một cách hợp lý cần phải được đánh giá thường xuyên

Mục tiêu: Khảo sát việc sử dụng kháng sinh, đánh giá tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh và xác định các

yếu tố liên quan đến khả năng thất bại điều trị trên bệnh nhân viêm phổi cộng đồng

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 530 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được chẩn

đoán viêm phổi cộng đồng nhập viện điều trị từ tháng 4/2019 đến tháng 12/2019 tại một bệnh viện hạng I, TP

Hồ Chí Minh Tính hợp lý kháng sinh được đánh giá dựa trên hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y Tế năm

2015 và hướng dẫn điều trị viêm phổi cộng đồng của IDSA/ATS năm 2007

Kết quả: Tuổi trung vị của dân số nghiên cứu là 77 (65 – 83), tỷ lệ nam nữ chênh lệch không đáng kể Hầu

hết bệnh nhân có ít nhất một bệnh mắc kèm, đặc biệt là bệnh tim mạch 59,1% bệnh nhân được đánh giá viêm phổi nhẹ theo thang điểm CURB-65 Levofloxacin là kháng sinh được chỉ định phổ biến nhất cho bệnh nhân viêm phổi cộng đồng trong quá trình nằm viện (58,1% trường hợp) Cefoperazon đơn trị (20,7%) và phối hợp levofloxacin + cefoperazon (18,2%) là 2 phác đồ kinh nghiệm có tần suất sử dụng cao nhất Tỷ lệ hợp lý chung của kháng sinh kinh nghiệm là 35,1% Số lượng các yếu tố bất ổn định trên lâm sàng là yếu tố liên quan đến sự tăng khả năng thất bại điều trị ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng

Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy cần phải cải thiện sự tuân thủ các phác đồ kháng sinh kinh nghiệm

hiện hành trong điều trị viêm phổi cộng đồng và tình trạng ổn định trên lâm sàng cần phải được đánh giá nghiêm ngặt hơn trước khi bệnh nhân xuất viện

Từ khóa: viêm phổi cộng đồng, sử dụng kháng sinh

INVESTIGATION ON THE CHARACTERISTICS OF ANTIBIOTIC USE AMONG

COMMUNITY-ACQUIRED INPATIENTS AT A GRADE 1 HOSPITAL, HO CHI MINH CITY

Nguyen Thien Dung, Nguyen Nhu Ho

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 135 - 142

Background: Community-acquired pneumonia (CAP) is one of the major causes of hospital admissions and

mortality not only worldwide but also in Vietnam The majority of CAP patients are elderly people having many cormobidities, which is a challenge for treatment Therefore, the appropriateness of antibiotic use for CAP treatment needs to be investigated thoroughly

Aim: This study aimed to investigate the characteristics of antibiotic use, evaluate the appropriateness of

antibiotic use and factors associated with treatment failure among CAP patients

Methods: A cross-sectional study was conducted on 530 medical records of inpatients diagnosed with CAP

from April 2019 to December 2019 at a Grade 1 hospital, Ho Chi Minh City Rational use of empiric antibiotic was evaluated using the 2015 Ministry of Health guideline and the 2007 ATS/IDSA consensus guideline

1 Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Nguyễn Như Hồ ĐT: 0907381818 Email: nhnguyen@ump.edu

Trang 2

Results: The median age of the population was 77 (65 – 84); the difference between the proportions of male

and female is negligible Most patients had at least 1 comorbidity, especially cardiovascular diseases 59.1% of patients had mild pneumonia based on the CURB-65 score Levofloxacin was the most common antibiotic prescribed for CAP patients during hospital stay (58.1% of cases) Monotherapy with cefoperazone (20.7%) and combination therapy of levofloxacin + cefoperazone (18.2%) are two regimens that were selected most frequently

as empirical antibiotic therapies Rational use of empirical antibiotic regimens was observed in 35.1% of patients The number of clinical instabilities was associated with the higher odds of treatment failure

Conclusions: Results from this study emphasize the importance of choosing proper empirical antibiotic

regimens and patients’ clinical stability status needed to be assessed more strictly prior to discharge

Keywords: community-acquired pneumonia, antibiotic use

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm phổi cộng đồng là một trong những

nguyên nhân gây nhập viện và tử vong hàng

đầu thế giới Ước tính có khoảng 5 triệu ca viêm

phổi cộng đồng mỗi năm tại Hoa Kỳ với tỷ lệ

mắc mới ước tính 12/1000 người, có thể tăng đến

12 – 18/1000 người trên đối tượng trẻ em dưới 4

tuổi và 20/1000 đối với người trên 60 tuổi(1) Tại

Việt Nam, viêm phổi chiếm 12% các bệnh về

phổi Trong số các bệnh nhân điều trị tại khoa

Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai từ 1996 – 2000 có

9,6% bệnh nhân viêm phổi và đứng thứ tư trong

tổng số bệnh nhân đến điều trị tại khoa(2)

