1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central P

8 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) với biến chứng cấp tính thuyên tắc phổi là một trong những vấn đề y khoa có thể xảy ra ở bệnh nhân sau phẫu thuật. Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ LÂM SÀNG

TRONG DỰ PHÒNG THUYÊN TẮC HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH

TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC CENTRAL PARK

Trịnh Thị Thanh Nhã 1 , Phan Quỳnh Lan 1 , Nguyễn Tuấn D ng 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) với biến chứng cấp tính thuyên tắc phổi là một trong

những vấn đề y khoa có thể xảy ra ở bệnh nhân sau phẫu thuật

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh

mạch trên bệnh nhân phẫu thuật

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, kết hợp so sánh 2 giai đoạn trước và

sau can thiệp, được thực hiện trên 206 bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, tiết niệu hoặc chấn thương chỉnh hình từ

18 tuổi trở lên tại khoa Ngoại - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Central Park trong hai khoảng thời gian: trước can thiệp (01-04/2019) và sau can thiệp (01-07/2020)

Kết quả: Sau khi có can thiệp của dược sĩ lâm sàng đã có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê tính phù hợp trong

đánh giá nguy cơ và lựa chọn biện pháp dự phòng VTE (tăng từ 59,4% lên 97,0%, p < 0,05), trong chỉ định thực hiện dự phòng VTE (tăng từ 71,4% lên 91,8%, p = 0,001) và tính phù hợp chung trong dự phòng VTE (tăng từ 42,5% lên 88,0%, p < 0,05) Tỷ lệ phù hợp trong dự phòng bằng thuốc cũng tăng từ 80,0% lên 92,0% nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,625)

Kết luận: Sự can thiệp của dược sĩ lâm sàng đã làm tăng tính phù hợp chung trong dự phòng VTE trên

bệnh nhân phẫu thuật Cần tiếp tục duy trì hoạt động can thiệp của dược sĩ lâm sàng để tăng hiệu quả điều trị dự phòng huyết khối cho bệnh nhân

Từ khóa: dự phòng, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, bệnh nhân phẫu thuật, dược sĩ lâm sàng

ABSTRACT

EVALUATION OF THE E ECTIVENESS O C INICA PHARMACISTS’ INTERVENTION

IN THE PREVENTION OF VENOUS THROMBOEMBOLISM

IN SURGICAL PATIENTS AT VINMEC CENTRAL PARK HOSPITAL

Trinh Thi Thanh Nha, Phan Quynh Lan, Nguyen Tuan Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 119 - 126

Background: Venous thromboembolism (VTE) with pulmonary embolism as the acute complication is one of

the medical issues that could occur in post-operative patients

Objectives: To evaluate the effectiveness of clinical pharmacists’ intervention in the prevention of venous

thromboembolism in surgical patients

Materials and methods: We conducted a retrospective (before-after) study in 206 patients undergoing

gastrointestinal, urogenital or orthopedic operations aged 18 and older at the General Surgery Ward at Vinmec International Hospital during two periods: before intervention (January-April in 2019) and after intervention

1 Khoa Dược, Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec

2 Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Tuấn Dũng ĐT: 0903343832 Email: tuandungdls@gmail.com

Trang 2

(January-July in 2020)

Results: After clinical pharmacists’ interventions, there has been a statistically significant increase in the

rate of the appropriate risk evaluation and choice of VTE prophylaxis method (from 59.4% to 97.0%, p < 0.05), the number of patients indicated VTE prophylaxis (from 71.4% to 91.8%, p = 0.001) and the overall appropriateness

in VTE prophylaxis (from 42.5% to 88.0%, p < 0.05) The appropriate rate of pharmacologic prophylaxis also increased from 80.0% to 92.0% but the higher propotions is not statistically significant (p = 0,625)

Conclusion: The interventions carried out by clinical pharmacists have increased the appropriateness in

VTE prophylaxis of surgical patients It is necessary to continue to maintain the interventions of clinical pharmacists to increase the effectiveness of thromboprophylaxis for patients

Keywords: prophylaxis, venous thromboembolism, surgical patients, clinical pharmacists

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nhân trải qua phẫu thuật là nhóm đối

tượng có nguy cơ hình thành thuyên tắc huyết

khối tĩnh mạch Khi không điều trị dự phòng,

nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới là

25% và nguy cơ thuyên tắc phổi là 1,6% ở nhóm

bệnh nhân phẫu thuật ngoại khoa tổng quát Ở

nhóm bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh

hình, nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu có thể

lên đến hơn 50%(1).Vì vậy, trong thực hành lâm

sàng dự phòng VTE đã trở thành một chiến lược

hàng đầu nhằm cải thiện an toàn cho người

bệnh(2-5). Mặc dù đã có nhiều hướng dẫn dự

phòng được ban hành, một số nghiên cứu chứng

minh việc dự phòng huyết khối chưa thật sự tối

ưu trong thực hành tại các bệnh viện cũng như

chưa phải là hoạt động thường quy tại các bệnh

viện châu Á(6-7) Tại Việt Nam, việc dự phòng

VTE ở bệnh nhân sau phẫu thuật còn mới và

chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này

Hệ thống y tế Vinmec đã phát hành hướng

dẫn chung về dự phòng VTE từ tháng 08/2015,

tuy nhiên kết quả nghiên cứu thực trạng dự

phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh

nhân phẫu thuật tại bệnh viện Vinmec Times City

năm 2018 cho thấy chỉ có 28,5% bệnh nhân được

bác sĩ đánh giá nguy cơ thuyên tắc huyết khối

tĩnh mạch và tỷ lệ bệnh nhân dự phòng phù hợp

trong nhóm có đánh giá nguy cơ thuyên tắc huyết

khối tĩnh mạch là 45,9%(8) Thực trạng dự phòng

VTE trên bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện

Vinmec Central Park chưa được tổng hợp, đánh

giá Tham khảo mô hình các bệnh viện trên thế

giới, dược sĩ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các can thiệp giúp làm giảm tỷ lệ mắc VTE có liên quan bệnh viện, thông qua việc

hỗ trợ đáng kể cho chương trình dự phòng VTE của bệnh viện(9,10).

Với những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng (DSLS) trong dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật Qua đó mong muốn

có được những dữ liệu để hỗ trợ cho việc ra quyết định của Hội đồng chuyên môn bệnh viện

để công tác dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tại bệnh viện đạt hiệu quả tốt nhất

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ bệnh nhân phẫu thuật tại khoa Ngoại - Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Central Park nhập viện trong khoảng thời gian

từ tháng 01/2019 đến 04/2019 (trước can thiệp)

và từ tháng 01/2020 đến 07/2020 (sau can thiệp) thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ

Tiêu chuẩn lựa chọn:

Bệnh nhân đủ 18 tuổi trở lên

Bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, phẫu thuật chấn thương chỉnh hình hoặc phẫu thuật tiết niệu

Tiêu chuẩn loại trừ:

Bệnh nhân xuất viện hoặc chuyển viện trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật

Bệnh nhân đang được điều trị thuốc chống đông vì bệnh lý khác từ trước phẫu thuật

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu, kết hợp so

sánh 2 giai đoạn trước và sau can thiệp

Phương pháp lấy mẫu

Lấy mẫu toàn bộ

Các tiêu chí khảo sát

Tỷ lệ bệnh nhân được đánh giá nguy cơ và

lựa chọn biện pháp dự phòng phù hợp

Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thực hiện

dự phòng sau khi được đánh giá và lựa chọn

biện pháp dự phòng phù hợp

Tỷ lệ phù hợp trong dự phòng bằng thuốc

(lựa chọn thuốc, liều dùng, thời điểm dùng và

thời gian sử dụng)

Tỷ lệ phù hợp chung trong dự phòng VTE

(phù hợp cả 3 tiêu chí trên: đánh giá và lựa

chọn biện pháp dự phòng, chỉ định thực hiện

dự phòng và thuốc)

Căn cứ đá h iá

Nguy cơ huyết khối

Bệnh nhân phẫu thuật ngoại chung dựa

trên thang điểm Caprini(2)

Bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh

hình dựa theo loại phẫu thuật chỉnh hình được

thực hiện và các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân(3)/

Nguy cơ chảy máu

Dựa trên nguy cơ chảy máu của từng loại

phẫu thuật và nguy cơ chảy máu của bệnh

nhân theo thang điểm IMPROVE(11)

Tính phù hợp

Tính phù hợp trong dự phòng thuyên tắc

huyết khối tĩnh mạch được căn cứ theo hướng

dẫn của Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec cập

nhật vào tháng 12/2019, trên cơ sở tham khảo

hướng dẫn dự phòng huyết khối của ACCP

2012(2,3) và Hội tim mạch học Việt Nam 2016(12)..

Phương pháp xử lý và phân tích số li u

Sử dụng phần mềm SPSS 25.0 và Microsoft

Excel 2016 để phân tích số liệu Lấy độ tin cậy

95%, mọi sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Sử dụng phép kiểm chi bình phương để so sánh tỷ lệ của các nhóm Sử dụng phép kiểm Mann-Whitney (nếu phân phối không chuẩn), t-test (nếu phân phối chuẩn) để so sánh kết quả trung bình giữa hai nhóm

Vấ đề đức

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec và Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh (số quyết định 739/HĐĐĐ) phê duyệt chấp thuận trước khi tiến hành

KẾT QUẢ Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Các đặc điểm chung về tuổi, giới tính, thời gian nằm viện sau mổ; đặc điểm phẫu thuật và phân tầng nguy cơ huyết khối, nguy cơ chảy máy của 2 nhóm bệnh nhân giai đoạn trước và sau khi can thiệp khác nhau không có ý nghĩa

thống kê với p > 0,05 (Bảng 1) Tuy nhiên, đặc

điểm về phân nhóm BMI giữa 2 nhóm khác nhau với p = 0,027

Các hoạt động can thi p của dược sĩ lâm sàng

Hư ng dẫn dự phòng VTE c a bệnh viện

Dược sĩ lâm sàng phối hợp với bác sĩ đề xuất chỉnh sửa 2 hướng dẫn liên quan, kết quả bệnh viện Vinmec đã phát hành cập nhật nội dung 2 hướng dẫn dự phòng huyết khối trên bệnh nhân phẫu thuật ngoại chung và bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, kèm phiếu đánh giá nguy cơ huyết khối để sử dụng trong hồ sơ bệnh án (HSBA) vào tháng 12/2019

Tổ chức sinh hoạt khoa học tại khoa Ngoại

Giới thiệu các nội dung mới cập nhật trong 2 hướng dẫn dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật mới phát hành với các bác sĩ

Can thiệp trực tiếp

Chi tiết nội dung và số lượng can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong thời gian nghiên cứu

Trang 4

(tháng 1/2020 – 07/2020) được tổng kết trong

Bảng 2

Bảng 1 Đặc điểm của bệnh nhân giai đoạn trước

và sau can thiệp

Chỉ tiêu điểm Đặc Trước can thiệp

(n = 106)

Sau can thiệp (n = 100)

p Đặc điểm chung

Tuổi, năm Trung vị (IQR1;

IQR3)

46 (33 ; 60) (33; 55) 0,213 38

Nhóm tuổi, n (%)

0,263

41 - 60 38 (35,8%) 27 (27,0%)

61 - 74 20 (18,9%) 14 (14,0%)

BMI (kg/m2), n

Thời gian nằm

viện sau mổ

(ngày)

Trung vị (IQR1;

IQR3)

Đặc điểm phẫu thuật

Thời gian phẫu

thuật, (phút)

Trung vị (IQR1;

IQR3)

51 (35; 90) 53 (31; 97) 0,928 Phân nhóm thời

gian phẫu thuật,

Chuyên khoa Tiêu hóa 56 (52,8%) 65 (65,0%)

0,170 Chỉnh

Tiết niệu 13 (12,3%) 7 (7,0%)

Đặc điểm nguy cơ huyết khối và chảy máu

Nguy cơ huyết

khối

0,120 Trung

Nguy cơ

chảy máu

(100,0%) 98 (98,0%) 0,234

Đánh giá hi u quả can thi p của dược sĩ lâm sàng

Hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng được đánh giá dựa vào so sánh kết quả các tiêu chí khảo sát đặc điểm dự phòng huyết khối 2 giai đoạn trước và sau khi có can thiệp của DSLS

Tình hình đánh giá ngu cơ và lựa chọn biện pháp dự phòng VTE

Khi khảo sát phiếu đánh giá nguy cơ huyết khối trong HSBA của bác sĩ, giai đoạn trước khi

có can thiệp của dược sĩ, chỉ có 59,4% (63/106) bệnh nhân (BN) được đánh giá nguy cơ VTE và lựa chọn biện pháp dự phòng phù hợp Các yếu

tố không phù hợp trong đánh giá nguy cơ huyết khối và lựa chọn biện pháp dự phòng VTE cho bệnh nhân phẫu thuật giai đoạn trước khi có can

thiệp của dược sĩ được trình bày qua Bảng 3

Bảng 2 Số lượng các can thiệp của DSLS trên dự

phòng VTE

Các nội dung can thiệp của dược sĩ

Số can thiệp n (%) (n = 100)

Số can thiệp được chấp thuận n (%) Đánh giá nguy cơ VTE

Đánh giá sớm và đúng

Phân tầng nguy cơ huyết khối, xuất huyết

và lựa chọn biện pháp

dự phòng

Chỉ định thực hiện dự

Thuốc dự phòng 4 (4%) 3 (75%)

Bảng 3 Các yếu tố không phù hợp trong đánh giá và lựa chọn biện pháp dự phòng VTE

(n = 106) Không được đánh giá nguy cơ huyết khối 6 (5,7%) Đánh giá sai yếu tố nguy cơ huyết khối 28 (26,4%)

Lựa chọn biện pháp dự phòng chưa phù hợp 9 (8,5%)

Trang 5

Ở giai đoạn sau khi có can thiệp của DSLS,

tỷ lệ phù hợp trong đánh giá và lựa chọn biện

pháp dự phòng tăng từ 59,4% lên đến 97,0% và

sự khác biệt tỷ lệ hai giai đoạn có ý nghĩa

thống kê (Hình 1)

Tình hình ch định thực hiện các biện pháp

dự phòng VTE

Trên nhóm bệnh nhân được bác sĩ đánh giá

nguy cơ và lựa chọn biện pháp dự phòng phù

hợp trên phiếu đánh giá nguy cơ huyết khối,

chúng tôi tiếp tục khảo sát việc chỉ định thực

hiện dự phòng VTE cho bệnh nhân, chỉ định

này được bác sĩ ghi trên phiếu điều trị hoặc kê

trên phần mềm và được điều dư ng thực hiện

theo đó

Kết quả tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thực

hiện dự phòng VTE ở nhóm trước can thiệp là

71,4%, sau khi có can thiệp của DSLS tỷ lệ này

tăng lên đến 91,8 % và sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (Hình 2)

Tình hình dự phòng VTE bằng thuốc

Trên những bệnh nhân được sử dụng

thuốc để dự phòng VTE, nhóm nghiên cứu

khảo sát tính phù hợp trong lựa chọn thuốc,

liều dùng, thời điểm dùng thuốc và thời gian

sử dụng thuốc Kết quả trong giai đoạn trước

can thiệp có 20 bệnh nhân được chỉ định thuốc

để dự phòng VTE và tỷ lệ phù hợp trong dự phòng VTE bằng thuốc là 80% (16/20) với đặc điểm dự phòng bằng thuốc được thể hiện qua

Bảng 4 Có 2 thuốc chống đông được lựa chọn

sử dụng là enoxaparin 40mg x 1 lần/ngày và rivaroxaban 10mg x 1 lần/ngày, trong đó có 3 bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh hình (CTCH) được chuyển từ enoxaparin khi nằm viện sang rivaroxaban khi xuất viện Những yếu tố không phù hợp trong dự phòng VTE bằng thuốc bao gồm lựa chọn thuốc rivaroxaban để dự phòng huyết khối trên bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh hình khác (ngoài thay khớp háng và thay khớp gối) và

dự phòng VTE bằng thuốc ngắn hơn thời gian khuyến cáo

Ở nhóm sau can thiệp, chỉ có 13 bệnh nhân được sử dụng thuốc để dự phòng VTE và tỷ lệ phù hợp trong dự phòng bằng thuốc là 92,3%, vẫn có vẫn có 1 bệnh nhân không phù hợp về thời gian dùng thuốc dự phòng sau phẫu thuật thay khớp háng Việc lựa chọn thuốc không phù hợp trong giai đoạn trước can thiệp đã được dược sĩ can thiệp và không còn xảy ra ở giai đoạn sau can thiệp Tuy nhiên sự khác biệt

về tỷ lệ phù hợp trong dự phòng bằng thuốc trong 2 giai đoạn trước và sau can thiệp chưa

có ý nghĩa thống kê với p = 0,625

Bảng 4 Đặc điểm dự phòng bằng thuốc giai đoạn trước can thiệp

được dự phòng phù hợp

Số bệnh nhân không được dự phòng phù hợp

BN phẫu thuật tiêu hóa (n= 8)

Thời điểm bắt đầu

Thời gian dùng thuốc

BN phẫu thuật tiêu hóa (n= 8)

BN phẫu thuật CTCH (n =12)

Trang 6

Tính phù hợp chung trong dự phòng VTE

Ở giai đoạn trước can thiệp, tỷ lệ phù hợp

chung trong dự phòng VTE là 42,5% Ở giai

đoạn sau khi có can thiệp của DSLS, tỷ lệ phù

hợp chung trong dự phòng VTE tăng lên

88,0% và sự khác biệt 2 tỷ lệ này có ý nghĩa

thống kê với p < 0,05 (Hình 3)

Tóm lại, sau khi có can thiệp của dược sĩ lâm sàng đã có sự gia tăng có ý nghĩa về mặt thống kê

tỷ lệ phù hợp trong đánh giá nguy cơ và lựa chọn biện pháp dự phòng VTE, tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thực hiện dự phòng VTE và tính phù hợp chung trong dự phòng VTE Tỷ lệ phù hợp trong dự phòng bằng thuốc cũng tăng nhưng chưa có ý nghĩa thống kê

Hình 1 Tính phù hợp trong đánh

giá và lựa chọn biện pháp dự phòng

trong 2 giai đoạn

Hình 2 Tính phù hợp trong

chỉ định thực hiện dự phòng trong 2 giai đoạn

Hình 3 Tính phù hợp chung

trong dự phòng VTE trong 2 giai đoạn

BÀN LUẬN

Theo quy định của bệnh viện, cần có phiếu

đánh giá nguy cơ huyết khối trong HSBA của

bệnh nhân phẫu thuật, là cơ sở cho hoạt động

can thiệp của dược sĩ lâm sàng Đây là một

thuận lợi của nhóm nghiên cứu trong bối cảnh

thực tế số bệnh viện ở Việt Nam quy định về vấn

đề này còn khá khiêm tốn Các hoạt động can

thiệp trong nghiên cứu trên cơ sở theo dõi việc

điều trị cho bệnh nhân hàng ngày của dược si

lâm sàng tại khoa, đưa đánh giá nguy cơ VTE

vào hoạt động thường quy và can thiệp từng

tình huống lâm sàng thông qua trao đổi trực tiếp

hoặc qua điện thoại với bác sĩ Các nội dung can

thiệp của dược sĩ bao gồm đánh giá sớm trong

vòng 24 giờ và đầy đủ các yếu tố nguy cơ huyết

khối, lựa chọn biện pháp dự phòng thích hợp,

cũng như chỉ định thực hiện dự phòng và can

thiệp trên việc dự phòng bằng thuốc Phương

thức can thiệp và nội dung can thiệp của dược sĩ

trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với

nghiên cứu của Mahan và cộng sự(7) Trong khi

đó, một số nghiên cứu về chương trình cải tiến

dự phòng VTE đều có hỗ trợ của bệnh án điện tử

và công cụ tích hợp trên phần mềm Theo nghiên cứu của Cole và cộng sự năm 2018 tại một bệnh viện ở Hoa Kỳ, vai trò can thiệp của dược sĩ được tích hợp trong mục “Thẩm định của dược sĩ về dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch” trên hồ sơ bệnh án điện tử Theo đó, dược sĩ có thể lựa chọn các phương án nguy cơ huyết khối của bệnh nhân, bệnh nhân đã được

dự phòng thích hợp hay cần bổ sung phương án

dự phòng cho bệnh nhân(9) Tương tự nghiên cứu về chương trình cải thiện việc dự phòng VTE nhằm giảm tỷ lệ mắc VTE cũng như tỷ lệ chảy máu ở bệnh nhân nhập viện được thực hiện tại bệnh viện Mayo -Hoa Kỳ, khi đặt lệnh nhập viện, hậu phẫu hay chuyển viện cho bệnh nhân đều có mục bắt buộc liên quan dự phòng VTE Bác sĩ cần xác định nguy cơ huyết khối của bệnh nhân, giải thích lý do vì sao không có biện pháp dự phòng VTE nào được áp dụng hoặc ra

y lệnh dự phòng VTE trên phần mềm(13) Việc tích hợp đánh giá dự phòng VTE trên phần mềm quản lý bệnh viện giúp tối ưu hóa việc dự

Trang 7

phòng, tránh bỏ sót vấn đề khi DSLS của khoa

vắng mặt hoặc bác sĩ không có mặt trong thời

điểm thích hợp để tiếp nhận ý kiến trao đổi của

dược sĩ

Do số lượng bệnh nhân trong nghiên cứu ít

và bệnh nhân có nguy cơ huyết khối trung bình

và cao chiếm tỷ lệ thấp nên số bệnh nhân được

sử dụng thuốc trong dự phòng VTE trong

nghiên cứu chỉ có 20 bệnh nhân ở giai đoạn

trước can thiệp và 13 bệnh nhân ở giai đoạn sau

can thiệp Đây cũng có thể là lý do tỷ lệ phù hợp

trong dự phòng bằng thuốc giai đoạn sau can

thiệp cao hơn giai đoạn trước can thiệp nhưng

chưa có ý nghĩa về mặt thống kê Giai đoạn sau

can thiệp vẫn còn 1 bệnh nhân không phù hợp

về thời gian dùng thuốc dự phòng VTE sau

phẫu thuật thay khớp háng Bệnh nhân đã được

dùng thuốc enoxaparin để dự phòng VTE được

9 ngày sau mổ Mặc dù dược sĩ đã can thiệp với

bác sĩ để kê đơn cho bệnh nhân sử dụng sau

xuất viện, nhưng bác sĩ không đồng ý, lí do là

bác sĩ lo ngại về nguy cơ chảy máu Điều này

xuất phát từ việc bệnh nhân gặp biến chứng

chảy máu sẽ quay lại gặp bác sĩ phẫu thuật,

trong khi biến chứng huyết khối tĩnh mạch sâu

hoặc thuyên tắc phổi thường xuất hiện muộn,

sau đó bệnh nhân được nhập viện điều trị nội

khoa nên bác sĩ phẫu thuật thường ít có thông

tin về biến chứng này

Sau khi có can thiệp của dược sĩ lâm sàng, tỷ

lệ phù hợp chung trong dự phòng VTE tăng

đáng kể từ 42,5% lên 88,0%, và sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy việc can

thiệp của DSLS có hiệu quả trong dự phòng

thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân

phẫu thuật Kết quả của chúng tôi cao hơn kết

quả nghiên cứu tại New Mexico năm 2012 với

can thiệp của dược sĩ làm tăng tỷ lệ dự phòng

VTE phù hợp lên thêm 10,6%(7) Kết quả tăng

đáng kể tỷ lệ dự phòng phù hợp sau can thiệp

của DSLS trong nghiên cứu của chúng tôi tương

tự với kết quả nghiên cứu tại Ấn độ năm 2016(14)

với tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng thêm 40% sau khi

có can thiệp của dược sĩ

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ mới đánh giá được hiệu quả can thiệp của DSLS trong việc dự phòng VTE thông qua tiêu chí tính phù hợp chung trong dự phòng VTE trong khi một số nghiên cứu đánh giá vai trò của DSLS trong việc

dự phòng VTE dựa vào tiêu chí giảm tỷ lệ mắc VTE, cũng như tỷ lệ tái nhập viện trong 30 ngày

do VTE như nghiên cứu của Cole và cộng sự công bố năm 2019(9). Ngoài ra, nghiên cứu tại Anh năm 2017 cũng chỉ ra việc tham gia của dược sĩ trong dự phòng VTE cũng góp phần giảm chi phí y tế có ý nghĩa(15)

Đặc điểm nền, đặc điểm nguy cơ huyết khối

và nguy cơ chảy máu của bệnh nhân giai đoạn trước và sau can thiệp khác biệt không có ý nghĩa thống kê Chỉ có đặc điểm về phân nhóm BMI có sự khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu chưa loại trừ được yếu tố này có thể ảnh hưởng đến tính phù hợp trong dự phòng VTE trong 2 giai đoạn

KẾT LUẬN

Việc can thiệp của dược sĩ lâm sàng tại bệnh viện Vinmec Central Park đã làm thay đổi các đặc điểm dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật, thể hiện qua việc tăng tỷ lệ phù hợp trong đánh giá và lựa chọn biện pháp dự phòng VTE, tăng

tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thực hiện dự phòng và tăng tỷ lệ phù hợp chung dự phòng VTE có ý nghĩa thống kê Cần tiếp tục duy trì hoạt động can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân phẫu thuật và mở rộng trên đối tượng bệnh nhân nội khoa để tăng hiệu quả điều trị dự phòng huyết khối cho bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nicolaides AN, Fareed J, Kakkar AK, Comerota AJ, et al (2013) Prevention and treatment of venous

thromboembolism International Consensus Statement Int

Angiol, 32(2):111-260

2 Gould MK, Garcia DA, Wren SM, Karanicolas PJ, et al (2012) Prevention of VTE in nonorthopedic surgical patients: Antithrombotic therapy and prevention of thrombosis, 9 th ed: American college of chest physicians

Trang 8

evidence-based clinical practice guidelines Chest,

141(S2):e227S-e277S

3 Falck-Ytter Y, Francis CW, Johanson NA, Curley C, et al

(2012) Prevention of VTE in orthopedic surgery patients:

antithrombotic therapy and prevention of thrombosis, 9th

ed: American college of chest physicians evidence-based

clinical practice guidelines Chest, 141(S2):e278S-e325S

4 Hale A, Merlo G, Nissen L, Coombes I, et al (2018)

Cost-effectiveness analysis of doctor-pharmacist collaborative

prescribing for venous thromboembolism in high risk surgical

patients BMC Health Services Research, 18(1):749-749

5 Shekelle PG, Wachter RM, Pronovost PJ, Schoelles K, et al

(2013) Making health care safer II: an updated critical

analysis of the evidence for patient safety practices Evid

Rep Technol Assess (Full Rep), (211):1-945

6 Dobesh PP, Trujillo TC, Finks SW (2013) Role of the

pharmacist in achieving performance measures to improve

the prevention and treatment of venous thromboembolism

Pharmacotherapy, 33(6):650-664

7 Mahan CE, Hussein MA, Amin AN, Spyropoulos AC

(2012) Venous thromboembolism pharmacy intervention

management program with an active, multifaceted

approach reduces preventable venous thromboembolism

and increases appropriate prophylaxis Clin Appl Thromb

Hemost, 18(1):45-58

8 Nguyễn Ngọc Hải, Phan Quỳnh Lan, Nguyễn Thị Liên

Hươnng (2019) VTE prophylaxis in surgical patient in

Vinmec times city hospital Asian Conference on Clinical

Pharmacy, Philippines

9 Cole JL, Stark JE (2019) A facility mandate for

thromboembolism outcomes Journal of the American

College of Clinical Pharmacy, 2(3):274-280

10 Patel S (2013) A pharmacist's role in venous

thromboembolism prevention in a UK hospital European

Journal of Hospital Pharmacy, 20:343-345

11 Kahn SR, Lim W, Dunn AS, Cushman M, et al (2012) Prevention of VTE in nonsurgical patients: antithrombotic therapy and prevention of thrombosis, 9th ed: American college of chest physicians evidence-based clinical practice

guidelines Chest, 141(S2):e195S-e226S

12 Nguyễn Văn Trí, Đinh Thị Thu Hương, Nguyễn Thanh Hiền (2016) Khuyến cáo về chẩn đoán, điều trị và dự

phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch pp.1-64 Hội Tim

Mạch Học Quốc Gia Việt Nam, Hà Nội

13 Lovely JK, Hickman JA, Johnson MG, Naessens JM, et al (2020) impact of a program to improve venous thromboembolism prophylaxis on incidence of thromboembolism and bleeding rates in hospitalized patients during implementation of programs to improve

venous thromboembolism prophylaxis Mayo Clin Proc

Innov Qual Outcomes, 4(2):159-169

14 Chandrakumar A, Ajmal KK, Timmakondu S, Anusree S (2016) Clinical pharmacist assisted thromboprophylactic

optimization in general surgical patients Pharmacien

Hospitalier et Clinicien DOI: 10.1016/j.phclin.2015.12.002

15 Lee EH, Bray V, Horne R (2017) Developing an economic case of clinical pharmacists' interventions on venous thromboembolism prophylaxis through service evaluation

Journal of Research in Pharmacy Practice, 6(2):106-113

Ngày nhận bài báo: 15/12/2020 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/12/2020 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2021

Ngày đăng: 14/07/2021, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm