Phần lớn các giống này thuộc dạng hình sinh trưởng vô hạn, có thời gian sinh trưởng dài, năng suất và khả năng chống chịu bệnh khá nhưng chất lượng quả kém so với cà chua hồng nên ít đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
-ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG ĐẾN SỰ PHÁT SINH PHÁT TRIỂN BỆNH HẠI CÀ CHUA VỤ XUÂN
2008 TẠI NGHI PHONG – NGHI LỘC - NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
CSB: Chỉ số bệnhTLB: Tỉ lệ bệnh
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua trên thế giới trong những năm
gần đâyBảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của một số nước trên thế giới
năm 2006Bảng 1.3 Cơ cấu sản lượng cà chua ở Việt Nam
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua Việt Nam những năm gần đây
(2000-2005)Bảng 3.1 Thành phần bệnh hại cà chua vụ xuân hè 2008 trên các giống cà chu
TH42, THN988, F1609 tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ AnBảng 3.2 Thành phần bệnh hại trên giống cà chua PT18 vụ xuân hè 2008 tại Nam
Tiến - Nam Đàn - Nghệ AnBảng 3.3 Diễn biến TLB xoăn lá virus ntrên các giống cà chua TH42, THN988,
F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ AnBảng 3.4 Diễn biến CSB xoăn lá virus trên các giống cà chua TH42, THN988,
F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộ Nghệ AnBảng 3.5 Diễn biến TLB lở cổ rễ trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ
xuân 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ AnBảng 3.6 Diễn biến CSB lở cổ rễ trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ
xuân hè 2008 tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ AnBảng 3.7 Diễn biến TLB đốm vòng trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609
vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ AnBảng 3.8 Diễn biến CSB đốm vòng trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609
vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc – Nghệ AnBảng 3.9 So sánh TLB xoăn lá virus, bệnh lở cổ rễ , bệnh đốm vòng trên các
giống cà chua TH42, THN988,F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
Bảng.3.10 Năng suất thực trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân
hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
DANH MỤC HÌNHHình 3.1 Diễn biến TLB xoăn lá virus trên các giống cà chua TH42, THN988,
Trang 4F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ AnHình 3.2 Diễn biến CSB xoăn lá virus trên các giống cà chua TH42, THN988,
F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ AnHình 3.3 Diễn biến TLB lở cổ rễ trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609
vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ AnHình 3.4 Diễn biến CSB lở cổ rễ trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609
vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ AnHình 3.5 Diễn biến TLB đốm vòng trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609
vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ AnHình 3.6 Diễn biến CSB đốm vòng trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609
vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ AnHình 3.7 Năng suất thực thu trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ
xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang 51 Đặt vấn đề
… 1
2 Mục đích và yêu cầu …1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài …………20
Trang 62.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài …………
20 2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
……… 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
……… 21
2.3 Vật liệu nghiên cứu và dụng cụ nghiên cứu
……… 22
2.4 Phương pháp thực nghiệm ……… …
23 2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
……… 23
2.4.2 Phương pháp điều tra
……… 23
2.4.3 Các phương pháp kỹ thuật áp dụng
……… 26
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
……… 29
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
……… 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1.1 Thành phần bệnh hại trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An ………
…… 31
1.2.Diễn biến TLB và CSB xoăn lá virus trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An………… 35
Trang 71.3 Diễn biến TLB và CSB lở cổ rễ trên các giống cà chua Th42, THN988,
F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ
An…… 39
1.3.3 Diễn biến TLB lở cổ rễ trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
……… 40
1.3.4 Diễn biến CSB lở cỏ rễ trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phòng – Nghi Lộc - Nghệ An
……… 44
3.4 Diễn biến TLB và CSB đốm vòng trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
… 46
3.5 So sánh TLB xoăn lá virus, bệnh lở cổ rễ, bệnh đốm vòng trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An…….50
3.6 Năng suất thực thu trên các giống cà chua TH42, THN988, F1609 vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
……… 51
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận
………… 53
4.2 Kiến nghị
……… 54
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo, gia đình, bạn bè
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới KS Ngô Thị Mai Vi - người cô đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đồng thời tôi xin cảm ơn các thầy cô trong tổ Nông học, khoa Nông -
Trang 8Lâm - Ngư đã nhiệt tình giảng dạy, cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, đặc biệt là các bạn trong lớp 45 K 2 – Nông học đã động viên giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè
Vinh, ngày 27 tháng 12 năm 2008
Trang 9Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Vinh, ngày 27 tháng 12 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solana ceae) có
nguồn gốc ở châu Mỹ Theo nghiên cứu của De Candole (1984), Miulero (1940), Lacơvin, Jenkin (1948) thì cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Peru, Equado, Bolivia, quần đảo tây Ấn Độ, Philippin [14]
Trước kia người ta cho rằng cà chua là cây có chất độc vì nó cùng họ hàng với cà độc dược Do đó, đến tận giữa thế kỷ XIX nó vẫn chỉ được trồng như cây cảnh do màu sắc quả đẹp Về sau người ta biết được rằng ancoloit trong quả cà chua là tomatin - Một chất rất ít độc dù ở hàm lượng cao do đó diện tích trồng cà chua nhanh chóng được mở rộng Năm 1870 cà chua mới chỉ được dùng làm thực phẩm ở Anh, cuối thế kỷ XVIII cà chua bắt đầu được trồng ở các nước Liên Xô
cũ Ở Mỹ cà chua được nhập vào từ những năm 1860 và cùng thời gian này cà chua cũng được phát triển ở Pháp Một số nhà nghiên cứu cho rằng cà chua được nhập vào Việt Nam từ thời gian bị thực dân Pháp chiếm đóng [3]
Cà chua là cây thân thảo, khi chín có nhiều chất dinh dưỡng như: đường, vitamin A, vitamin C, và các chất khoáng quan trọng như Canxi, Sắt, Photpho, Kali, Magie
Trang 10Ngoài các thành phần các chất nói trên trong quả cà chua còn chứa các aminoaxit (trừ triptophan) do đó giá trị dinh dưỡng của cà chua rất phong phú Theo tính toán, hằng ngày mỗi người sử dụng 100-200g cà chua sẽ thoã mãn nhu cầu về các vitamin cần thiết và các chất khoáng chủ yếu.
Theo các nghiên cứu trong đông y cà chua không những được dùng như một loại rau cung cấp vitamin, chất khoáng mà còn có nhiều tác dụng về mặt y học bởi nó có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tiếp chất khoáng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyết, có tác dụng bổ huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hoá máu có dư axit, lợi tiểu, hoà tan urê, thải urê, điều hoà bài tiết, giúp tiêu hoá dễ các loại bột và tinh bột Nước sắc cà chua có tác dụng giảm huyết áp, lá cũng có chất giải độc sưng tấy, nhuận tràng kích thích
sự bài tiết của dạ dày, lọc máu và khử trùng ruột và có tác dụng trong việc chữa bệnh loét lở miệng [3]
Do có thành phần dinh dưỡng phong phú nên cà chua đã trở thành món ăn thông thường của nhiều nước trên 150 năm nay và là cây ăn rau quả được trồng rộng rãi khắp các châu lục Cà chua cũng là loại có nhiều cách sử dụng: Có thể dùng để ăn tươi, trộn salat, nấu canh, xào, nấu sốt vang, nước sốt nấm và nước quả…[17]
Ở Việt Nam cà chua được trồng trên 100 năm nay, diện tích trồng cà chua biến động từ 13 - 25 ngàn ha Cà chua được trồng chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng và Trung Du Bắc Bộ Ở Miền Nam có Đà Lạt (Lâm Đồng) nơi sản xuất cà chua năng suất cao Song trong cả nước chưa có vùng sản xuất lớn Cà chua được trồng rải rác ở nhiều nơi cũng là khó khăn trong việc quy hoạch vùng sản xuất cho mục đích xuất khẩu và chế biến [17]
Hiện nay có 3 nhóm cà chua được trồng phổ biến là:
- Nhóm cà chua hồng: Là loại cà chua được trồng phổ biến hiện nay Quả
có hình dạng như quả hồng, không có múi hoặc múi không rõ Chất lượng ăn tươi cũng như chế biến và nấu ăn cao do thịt quả đặc, nhiều bột, lượng đường cao
Trang 11- Nhóm cà chua có múi: Quả to, nhiều ngăn rõ rệt, tạo thành múi Phần lớn các giống này thuộc dạng hình sinh trưởng vô hạn, có thời gian sinh trưởng dài, năng suất và khả năng chống chịu bệnh khá nhưng chất lượng quả kém so với cà chua hồng nên ít được dùng trong sản xuất.
- Nhóm cà chua quả nhỏ: Có lượng axít cao, hạt nhiều nhưng khả năng chống chịu khá nên được sử dụng làm vật liệu tạo giống
- Điều kiện ở nước ta thuận lợi cho sản xuất cà chua nhưng năng suất cà chua vẫn còn thấp do nhiều nguyên nhân như sâu bệnh hại, trình độ canh tác thấp…Mặc dù bộ giống tuy tương đối phong phú gồm cả các giống chọn tạo trong nước và giống nhập nội Tuy nhiên công tác khảo nghiệm, lựa chọn những giống phù hợp cho từng vùng sinh thái chưa được quan tâm đúng mức đặc biệt việc lựa chọn giống kháng chống chịu sâu bệnh như một biện pháp bảo vệ thực vật chưa được thực hiện một cách nghiêm túc đối với các vùng trồng cà chua trọng điểm
Để đóng góp cơ sở khoa học cho việc đánh giá mức độ nhiễm bệnh của một số giống cà chua nhằm tìm ra giống phù hợp với địa phương để đưa vào sản
xuất đại trà chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: ''Ảnh hưởng của giống đến sự phát sinh phát triển bệnh hại cà chua vụ xuân hè 2008 tại Nghi Phong-Nghi Lộc-Nghệ An.''
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích của đề tài
- Xác định thành phần và đặc điểm phát sinh phát triển của một số bệnh hại chính cà chua tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An, đánh giá mức độ nhiễm bệnh của một số giống cà chua: F1609, HT42, THN988
- Trên cơ sở đó lựa chọn và khuyến cáo giống có triển vọng phục vụ sản suất đại trà tại địa phương
Trang 122.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra giám định thành phần bệnh hại cà chua vùng Nghi Phong – Nghi Lộc - Nghệ An
- Điều tra xác định diễn biến một số bệnh hại chính cà chua vùng Nghi Phong- Nghi Lộc - Nghệ An
- Điều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh của một số giống cà chua ở Nghi Phong- Nghi Lộc - Nghệ An
- Thu thập số liệu khí tượng từ tháng 2 đến tháng 5 vùng nghi Lộc - Nghệ An
3 Đối tượng nghiên cứu
Các loại bệnh gây hại trên cà chua vụ xuân hè 2008
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu một số bệnh hại chính trên các giống cà chua
F1609, THN988, TH42 trong vụ xuân hè ở ruộng thí nghiệm tại xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
- Điều tra thành phần bệnh hại giống cà chua PT18 vụ xuân hè 2008 tại Nam Tiến - Nam Đàn - Nghệ An
5 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, xác định thành phần bệnh hại cà chua vùng Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
- Điều tra diễn biến các bệnh hại chính trên một số giống cà chua tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
- Đánh giá ảnh hưởng của bệnh đến năng suất của các giống F1609, THN988, TH42 trong vụ cà chua xuân hè 2008 tại Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
Trang 13Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới
Cây cà chua tuy có lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng có khả năng thích ứng rộng và có giá trị sử dụng cao nên hiện nay nó được trồng rộng rãi khắp thế giới đang ngày càng được ưa chuộng và trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều nước trên thế giới Đã có nhiều giống mới ra đời đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người cả về số lượng lẫn chất lượng
Theo tổ chức Nông - Lương Liên hợp quốc - FAO (2005) hiện nay có trên
150 nước trồng cà chua Trong những năm 2003-2005 tổng sản lượng cà chua trên thế giới liên tục tăng, cụ thể năm 2000 là 117 170 000 tấn, đến năm 2005 là 126
638 800 tấn Đến năm 2006 thì tổng sản lượng có giảm song không đáng kể (124
799 400 tấn) Trong số những quốc gia có sản lượng cao năm 2006 thì Trung Quốc
là quốc gia đứng đầu với 31 644 000 tấn, tiếp đó là Ấn Độ (8 585 600 tấn), Iran (4
781 000 tấn)
Trang 14Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua trên thế giới trong
những năm gần đây
Năm
Diện tích (1000ha)
Năng suất (Kg/ha)
Tổng sản lượng (1000tấn)
Về diện tích cả thế giới tăng từ năm 2003 với 4 191 000 ha đến năm 2006
là 4 598 000 ha Mặc dù vậy năng suất lại giảm từ 27,958 tấn/ha năm 2003 xuống còn 27,142 tấn/ha năm 2006 Châu Á là châu đứng đầu về diện tích cà chua với 1
565 000 ha nhưng châu Âu là nơi có năng suất cao nhất đạt 66,40 tấn/ha
Ta có thể thấy rằng cà chua được trồng chủ yếu ở các nước ôn đới và á nhiệt đới Cà chua được sản xuất ở châu Mỹ và châu Âu thường được chế biến thành các loại sản phẩm khác nhau như cà chua đóng hộp, cà chua cô đặc…Xuất khẩu cà chua cô đặc ở ở châu Âu chiếm tới 56% lượng xuất khẩu trên toàn thế giới Sản lượng cà chua châu Á và châu Phi cao nhưng do chất lượng không đồng đều nên chủ yếu được tiêu thụ tại chỗ Ở các nước nhiệt đới luôn xảy ra tình trạng thiếu cà chua trong mùa hè, vì thế việc tìm ra giải pháp để tăng sản lượng cà chua trái vụ cũng là một vấn đề cấp thiết trên thế giới
Theo Trần Khắc Thi (Viện rau quả Hà Nội) đứng đầu về tiêu thụ cà chua
là châu Âu, sau đó là châu Á, rồi đến Bắc Mỹ và Nam Mỹ
Năm 2003 châu Âu là thị trường lớn nhất thế giới về tiêu thụ cà chua với sản lượng nhập khẩu là 7,22 triệu tấn sau đó là Bắc Trung Mỹ 1,65 triệu tấn, châu
Á 1,69 triệu tấn Thị trường châu Âu vẫn là thị trường hứa hẹn nhiều tiềm năng cho những nước xuất khẩu cà chua Nhật Bản là nước nhập khẩu cà chua lớn nhất thế
Trang 15giới, năm 1998 là 4126 tấn, năm 1999 là 8700 tấn, năm 2000 là 13 000 tấn, theo dự tính thì nhu cầu thị trường của Nhật Bản vẫn tiếp tục gia tăng [29].
Theo Tạp chí thương mại sản phẩm nghề làm vườn thế giới và cơ hội xuất khẩu của Mỹ cho biết: Sản lượng cà chua chế biến xuất khẩu của 11 nước đứng đầu thế giới là 22,3 triệu tấn năm 2002 tăng 9 % so với năm 2001 Mức tăng này là nhờ sản lượng tăng mạnh ở một số nước như: Mỹ tăng 22 % , Thổ Nhĩ Kỳ tăng 12
%, Bồ Đào Nha tăng 6 %, Chi Lê tăng 4 %, Brazin tăng 2 %
Cà chua là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước Lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới năm 1999 là 36,7 triệu tấn, trong đó cà chua được dùng ở dạng quả tươi từ 5-7 % Qua đó cho thấy cà chua đã được sử dụng chủ yếu là loại sản phẩm đã qua chế biến
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của một số nước trên thế giới
Trang 161.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua ở Việt Nam
Ở Việt Nam cà chua được trồng khoảng 100 năm nay, diện tích trồng cà chua dao động trong khoảng13 729 – 23 354 ha (Nguồn: Thống kê nông nghiệp - Tổng cục thống kê 2006) Cà chua là cây rau ăn quả quan trọng của vùng chuyên canh, là loại cây cho hiệu quả kinh tế cao Tùy theo đặc điểm của từng vùng sinh thái, thời vụ và kinh nghiệm sản xuất của nhà vườn mà có thể thu được 2 - 3 triệu đồng/sào Bắc Bộ, thậm chí trồng cà chua hè với các giống chống chịu nóng thu hoạch được 4 – 5 triệu đồng [3 ]
Theo điều tra của TS Phạm Hồng Quảng và cộng sự, hiện nay cả nước có khoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống được gieo trồng với diện tích lớn 6 259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước [2,15]
Cà chua được trồng chủ yếu ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng (cũ), Hà Bắc (cũ)…Với năng suất trung bình 14 tấn/ha, sản lượng hằng năm là 100 ngàn tấn mới chỉ đảm bảo cho bình quân đầu người trong
cả nước hơn 1 kg sản phẩm/năm [19] Những năm gần đây, nhờ các tiến bộ kỹ thuật về giống, thời vụ, thu hoạch và vùng trồng cà chua được mở rộng sản phẩm đang có xu thế gia tăng Một số địa phương đã liên kết xây dựng xí nghiệp chế biến cà chua cho xuất khẩu Ngoài ra việc xuất khẩu quả tươi cũng có nhiều triển vọng vì sản phẩm cà chua ở nước ta vào đúng thời điểm nhiều nước mua hàng không trồng được trong mùa đông lạnh [19]
Bảng 1.3 Cơ cấu sản lượng cà chua ở Việt Nam
Năm
Vụ đông (t12-t3)
Vụ xuân (t4-t8)Khối lượng
(tấn) % Từ tổng số
Khối lượng ( tấn) % Từ tổng số
Trang 17
(Nguồn : Tổng cục thống kê )
Tuy nhiên, năng suất trồng vẫn chưa cao do: Chưa có bộ giống tốt, chưa đầu tư thích đáng vào mở rộng diện tích sản xuất tập trung, quy hoạch vùng sản xuất, chưa làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh hại và chưa áp dụng các biện pháp
kỹ thuật đạt năng suất cao [3]
Sản lượng (tấn)
( Nguồn: Vụ thống kê nông nghiệp nông nghiệp - Tổng cục thống kê năm 2006 )
Theo số liệu thống kê năm 2005, năm 2006 diện tích trồng cà chua của cả nước là 23 354 ha so với năm 2000 tăng 6 976 ha, năng suất trung bình đạt 198,0 tạ/ha, sản lượng 462 435 tấn
Cho đến nay, sản lượng cà chua xuất khẩu ở Việt Nam rất ít Những năm
1980 Công ty xuất nhập khẩu rau quả Việt Nam chỉ xuất khẩu cà chua tươi và một
số cà chua cô đặc sang Liên Xô cũ và một số các nước đông Âu khác thuộc khối
EU Thời kỳ này có rất nhiều thuận lợi so với các nước khác trong khu vực nước ta
có thuận lợi về khí hậu, thời tiết, đất đai và đặc biệt là các tỉnh phía Bắc phù hợp cho sinh trưởng phát triển cây cà chua Theo dự đoán của một số nhà chuyên môn thì trong một vài năm tới diện tích và năng suất cà chua đều sẽ tăng nhanh do:
Trang 18+ Các nhà chọn giống trong những năm tới sẽ đưa ra hàng loạt các giống có
ưu điểm về năng suất, chất lượng, có khả năng chống chịu sâu bệnh hại, phù hợp với từng vùng sinh thái, từng mùa vụ nhất là các vụ trái giải quyết rau trái vụ
+ Các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới sẽ được hướng dẫn và phổ biến cho người dân trồng cà chua ở các tỉnh
+ Nước ta đã đưa vào một nhà máy chế biến cà chua cô đặc theo dây chuyền hiện đại tại Hải Phòng với công suất 10 tấn nguyên liệu/ngày Vì vậy công việc quy hoạch vùng trồng cà chua đang trở nên cấp thiết nhất là các tỉnh Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình đây là những vùng sản xuất cà chua quan trọng cho nhà máy chế biến
+ Lợi thế về thời điểm cung cấp hàng: Cà chua trồng ở miền Bắc Việt Nam cho thu hoạch từ đầu tháng 2 đến tháng 3 năm sau, là thời điểm các nước châu Âu, Trung Quốc đang vào thời kỳ trái vụ mà nhu cầu lại rât lớn Ngược lại, ở Việt Nam vụ trồng rau này cho năng suất và chất lượng cao nhất, giá làm thuê công nhân rẻ vì không ảnh hưởng đến việc trồng các cây lương thực khác
Tóm lại, nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng cà chua, chúng ta có một thị trường hết sức rộng lớn và ổn định Tuy nhiên cho đến nay nghề xuất khẩu cà chua nước ta chưa làm chủ được thị trường do đó sự đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu còn ít, chưa đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Khoa học bệnh cây được hình thành từ nhu cầu sản xuất nông nghiệp Thời thượng cổ, với đời sống hái lượm sau đó tiến bộ hơn là du canh du cư con người không phát hiện ra sự phá hoại của bệnh cây mà luôn cho rằng việc cây bị héo, bị chết, sản xuất nông nghiệp bị tàn phá là do trời…không phát hiện được nguyên nhân gây bệnh Tới thế kỷ XIX, M.Tllet (1775) và B.Prevost (1807) là những người đầu tiên nghiên cứu về bệnh Tài liệu nghiên cứu của Anton de Bary
Trang 19(1835) được xuất bản đặt nền móng cho sự phát triển khoa học bệnh cây sau này [24].
Do giá trị dinh dưỡng và hiệu quả cao nên cây cà chua đã trở thành cây trồng chính được nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư và nghiên cứu Tạo giống cà chua có năng suất cao và chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh, điều kiện bất thuận và mục tiêu của các nhà chọn giống nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất Những công trình nghiên cứu được thực hiện ở nhiều nước khác nhau trên thế giới như Pháp, Mỹ, Bungary, Liên Xô…
Năm 1947, Payen (Pháp) đã giám định trên quả cà chua tím tìm ra bệnh
mốc sương cà chua Phytophthora infestans Roder (1935), Small (1938), Berg (1962) đã xác định bệnh mốc sương Phytophthora infestans cà chua có chủng nòi
sinh học của nấm khác với trên khoai tây Năm 1952, Gallegly cũng đã xác định một số nòi sinh học khác trên giống cà chua cùng năm đó Waggner và Wallin cũng đã phân lập từ khoai tây một số nòi điển hình hại cà chua Ở Đức (1970) cũng đã xác định được chủng nòi sinh học T0, T1 điển hình hại cà chua Năm 1968, Doropkin và Remnieva đã xác định chủng nòi sinh học mới trên giống cà chua
Những nghiên cứu về quan hệ giữa các chủng nòi sinh học của nấm Phytophthora infestans với các giống lai cà chua biết trước hệ thống gen di truyền vạch ra
phương hướng mới phòng trừ bệnh theo con đương giống chống chịu [7]
Năm 1961, Gơrunmow và Guntơ đã lai tạo giống cà chua chống bệnh mốc
sương từ Lycopersicum pimpinefolium và L peruvianum có triển vọng, đã có
nhiều giống lai chống chịu bệnh hoàn toàn [7]
Theo Henning và Alexander (1952 - 1959), King (1967) cho biết nấm gây bệnh đốm vòng cà chua có 7 dạng sinh học khác nhau và tính chống bệnh của các giống cà chua thể hiện khác nhau [7]
S K Green và L hwang (1980 - 1982) đã phát hiện ra ở Đài Loan 3 chủng virus T0MV là 0,1, 2 gây bệnh khảm lá trên cà chua Ba chủng này mang các gen khác nhau [7]
Trang 20Năm 1896, Ervin Smith là người đầu tiên phát hiện bệnh héo xanh vi khuẩn do Pseudomonas Solanacearum trên cây họ cà ở Mỹ [6].
Năm 1920, Doidge đã phát hiện bệnh đốm đen vi khuẩn Xanthomonas vesicatoria (Doidg) Dowson lần đầu tiên ở Nam Phi [6].
Lịch sử công tác chọn tạo giống cà chua trên thế giới bắt đầu ở Châu Âu với những tiến bộ ban đầu về dòng, giống Khoảng hơn 200 năm trước việc chọn tạo giống cà chua trồng riêng cho các vùng, chọn giống chịu bệnh đã có nhiều tiến
bộ Người Italia là những người đầu tiên phát triển các giống cà chua mới này Sau
đó người ta chú ý hơn đến việc chọn giống cà chua theo mục đích sử dụng riêng Nhìn chung hiện nay hướng chọn tạo giống cà chua trên thế giới phụ thuộc vào điều kiện khí hậu đất đai của từng vùng, kỹ thuật canh tác hay nhu cầu chế biến,
ăn tươi mà xác định sự đa dạng trong công tác chọn tạo loại cây trồng này Những giống cà chua mới phải có năng suất cao, ổn định mềm dẻo sinh thái, chống chịu một số bệnh cơ bản của từng vùng sản xuất Năm 1860 những giống cà chua mới
đã được giới thiệu ở Mỹ Năm 1863, 23 giống cà chua được giới thiệu trong đó giống Trophy được coi là giống có chất lượng tốt nhất [17] Đầu thế kỷ XVIII, các giống cà chua trở nên phong phú và đa dạng, nhiều vùng đã trồng cà chua làm thực phẩm Cuối thế kỷ XIX, trên 200 dòng, giống cà chua được giới thiệu một cách rộng rãi [17]
Chương trình thử nghiệm của Liberti Hyde Bailey tại trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) bắt đầu từ năm 1886, tác giả đã tiến hành chọn lọc, phân loại giống cà chua trồng trọt Từ năm 1870 đến 1893, A.W.Livingston đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được giới thiệu theo phương pháp chọn lọc cá thể [17]
Nhiều công trình nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (AVRDC) cho thấy những giống cà chua chọn tạo trong điều kiện ôn đới không thích hợp với điều kiện nống ẩm vì sẽ tạo những quả kém chất lượng như
có màu đỏ nhạt, nứt quả, vị nhạt hoặc chua… Theo ý kiến của Anpachev ( 1978), Iorganov (1971), Phiên Kì Mạnh (1961) (dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [5] thì xu hướng chọn tạo giống cà chua mới là:
Trang 21+ Tạo giống chín sớm phục vụ cho sản xuất vụ sớm
+ Tạo giống cho sản lượng cao, giá trị sinh học cao, dùng làm rau tươi và nguyên liệu cho chế biến đồ hộp
+ Tạo giống chín đồng loạt thích hợp cho cơ giới hóa
+ Tạo giống chống chịu sâu bệnh
Các nhà chọn tạo giống trên thế giới đã sử dụng nguồn gen của các loài hoang dại làm nguồn gen chống chịu với các điều kiện bất thuận bằng nhiều con đường khác nhau như lai tạo, chọn lọc giao tử, hợp tử, đột biến nhân tạo…bước đầu đã thu được những thành công nhất định
Trong chọn tạo giống cà chua, người ta chú ý nhiều đến ưu thế lai Ở Nhật Bản ưu thế lai được sử dụng rộng rãi trên cà chua từ năm 1930 Khi lai thử giữa giống Rutgres với 5 giống khác nhau cho thấy ưu thế lai về tổng trọng lượng quả cao hơn bố mẹ nhưng về số quả trên cây và trọng lượng quả phần lớn là trung gian giữa bố và mẹ (trích theo Kiều Thị Thư, 1998) [5]
Gần đây, nhiều nước trên thế giới đặc biệt là Mỹ, các nhà khoa học đã tạo
ra những giống cây trồng biến đổi gen trong đó có cà chua Những giống cây trồng này ngoài khả năng chống chịu được sâu bệnh, tuyến trùng, khô hạn, sương muối
mà còn có khả năng cất giữ bảo quản lâu, chất lượng cao, mang nhiều dược tính, năng suất cao Các nhà nghiên cứu tại đại học bang Oregon (Mỹ) đang hoàn thiện một giống cà chua tím, đây là một sự kết hợp giữa màu sắc và chất dinh dưỡng Màu tím trong quả cà chua do có chứa chất Phytochemical, có khả năng giảm nguy
cơ ung thư và bệnh tim Loại cà chua này có nguồn gốc từ dạng dại ở Nam Mỹ Hàng trăm năm trước các nhà khoa học đã phát hiện cà chua màu tím trong thiên nhiên nhưng loài cây này nhỏ và có độc Vào thập niên 1960-1970, các nhà khoa học đã thu nhặt hạt giống từ cà chua tím và lai với loài hiện đại để cho ra loại quả
an toàn với mọi người hơn dạng ban đầu của nó
Cho đến nay các nhà khoa học trên toàn thế giới vẫn đang tiếp tục tiến hành các nghiên cứu và thử nghiệm để tạo ra các giống cà chua mới nhằm đáp ứng
Trang 22cho sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của con người, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người
1.3.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Cây cà chua là đối tượng nghiên cứu chính trong nghiên cứu giống rau ở nước ta đầu thập niên 70 của thế kỷ trước Tham gia vào công tác nghiên cứu bao gồm Viện cây lương thực và thực phẩm, Viện nghiên cứu rau quả, Viện khoa học
kỹ thuật nông nghiệp, Viện di truyền nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật miền Nam, các trường Đại học nông nghiệp, Trung tâm kỹ thuật rau quả Hà Nội…
Giống cà chua Trang Nông 386 ghép kháng bệnh, cho năng suất cao Là kết quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của viện Nông nghiệp Miền Nam, do nhóm kỹ sư của Trạm khảo nghiệm giống cây trồng miền Trung tại Quảng Ngãi thực hiện thành công, trong dự án “Sản xuất rau an toàn”, tại xã Nghĩa Dũng, thị
xã Quảng Ngãi Kết quả kháng bệnh héo rũ đạt 98%, mỗi sào cho năng suất 1,2 - 1,5 tấn quả, thu hoạch trong vòng 70 ngày [28]
Mới đây, các nhà khoa học thuộc viện khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp miền Nam, đã công bố công trình nghiên cứu và ứng dụng biện pháp ghép cà chua với cà chua tím hoang dại chống bệnh héo rũ vi khuẩn Đây cũng là lần đầu tiên, Việt Nam đã lai ghép và ứng dụng cà chua này trên diện rộng, với diện tích lên hàng nghìn ha Công trình đạt 100 tấn/ha (đạt 150 - 200 triệu đồng) [8]
Năm 1968 – 1972, tác giả Nguyễn Thơ đã nghiên cứu virus TMV trên cà chua ở Gia Lâm (Hà Nội) Tác giả Bùi Văn Ích và Nguyễn Thơ cũng đưa ra biện pháp sử dụng thuốc hóa học định kỳ để chống bệnh xoăn lá cà chua Nguyên Thơ, Nguyễn Đức Khiêm nghiên cứu về môi giới bọ phấn truyền bệnh Lê Trường nghiên cứu các thuốc hóa học diệt bọ rầy truyền bệnh vàng lụi và bọ phấn truyền bệnh xoăn lá cà chua [6]
Năm 1991 – 1993, Vũ Triệu Mân và H Lecog (Pháp) và các cộng tác viên
đã xác định bằng phương pháp Elisa tại Đại học nông nghiệp I Hà Nội các virus
Trang 23PRSV, WMMV2, CMV, SpMN, ZyMV có mặt trên 24 loài cây họ bầu bí, cà chua,
họ đậu…ở miền Bắc Việt Nam [6]
Những nghiên cứu về bệnh virus thực vật ở Việt Nam ngày càng phong phú và đa dạng, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc chẩn đoán và xác định bệnh [6]
Kể từ khi cây cà chua xuất hiện ở nước ta cho đến nay, cây cà chua ngày càng được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi khắp cả nước Nhu cầu sử dụng ngày càng được nâng cao, cà chua chính vụ dần dần đã không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Chính vì vậy những nghiên cứu cà chua trong nước tập trung chủ yếu chọn tạo giống cà chua có phổ thích ứng rộng để có thể kéo dài thời gian
sử dụng trong năm Công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà chua đã được tiến hành
ở nước ta từ những năm 60 của thế kỷ trước Có thể khái quát 4 giai đoạn cho đến thời điểm này:
• Giai đoạn 1968-1985: Tập trung chủ yếu vào việc nhập nội, khảo nghiệm và tuyển chọn giống từ nguồn vật liệu này Các giống cà chua nhập từ Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc…được viện cây lương thực và thực phẩm phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khác như Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Viện di truyền nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội…tiến hành nghiên cứu
Từ năm 1973-1984, tác giả Tạ Thu Cúc đã nghiên cứu khảo sát tập đoàn
cà chua nhập nội ở các vụ xuân hè trên đất Gia Lâm - Hà Nội và đã cho kết quả cà
chua hoang dại L.racemigeum có khả năng chống bệnh cao nhất, tiếp đó là giống
Pháp số 7, BeA-5, Cu Ba chịu bệnh khá, các giống BCA-5, Nhật số 2, BCA1, Ruko 3, BCA3 cho năng suất cao nhất, các giống có phẩm chất tốt nhất là các giống Pháp số 7, Rutgers, Saintpierre, Nhật số 2, Ogorta và Triumph [16]
Năm 1974-1976, trại giống rau An Hải, Hải Phòng đã chọn lọc cá thể liên tục từ tập đoàn giống cà chua từ Nhật Bản và đưa ra giống HP1, HP2, Hp3, HP5… Trong đó giống HP5 có năng suất cao nhất, chịu sâu bệnh khá, thích hợp
Trang 24trồng trong vụ xuân hè nhưng khi chín về kinh tế vai quả vẫn có màu xanh HP5 được công nhận là giống quốc gia năm 1988 [2].
• Giai đoạn từ 1986-1990: Viện cây lương thực và thực phẩm phối hợp với một số cơ quan có liên quan đã nghiên cứu chọn tạo được một số giống rau trong đó có 2 giống cà chua là giống cà chua số 7 và giống 214
Chu Ngọc Viên, Vũ Tuyên Hoàng, vào năm 1987, bằng cách chọn lọc các dòng nhập nội từ Hungari đã đưa ra giống cà chua số 7 là giống được công nhận giống quốc gia, giống cà chua này có trọng lượng quả trung bình từ 80-100g/quả, chín đỏ, sinh trưởng mạnh có khả năng trồng trong vụ xuân hè (Vũ Tuyên Hoàng, Chu Ngọc Viên, 1987) [25]
Giống 214 do Viện cây lương thực thực phẩm chọn từ tổ hợp lai giữa giống VC1 và giống American (Mỹ), hạt lai F1 được xử lý đột biến nhân tạo và chọn lọc cá thể liên tục, giống có thời gian sinh trưởng trung bình, chín tập trung, năng suất cao, chất lượng quả tốt, có khả năng chống bệnh khá, thích hợp trồng trong vụ đông sớm và vụ xuân hè Giống được công nhận là giống quốc gia năm
1989 (Vũ Tuyên Hoàng, Chu Thị Viên, Lê Thanh Thuận,1989) [27]
• Giai đoạn 1991-1995: Bắt đầu từ năm 1991, từ một số mẫu giống cà chua quả nhỏ, màu vàng mang mã số 2 trong vườn tập đoàn (nguồn gốc Nhật, Đài Loan), GS.VS Vũ Tuyên Hoàng, Đào Xuân Cảnh, Đào Xuân Thảng và cộng sự đã
áp dụng phương pháp chọn dòng để phân lập và chọn lọc đến năm 1994 thu được dòng cà chua vàng ổn định về các đặc tính sinh học - kinh tế, có khả năng chống chịu bệnh tốt, thích hợp gieo trồng vụ đông, đặt tên là cà chua vàng [26] Kết quả của đề tài “ Nghiên cứu chọn tạo giống và xây dựng quy trình thâm canh một số loại rau” thuộc chương trình KN-01-02 “Phát triển cây lương thực và cây thực phẩm” đã đưa ra một số giống rau có chất lượng trong đó có một số giống cà chua như Hồng Lan, SB2, SB3…
GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự đã đưa ra giống Hồng Lan được chọn
từ một dạng đột biến khi xử lý lạnh cây con giống cà chua Ba Lan trắng Giống thuộc nhóm sinh trưởng hữu hạn, thích ứng rộng về thời vụ và khu vực trồng, năng
Trang 25suất cao, ổn định Năm 1991, giống được khu vực hóa và năm 1993 được công nhận là giống quốc gia [2].
Giống SB3 cũng có nguồn gốc với giống SB2, có khả năng thích ứng rộng, sinh trưởng ổn định, phẩm chất quả tốt, năng suất cao, có khả năng kháng
bệnh Fusarium [18].
Giống Red Crown 250 do Công ty cây trồng Miền nam nhập từ Đài Loan
và tiến hành chọn lọc Cây cao, sinh trưởng vô hạn, thân lá sinh trưởng mạnh, quả thuôn dài, nhẵn, khi chín có màu đỏ đẹp, thịt quả dày, chịu vận chuyển và bảo quản tốt Khối lượng quả trung bình đạt 70-80g Thời gian bắt đầu cho thu hoạch
là giống quốc gia năm 1998 [2,10]
Từ năm 1994-1997, Vũ Thị Tình (Viện nghiên cứu rau quả) chọn lọc thành công giống cà chua chịu nhiệt VR2 Giống có những đặc điểm quả đỏ, đều, chắc, chất lượng tốt, chịu nhiệt và chống chịu bênh tốt Giống được khu vực hóa năm 1998 [23]
Bằng phương pháp ưu thế lai, PGS.TS Nguyễn Hồng Minh bộ môn Di truyền giống trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời giống cà chua lai đầu tiên của Việt Nam cạnh tranh được với các giống cà chua lai trên thế giới đó là giống cà chua HT7 Giống có năng suất cao, có khả năng chịu nóng, độ ẩm cao nên có thể trồng sớm, muộn hay chính vụ, chất lượng
Trang 26quả cao, khả năng bảo quản lâu Giống được công nhận là giống quốc gia năm
2000 Sau HT7 là giống cà chua HT21 cũng có những đặc điểm ưu thế thích hợp cho chế biến, cây ra quả tập trung, màu đỏ đẹp, năng suất chất lượng tốt, có khả năng chống chịu bệnh sương mai và virus tốt Giống được công nhận là giống tạm thời năm 2004 [11,12]
Giống XH2 là giống chịu nhiệt, thích hợp trồng trong vụ hè do Viện nghiên cứu rau quả chọn tạo Cây thuộc nhóm sinh trưởng hữu hạn, có khả năng chống bệnh sương mai tốt, quả tròn, dùng để ăn tươi [2]
Vụ đông xuân năm 1999, từ vườn đánh giá con lai F1,các tác giả Đào Xuân Thảng, Nguyễn Tấn Hinh, Đoàn Xuân Cảnh của Viện cây lương thực thực phẩm đã chọn tạo thành công giống VT3 Cây sinh trưởng phát triển khỏe, trồng
vụ sớm và chính vụ cho năng suất cao, chống chịu sương mai, héo xanh khá Giống được công nhận là giống tạm thời năm 2004 [20]
Gần đây, PGS.TS Nguyễn Hồng Minh bộ môn Di truyền giống trường đại học Nông nghiệp Hà Nội còn đưa ra một số giống cà chua triển vọng như giống HT160, HT42…Giống HT160 được tạo ra với dạng sinh trưởng trung bình, dạng quả hơi thuôn dài, chịu bệnh héo xanh khá, có chất lượng tiêu dùng cao, thơm ngon, ngọt dịu, bảo quản tốt Giống HT42 thuộc dạng cây ngắn ngày, thấp cây, chắc khỏe, bộ lá dày, có khả năng phân nhánh mạnh, ra hoa rộ, nhiều hoa, sai quả, quả chín đỏ đẹp, thịt quả dày, thơm ngon, bảo quản tốt HT42 sinh trưởng khỏe, có khả năng chịu nhiệt độ cao, thích ứng trồng nhiều vụ trên nhiều chân đất khác nhau, thuận lợi cho bố trí luân canh cây trồng HT42 đáp ứng được mục tiêu cà chua trái vụ và cà chua chất lượng cao [9]
Hiện nay có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng gốc ghép là cà tím cho cà chua để tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận của vụ xuân hè Theo Trần Văn Lài và cộng sự (2003) tỉ lệ sống sau ghép của cây cà chua khi được ghép lên gốc cà tím là 92% cao hơn so với khi ghép lên gốc cà pháo (60%), cà bát (55%) Cà chua không bị héo xanh vi khuẩn, năng suất và phẩm chất cà chua ghép tương đương với cà chua không ghép [21]
Trang 27Tuy mới bắt đầu nghiên cứu chưa lâu nhưng công tác chọn tạo giống cà chua ở nước ta đã thu được nhiều thành tựu đáng kể Chúng ta cần chú ý đầu tư hơn nữa để có thể chọn tạo được nhiều giống cà chua có chất lượng tốt hơn nữa phục vụ cho nhu cầu sử dụng cà chua ngày càng nhiều của người dân đặc biệt là cà chua trồng trái vụ và cà chua quả nhỏ phục vụ cho ăn tươi và đóng hộp nguyên quả.
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 282.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Nói đến sản xuất nông nghiệp chúng ta không thể không nói đến sâu bệnh bởi đây là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất cây trồng đặc biệt đối với cây cà chua, một loài cây chịu thâm canh, có tiềm năng năng suất cao
và tính mẫn cảm cao đối với nhiều loại sâu bệnh hại Mặt khác, nhiều khi các biện pháp phòng ngừa không mấy hiệu quả do không điều tra dự tính dự báo tình hình phát sinh phát triển của sâu bệnh một cách chính xác và các biện pháp phòng trừ hoá học nhiều khi không đạt yêu cầu đã làm thay đổi thành phần và tính gây hại của sâu bệnh theo hướng nguy hại cho sản xuất
Về phương diện bệnh sâu hại rau trong điều kiện nước ta có nhiều loài, diễn biến phức tạp, gây hại lớn So với các loài cây trồng khác như cây lương thực, cây công nghiệp…thì rau là loại cây bị nhiều loài sâu hại nhất trong đó có cà chua
- là cây rau ăn quả có khả năng chịu thâm canh, có khả năng trồng nhiều vụ trong năm Các loài sâu bệnh hại cũng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như môi trường sinh thái, kinh tế xã hội và khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống
Quan hệ giữa cây trồng và sâu bệnh học: Giữa cây trồng và sâu bệnh luôn diễn ra cuộc chiến sinh tồn, đây là một trong những nguyên nhân thúc đẩy tiến hoá Trong cùng một điều kiện môi trường thích hợp cho cây trồng phát triển thì cũng thích nghi cho sâu bệnh phát sinh, nguy cơ có dịch xảy ra rất lớn Cây trồng muốn tồn tại và phát triển phải chiến thắng các loài ký sinh và ngược lại sâu bệnh luôn tìm cách ký sinh cây trồng Chính giữa cây trồng và sâu bệnh luôn cân bằng - Trạng thái cân bằng này không phải là trạng thái đứng yên mà luôn vận động
Trong công tác bảo vệ thực vật nắm được các mối quan hệ và các quy luật sinh thái trong tự nhiên là rất quan trọng vì nó xác định cho chúng ta mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi thức ăn Mạng lưới thức ăn đảm bảo cho sự thành công trong điều khiển dịch hại và bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm đồng thời hạn chế tồn tại do sâu bệnh hại gây ra
Trang 29Môi trường và cây trồng tạo nên một hệ sinh thái Cây trồng đòi hỏi ở môi trường những yếu tố và điều kiện nhất định đồng thời nó cũng tiết ra cho môi trường xung quanh những vật chất nhất định Chính những trao đổi vật chất qua lại này làm cho cây trồng có những phản ứng khi điều kiện bên ngoài thay đổi Đây chính là yếu tố cây trồng tồn tại và mất đi Mỗi loại cây trồng đều có một ngưỡng thích hợp với điều kiện ngoại cảnh và các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Mỗi vùng đều có những đặc trưng sinh thái riêng biệt nắm được điều này ta có thể chủ động thay đổi mùa vụ và các giống gieo trồng để đạt hiệu quả cao nhất Nó chứng
tỏ công tác bảo vệ thực vật nói chung và công tác dự tính dự báo nói riêng ngày càng quan trọng
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Hiện nay để đáp ứng nhu cầu đời sống con người ngày càng phát triển, đời sống kinh tế ngày càng cao do đó vấn đề chất lượng và mẫu mã sản phẩm được chú trọng hơn nhiều Để góp phần thực hiện mục tiêu đó, ngoài việc nghiên cứu các giống mới có năng suất cao và phẩm chất tốt thì công tác chăm sóc và bảo vệ đóng một vai trò hết sức quan trọng
Nghệ An là vùng có khí hậu thời tiết tương đối phức tạp vì vậy diện tích trồng rau chưa lớn đặc biệt là diện tích trồng cà chua còn rất hạn chế, mang tính thời vụ Nếu trồng cà chua trên diện tích lớn có thể sử dụng nhiều lao động ở vùng nông thôn, sản xuất cà chua sử dụng lao động nhiều gấp 2-3 lần so với trồng lúa, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện dinh dưỡng cho con người và nâng cao thu nhập cho người dân Thúc đẩy khai thác lao động, thu hút lao động ở nông thôn hạn chế số người lao động từ nông thôn ra thành phố tìm kiếm việc làm
Cà chua có thể chế biến ra rất nhiều loại thực phẩm và sử dụng dưới nhiều hình thức Cà chua là cây trồng có nhiều triển vọng cho xuất khẩu Cà chua là cây rau ăn quả quan trọng của nhiều vùng chuyên canh, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Cà chua có tiềm năng năng suất cao tuỳ theo đặc điểm của từng vùng sinh thái, tuỳ theo thời vụ Tuy nhiên năng suất cà chua ở nước ta vẫn chưa cao do chưa có bộ
Trang 30giống tốt, chưa đầu tư thích đáng vào và chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất đạt năng suất cao
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2008
- Địa điểm thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành tại trại Nông Học - khoa Nông Lâm Ngư ở xã Nghi Phong - Nghi Lộc - Nghệ An
- Đất thí nghiệm thuộc loại đất cát pha được canh tác nhiều năm
- Điều kiện tự nhiên của Nghệ An
Tỉnh Nghệ An có toạ độ địa lý địa lý từ 18035' -19052' vĩ độ Bắc và 103 0
52' -105 042' kinh độ Đông, với diện tích 1 637 068 ha (Bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam) Đặc điểm cung của Nghệ An là một tổng thể tự nhiên nhiệt đới ẩm điển hình với đủ các loại cảnh quan Tổng thể này lại thay đổi theo mùa và mang đặc tính khắc nghiệt của miền Trung
Địa hình Nghệ An có thể chia ra 3 vùng cảnh quan: Vùng núi cao chiếm 70% diện tích, vùng gò đồi chiếm 13% diện tích, vùng đồng bằng Nghệ An chỉ chiếm khoảng 10% diện tích của tỉnh và bị đồi núi chia cắt thành vùng đồng bằng phù sa và bãi cát ven biển Đồng bằng phù sa gồm các dải đồng bằng của các huyện : Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc Khu đất cát ven biển: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc
Khí hậu Nghệ An mang tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Hằng năm đất Nghệ An nhận được trung bình từ 120-140 Kcal /cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23-24 0C, tổng tích ôn trên
90000 C Mỗi năm có trên 30 ngày nhiệt độ dưới 100 C và 20 -25 ngày nhiệt độ trên 300C Độ ẩm không khí là 85%, lượng mưa trung bình cả năm 1600 - 2000 mm
Khí hậu Nghệ An có 2 mùa: Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa mưa nóng từ tháng 4 đến tháng 10
- Điều kiện tự nhiên của huyện Nghi Lộc
Trang 31Nghi Lộc năm ở vị trí 180 54' kinh độ Đông, độ cao so với mực nước biển
là 18,5 Đây là vùng đồng bằng chủ yếu là đất cát, đất thịt nhẹ và trung bình và khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng Điều kiện địa lý, đất đai, khí hậu ở huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi để gieo trồng các cây trồng cạn
- Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân sô 2 951 500 người (2002), mật độ trung bình toàn tỉnh 181,8 người/km2 Dân cư phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích nhưng tập trung đến 80% dân
số, vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích, nhưng chỉ có 20% dân số Ở mỗi vùng sinh thái khác nhau, người dân thường có tập quán khác nhau
2.3 Vật liệu nghiên cứu và dụng cụ nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu: Các giống cà chua TH42, THN988, F1609
- Dụng cụ nghiên cứu ngoài đồng ruộng: Túi nilon, giấy báo, hộp đựng mẫu, kính lúp cầm tay, sổ ghi chép, bút,
- Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Kính lúp, kính hiển vi, đĩa petri, nước cất,