Hiện nay, các hướng dẫn chẩn đoán và điều

trị viêm phổi cộng đồng đã được đưa vào sử

dụng rộng rãi trong lâm sàng trên thế giới cũng

như tại Việt Nam(3,4) Tuy nhiên, tình trạng đề

kháng kháng sinh gia tăng cùng với đặc điểm

bệnh nhân thường là người cao tuổi có nhiều

bệnh kèm khiến cho việc điều trị gặp nhiều khó

khăn(1,5) Phần lớn bệnh nhân có thể được điều

trị ngoại trú với tỷ lệ tử vong thấp (< 5%), trong

khi tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân điều trị nội trú

khá cao, dao động từ 12% đến 40%, tùy thuộc

vào khoa điều trị là khoa lâm sàng hay đơn vị

chăm sóc tích cực(1)

Với mong muốn đề xuất các biện pháp giúp

sử dụng kháng sinh một cách hợp lý, hiệu quả,

an toàn, đồng thời xác định được những bệnh

nhân có nguy cơ gặp thất bại trong điều trị,

nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu khảo sát

việc sử dụng kháng sinh, đánh giá tính hợp lý

trong sử dụng kháng sinh và xác định các yếu tố

liên quan đến khả năng thất bại điều trị trên bệnh nhân viêm phổi cộng đồng tại một bệnh viện hạng I, TP Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán viêm phổi điều trị nội trú trong thời gian từ tháng 04/2019 đến tháng 12/2019 và có sử dụng ít

nhất một loại kháng sinh

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân viêm phổi bệnh viện (khởi phát viêm phổi sau hơn 48 giờ kể từ lúc nhập viện);

có thời gian điều trị dưới 5 ngày; nhiễm lao phổi thể đang hoạt động; nhiễm HIV; trốn viện hoặc

hồ sơ bệnh án không tiếp cận được

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Bối cảnh nghiên cứu

Bệnh viện hạng I tại TP Hồ Chí Minh với quy mô 800 giường, tiếp nhận khoảng 600 lượt

thăm khám và điều trị nội trú mỗi ngày

Cỡ mẫu

Tất cả bệnh án thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ trong thời gian

từ 01/04/2019 đến 31/12/2019

Các tiêu chí khảo sát

Đặc điểm chung của bệnh nhân, mức độ nặng viêm phổi, đặc điểm và tính hợp lý sử dụng kháng sinh điều trị

Trang 3

Định nghĩa và qu ư c

Thang điểm CURB-65 được sử dụng để

đánh giá mức độ nặng viêm phổi Bệnh nhân có

điểm CURB-65 từ 0 – 1 được đánh giá là viêm

phổi nhẹ, CURB-65 bằng 2 được đánh giá là

viêm phổi trung bình và CURB-65 từ 3 trở lên

được đánh giá là viêm phổi nặng(6)

Độ lọc cầu thận ước tính (eGF ) được tính

bằng công thức MDRD(7)

Công thức tính

186 x SCr-1,154 x tuổi-0.203 (x 0,742 nếu là nữ)

(đơn vị: mL/phút/1,73 m2)

Trong đó, SCr là nồng độ creatinin huyết

thanh (đơn vị: mg/dL)

Bệnh phẩm là mẫu đàm hoặc mẫu máu,

được chỉ định xét nghiệm vi sinh trong vòng 48

giờ kể từ khi bệnh nhân nhập viện Vi khuẩn đa

kháng thuốc (MDR) khi không nhạy với ít nhất 3

kháng sinh thuộc 3 nhóm khác nhau(8)

Tính hợp lý kháng sinh: được đánh giá

thông qua 3 tiêu chí loại kháng sinh, đường

dùng, liều dùng, dựa trên hướng dẫn sử dụng

kháng sinh của Bộ Y Tế 2015 và hướng dẫn

điều trị viêm phổi cộng đồng của IDSA/ATS

2007(3,4) Liều và đường dùng kháng sinh được

đánh giá là hợp lý khi tuân thủ ít nhất một

trong các hướng dẫn tham khảo hoặc các cơ

sở dữ liệu Lexicomp, Dược Thư quốc gia Việt

Nam 2015 và hướng dẫn sử dụng của nhà sản

xuất Kháng sinh được đánh giá là hợp lý

chung khi hợp lý về cả 3 tiêu chí loại kháng

sinh, đường dùng và liều dùng

Bệnh nhân có bất kỳ yếu tố nào trong các

yếu tố sau đây trong vòng 24 giờ trước thời

điểm xuất viện đều được xem là chưa đạt

trạng thái ổn định trên lâm sàng(4): i) thân

nhiệt > 37,8 oC; ii) nhịp tim > 100 lần/phút;

iii) nhịp thở > 24 lần/phút; iv) huyết áp tâm

thu < 90 mmHg; v) độ bão hòa oxy máu động

mạch < 90% hoặc pO2 < 60 mmHg (khí trời); vi)

không có khả năng ăn uống qua đường miệng;

vii) tình trạng tri giác bất thường

Phương pháp xử lý số liệu

Các dữ liệu được nhập, quản lý và lưu trữ bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 Các phép kiểm thống kê được thực hiện bằng phần mềm IBM SPSS 20 Thống kê mô tả được sử dụng để trình bày đặc điểm của mẫu nghiên cứu Các biến định lượng được biểu diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (TB ± SD) hoặc trung

vị (khoảng tứ phân vị) Các biến định tính được

mô tả theo tỷ lệ phần trăm Mô hình hồi quy logistic đa biến được áp dụng để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố khảo sát và khả năng điều trị thất bại

KẾT QUẢ Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Có tổng cộng 530 hồ sơ bệnh án được đưa vào nghiên cứu Dân số nghiên cứu có tuổi trung vị là 77 (65 – 83), với tuổi cao nhất ghi nhận được là 103 tuổi và thấp nhất là 30 tuổi Tỷ lệ nam và nữ của dân số nghiên cứu chênh lệch không đáng kể (48,1% so với 51,9%) Có 36,1% bệnh nhân có chức năng thận suy giảm với eGFR < 60 mL/phút/1,73 m2 Trung vị eGFR ban đầu được ghi nhận là 67,7 (53,7 – 82,3) mL/phút/1,73 m2 Hầu hết những bệnh nhân trong nghiên cứu có ít nhất một bệnh mắc kèm (99,1%) Trung vị số lượng bệnh mắc kèm là 5 (4 – 6), dao động từ 0 đến 11 bệnh kèm Trung vị chỉ số bệnh kèm Charlson được ghi nhận là 1 (0 – 2), với điểm số cao nhất và thấp nhất lần lượt là 9 và 0 điểm Có 526 bệnh nhân

đủ dữ liệu để đánh giá các tiêu chí của thang điểm CURB-65 Trung vị điểm CURB-65 của dân

số nghiên cứu là 1 (1 – 2), phân bố từ 0 đến 4 Đặc điểm chung về dịch tễ và viêm phổi của

dân số nghiên cứu được trình bày tại Bảng 1

Đặc điểm sử dụng kháng sinh của dân số nghiên cứu

Thời gian sử dụng kháng sinh

Số ngày sử dụng kháng sinh có trung vị là 13 (9 – 15), dao động từ 3 đến 57 ngày Dữ liệu về thời gian sử dụng kháng sinh được trình bày

trong Bảng 2

Trang 4

Bảng 1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (n = 530)

Nữ 275 (51,9) Tuổi

< 65 116 (21,9)

65 – 74 121 (22,8)

≥ 75 293 (55,3) eGFR ban đầu

(mL/phút/1,73

m2)

(n = 529)

eGFR ≥ 90 90 (17,0)

90 > eGFR ≥ 60 248 (46,9)

60 > eGFR ≥ 30 159 (30,1) eGFR < 30 32 (6)

Số lượng bệnh

mắc kèm

≥ 1 525 (99,1)

Loại bệnh kèm

Tăng huyết áp 438 (82,6) Bệnh mạch vành 356 (67,2) Bệnh mạch máu não 88 (16,6) Suy tim 98 (18,5) Đái tháo đường 183 (34,5) Bệnh thận mạn 42 (7,9) COPD 78 (14,7) Ung thư 28 (5,3) Chỉ số bệnh mắc

kèm Charlson

0 134 (25,3)

≥ 1 396 (74,7)

Khoa điều trị

Nội hô hấp 110 (20,8) Cấp cứu hô hấp 87 (16,4) Nội tim mạch 87 (16,4) Nội tổng hợp 68 (12,8) Cấp cứu tim mạch 39 (7,4) Lão học 40 (7,5) Khoa khác 99 (18,7)

Điểm CURB-65

(n = 526)

