DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆUTrang Bảng 1 Diện tích,năng suất, sản lượng lạc Nghệ An Bảng 1.1 Lượng dinh dưỡng do một số cây trồng đã lấy đi từ đất Kg/ha/năm Bảng1.2 Diện tích năng suất sản
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của Kali đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lạc L14 vụ xuân 2008 tại Nghi Phong
- Nghi Lộc - Nghệ An” là hoàn toàn trung thực do chính tôi nghiên cứu, các
số liệu là qua nghiên cứu để rút ra kết luận, không lấy từ bất kỳ một đề tài nào
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và Ban chủ nhiệm Khoa Nông Lâm Ngư Trường Đại Học Vinh đã sắp xếp, bố trí, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo KS Phan Thị Thu Hiền, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ kỹ thuật phòng thí nghiệm khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ bảo tôi
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình bạn bè, đã giúp đỡ tôi về vật chất và tinh thần trong quá trình làm khoá luận tốt nghiệp
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Đ/c: Đối chứng
CT: Công thức
S : Diện tích lá
%S: Phần trăm diện tích lá
LAI: Chỉ Số Diện Tích Lá
NSLT: Năng suất lý thuyết
NSTT: Năng suất thực thu
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Trang
Bảng 1 Diện tích,năng suất, sản lượng lạc Nghệ An
Bảng 1.1 Lượng dinh dưỡng do một số cây trồng đã lấy
đi từ đất (Kg/ha/năm) Bảng1.2 Diện tích năng suất sản lượng lạc của một số
nước trên Thế Giới năm 2003-2004 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam trong những
năm vừa qua Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mức Kali đến thời gian và tỉ lệ
mọc mầm của giống lạc L14 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mức bón kali đến chiều cao
thân chính của giống lạc L14 (cm) Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mức bón kali đến chiều dài
cành cấp 1 trên giống lạc L14 (cm) Bảng 3 4 Ảnh hưởng của mức bón kali đến diện tích lá
(S) và chỉ số diện tích lá (LAI) trên giống lạc L14
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mức bón kali đến số lượng
nốt sần của giống lạc L14 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mức bón kali đến sự tích lũy
chất khô của giống lạc L14 (g/cây Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mức bón kali đến thời gian ra
hoa và kết thúc ra hoa của giống lạc L14 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mức bón kali đến động thái ra
hoa trên giống lạc L14 Bảng 3 9 Ảnh hưởng của mức bón kali đến sự biến
động số lượng sâu khoang trên giống lạc L14 (con/m2)
Bảng Ảnh hưởng của mức bón kali đến bệnh hại lá
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài
Cây Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp đồng thời là cây thực phẩm, là một cây trồng ngắn ngày thuộc Bộ Đậu (leguminoseae) có tác dụng cải
tạo đất, hiếm có cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như là cây lạc
Cây lạc là cây trồng có nguồn gốc từ Nam Mỹ được trồng ở hơn 100 nước trên thế giới, với diện tích gần 22 triệu ha Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày cung cấp nguồn thực phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do trồng trên diện tích lớn mà còn hạt lạc được sử dụng rất rộng rãi để làm thực phẩm và làm nguyên liệu cho công nghiệp
Trang 6Bộ phận sử dụng chủ yếu của lạc là hạt Hạt lạc từ lâu đã được sử dụng làm thực phẩm cho người, với hàm lượng dầu cao thành phần chủ yếu là lipit (40-60%), protein thô (26-34%), các vitamin hoà tan trong dầu B1, B2, PP, E, F Với thành phần và tính chất như vậy dầu lạc là dầu thực phẩm tốt nên năng lượng cung cấp rất lớn (trong 100g hạt lạc cung cấp 590calo) [21, Tr.37-38].
Trong vỏ quả của Lạc có 80 – 90% là gluxit, 4 – 7% là protit, 2 – 3% là lipit Trong vỏ lụa có 13% protein, 18% xenlulo, 1% lipit, 2% chất khoáng, sắc tố
và vitamin chiếm tỉ lệ khá lớn khoảng 7% [5 Tr.2-3] So với cây Vừng, Lạc có tỉ lệ dầu tương đương, nhưng tỉ lệ đạm cao hơn nhiều, so với Đậu Tương, Lạc có tỉ lệ dầu cao hơn nhưng thua về tỉ lệ đạm
Do giá trị dinh dưỡng của lạc, từ lâu loài người đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng như sử dụng trực tiếp ép dầu để làm dầu ăn và khô dầu để chế biến các mặt hàng thực phẩm khác Hiện nay nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như lạc rút dầu, bơ lạc, chao, phomat lạc…sử dụng nhiều ở các nước phát triển
Với những giá trị kinh tế của cây lạc mang lại nên hiện nay lạc đứng hàng thứ 2 trong số các cây lấy dầu thực vật (về diện tích và sản lượng ) với diện tích gieo trồng 20-21triệu ha/năm và sản lượng 25,5-26 triệu tấn
Ngoài giá trị kinh tế của lạc mang lại đối với công nghiệp ép dầu, công nghiệp thực phẩm và chăn nuôi lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất
do khả năng cố định đạm của nó Rễ lạc có thể tạo các nốt sần vi sinh vật cộng sinh cố định đạm hình thành đó là Rhizocbium vigna Lượng đạm cố định của lạc
có thể đạt 70-110kgN/ha/vụ Nhờ khả năng cố định này mà hàm lượng protein ở hạt và các bộ phận khác của lạc cao hơn cây trồng khác, giúp lượng đạm trong đất tăng lên và khu hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được tăng cường [21, Tr.40]
Ở Việt Nam cây lạc được trồng hầu hết ở các vùng sinh thái nông nghiệp Diện tích lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm
Nghệ An nằm trong vùng bắc trung bộ là vùng trọng điểm của các tỉnh phía bắc về trồng lạc với diện tích 28000 ha Người dân Nghệ An có truyền thống trồng
Trang 7lạc lâu đời nổi tiếng với các vùng trồng lạc chủ yếu như Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc Cây Lạc là một cây trồng chủ yếu ở Nghệ An, lạc nhân luôn chiếm một
tỉ lệ cao trong kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh và cây Lạc là một lợi thế của tỉnh [5]
Vì thế lạc là cây công ngiệp ngắn ngày chủ lực của Nghệ An, là mục tiêu,
dự án ưu tiên đầu tư của chương trình phát triển nông nghiệp Nghệ An từ nay đến 2010
Bảng 1 Diện tích,năng suất, sản lượng lạc Nghệ An
Qua điều tra của cơ quan khoa học tỉnh thì nguyên nhân làm giảm năng suất lạc ở Nghệ An là do sự kết hợp của các yếu tố kinh tế - xã hội, yếu tố sinh học và phi sinh học Tuy nhiên một trong những nguyên nhân chính làm cây Lạc Nghệ An
có năng suất thấp là việc đầu tư thâm canh chưa đầy đủ tới 75 - 80% số hộ nông dân thiếu vốn đầu tư dinh dưỡng cho lạc Dinh dưỡng cung cấp cho lạc đã thiếu lại không hợp lí, cân đối làm cho sự sinh trưởng phát triển của lạc bị hạn chế
Do đặc tính sinh lí của cây lạc yêu cầu về điều kiện lí tính của đất chặt chẽ nên đất trồng lạc phải thoát nước nhanh, tơi xốp, phù sa pha cát đầy đủ can xi và lượng chất hữu cơ vừa phải, tuy nhiên những vùng trồng lạc chính ở Nghệ An là
Trang 8những vùng có thành phần cơ giới nhẹ, mức giữ nước thấp, độ phì nhiêu tự nhiên thấp, hàm lượng chất hữu cơ lớp đất mặt <1%, hàm lượng đạm 0,04 - 0,08%, kali
dễ tiêu thấp chỉ có 2,5mg/100g đất Như vậy vùng trồng lạc chính ở Nghệ An đều
có độ phì thấp hơn so với yêu cầu của cây lạc [4,Tr.21]
Ngoài ra quá trình khoáng hoá diễn ra mạnh mẽ, lấy đi lượng lớn chất dinh dưỡng trong đất do rửa trôi Do đó vấn đề dinh dưỡng của cây trồng và việc bón phân trở nên rất quan trọng
Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón hợp lí, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao hiệu quả kinh tế với sản xuất lạc, cách bón phân, xác định mức phân bón hợp lí, cân đối với từng giai đoạn thời vụ là vấn đề cần được nghiên cứu
Bón phân cân đối và đầy đủ là chìa khóa để tăng năng suất cây trồng, và đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững Hiện nay không một Quốc gia nào dù là nước phát triển hay đang phát triển, lại không sử dụng biện pháp bón phân cân đối
và hợp lí như là một giải pháp quan trọng để tăng sản lượng chất lượng các sản phẩm nông nghiệp Việc áp dụng bón phân cân đối sẽ góp phần tích cực để đưa Việt Nam từ một nước sản xuất nông nghiệp quảng canh chủ yếu “dựa vào khai thác đất”sang một nền nông nghiệp thâm canh “dựa vào phân bón” [18,Tr.9]
Cũng như Đạm và Lân, Kali là một trong 3 nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu đối với cây trồng Ngày nay người dân trồng nhiều loại giống mới có nhu cầu Đạm, Lân và nhất là Kali rất cao Để cây lạc có thể tạo 1 tấn lạc củ thì cây lấy đi
từ đất 60 - 67 kg N, 14 -16 kg P2O5, 27-41 kg K2O, 8-17 kg MgO nhưng từ trước tới nay đa số người dân chỉ quan tâm chủ yếu nhất là dùng phân đạm, một số ít là quan tâm đến lân, rất ít người dân quan tâm đến việc sử dụng và vai trò của kali đối với lạc Đặc biệt gần 3 thập kỷ vừa qua, hầu như đất không được hoàn trả kali trong lúc chính nông sản và phụ phẩm lấy đi nhiều kali nhất [13, Tr.53]
So với tỉ lệ bình quân trên thế giới tỉ lệ N – P – K là (1:0,47:0,36), cũng như bình quân cho các nước đang phát triển là (1:0,37:0,17) ta thấy ở Việt Nam nông dân bón quá ít Kali Tỉ lệ N – P – K của phân bón không cân đối đã gây nên hậu
Trang 9quả là nếu chỉ bón N hoặc chỉ bón N, P thì cây mọc xấu hơn khi không bón gì vì trong đất đã bị phá vỡ sự cân đối tỉ lệ N:P, và N:K cần có [13, Tr 56].
Vì thế để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón hợp lí cân đối, trong đó các loại phân được sử dụng không những cân đối về tỉ lệ mà còn phải cân đối về lượng hút để bù lại lượng thiếu hụt do cây trồng lấy đi từ đất, nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất lạc, đồng thời đóng góp vào chương trình phát triển nông nghiệp Nghệ An từ nay đến 2010 chủ yếu trên cây lạc chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài "Ảnh hưởng của Kali đến sinh trưởng phát triển
và năng suất giống lạc L14 vụ xuân 2008 tại Nghi Phong - Nghi Lộc- Nghệ An"
và hiệu quả kinh tế
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
eo nông, có gân quả nông, vỏ lụa màu hồng
+ Thời gian sinh trưởng trong vụ xuân 115-120 ngày, vụ thu và vụ đông 100-105 ngày là giống chịu thâm canh năng suất có thể cho 40-45 tạ/ha vào vụ Xuân và 25-27 tạ/ha vào vụ thu đông
.* Nội dung nghiên cứu
Trang 10Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng Kali đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống lạc L14
4 Yêu cầu của đề tài
Tìm hiếu ảnh hưởng của liều lượng kali đến một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của giống Lạc L14
Tìm hiểu ảnh hưởng của kali đến diễn biễn số loại sâu bệnh hại trên giống Lạc L14
Tìm hiểu ảnh hưởng của kali đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống Lạc L14
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc trên thế giới
Trên thế giới cây lạc được trồng rộng rãi từ vùng nhiệt đới nóng ẩm, nóng khô, đến Á nhiệt đới và cả một vùng ôn đới tương đối ẩm và có nhiều mưa Khắp năm châu, châu nào cũng có điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp để trồng lạc
Từ nguồn gốc Nam Mỹ đến nay cây lạc được phân bố rộng trên toàn thế giới
Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước trồng lạc Lạc chỉ đứng sau Đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng Năm 2003 diện tích trồng lạc của Thế giới đạt 22,73 triệu ha, và đến năm 2004 diện tích đã tăng lên 26,37 triệu ha Diện tích, năng suất và sản lượng lạc có xu hướng tăng trong vòng 10 năm qua So với năm 1992 diện tích lạc tăng 10,3%, năng suất tăng 28,8%, và sản lượng tăng 42,3%
Sự phân bố về diện tích, năng suất và sản lượng giữa các khu vực trồng lạc
là khác nhau trên thế giới Diện tích và sản lượng trồng lạc trên thế giới tập trung chủ yếu ở Châu Á (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lac trên thế giới ) Khu vưc Bắc Mỹ với diện tích trồng lạc không nhiều (820-850 ngìn ha) nhưng lại
là nơi có năng suất lạc đạt cao hơn 3,54 tấn/ha, nên sản lượng lạc cũng đạt 10%
Trang 11Tiếp đến là các vùng Nam Mỹ 5%, Úc 0,2% và cuối cùng là Châu Âu ít nhất chỉ chiếm 0,1% sản lượng lạc trên toàn Thế giới [6, Tr.5].
Các nước sản xuất nhiều lạc trên thế giới bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ,
Mỹ, Indonexia, Xenegan, Miến Điện, Nigieria, Achentina Nước đứng đầu trên thế giới về diện tích trồng lạc là Ấn Độ chiếm 40,2% diện tích trồng lạc trên thế giới (8 triệu ha) và chiếm 30% sản lượng lạc của Thế giới Tuy nhiên sản lượng lạc của
Ấn Độ lại không phải là cao nhất do năng suất lạc của Ấn Độ còn thấp (0,94 tấn/ha) do cây lạc được trồng chủ yếu trong đất khô hạn [6]
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 sau Ấn Độ về diện tích trồng lạc với 5,1 triệu ha chiếm 22,4% tổng diện tích trồng lạc của thế giới, nhưng sản lượng lạc lại đứng hàng đầu thế giới (đạt 15,1 triệu tấn ) chiếm 45,1% tống sản lượng, và năng suất lạc đạt cao gấp 2 lần năng suất lạc bình quân của thế giới
Niên vụ 2001/2002 Trung Quốc thu được 14,2 triệu tấn lạc, với năng suất bình quân là 2,96 tấn/ha Niên vụ 2002/03 thu được 14,82 triệu tấn với năng suất bình quân là 2,96 tấn/ha Niên vụ 2003/04 thu được 15,1 triệu tấn với năng suất bình quân là 2,89 tấn/ha [4, Tr.4]
Theo các nhà khoa học Trung Quốc đạt được những thành tựu nói trên là nhờ chiến lược đẩy mạnh nghiên cứu, và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nhằm phát huy tiềm năng to lớn còn ít được khai thác của cây lạc trong sản xuất Hiện tại Trung Quốc đã có tới 60 viện, trường, và trung tâm nghiên cứu triển khai về cây lạc Trong thời gian 1982-1995 các nhà khoa học Trung Quốc đã cung cấp cho sản xuất 82 giống lạc mới, với nhiều ưu điểm nổi bật như năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chịu phèn, thích ứng rộng…
Bên cạnh các công tác nghiên cứu về giống thì việc áp dụng các biện pháp
kĩ thuật thâm canh đạt năng suất cao, đã được áp dụng rộng rãi như cày sâu, bón phân cân đối phù hợp cho từng loại đất, mật độ trồng thích hợp, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp và đặc biệt kĩ thuật che phủ nilon được coi là cuộc “cách mạng trắng” trong sản xuất lạc Với những tiến bộ đó gần đây Trung Quốc đã vượt Ấn
Độ để trở thành nhà sản xuất lạc hàng đầu thế giới
Trang 12Achentina là nước có diện tích lạc không lớn (180000 ha/năm) nhưng có nhiều thành công trong nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật để phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lạc Năm 1991 năng suất lạc bình quân của Achentina đạt 2,0 tấn/ha, gấp 2 lần so với 1980 Các giống lạc mới chất lượng cao được trồng trên 70% diện tích lạc cả nước, đưa Achentina trở thành nước xuất khấu lạc đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Trung Quốc.
Bảng1.2 Diện tích năng suất sản lượng lạc của một số nước trên Thế Giới
năm 2003-2004
Nước Diện tích
(triệu ha)
Năng Suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 131.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lạc ở Việt Nam
Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trồng lạc Cây lạc được trồng hầu hết ở các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Diện tích lạc chiếm 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm (đay, cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá )
Trong những năm vừa qua Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể
về diện tích trồng, năng suất cũng như sản lượng lạc Trong vòng 10 năm qua (1994 - 2004) sản xuất lạc ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực, về năng suất, sản lượng, cũng như diện tích Diện tích trồng lạc ở các tỉnh phía bắc tăng dần từ 123,3 nghìn ha năm 1995 lên 250,0 nghìn ha năm 2003 tăng 17%
Ở các tỉnh phía Bắc, diện tích lạc tăng chủ yếu ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá và Hà tĩnh Diện tích trồng lạc ở các tỉnh phía Nam giảm từ 136,6 nghìn ha năm 1995 xuống 98,5 nghìn ha năm 2003 Diện tích giảm mạnh nhất ở Tây Ninh và tiếp đến là Long An, diện tích ở các tỉnh phía nam giảm do cây
ăn quả và cây cà phê phát triển ồ ạt [6, Tr.8]
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm vừa qua
(nghìn ha )
Năng suất (tạ/ha )
Sản lượng (nghìn tấn)
2004 )
Trang 14Với tốc độ tăng nhanh như vậy, sản phẩm lạc không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Trong các mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam, lạc nhân được xếp vào mặt hàng thứ 11 So với các cây trồng hàng năm, khối lượng lạc xuất khẩu chỉ đứng thứ 2 sau lúa [5].
Sản xuất lạc ở Việt Nam nhìn chung được phân bố trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp của cả nước Tuy nhiên nước ta đã hình thành nên 6 vùng sản xuất chính:
- Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: Trồng chủ yếu ở Hà Nội, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình với diện tích 31400 ha chiếm 29,3%
- Vùng Đông Bắc: Trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên với diện tích 31000 ha chiếm 28,9%
- Vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ: Là vùng trọng điểm lạc của các tỉnh phía Bắc với diện tích 74000 ha chiếm 30,5% Tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá (16800 ha), Nghệ An (22600ha), Hà Tĩnh (19900 ha)
- Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: Diện tích 23100 ha chiếm 9,5% được trồng tập trung ở 2 tỉnh Quảng Nam và Bình Định
- Vùng Tây Nguyên: Diện tích 22900 ha chiếm 9,4% chủ yếu ở ĐăcLăc
- Vùng Đông Nam Bộ: Tổng diện tích 42000 ha tậpp trung ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Dương
Trong những năm qua Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu, áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất lạc, trong đó có những chương trình hợp tác với ICRISAT (Viện nghiên cứu cây trồng cạn quốc tế), CLAN (Mạng lưới cây đậu đỗ và cây ngũ cốc Châu Á), nhằm đánh giá tình hình sản xuất, tìm hiểu những hạn chế và cải tiến sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Theo Nguyễn Thị Dần (1991) việc bón kali cho đất bạc màu đã mang lại hiệu quả cao Hiệu suất 1kg K2SO4 trên đất cát ven biển là 6 kg lạc vỏ và trên đất bạc màu là 8-10 kg lạc vỏ
Việc bón Kali cho đất có độ phì trung bình và giàu đã làm tăng khả năng hấp thụ đạm và lân (Duan Shufen 1998)
Trang 15Kết quả nghiên cứu cho thấy khi bón Kali mức 30kg/ha và 500kg CaO đều tăng năng suất lạc, nhưng bón kết hợp vôi và Kali cho năng suất cao nhất
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân N, P, K hợp lí cho lạc xuân và lạc thu cho thấy: Nền 10 tấn phân chuồng và 30kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O vừa cho năng suất cao, vừa cho hiệu quả kinh tế cao hơn những công thức khác
Theo Nguyễn Văn Soàn (1967) Bón 30N + 60 P đạt 9,0 tạ/ha bón thêm 30
kg K đạt 10,5 tạ/ha như vậy mỗi Kali đã làm thu thêm được 5 kg lạc quả
Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Đất và Phân Bón cho biết trên đất bạc màu Kali có thể làm năng suất lạc tăng lên 30-50%
Trại Thực nghiệm Bắc Trung Bộ tại Nghi Kim thấy bón Kali cho lạc trên đất cát ven biển làm năng suất tăng 20-30% [14]
Ở Việt Nam trên đất bạc màu nếu không bón Kali cây trồng chỉ hút được 80-90kg N, trong khi đó bón Kali làm cây trồng hút được 120-150 kg N/ha
Tại vùng Đông Nam Bộ, khi bón kali với liều lượng 80-100 kg K2O đã làm tăng năng suất giống lạc Lỳ từ 19-31% so với không bón Bón phân Kali làm tăng
tỉ lệ nhân 2,5-3%, tăng khối lượng 100 hạt 5,6-9% và tăng số quả chín trên cây từ 14-36% [6]
Để đạt được những thành tựu to lớn trong sản xuất lạc nhà nước ta đã đầu
tư cho nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát huy những kinh nghiệm trồng lạc trong nhân dân Vì vậy ngày nay phát triển cây lấy dầu, trong đó cây lạc đã được xác định là một trong những vấn đề trọng điểm trong các chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta
Trang 16Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học
Hiệu quả kinh tế từ việc bón phân được biểu hiện trên nhiều phương diện khác nhau: Năng suất cây trồng tăng lên, giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích được nâng cao, giữ ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ nguồn nước
và không gây ô nhiễm môi trường sinh thái…Vì vậy bón phân là một yếu tố đầu tư được quan tâm và chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng chi phí sản xuất của người trồng trọt
Phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân gia cầm…) là loại phân có thể trả lại hầu hết các nguyên tố vi lượng cho đất, làm phong phú thêm tập đoàn vi sinh vật trong đất Các chất hữu cơ sau khi mùn hoá làm tăng khả năng trao đổi của đất, do vậy nó làm tăng tính đệm cho đất [17]
Phân hữu cơ bón kết hợp với phân hoá học do tác động của nó đến lí và sinh tính đất mà tăng cường hiệu lực của phân hoá học, giảm việc rửa trôi phân hoá học Phân hữu cơ tăng cường khả năng trao đổi của đất nên khiến cho cây chịu được mức phân hoá học cao, phân hoá học thúc đẩy sự phân giải phân hữu cơ Trong quá trình phân giải đó có thể làm tăng khả năng hoà tan các chất khoáng khó tan Việc hình thành các phức hữu cơ - vô cơ làm giảm khả năng di động của một số nguyên tố khoáng, làm hạn chế việc đồng hoá kim loại nặng của cây
Đất không phải là vật thể chết, cũng không chỉ là nơi để chứa chất dinh dưỡng và nước cung cấp cho cây Đất là một vật thể sống chứa đựng trong đó những hoạt động sống không ngừng nghỉ, trong đất có vô vàn các loài vi sinh vật sinh sống, có ý nghĩa quan trọng trong các mối tương tác giữa cây trồng, đất và phân bón Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật như (chuyển Lân, Kali trong đất từ dạng cây khó sử dụng thành dạng cây sử dụng được, tiết ra các chất điều hoà sinh trưởng…)
Hoạt động của vi sinh vật ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, là yếu
tố hàng đầu quyết định “tình trạng sức khoẻ” và độ phì nhiêu của đất Vì thế từ lâu
Trang 17người ta nghĩ đến tác động vào hoạt động của vi sinh vật nhằm tăng cường số lượng hoạt động của của vi sinh vật có lợi cho cây trồng.
Phân vi sinh vật là loại phân sinh học được sản xuất từ các vi khuẩn có ích như vi khuẩn cố định Đạm cộng sinh, cố định Đạm tự do, vi khuẩn phân giải Lân,
vi khuẩn phân giải khoáng Kali trong đất, vi khuẩn phân giải chất hữu cơ tiết ra chất kháng sinh Dùng phân vi sinh vật bón vào đất hoặc xử lí cho cây chống lại sâu bệnh hại góp phần nâng cao năng suất phẩm chất nông sản và tăng độ màu mỡ cho đất
Nhu cầu về Đạm của cây lạc khá cao, song nhờ hệ thống nốt sần ở bộ rễ nên cung cấp một lượng đạm đáng kể Tuy nhiên do đất trồng lạc hầu hết là đất có thành phần cơ giới nhẹ nên dễ rửa trôi, mặt khác trong giai đoạn cây con, cây Lạc phát triển mạnh ngay từ đầu, nhưng chưa có khả năng tổng hợp Đạm, nên cần bón một lượng Đạm thời kỳ Lạc 3-5 lá
Lân là yếu tố quan trọng đối với lạc Lân có tác dụng lớn trong sự hình thành nốt sần, sự ra quả và tỉ lệ đậu quả, tăng tính chống chịu rét Lạc hấp thụ lân nhiều nhất vào giai đoạn ra hoa và hình thành quả (chiếm 45%) tổng lượng lân mà cây cần Lân có hiệu quả chậm nên chủ yếu dùng bón lót
Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự phát triển quả, làm tăng khả năng giữ nước của tế bào Kali làm tăng tính chịu hạn chống đổ của cây, tăng hàm lượng dầu trong hạt Kali làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, cứng cây Nhu cầu kali của cây càng cao khi năng suất càng cao Kali làm tăng khả năng hấp thụ đạm và lân do đó kali đóng vai trò quan trọng cho sự sinh trưởng phát triển của cây Nhu cầu kali của lạc được hấp thụ chủ yếu vào thời kì ra hoa, làm quả chiếm đến 60% nên kali cần được bón sớm Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi
từ bên ngoài và chống chịu với một số loại bệnh Kali tạo cho cây cứng chắc ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét Kali là một chất dinh dưỡng mà
Trang 18cây trồng cần một lượng lớn để tăng trưởng và phát triển Là một dưỡng chất lưu động trong đất, kali tham gia hầu hết vào quá trình sinh lí, sinh hoá của cây làm tăng phẩm chất nông sản, tăng năng suất cây trồng.
Kali hoạt hoá các enzim liên quan đến quá trình quang hợp, chuyển hoá hydratcacbon và protein cũng như giúp di chuyển và duy trì sự ổn định của chúng, Kali làm tăng tỉ lệ C/N trong cây ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các sắc tố trong lá, điều khiển quá trình sử dụng nước bằng đóng mở khí khổng, thúc đẩy quá trình sử dụng đạm dạng NH4 làm tăng khả năng quang hợp
Kali ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển đường, tinh bột nên quá trình tạo hạt quả được thuận lợi hơn làm tăng năng suất cá thể, tăng lượng chất khô là tiền
đề để cho năng suất cao
Canxi là yếu tố không thể thiếu khi trồng lạc từ xưa nông dân đã biết đến câu "Không lân không vôi thì thôi trồng lạc" đã nói lên vai trò quan trọng của vôi Bón vôi tạo điều kiện môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố định đạm hoạt động,
là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo quả và hạt Bản thân tia lạc có thể đồng hoá trực tiếp canxi, thiếu canxi vào giai đoạn đâm tia, phát triển quả sẽ làm cho tia không phát triển được thành quả, hoặc làm cho quả ép nhiều gân không nổi
rõ Canxi xúc tiến sự chuyển đạm từ thân lá về hạt để tạo protêin dự trữ, nhu cầu canxi của lạc cao nhất vào thời kỳ hình thành quả, hạt Bón canxi làm tăng khả năng hút Kali của cây, tạo cho cây phát triển tốt
Cây lạc có nhu cầu cao về các yếu tố vi lượng và các chất điều hoà sinh trưởng Các nguyên tố vi lượng (Mo, Bo) tăng hoạt tính hoạt động của vi khuẩn nốt sần, tăng khả năng đồng hoá nitơ, hạn chế nấm bệnh xâm nhập, giảm hạt lép
Từ những căn cứ đó có thể lấy đó làm cơ sở khoa học cho việc bón phân đầy đủ, cân đối và hợp lí cho lạc nhằm đạt được năng suất cao, giảm chi phí đầu vào và tăng hiệu quả kinh tế
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc bón phân cho cây lạc
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có gió mùa, khí hậu nóng ẩm Mùa mưa, mưa nhiều lượng mưa nhiều hơn lượng bốc hơi, mùa khô lượng bốc hơi lại
Trang 19lớn hơn lượng mưa Phong hoá hoá học mạnh hơn phong hoá vật lí, quá trình khoáng hoá diễn ra mạnh mẽ làm cho đất bị mất đi lượng dinh dưỡng lớn.
Nghệ An có điều kiện nhiệt độ cao, nóng ẩm, mùa mưa bão kéo dài, quá trình khoáng hoá diễn ra mạnh mẽ làm cho đất bị rửa trôi hàng năm dẫn đến thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng không cung cấp đủ cho cây trồng Ngoài ra nhiều vùng đất bị xói mòn nghiêm trọng dẫn đến trơ sỏi đá không thể gieo trồng được cây làm mất đi lượng lớn diện tích nông nghiệp đáng kể Vì thế việc trả lại độ mùn cho đất
là vấn đề cấp bách cần được quan tâm hàng đầu khi muốn tăng năng suất cây trồng
Hàng năm cây trồng lấy đi lượng dinh dưỡng trong đất theo sản lượng mà cây trồng mang lại do đó lượng dinh dưỡng mất đi hàng năm, vì thế cần phải trả lại dinh dưỡng cho đất
Bảng 1.1 Lượng dinh dưỡng do một số cây trồng đã lấy đi từ đất (Kg/ha/năm)
807550605080
100200240110600270
( Nguồn: Nguyễn Vy – Độ phì nhiêu thực tế, Nxb Nghệ An)
Ở Nghệ An cây lạc mang lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên nó cũng phải cạnh tranh nguồn phân bón với các cây trồng khác cùng thời vụ do đó việc xác định lượng phân bón hợp lí cân đối, mang lại hiệu quả kinh tế cao là cần thiết, tránh trường hợp mang lại năng suất cao cho cây trồng nhưng hiệu quả kinh tế mang lại lại không đáng kể do chi phí đầu vào quá cao
Trang 20Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp càng ngày người ta càng sử dụng nhiều giống cây trồng có năng suất cao, tăng vụ, trồng xen nên nông sản và phụ phẩm đã lấy đi từ đất khá nhiều chất dinh dưỡng Những giống cây trồng năng suất cao thường hút nhiều Kali từ đất, do đó lượng Kali trong đất không đủ đáp ứng nhu cầu của cây, vì vậy muốn có năng suất cây trồng cao và chất lượng nông sản tốt, thì phải chú ý bón Kali cho cây.
Mặt khác các bộ phận thân lá cây, rơm rạ,…sau khi thu hoạch sản phẩm chính của nông nghiệp, hiện nay được sử dụng nhiều để nuôi trồng nấm, làm vật liệu độn chuồng, làm chất đốt,…và bị đưa ra khỏi đồng ruộng, vì vậy việc bón kali cho cây càng trở nên cần thiết
Các nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học cho thấy trừ đất phù sa sông Hồng có hàm lượng Kali tương đối khá, còn lại phần lớn các loại đất nước ta đều nghèo Kali nhất là các loại đất cát, đất bạc màu hàm lượng Kali ở các loại đất này thường là dưới 1% Vì vậy bổ sung Kali vào đất hàng năm là điều hết sức cần thiết [Nguồn w.w.w Agroviet.gov.vn]
Thương mại phân bón chủ yếu tập trung vào phân Đạm chính là nguyên nhân của tỉ lệ N: P2O5: K2O thiên về Đạm mà thiếu Lân và thiếu hẳn Kali
Giai đoạn 1990 đến nay cùng với những giống mới năng suất cao, sự ra đời của vụ Đông với tư cách là một vụ sản xuất chính với nhiều cây trồng không những đòi hỏi một lượng Đạm và Lân cao mà còn lấy đi rất nhiều Kali trong lúc hàng chục năm nay chất dinh dưỡng này được trả lại cho đất không đáng kể, đã gây ra hiện tượng khủng hoảng Kali trên nhiều vùng đất, đã làm xuất hiện một yếu
tố hạn chế mới hạn chế năng suất cây trồng như Ngô, Lạc, Mía…[13, Tr.76]
Cho đến nay đa số người dân đã biết đến tác dụng của phân hữu cơ đối với việc tăng năng suất lạc, sự cần thiết của việc bón lân, bón vôi khi trồng lạc Tuy nhiên khi trồng lạc đa số nông dân lại ít quan tâm đến nguyên tố kali về lượng bón cũng như thời điểm bón Vì thế sau khi trồng cây làm kiệt màu, hoặc đất bị rửa trôi mạnh, hoặc bón Lân trong một thời gian dài làm đất thiếu Kali trên một phạm vi rộng do đó làm giảm năng suất của lạc, giảm hiệu quả kinh tế, không cân đối tỉ lệ
Trang 21N-P-K Do đó qua nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của Kali trong việc làm tăng năng suất lạc, giúp cho người dân hiểu thêm tác dụng của việc bón phân cân đối để mang lại năng suất cao, và tạo sự bền vững nông nghiệp
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân năm 2008 tại Trại thực nghiệm Nông học tại Xã Nghi Phong, Huyện Nghi Lộc, Nghệ An
Một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bộ môn Nông Học, Khoa Nông Lâm Ngư, Đại Học Vinh
2.3 Vật liệu nghiên cứu
Thí nghiệm được nghiên cứu gồm 6 công thức:
Công thức 1: 10 tấn PC+30 kg N+90 kg P2O5+30 kg K2O+300 kg vôi bột
Công thức 2: 10 tấn PC+30 kg N+90 kg P2O5+45 kg K2O+300 kg vôi bột
Công thức 3: 10 tấn PC+30 kg N+90 kg P2O5+60 kg K2O+300 kg vôi bột (Đối chứng)
Công thức 4: 10 tấn PC+30 kg N+90 kg P2O5+75 kg K2O+300 kg vôi bột
Công thức 5: 10 tấn PC+30 kg N+90 kg P2O5+90 kg K2O+300 kg vôi bột
Công thức 6: 10 tấn PC+30 kg N+90 kg P2O5+120 kg K2O+300 kg vôi bột
2.4.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 3 lần lặp lại
Tổng số ô thí nghiệm : 18 ô, diện tích mỗi ô 5x2=10m2
Tổng diện tích : 180m2 không kể dải bảo vệ
Sơ đồ:
Giáp ruộng thí nghiệm
Trang 22- Bón thúc:
+ Lần1: Lạc 3-5 lá bón 50% lượng đạm còn lại
+ Lần 2: Sau khi lạc ra hoa rộ bón 50% lượng vôi còn lại
2.5.5 Chăm sóc xới vun
Trang 23- Lần 1: Khi lạc có 3-5 lá xới nhẹ 3-5 cm, sau khi bón thúc đạm tạo độ tơi xốp cho đất, cung cấp dinh dưỡng cho cây lạc giai đoạn đầu.
- Lần 2: Sau lần 1 khoảng 15-20 ngày, xới sâu 3-5cm không tiến hành vun, mục đích diệt cỏ dại tạo đất tơi xốp giúp cho vi khuẩn hoạt động nốt sần mạnh
- Lần 3: Sau khi lạc ra hoa rộ xới sâu vun cao, tạo lớp đất tơi xốp tạo bóng tối cho lạc đâm tia, tạo quả
2.6 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.6.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
- Chiều cao cây và chiều dài cành cấp 1
+ Đo 10 cây /ô đã đánh dấu trước, đo vào các buổi sáng, đo từ lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn
+ Đo sau mọc 15 ngày lần thứ nhất và sau đó 7 ngày đo một lần cho đến khi cây không còn tăng chiều cao nữa
- Diện tích lá (S ) và chỉ số diện tích lá (LAI )
+ Mỗi ô đo diện tích lá 3 cây, cắt lá và đỉnh sinh trưởng, rồi đo bằng máy,
đo diện tích lá ở 3 thời kì:
Trang 24LAI = Diện tích lá x mật độ cây /m2
- Khả năng tích luỹ chất khô
Mỗi ô theo dõi 3 cây, sấy khô cân khối lượng từng cây qua 3 thời kì :
+ Trước ra hoa
+ Ra hoa rộ
+ Quả vào chắc
- Thời gian ra hoa
Theo dõi từ khi mọc cho đến 50% số cây ra hoa
+ Phương pháp: Đếm số cây ra hoa trên 10cây/ô đánh dấu trước vào mỗi buổi sáng
+ Theo dõi động thái ra hoa của 10cây/ô Mỗi ngày một lần vào các buổi sáng
2.6.2 Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại
- Sâu hại: Điều tra mật độ các loài sâu hại chính ở các thời kỳ 3-5 lá, trước
ra hoa, ra hoa rộ, thời kì đâm tia làm quả, thời kì thu hoạch
+ Phương pháp: Trên mỗi ô thí nghiệm là một điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 10 cây
- Bệnh hại: Các bệnh gây hại chính như Đốm lá, gỉ sắt phát hiện, xác định cây bị hại và đánh giá theo cấp bệnh theo thang bệnh 9 điểm của ICRISAT [4]
Trang 252.6.3 Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Theo dõi 10 cây khi thu hoạch
- Tổng số quả trên cây: Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô và tính trung bình 1 cây
- Tổng số quả chắc trên cây: Đếm tổng số quả chắc trên 10 cây mẫu /ô và tính trung bình 1 cây
- Khối lượng 100 quả: Cân mỗi ô một mẫu, bỏ quả lép, non, chỉ lấy quả chắc Mỗi mẫu 100 quả khô, ở độ ẩm hạt khoảng 10%
- Khối lượng 100 hạt: Cân mỗi ô một mẫu hạt nguyên vẹn không sâu, bệnh được tách mẫu tính khối lương 100 quả Mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm khoảng 10%
- Tính tỉ lệ nhân (%): Cân khối lượng 100 quả khô , bóc vỏ cân khối lượng hạt tính ra tỉ lệ nhân
Tỉ lệ nhân = Khối lượng hạt của 100 quả
Khối lượng 100 quả
- Năng suất cá thể (g/cây)
+ Cân khối lượng quả chắc khô của 10 cây, lấy trung bình
Trang 26- Năng suất lí thuyết (tạ/ha):
Năng suất lí thuyết = (năng suất cá thể) x (mật độ cây ) x 10000 m2 (tạ/ha)
- Năng suất thực thu : Dựa trên năng suất ô (tạ/ha)
Năng suất thực thu = Khối lượng thu được trên 1 ô x 10000m2(tạ/ha)
[ ) ( (
[
) )(
( ) (
2 2
1 2
∑ ∑− ∑ ∑ ∑−
−
i i
i
i i
i i
y y
n x x
n
y x
y x n
Trong đó: x , i y i là các cặp số liệu quan sát thứ i của đặc tính x, y
n là mẫu số quan sát
Nếu r = 0 thì đại lượng x và y độc lập nhau
0 < r ≤ 0,5 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính yếu
0,5 < r ≤ 0,7 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính vừa
0,7 < r ≤ 0,8 thì hai đại lượng có quan hệ tuyến tính tương đối chặt 0,8 < r ≤ 0,9 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính chặt
0,9 < r < 1 thì hai đại lượng x,y có quan hệ tuyến tính rất chặt
2.7 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên phần mềm Excel và phần mềm INRISTAT 5.0
2.8 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội vùng nghiên cứu
Nghệ An là tỉnh lớn nằm trong khu vực Bắc Miền Trung, vị trí địa lí khoảng từ 18o35|- 19o30| vĩ độ Bắc và 103o52| - 105o42| kinh độ Đông, với diện tích 1.637.068 ha
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc tính nóng ẩm
và mưa nhiều theo mùa lượng mưa trung bình cả năm 1600-2000mm Khí hậu Nghệ An có hai mùa, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nóng từ tháng tháng 4 đến tháng 10
Trang 27Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.951.500 người (2002) Mật độ trung bình toàn tỉnh 181,8 người/km2 dân cư phân bố không đều giữa các tỉnh đồng bằng và miền núi.
Nghi Lộc là một trong những huyện của Nghệ An Đây là vùng đồng bằng chủ yếu là đất cát, đất thịt nhẹ và trung bình Là khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng
Điều kiện địa lí, đất đai, khí hậu huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi để gieo trồng các cây trồng cạn trong đó cây lạc là cây trồng cạn chủ lực của Nghệ An
Trang 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển
3.1.1. Ảnh hưởng của mức bón Kali đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm
Mọc mầm là giai đoạn khởi đầu của toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc Quá trình này hạt lạc chuyển từ giai đoạn tiềm sinh sang trạng thái sống, bắt đầu từ khi gieo hạt đến khi cây bắt đầu xuất hiện trên mặt đất, nó đóng vai trò quan trọng quyết định số cây ban đầu của quần thể
Chất lượng hạt giống là yếu tố quan trọng quyết định đến tỉ lệ mọc mầm và sức nảy mầm của hạt lạc Quá trình mọc mầm của hạt lạc hút ẩm để hoạt hoá các men phân giải Lượng nước hạt lạc hút ẩm trong giai đoạn này tối thiểu là 40 – 50% trọng lượng hạt Khi đó các thành phần protein, lipit dự trữ trong hạt biến đổi
về mặt sinh lí, sinh hoá để tạo ra các hợp chất đơn giản như axitamin, đường glucozo Quá trình phân giải này đòi hỏi lượng oxi lớn do vậy cần phải làm đất kĩ tơi xốp, độ sâu lấp hạt vừa phải
Ngoài ra yếu tố ngoại cảnh cũng có ảnh hưởng lớn đến sự nảy mầm của hạt lạc như nhiệt độ, độ ẩm … nhiệt độ thích hợp cho nảy mầm là 25 – 30oC ẩm độ thích hợp là 70 – 80%
Thí nghiệm được tiến hành gieo ngày 26/2/2008 trong điều kiện thời tiết rét kéo dài, ảnh hưởng đến sự nảy mầm của lạc, làm thời gian mọc mầm kéo dài hơn
và sức mọc mầm không cao
Chỉ tiêu này được tiến hành theo dõi đánh giá từ thời gian gieo đến mọc Với các công thức bón phân khác nhau thu được thời gian và tỉ lệ mọc mầm ở bảng 3.1
Trang 29Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mức bón Kali đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm của giống
Như vậy ta thấy thời gian mọc mầm của lạc kéo dài do gặp rét, và các mức phân kali khác nhau không ảnh hưởng đến thời gian mọc mầm của hạt lạc Tỉ lệ mọc mầm giữa các công thức bón có chênh lệch nhau điều này là do trong thời gian hạt lạc ở trong đất gặp điều kiện nhiệt độ thấp kéo dài, không thuận lợi cho lạc mọc mầm, ngoài ra do ở trong đất lâu nên các hạt giống bị một số côn trùng trong đất ăn dẫn đến tỉ lệ mọc mầm giữa các công thức bón là chênh lệch nhau
3.1.2 Ảnh hưởng của mức bón Kali đến chiều cao thân chính của giống lạc L14
Thân lạc có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Đó là bộ phận trung gian để vận chuyển vật chất từ rễ lên lá, và các sản phẩm
do lá đồng hoá được xuống rễ, quả và hạt
Trang 30Sự tăng trưởng chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lạc, khả năng tích luỹ chất khô và mối tương quan giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lạc.
Tốc độ chiều cao thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và đạt cao nhất trong thời kì ra hoa rộ, khoảng 0,7- 1,5 cm/ngày Giai đoạn đâm tia hình thành quả tốc độ tăng trưởng chiều cao thân giảm xuống còn khoảng 0,2 – 0,5 cm/ngày Trong thời kì chín nếu gặp điều kiện thuận lợi tốc độ tăng chiều cao thân lại tăng có thể 0,3 – 0,7 cm/ngày
Tốc độ tăng chiều cao cây phụ thuộc đặc tính di truyền của giống, điều kiện ngoại cảnh và biện pháp kĩ thuật canh tác Theo dõi sự tăng trưởng chiều cao cây của giống lạc L14 ở các mức phân Kali khác nhau chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mức bón Kali đến chiều cao thân chính của giống lạc
IV 5,95 7,89 15,16 23,81 31,82 32,26 36,29 36,86 37,21
V 6,00 7,85 15,21 23,83 32,17 33,40 36,49 36,97 37,34
VI 6,01 7,87 15,24 23,86 32,25 33,41 36,51 37,08 37,41
Trang 31Biểu đồ 3.1: Ảnh hưởng của Kali đến chiều cao cây
Từ kết quả thu được bảng trên cho thấy:
Sau mọc 18 -25 ngày chiều cao thân chính đạt cao nhất là ở công thức I (30
kg K2O) với 8,16 cm Công thức đối chứng cao 7,99 cm, thấp hơn công thức I là 0,17cm Công thức VI với lượng kali cao nhất đạt 7,87 cm Như vậy trong thời kỳ này ảnh hưởng của kali đến chiều cao thân là chưa rõ ràng, lúc này cây lạc đang ở thời kỳ cây con lượng Kali mà cây lạc hút chỉ mới 19% so với tổng lượng kali mà cây lạc hút trong cả quá trình sinh trưởng và phát triển
Sau mọc 25 – 32 ngày là giai đoạn đầu của thời kỳ ra hoa, chiều cao cây bắt đầu có sự khác nhau giữa các công thức Đây là giai đoạn cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng đến sinh trưởng sinh thực Giai đoạn này đã cho thấy
sự sai khác về chiều cao cây Chiều cao cây biến động trong khoảng từ 14,75 – 15,24 cm, công thức đối chứng cao 15 cm Cao nhất là công thức VI với 15,24 cm cao hơn đối chứng là 0,25 cm, thấp nhất là công thức I với 14,75 cm thấp hơn công thức VI là 0,49 cm Như vậy thời gian này ở các mức bón Kali khác nhau đã thấy có sự sai khác tuy nhiên không lớn