1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khám phá hợp chất tự nhiên ức chế NS5 methyltransferase của virus Dengue dựa trên tiếp cận in silico

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, do muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus truyền virus dengue gây ra. Bài viết trình bày việc tìm ra hợp chất tự nhiên gắn kết tốt từ đó có thể ức chế NS5 MTase của virus dengue.

Trang 1

KHÁM PHÁ HỢP CHẤT TỰ NHIÊN ỨC CHẾ NS5 METHYLTRANSFERASE

CỦA VIRUS DENGUE DỰA TRÊN TIẾP CẬN IN SILICO

Nguyễn Lê Trà Giang 1 , Cù Thái Phương Nga 1 , Phạm Thị Mỹ Duyên 1 ,

Trương Bách Thịnh 1 , Nguyễn Thụy Việt Phương 1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, do muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus

truyền virus dengue gây ra Trên thế giới có khoảng 400 triệu người nhiễm sốt xuất huyết mỗi năm với khoảng 22.000 người chết trong trường hợp nặng Tuy nhiên, hiện nay chưa có thuốc điều trị bệnh sốt xuất huyết Do

đó, việc tìm ra hợp chất tiềm năng gắn tốt với NS5 methyltransferase (MTase), dẫn đến ức chế protein này là một

trong những cách tiếp cận của việc nghiên cứu thuốc để điều trị bệnh sốt xuất huyết

Mục tiêu: Tìm ra hợp chất tự nhiên gắn kết tốt từ đó có thể ức chế NS5 MTase của virus dengue

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp in silico sử dụng là gắn kết phân tử (molecular

docking) thực hiện trên 100 chất tự nhiên từ 10 loại dược liệu trên NS5 MTase của virus dengue (PDB ID: 4R8S) với phần mềm AutoDock Vina

Kết quả: 100 chất khảo sát gắn kết thành công vào khoang gắn của NS5 MTase Hai khung cấu trúc có khả

năng gắn kết tốt là khung steroid và khung flavonoid với hai đại diện lần lượt là ligand A25 (ecliptalbin) và A29 (myricetin) Trong đó, ecliptalbin là chất tiềm năng nhất trên NS5 MTase với ái lực gắn kết là -10,3 kcal.mol -1

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tiềm năng ức chế của ecliptalbin trên NS5 MTase của virus dengue

Từ khóa: virus dengue, NS5 methyltransferase, in silico, gắn kết phân tử, hợp chất tự nhiên

ABSTRACT

DISCOVERY OF NATURAL COMPOUNDS AS NS5 METHYLTRANSFERASE INHIBITORS

OF DENGUE VIRUS THROUGH IN SILICO APPROACH

Nguyen Le Tra Giang, Cu Thai Phuong Nga, Pham Thi My Duyen,

Truong Bach Thinh, Nguyen Thuy Viet Phuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 32 - 39

Background - Objectives: Dengue fever is an acute infectious disease caused by the transmission of dengue

virus through the bite of mosquitoes, Aedes aegypti and Aedes albopictus, respectively There are about 400 million infected people every year resulted in 22,000 deaths from severe cases However, there is currently no effective drugs for the treatment of dengue virus Therefore, finding potential binding compound into NS5 RNA MTase leading to inhibit this protein is one of approaches for antidengue drug discovery This reseach aimed to discover potential binding natural compounds as NS5 MTase inhibitors of dengue virus

Methods: Molecular docking as in silico approach was carried out for 100 natural compounds on NS5 RNA

MTase (PDB ID: 4R8S) of dengue virus using AutoDock Vina program

Results: The results showed that 100 natural compounds were successfully fitted well into the binding site of

NS5 MTase The two scaffolds had good binding affinities were steroid and flavonoid groups with two top hit compounds A25 (ecliptalbine) and A29 (myricetine), respectively Of which, A25 (ecliptalbine) was the best binding ligand with its binding affinity of -10.3 kcal.mol -1

1 Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Nguyễn Thụy Việt Phương ĐT: 0919520708 Email: ntvphuong@ump.edu.vn

Trang 2

Conclusion: Through molecular docking, ecliptalbine was identified as the potential inhibitor of the NS5

MTase of dengue virus

Keywords: dengue virus, NS5 methyltransferase, in silico, molecular docking, natural compounds

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay có khoảng 400 triệu người nhiễm

sốt xuất huyết mỗi năm với khoảng 22.000 người

chết trong những trường hợp nặng(1) Theo báo

cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vào năm

2019, Việt Nam là nước đứng thứ 2 Châu Á, sau

Phillippines về số lượng người mắc bệnh với

tổng cộng 320.000 ca sốt xuất huyết(2) Cho đến

nay vẫn chưa có thuốc hiệu quả để điều trị bệnh

sốt xuất huyết do virus dengue gây ra Do đó

việc nghiên cứu các hợp chất tiềm năng có thể

phát triển thành thuốc, đặc biệt là các thuốc cho

tác động trên cấu trúc của virus và một số

protein liên quan tới quá trình phát triển, nhân

đôi của virus như NS5 methyltransferase, NS5

ARN polymerase phụ thuộc ARN (NS5 RNA

dependent RNA-polymerase) là cần thiết

Cấu trúc của virus dengue dưới kính hiển vi

có dạng hình cầu, với đường kính khoảng 35-50

nm, gồm có: phần vỏ bản chất là lipoprotein,

protein màng, nắp capsid đối xứng hình khối, và

vật liệu di truyền là ARN dạng sợi dương NS5

là protein lớn nhất trong vùng không cấu trúc

với khoảng 900 acid amin có khối lượng phân tử

khoảng 104 kDa NS5 chứa methyltransferase

(MTase), guanylyltransferase (GTase) ở đầu N

và ARN polymerase phụ thuộc ARN ở đầu C(3)

Trong đó, NS5 MTase đóng vai trò quan trọng

trong quá trình nhân đôi và dịch mã của virus(3)

Do đó ức chế protein này sẽ dẫn đến ức chế quá

trình phát triển của virus

Trên thế giới, một số nghiên cứu đã được

thực hiện để tìm ra hợp chất tiềm năng có thể

gắn kết và ức chế enzym NS5 MTase Tiêu biểu

như Lata V Ganji và cộng sự (2019) đã nhận

thấy rằng việc sử dụng các hợp chất có khung

flavonoid như avicularin, rutin, quercetin cho

hiệu quả tác động tốt trên NS5 MTase với IC50

dao động từ 1,7 – 3,6 µM(4) Một nghiên cứu

khác, Fatiha Benmansour và cộng sự (2016) đã

sử dụng kỹ thuật in silico để tìm ra hợp chất có

tác dụng ức chế NS5 MTase và kết quả là thu được hợp chất ức chế non-nucleosid mới là N-phenyl-[(phenylcarbamoyl)amino]benzene-1-sulfonamid và một hợp chất dẫn xuất khác

là [(phenylcarbamoyl)amino]benzen-1-sulfonat cho kết quả ức chế mạnh NS5 MTase từ 10 đến 100 lần(5) Ngoài ra vào năm 2009, Michael Podvinec và cộng sự đã sử dụng phương pháp gắn kết phân tử để sàng lọc hơn

5 triệu chất và chọn ra 263 chất để tiến hành thực nghiệm thì nhận thấy rằng có 10 chất ức chế cho kết quả IC50 < 100µM và trong đó có

4 chất cho kết quả IC50 < 10µM(6)

Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là tìm

ra được các hợp chất tự nhiên có khả năng gắn kết tốt với NS5 MTase, từ đó dẫn đến ức chế protein này để có thể phát triển thành thuốc chống virus dengue Quá trình được

thực hiện dựa trên tiếp cận in silico (với sự hỗ

trợ của máy tính) thông qua khảo sát khả năng gắn kết phân tử (molecular docking) của các hợp chất tự nhiên trên protein mục tiêu NS5 MTase để chọn lựa chất tiềm năng gắn kết tốt trên NS5 MTase

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đích tác động

NS5 MTase của virus dengue chủng dengue 3 với mã PDB ID: 4R8S tải về từ ngân hàng dữ liệu Protein Data Bank (http://www.rcsb.org/pdb)

Ligand

100 hợp chất tự nhiên (ký hiệu từ A1 đến A100) là thành phần hóa học của 10 cây thuốc có tác dụng kháng virus gồm có: 13 hợp chất từ tỏi,

14 hợp chất từ cỏ mực, 23 hợp chất từ đu đủ,

4 hợp chất từ xuyên tâm liên, 1 hợp chất từ keo giậu, 6 hợp chất từ sầu đâu, 2 hợp chất từ rau diếp cá, 28 hợp chất từ nga truật, 7 hợp chất từ

cỏ sữa lá lớn và 2 hợp chất từ nghệ

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu

Quá trình re-docking

Quá trình re-docking thực hiện cho ligand

đồng kết tinh vào protein NS5 MTase với mã cấu

trúc là 4R8S nhằm tái tạo dữ liệu thực nghiệm và

đánh giá sự phù hợp của phần mềm AutoDock

Vina(7) Quá trình docking được thực hiện trên

khoang gắn kết của protein với các thông số tọa

độ như sau: center_x = -2,835 Å, center_y = 0,171 Å,

center_z = 41,373 Å và kích thước hộp thoại gắn

kết: size_x _y, _z : 22 x 22 x 22 (Å)3 Kết quả

re-docking được đánh giá dựa trên sự so

sánh 3 yếu tố: ái lực gắn kết hay điểm số gắn kết

(kcal.mol-1), cấu dạng và vị trí ligand trong

khoang sau khi gắn kết, sự chênh lệch của cấu

dạng ligand trước và sau docking qua giá trị

RMSD (root mean square deviation, Å) hay căn

bậc hai của độ lệch bình phương trung bình,; tương tác giữa protein với ligand đồng kết tinh trước và sau khi docking

Gắn kết phân tử (molecular docking)

Quá trình docking được thực hiện trên khoang gắn kết của protein NS5 MTase (PDB ID: 4R8S) với các thông số tọa độ như quá trình re-docking Kết quả docking được đánh giá thông qua cấu dạng gắn kết của ligand, ái lực gắn kết (kcal.mol-1), các tương tác

có thể xảy ra giữa ligand với các acid amin quan trọng của protein Năng lượng gắn kết càng thấp, cho thấy khả năng gắn kết của phân

tử vào protein đích càng cao

Các giai đoạn nghiên cứu được thực hiện

như Hình 1

Hình 1 Các giai đoạn thực hiện trong nghiên cứu

KếT QUả

Kết quả re-docking

Kết quả re-docking ligand đồng kết tinh SFG

(sinefungin) vào khoang gắn kết của protein NS5

MTase (PDB ID: 4R8S) cho điểm số gắn kết

tốt -9,0 kcal.mol-1 (Hình 2 A, 2 B) Bên cạnh đó,

cấu dạng và vị trí ligand khi được tái gắn kết

không có nhiều thay đổi so với cấu trúc thực

nghiệm, thể hiện qua giá trị RMSD = 0,82 Å < 2 Å

(Hình 2 C) Phân tích tương tác giữa ligand SFG

với protein trước và sau khi re-docking (Hình 2 D)

cho thấy cấu dạng tái tạo được liên kết hydro với các acid amin Ser56, Gly86, Lys105, His110, Asp131, Val132 và liên kết kỵ nước với His110

như trước khi re-docking (Hình 2) Điều này

chứng minh độ tin cậy về khả năng tái tạo dữ liệu thực nghiệm của phần mềm sử dụng, do

đó có thể sử dụng phương pháp và các thông

số cho các thử nghiệm gắn kết phân tử trong quá trình sàng lọc

Trang 4

Hình 2 Kết quả re-docking ligand SFG (sinefungin) vào protein (PBD ID: 4R8S)

(A) và (B) Vị trí ligand đồng kết tinh trong khoang gắn kết, (C) Ligand SFG trước (màu đỏ) và sau (màu hồng) docking trong khoang gắn kết, (D) Tương tác protein-ligand trước và sau re-docking (màu xanh là liên kết hydro,

màu hồng là liên kết kỵ nước)

Dựa trên đặc điểm cấu trúc và các tương tác

giữa ligand đồng kết tinh (sinefungin) và protein,

có thể dự đoán các ligand có cấu trúc lớn, đa dị

vòng thơm và có các điểm cho nhận điện tử

tương tự như ligand đồng kết tinh sẽ phù hợp với

khoang gắn kết và cho điểm số tốt (Hình 3)

Hình 3 Cấu trúc ligand đồng kết tinh

(sinefungin) có đa dị vòng (màu xanh) và các điểm

cho nhận điện tử (màu đỏ)

Kết quả gắn kết phân tử (molecular docking)

Sau quá trình gắn kết, tất cả 100 ligand khảo sát đều gắn thành công vào khoang gắn kết cho điểm số gắn dao động từ -3,9 đến -10,3 kcal.mol-1 Trong đó, 6 hợp chất tiềm năng có điểm số gắn kết tốt nhất từ -8,3 đến -10,3 kcal.mol-1 điển hình là hợp chất A25, 51 hợp chất cho điểm số gắn kết nhỏ hơn -8,0 kcal.mol-1, 43 hợp chất lớn hơn -8,0 kcal.mol-1 Mối liên quan về cấu trúc và điểm số gắn kết cho thấy sự phù hợp so với kết quả dự đoán dựa trên sự tương đồng về mặt cấu trúc với

sinefungin (ligand đồng kết tinh) (Hình 4)

Hình 4 Kết quả gắn kết của một số khung cấu trúc trên NS5 MTase (PDB ID: 4R8S)

Trang 5

Cụ thể, các khung cấu trúc có cả dị vòng

thơm và các nhóm thế nhận điện tử sẽ cho khả

năng gắn kết tốt nhất với protein, điển hình

flavonoid với hợp chất A29 (Hình 4 C) và steroid

với hợp chất A25 (Hình 4 B) Trong khi đó, các

khung cấu trúc lớn có nhóm nhận điện tử nhưng

chỉ chứa vòng thơm đơn giản (furan, phenol)

cho điểm số gắn trung bình (Hình 4 D), còn các

cấu trúc không vòng thơm hoặc không có nhóm

nhận điện tử có điểm số gắn kết thấp (Hình 4 A)

20 hợp chất có khả năng gắn kết tốt với ái lực

gắn < -8.0 kcal.mol-1 trên protein NS5 MTase

được minh họa ở Hình 5

Liên quan cấu trúc và ái lực gắn hay điểm số

gắn kết

Mối liên quan giữa cấu trúc và điểm số gắn

kết được đánh giá trên hai khung cấu trúc có khả

năng gắn kết tốt nhất là steroid và flavonoid

(Hình 6 và 7) Nhìn chung, hai khung cấu trúc

này đều lớn, cồng kềnh giống với cấu trúc của

ligand đồng kết tinh, giúp các hợp chất thuộc hai

khung này có thể len sâu và lắp đầy vào khoang

gắn tạo tương tác tốt với các acid amin của NS5

MTase

Khung steroid

Ba hợp chất A22, A23 và A25 thuộc khung steroid Trong đó, hợp chất A22 và A23 có nhiều điểm tương đồng về mặt cấu trúc, tuy nhiên hợp chất A23 (-9,0 kcal.mol-1) cho điểm số gắn kết tốt hơn A22 (-8,5 kcal.mol-1) do nhóm đường tại vị trí R1 có nhiều nhóm hydroxyl (-OH) hình thành được nhiều liên kết hydro nhưng kém bền Khi thay nhóm thế nhóm carbonyl tại vị trí R2 của A22 và A23 bằng vòng pyridin (A25) giúp hợp chất gắn kết tốt hơn nhờ các tương tác kỵ nước giữa vòng pyridin và nhóm carbonyl của acid amin Ile147, nhóm phenyl của acid amin His110

và carbonyl của acid amin Lys105 (Hình 6) Hợp

chất A25 thể hiện tiềm năng gắn kết tốt nhất trong tất cả các ligand khảo sát do có điểm số tốt

và hình thành nhiều liên kết tương tự như ligand đồng kết tinh với các acid amin Lys105, His110, Val132 và Ile147, đặc biệt là tương tác kỵ nước giữa vòng phenyl của ligand với nhóm phenyl của acid amin His110, giữa nhóm hydroxyl của ligand và nhóm carbonyl của acid amin Gly58

(Hình 8)

Hình 5 Các hợp chất gắn kết tốt trên protein NS5 MTase (PDB ID: 4R8S)

Trang 6

Hình 6 Khung steroid và các hợp chất thuộc khung steroid

Khung flavonoid

Trong các hợp chất tự nhiên thuộc nhóm

flavonoid được khảo sát, các chất thuộc phân

nhóm flavon và flavonol cho điểm số gắn kết

tốt do có dị vòng benzopyron và các nhóm OH

giúp hình thành các liên kết hydro và liên kết

kỵ nước, tăng khả năng gắn kết Ba hợp chất

A18 (-9,8 kcal.mol-1), A59 (-9,9 kcal.mol-1) và

A60 (-10,3 kcal.mol-1) do có nhiều nhóm OH,

đặc biệt là các nhóm OH trong phân tử đường

tại vị trí R hình thành các liên kết hydro với

acid amin quan trọng trong khoang gắn kết

như Glu111, Asp146, Val132 và cho điểm số

gắn kết cao nhất trong tất cả ligand khảo sát(8)

Các hợp chất A17, A28, A29, A30, A41 cho

điểm số gắn kết tốt (nhỏ hơn -9,0 kcal.mol-1), nhưng không có phân tử đường trong cấu trúc Phân tích mối liên quan về mặt cấu trúc

và điểm số gắn kết, nhóm thế OH (nhóm thế R) trong phân nhóm flavonol (A30) cho khả năng gắn kết tốt hơn phân nhóm flavon (A17),

và sự gia tăng các nhóm thế hydroxyl cũng làm tăng ái lực gắn kết, điển hình là A29 (-9,4 kcal.mol-1, Hình 7)

Như vậy, khung steroid là khung cấu trúc

tiềm năng và hợp chất A25 (ecliptalbin) chiết

xuất từ cây Cỏ Mực (Eclipta prostrata -

Asteraceae) là hợp chất mới gắn kết tốt nhất cho tiềm năng kháng enzym NS5 MTase của virus dengue

Hình 7 Khung flavonoid và các hợp chất thuộc khung flavonoid

Trang 7

Hình 8 So sánh tương tác 2D giữa ligand đồng kết tinh (A) (màu tím) và ligand A25 (B) (màu xanh nhạt)

với enzym NS5 MTase của virus dengue

BÀN LUẬN

Nhìn chung các hợp chất thuộc khung

steroid và flavonoid cho kết quả gắn kết tốt nhất

so với các khung khác Điều này có thể giải thích

là hai khung cấu trúc này cồng kềnh, tương thích

tốt với hình dạng của khoang gắn giúp chúng

len sâu, tiếp xúc hoàn toàn với các bề mặt của

khoang gắn kết, đồng thời có nhiều nhóm thế

OH nên khả năng hình thành nhiều liên kết

hydro, do đó điểm số gắn kết tốt hơn

Hợp chất A25 (ecliptalbin) trong cây Cỏ Mực

(Eclipta prostrata - Asteraceae) cho tiềm năng ức

chế NS5 MTase của virus dengue do có nhiều

điểm tương đồng về mặt cấu trúc với ligand

đồng kết tinh cũng như hình thành liên kết với

acid amin quan trọng (Ile147) trong khoang gắn

kết (Hình 8)

Ecliptalbin là một trong 8 loại alkaloid được

tìm thấy trong lá và hạt của cây Cỏ Mực Một số

nghiên cứu chỉ ra rằng hợp chất này cho tác

dụng giảm lipid máu và có tác dụng chống oxy

hóa (Hình 9)(9) Ngoài ra, dịch chiết cây Cỏ Mực

còn được chứng minh là có tác dụng chống lại

virus dengue trong một số bài thuốc từ dược liệu

nhưng chưa có nghiên cứu nào đưa ra được hợp

chất cụ thể có tác dụng trên virus dengue(10) Do

đó, thông qua quá trình docking trên NS5 MTase, ecliptalbin được nhận dạng là một hợp chất tiềm năng Tuy nhiên, kết quả thu được chỉ

là nghiên cứu in silico, và kết quả điểm số

docking vẫn chưa phản ánh được giá trị hoạt tính sinh học, do đó cần được kiểm chứng qua

các thử nghiệm in vitro và in vivo để nghiên cứu

tác dụng kháng virus dengue của hợp chất này

Hình 9 Một số công dụng của ecliptalbin

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã thực hiện quá trình gắn kết phân tử cho 100 hợp chất từ 10 cây thuốc trên protein mục tiêu NS5 MTase Kết quả cho thấy hai khung cấu trúc tiềm năng là flavonoid và steroid, trong đó hợp chất A25 (ecliptalbin) chiết xuất từ cây Cỏ Mực là chất

Trang 8

gắn kết tốt nhất có tiềm năng cho tác dụng

kháng virus dengue

TÀI LIỆU THAM KHảO

1 Centers for Disease control and prevention About dengue: what

https://www.cdc.gov/dengue/about/index.html (access on

10/12/2020)

2 World Health Organization (2020) Dengue and severe dengue

https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/dengue-and-severe-dengue (access on 10/12/2020)

3 Norazharuddin H, Lai NS (2018) Roles and prospects of dengue

virus non-structural proteins as antiviral targets: an easy digest

The Malaysian Journal of Medical Sciences, 25(5):6-15

4 Ganji LV, Kanyalkar MA (2019) Non-structural proteases as a

target of dengue virus Journal of Antivirals and Antiretrovirals,

11(4):1-15

5 Benmansour F, Trist I, Coutard B, Decroly E, Querat G, Brancale

A, and Barral K (2017) Discovery of novel dengue virus ns5

methyltransferase non-nucleoside inhibitors by fragment-based

drug design European Journal of Medicinal Chemistry, 125:865-880

6 Podvinec M, Lim SP, Schmidt T, Scarsi M, Wen D, Sonntag LS,

Sanschagrin P, Shenkin PS, Schwede T (2010) Novel inhibitors

of dengue virus methyltransferase: Discovery by in vitro-driven

virtual screening on a desktop computer grid Journal of

Medicinal Chemistry, 53 (4):1483-1495

7 Trott O, Olson AJ (2010) AutoDock Vina: improving the speed and accuracy of docking with a new scoring function, efficient

optimization, and multithreading Journal of Computational Chemistry, 31(2):455-461

8 Stephanie F, Saragih M, Alkaff AH, Nasution MAF, Tambunan USF (2019) Screening of potential Northern African natural product compounds as dengue virus NS5 methyltransferase

inhibitor: An in silico approach In: 2019 IEEE 19th International Conference on Bioinformatics and Bioengineering (BIBE),

215-220

9 Abdel-Kader MS, Bahler BD, Malone S, Werkhoven MC, Troon

F van, Wisse JH, Bursuker I, Neddermann KM, Mamber SW, Kingston DG (1998) DNA-damaging steroidal alkaloids from

Eclipta alba from the suriname rainforest Journal of Natural Products, 61(10):1202-1208

10 Govindarajan M, Karuppannan P (2011) Mosquito larvicidal

and ovicidal properties of Eclipta alba (L.) Hassk (Asteraceae) against chikungunya vector, Aedes aegypti (Linn.) (Diptera: Culicidae) Asian Pacific Journal of Tropical Medicine, 4(1):24-28

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/12/2020

Ngày đăng: 14/07/2021, 09:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w