Viêm phổi nhẹ 0 75 (14,3)

1 236 (44,9) Viêm phổi trung bình 2 166 (31,6) Viêm phổi nặng 3 39 (7,4)

4 10 (1,9)

Bảng 2 Thời gian sử dụng kháng sinh của bệnh

nhân trong mẫu nghiên cứu

8 – 14 ngày 310 58,5

15 – 21 ngày 89 16,8

Trung vị (IQR) 13 (9 – 15)

Tần suất các háng sinh được sử dụng

Tần suất các kháng sinh được sử dụng trong

suốt quá trình điều trị viêm phổi cộng đồng của

mẫu nghiên cứu được trình bày trong Bảng 3

Bảng 3 Tần suất các kháng sinh sử dụng của mẫu

nghiên cứu (n = 530)

Nhóm kháng

Tần suất Tỷ lệ (%)

β-lactam

Amoxicillin/clavulanat 117 22,1 Cefuroxim 18 3,4 Cefoxitin 5 0,9 Cefaclor 1 0,2 Cefoperazon 289 54,5 Cefoperazon/sulbactam 115 21,7 Ceftazidim 3 0,6 Cefepim 3 0,6 Ticarcillin/clavulanat 21 4,0 Piperacillin/tazobactam 14 2,6 Imipenem/cilastatin 78 14,7 Meropenem 9 1,7 Ertapenem 15 2,8 Doripenem 17 3,2 Fluoroquinolon

Levofloxacin 308 58,1 Ciprofloxacin 56 10,6 Moxifloxacin 40 7,5 Macrolid Azithromycin 6 1,1 Aminoglycosid Amikacin 50 9,4 Lincosamid Clindamycin 15 2,8 Glycopeptid Vancomycin 21 4,0

Teicoplanin 15 2,8 Oxazolidinon Linezolid 17 3,2 Polymyxin Colistin 22 4,2 Tetracyclin Doxycyclin 10 1,9

Trong suốt quá trình điều trị, levofloxacin là kháng sinh có tần suất sử dụng cao nhất (58,1%) Một số kháng sinh khác cũng có tần suất sử dụng cao là cefoperazon (54,5%), amoxicillin/clavulanat (22,1%) và cefoperazon/sulbactam (21,7%)

Phác đồ và loại kháng sinh kinh nghiệm

Có 527 trong số 530 bệnh nhân của mẫu nghiên cứu được sử dụng kháng sinh kinh nghiệm Những trường hợp không dùng kháng sinh kinh nghiệm là do bác sĩ trì hoãn dùng kháng sinh cho đến khi có kết quả kháng sinh đồ Tần suất các phác đồ kháng sinh kinh nghiệm theo nhóm kháng sinh được mô tả ở

Bảng 4

Kháng sinh nhóm β-lactam đơn trị và phối hợp β-lactam + fluoroquinolon là hai phác đồ thường dùng nhất (44,6% và 39,7%)

Trang 5

Trong phác đồ đơn trị, các kháng sinh được

sử dụng với tỷ lệ cao nhất là cefoperazon (36,3%)

và amoxicillin/clavulanat (23,0%) Đối với phác

đồ phối hợp 2 kháng sinh, cefoperazon +

levofloxacin (18,2%) và cefoperazon/sulbactam +

levofloxacin (7,6%) là các phối hợp kháng sinh

được sử dụng nhiều nhất Trong khi đó, kháng

sinh nhóm macrolid gồm có azithromycin chỉ

được sử dụng trong 3 trường hợp, chiếm 0,6%

Bảng 4 Phác đồ kháng sinh kinh nghiệm trong mẫu

nghiên cứu (n = 527)

Đơn trị

β-lactam 235 44,6 Fluoroquinolon 64 12,1 Lincosamid 1 0,2

Phối hợp 2

β-lactam + fluoroquinolon 209 39,7

β-lactam + macrolid 3 0,6

β-lactam + lincosamid 2 0,4

β-lactam + aminoglycosid 7 1,3

β-lactam + glycopeptid 2 0,4

β-lactam + oxazolidinon 2 0,4

Phối hợp 3

β-lactam + fluoroquinolon +

lincosamid 1 0,2 β-lactam + fluoroquinolon +

glycopeptid 1 0,2

Tính hợp lý kháng sinh kinh nghiệm

Tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh kinh

nghiệm được trình bày trong Bảng 5

Bảng 5 Tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh kinh

nghiệm trong mẫu nghiên cứu

Loại kháng sinh (n = 527) 263 49,9

Đường dùng (n = 263) 252 95,8

Liều dùng (n = 263) 193 73,4

Tính hợp lý chung (n = 527) 185 35,1

Tỷ lệ lựa chọn loại kháng sinh hợp lý chiếm

49,9% Các trường hợp sử dụng kháng sinh kinh

nghiệm không hợp lý đa số thuộc các

nguyên nhân phối hợp kháng sinh thay vì

đơn trị theo khuyến cáo trên bệnh nhân viêm

phổi nhẹ (n = 106), không phối hợp kháng sinh

theo khuyến cáo đối với viêm phổi trung bình

hoặc nặng (n = 80) hoặc thay đổi kháng sinh

trong vòng 48 giờ (n = 47) Tỷ lệ sử dụng kháng

sinh đ ng liều lượng chỉ chiếm 73,4% số trường hợp lựa chọn đ ng loại kháng sinh Levofloxacin

là kháng sinh được ghi nhận có tần suất dùng liều không phù hợp cao nhất (n = 64)

Kết quả điều trị

Trung vị thời gian nằm viện của mẫu nghiên cứu là 14 (11 – 18) ngày, dao động từ 5 – 129 ngày

Đa số bệnh nhân xuất viện mà không có dấu hiệu bất ổn định trên lâm sàng (75,7%) Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị thành công và thất bại lần lượt là 85,7% và 14,3% Dữ liệu về hiệu quả

điều trị được trình bày tại Bảng 6

Bảng 6 Hiệu quả điều trị của mẫu nghiên cứu (n = 530)

(%)

Thời gian nằm viện

≤ 7 ngày 39 7,4

8 – 14 ngày 240 45,3

15 – 21 ngày 164 30,9

> 21 ngày 87 16,4 Trung vị (IQR) 14 (11 – 18)

Số lượng dấu hiệu bất ổn định trên lâm sàng thời điểm xuất viện

Trung vị (IQR) 0 (0 – 0) Hiệu quả điều trị

Thành công Khỏi 7 1,3

Đỡ 447 84,3 Thất bại Không thay đổi 35 6,6

Nặng hơn 41 7,7

Các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị

Các yếu tố liên quan đến khả năng điều trị

thất bại được trình bày trong Bảng 7

Bảng 7 Các yếu tố liên quan đến khả năng điều trị

thất bại (n = 530)

Khoảng tin cậy 95% Giới hạn dưới hạn trên Giới

Tuổi 0,333 1,016 0,983 1,051 Giới tính 0,158 1,642 0,825 3,271 Điểm CURB-65 0,993 0,998 0,649 1,535 Chỉ số bệnh kèm

Charlson 0,447 1,090 0,873 1,360 Nhiễm vi khuẩn đa

kháng 0,372 1,428 0,654 3,119 Tính hợp lý về loại

kháng sinh kinh nghiệm 0,067 0,528 0,267 1,046

Số lượng yếu tố bất ổn định trên lâm sàng thời điểm xuất viện <0,001 3,601 2,666 4,863

Trang 6

Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến

cho thấy số lượng yếu tố bất ổn định trên lâm

sàng có liên quan đến sự tăng khả năng điều trị

thất bại (OR = 3,601; 95% CI: 2,666 – 4,863)

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Nghiên cứu ghi nhận có 78,1% bệnh nhân là

người cao tuổi Tuổi cao là một yếu tố nguy cơ

mắc viêm phổi cộng đồng do sự suy giảm các

phản xạ hầu họng, giảm khả năng bài tiết chất

nhầy đường hô hấp, hệ miễn dịch suy giảm hoặc

mắc các bệnh lý làm giảm chức năng của tim

hoặc phổi(9) Giới tính của mẫu nghiên cứu tương

đồng với một nghiên cứu đa trung tâm tại Việt

Nam(10) Đa số bệnh nhân có chức năng thận suy

giảm theo thang phân loại của KDIGO 2012

(83,0%) Chúng tôi ghi nhận 99,1% dân số nghiên

cứu có ít nhất một bệnh mắc k m, trong đó các

bệnh tim mạch có tần suất mắc cao nhất

Mặc dù chỉ khảo sát bệnh nhân nội trú, tỷ lệ

viêm phổi nhẹ theo thang điểm CURB-65 chiếm

59,1% Nguyên nhân do phần lớn dân số nghiên

cứu là người cao tuổi mắc nhiều bệnh kèm

Viêm phổi có thể làm nặng thêm các tình trạng

bệnh kèm, do đó bệnh nhân cần được điều trị

nội tr dù có điểm CURB-65 thấp

Đặc điểm sử dụng kháng sinh của dân số

nghiên cứu

Thời gian sử dụng kháng sinh

Trung vị thời gian sử dụng kháng sinh của

mẫu nghiên cứu là 12 ngày, cao hơn khoảng thời

gian khuyến cáo điều trị của Bộ Y Tế 2015 đối

với viêm phổi do tác nhân viêm phổi điển hình

(7 – 10 ngày)(3) Một nghiên cứu tổng quan hệ

thống đã cho thấy người trưởng thành mắc viêm

phổi cộng đồng mức độ nhẹ hay trung bình có

thể được điều trị một cách hiệu quả và an toàn

bằng một liệu trình kháng sinh kéo dài 7 ngày

hoặc ngắn hơn(11) Tuy nhiên, đa số bệnh nhân

trong nghiên cứu được sử dụng kháng sinh với

thời gian dài hơn cần thiết có thể do tỷ lệ nhiễm

vi khuẩn đa kháng cao tại bệnh viện Bên cạnh

đó, nhân viên y tế thường có xu hướng sử dụng

kháng sinh đủ thời gian phác đồ 7 ngày, 10 ngày, hoặc 14 ngày

Tần suất các háng sinh được sử dụng

Các β-lactam được khuyến cáo trong các hướng dẫn điều trị như ampicillin/sulbactam, cefuroxim, cefpodoxim, ceftriaxon và cefotaxim không được sử dụng hoặc được sử dụng với tần suất rất thấp, trong khi đó, cefoperazon được sử dụng với tỷ lệ cao nhất Cefoperazon là một cephalosporin thế hệ ba có phổ tương tự ceftriaxon hay cefotaxim Với ưu điểm là không cần phải chỉnh liều theo chức năng thận, cefoperazon có lẽ được ưa chuộng hơn(12) Levofloxacin và amoxicillin/clavulanat cũng là những kháng sinh thường được sử dụng trong mẫu nghiên cứu, phù hợp với các hướng dẫn tham khảo(3,4) Những kháng sinh nhóm carbapenem, aminoglycosid, glycopeptid chỉ được sử dụng sau khi bệnh nhân đã thất bại với phác đồ kinh nghiệm nên có tần suất thấp

Phác đồ và loại kháng sinh kinh nghiệm

Tỷ lệ bệnh nhân được dùng phác đồ kinh nghiệm đơn trị và phối hợp tương đồng với nghiên cứu của Nie X M và cộng sự tại Trung Quốc(13) Trong phác đồ đơn trị, cefoperazon có tỷ lệ

sử dụng cao nhất do có ưu điểm không cần phải chỉnh liều theo chức năng thận Amoxicillin/clavulanat cũng chiếm tỷ lệ cao trong phác đồ đơn trị, phù hợp với hướng dẫn điều trị viêm phổi cộng đồng mức độ nhẹ của Bộ

Y Tế 2015(3) Phác đồ phối hợp 2 kháng sinh thường được

sử dụng cho bệnh nhân viêm phổi cộng đồng mức độ trung bình hoặc nặng, trong đó phối hợp β-lactam và fluoroquinolon chiếm 92,9% β-lactam thường được sử dụng là cefoperazon hoặc cefoperazon/sulbactam, phối hợp với levofloxacin Levofloxacin được sử dụng phổ biến do đây là kháng sinh phụ thuộc nồng độ với chế độ liều 1 lần/ngày, khả năng thấm tốt vào mô phổi, có phổ trên các vi khuẩn không điển hình(12) và cũng là kháng sinh được khuyến cáo sử dụng trong các phác đồ tham khảo(3,4)

Trang 7

Macrolid vốn là kháng sinh đầu tay trong

điều trị viêm phổi cộng đồng trong các hướng

dẫn hiện hành nhưng lại có tỷ lệ sử dụng rất

thấp (1,1%) Nguyên nhân có thể do Việt Nam

nằm trong vùng dịch tễ của phế cầu đề kháng

macrolid với tỷ lệ nhạy với macrolid được báo

cáo là dưới 14% trong nghiên cứu SOAR

2016-2018(5) Trong khi đó, phế cầu được báo cáo là

vẫn còn nhạy cảm với fluoroquinolon (tỷ lệ nhạy

cảm trên 90%)(5) Có thể vì lý do này mà nhân

viên y tế thường ưu tiên lựa chọn

fluoroquinolon đơn trị thay cho phối hợp

β-lactam cộng macrolid trong điều trị viêm phổi

nhẹ, fluoroquinolon cộng β-lactam thay cho

macrolid cộng β-lactam trong các trường hợp

viêm phổi trung bình và nặng

Tính hợp lý kháng sinh kinh nghiệm

Có 263/527 (49,9%) bệnh nhân được lựa chọn

loại kháng sinh kinh nghiệm phù hợp Nhiều

nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng kháng

sinh kinh nghiệm phù hợp với khuyến cáo có

liên quan đến sự giảm tỷ lệ tử vong và thời gian

nằm viện của bệnh nhân viêm phổi cộng

đồng(14,15) Thông thường hầu hết bệnh nhân cần

phải được điều trị bằng kháng sinh trong khi

chưa xác định được tác nhân gây bệnh Do đó,

các hướng dẫn điều trị đóng vai trò quan trọng

trong việc định hướng lựa chọn kháng sinh tại

cơ sở y tế

Tỷ lệ kháng sinh sử dụng không hợp lý về

liều là 26,6%, trong đó phần lớn là levofloxacin

(91,4%) được sử dụng với liều cao hơn mức

liều khuyến cáo Nguyên nhân có thể do

levofloxacin có giới hạn cần chỉnh liều khá cao

(CrCl < 50 ml/phút) và nhân viên y tế thường

sử dụng eGFR làm cơ sở chỉnh liều thay vì

CrCl tính bằng công thức Cockcroft-Gault

Tỷ lệ hợp lý chung (về loại, đường dùng và

liều dùng) của kháng sinh kinh nghiệm trong

nghiên cứu là 35,1%, tương đồng với nghiên cứu

của Nguyễn Thị Hoàng Yến tại Việt Nam

(36,5%)(16), cho thấy có khoảng cách khá lớn giữa

các hướng dẫn điều trị tham khảo và thực hành

lâm sàng Điều này có thể được giải thích do

nhiều nguyên nhân Thứ nhất, nghiên cứu hồi cứu chỉ đánh giá mức độ nặng của viêm phổi thông qua công cụ hỗ trợ là thang điểm

CURB-65 và các hướng dẫn điều trị, trong khi lâm sàng của bệnh nhân mới là yếu tố quan trọng nhất để đưa ra các quyết định sử dụng kháng sinh Thứ hai, nhiều bệnh nhân nhập viện khi đã thất bại với kháng sinh ngoại trú khiến cho bác sĩ bắt đầu điều trị bằng phác đồ phối hợp hoặc kháng sinh phổ rộng để bao phủ cả vi khuẩn điển hình, không điển hình và các trực khuẩn gram âm kháng thuốc Tuy nhiên, hiệu quả điều trị thấy

rõ trên lâm sàng cùng với tính đơn giản dễ sử dụng của các kháng sinh phổ rộng khiến cho sự tuân thủ phác đồ điều trị gặp nhiều khó khăn

Hi u quả điều trị

Có 24,3% bệnh nhân được xuất viện với ít nhất một dấu hiệu bất ổn định trên lâm sàng Việc đánh giá tình trạng ổn định trên lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống hoặc ngừng kháng sinh

Tỷ lệ bệnh nhân điều trị thành công là 85,7%, tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Yến tại bệnh viện đa khoa khu vực

Củ Chi (87,9%)(16) Nhìn chung, việc đánh giá hiệu quả điều trị viêm phổi cộng đồng thực tế rất phức tạp và liên quan đến nhiều yếu tố gồm đáp ứng lâm sàng, đáp ứng cận lâm sàng và đáp ứng vi sinh Trên thực tế tại bệnh viện, xét nghiệm vi sinh và các chỉ dấu viêm như C P và procalcitonin thường không được chỉ định lại trước khi bệnh nhân xuất viện nếu như nhân viên y tế đánh giá lâm sàng đã ổn định Do đó, chúng tôi chỉ có thể đánh giá điều trị là thành công hay thất bại dựa vào ghi chép trong hồ sơ bệnh án

Các yếu tố liên q a đến thất bại điều trị

Kết quả phương trình hồi quy logistic đa biến cho thấy số lượng yếu tố bất ổn định trên lâm sàng có liên quan đến khả năng điều trị thất bại Kết quả này phù hợp với y văn, theo đó việc bệnh nhân xuất viện khi chưa đạt được tình trạng lâm sàng có liên quan đến khả năng gặp

Trang 8

các biến cố bất lợi như tử vong hoặc tái nhập

viện trên bệnh nhân viêm phổi cộng đồng(17)

Ngoài ra, phương trình hồi quy logistic đa biến

cũng cho thấy việc lựa chọn kháng sinh kinh

nghiệm phù hợp có liên quan đến sự giảm khả

năng thất bại điều trị mặc dù không có ý nghĩa

thống kê

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã cung cấp thông tin về đặc

điểm bệnh nhân, đặc điểm viêm phổi, đặc điểm

sử dụng kháng sinh và một số yếu tố liên quan

đến thất bại điều trị viêm phổi cộng đồng tại

một bệnh viện hạng I tại TP Hồ Chí Minh

Từ các kết quả của nghiên cứu, nhân viên y tế

cần phải tuân thủ các phác đồ hiện hành trong

việc lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm trong điều

trị viêm phổi cộng đồng và cần đảm bảo bệnh

nhân đạt được tình trạng ổn định trên lâm sàng

trước khi xuất viện để tránh các biến cố bất lợi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Mandell LA, Wunderink R (2018) Pneumonia In: Jameson JL

Harrison's Principles of Internal Medicine, 20 th ed, pp.908-919

McGraw-Hill Education, New York

2 Ngô Quý Châu (2012) Viêm phổi In: Ngô Quý Châu (eds) Bệnh

Học Nội Khoa Tập 1, pp 14-27 Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội

3 Bộ Y Tế (2015) Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, pp 76-81 Nhà

Xuất Bản Y Học, Hà Nội

4 Mandell LA, Wunderink RG, Anzueto A, et al (2007) Infectious

diseases society of America/American thoracic society

consensus guidelines on the management of

community-acquired pneumonia in adults Clinical Infectious Diseases,

44(S2):S27-S72

5 Torumkuney D, Van P, Thinh L, et al (2020) Results from the

survey of antibiotic resistance (SOAR) 2016–18 in Vietnam,

Cambodia, Singapore and the Philippines: data based on CLSI,

EUCAST (dose-specific) and pharmacokinetic/pharmacodynamic

(PK/PD) breakpoints Journal of Antimicrobial Chemotherapy,

75(S1):i19-i42

6 Lim WS, Van der Eerden MM, Laing R, et al (2003) Defining

community acquired pneumonia severity on presentation to

hospital: an international derivation and validation study

Thorax, 58(5):377-382

7 Bauer LA (2008) Drug dosing in special populations: renal and hepatic disease, dialysis, heart failure, obesity, and drug interactions In: Bauer LA Applied Clinical Pharmacokinetics,

2 nd ed, pp.52-93 McGraw-Hill Companies, New York

8 Magiorakos AP, Srinivasan A, Carey R, et al (2012) Multidrug-resistant, extensively drug-resistant and pandrug-resistant bacteria: an international expert proposal for interim standard

definitions for acquired resistance Clinical Microbiology and

Infection, 18(3):268-281

9 Cunha B (2001) Pneumonia in the elderly Clinical Microbiology

and Infection, 7(11):581-588

10 Takahashi K, Suzuki M, Anh NH, et al (2013) The incidence and aetiology of hospitalised community-acquired pneumonia among Vietnamese adults: a prospective surveillance in Central

Vietnam BMC Infectious Diseases, 13(1):296

11 Li JZ, Winston LG, Moore DH, et al (2007) Efficacy of short-course antibiotic regimens for community-acquired pneumonia:

a meta-analysis The American Journal of Medicine, 120(9):783-790

12 Brunton LL, Hilal-Dandan R, Knollmann BC (2017) Goodman

& Gilman's: The pharmacological basis of therapeutics, 13 th ed

McGraw-Hill Education New York

13 Nie XM, Li YS, Yang ZW, et al (2018) Initial empiric antibiotic therapy for community-acquired pneumonia in Chinese

hospitals Clinical Microbiology and Infection, 24(6):658-e1

14 Costantini E, Allara E, Patrucco F (2016) Adherence to guidelines for hospitalized community-acquired pneumonia over time and its impact on health outcomes and mortality

Internal and Emergency Medicine, 11(7):929-940

15 Lui G, To HKW, Lee N, et al (2020) Adherence to treatment guideline improves patient outcomes in a prospective cohort of

adults hospitalized for community-acquired pneumonia Open

Forum Infectious Diseases 7(5):ofaa146 doi: 10.1093/ofid/ofaa146

16 Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đặng Nguyễn Đoan Trang (2020) Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng trên bệnh nhân nội trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Củ

Chi Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 24(2):32-38

17 Dagan E, Novack V, Porath A (2006) Adverse outcomes in patients with community acquired pneumonia discharged with clinical instability from internal medicine department

Scandinavian Journal of Infectious Diseases, 38(10):860-866

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/01/2021 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2021

Ngày đăng: 14/07/2021, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm