TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ ---ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐÁY VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM RẰN Penaeus semisulcatus, de Haan 1850 NUÔI THƯƠNG PHẨM Ở THỪA THI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
-ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐÁY VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM
RẰN (Penaeus semisulcatus, de Haan 1850) NUÔI
THƯƠNG PHẨM Ở THỪA THIÊN HUẾ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Người thực hiện : Nguyễn Cảnh Danh Lớp : 45 K1 Kỹ sư NTTS
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Kim Đường
Th.s Tôn Th t ấ
Ch t ấ
Trang 2Chuyên ngành: Kỹ sư nuôi trồng thuỷ sản
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐÁY VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA TÔM
RẰN (Penaeus semisulcatus, de Haan 1850) NUÔI
THƯƠNG PHẨM Ở THỪA THIÊN HUẾ
Người thực hiện : Nguyễn Cảnh Danh
Lớp : 45 K1 Kỹ sư NTTS
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Kim Đường
Th.s Tôn Th t Ch t ấ ấ
Trang 3VINH - 12.2008
MỞ ĐẦU
Với 3260 km bờ biển và trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ, Việt Nam với điềukiện tự nhiên vô cùng thuận lợi Vùng ven bờ trải dài từ Quảng Ninh tới KiênGiang cùng 10 đầm phá, 10 vịnh nhỏ, khoảng 24 hecta rừng ngập mặn, 29 vạn
ha bãi triều Là tiềm năng to lớn cho ngành nuôi trồng thuỷ sản nước mặn vànuớc lợ
Những năm gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh Đãtrở thành một nghề sản xuất chính, góp phần nâng cao mức sống, cung cấpnguồn thực phẩm quý giá, thoả mãn nhu cầu dinh duỡng của con nguời Nước
ta, hoạt động nuôi tôm đã có từ lâu và tập trung vào một số đối tuợng nuôi chủyếu như: tôm sú, tôm he chân trắng, tôm hùm, tôm rảo,
Với những ưu đãi về điều kiện tự nhiên Trong những năm gần đây,phong trào nuôi tôm đang phát triển mạnh mẽ Từ nuôi quảng canh năng suấtthấp chuyển dần sang nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh vàsiêu thâm canh Tuy nhiên, nghề nuôi tôm cũng đang đứng trước những tháchthức to lớn về rủi ro về dịch bệnh, thiên tai, thời tiết đã làm cho nhiều hộ nuôigặp khó khăn
Đa dạng hoá đối tưọng nuôi trồng nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng là
đi đúng huớng nhằm làm tăng sự bền vững của hệ thống canh tác Việt Namngoài tôm sú, tôm he chân trắng, tôm hùm, tôm rảo, còn có nhiều loài tôm cógiá trị kinh tế cao cần được xác định rõ và tìm kiếm các giải pháp công nghệnhằm phát triển nuôi ở nhiều vừng sinh thái khác nhau
Tôm Rằn (Penaeus semisulcatus, de Haan 1850) là một trong những loài
có giá trị kinh tế cao, có kích thuớc lớn, chịu được sự biến động của môi trưòng
Trang 4và là loài sống tự nhiên ở Thừa Thiên Huế Tôm Rằn là loài rất thích hợp nuôitrong môi truờng đầm phá.
Thừa Thiên Huế có diều kiện tự nhiên thuận lợi Có vùng đầm phá rộnghơn 22000 ha rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản Việc sản xuấtđuợc giống tôm Rằn đã tạo điều kiện phát triển nuôi thương phẩn tôm Rằn vớiquy mô lớn
Vì Tôm Rằn (Penaeus semisulcatus, de Haan 1850) là một đối tuợng nuôi
mới nên cần có nhiều nghiên cứu để hoàn thiện quy trình nuôi Tôm Rằn cũngnhư các loài tôm khác, việc nghiên cứu các nhân tố gây tác động tới quá trìnhnuôi trong các ao nuôi thương phẩm như: nhiệt độ, chất đáy, độ mặn, mật độ nuôi,thức ăn, nhằm tìm ra các yếu tố thích hợp trông ao nuôi
Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài: Ảnh hưởng của chất đáy và
mật độ nuôi lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm Rằn (Penaeus semisulcatus, de
Haan 1850) nuôi thương phẩm ở Thừa Thiên Huế.
Mục tiêu của đề tài là tìm ra được chất đáy và mật độ nuôi phù hợp nhấtđối với tôm Rằn và giúp phần hoàn thiện quy trình nuôi ở Thừa Thiên Huế nóiriêng và các tỉnh miền Trung nói chung
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Điều kiện tự nhiên của đầm phá vùng ven biển Thừa Thiên Huế
Hệ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế có chiều dài kéo dài từ cửa sông Ô Lâuđến chân núi Vĩnh Phong, với tổng diện tích là 22.000 ha dọc theo các huyệnPhong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc Nơi này có một khu
hệ thủy sinh vật phong phú và đa dạng
Sự phân bố nhiệt độ theo không gian và thời gian ở đây có ảnh hưởng rấtlớn tới nguồn lợi Hải sản
Trang 6Trong 2 năm gần đây, tình hình bão lụt xảy ra thường xuyên với cường độmạnh đã gây nhiều khó khăn cho quá trình sản xuất của người dân vùng đầmphá.
độ nước khoảng 20-230C; từ tháng 4 đến tháng 7 nhiệt độ nước tăng lên đạtkhoảng 24-300C
*Lượng Oxy hòa tan
Nồng độ oxy hòa tan chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dòng chảy, thủytriều, mặt thoáng và hệ thuỷ sinh vật Do ảnh hưởng của chế độ gió và dòng chảynên toàn bộ vùng đầm phá có lượng oxy hòa tan tương đối đồng đều
Nồng độ oxy hòa tan thấp nhất ở Cầu Hai khoảng 6.47 mgO2/l, cao nhất ởPhá Tam Giang khoảng 7.09 mgO2/l
Trang 7*Độ pH
Độ pH trên toàn đầm phá tương đối ổn định và biến động trong khoảng6.6 đến 8.4 Do vùng nước mặn và lợ có hệ đệm bicacbonat hoạt động liên tụcnên pH có xu hướng dao động theo tầng nước và mùa
Độ pH vào mùa khô khoảng 8.0 – 8.2; mùa mưa khoảng 7.0 – 7.5
Bộ: Decapoda – Mười chân
Bộ phụ: Natantia – Chân bơi
Phân bộ: Penaeidae – Tôm he
Tổng bộ: Penaeidae – Tôm he
Họ: Penaeidae – Tôm he Giống: Penaeus – Tôm he
Loài:Penaeus semisulcatus
Tên địa phương: Tôm he Rằn, tôm he vằn, tôm cỏ, tôm Rằn
Tên tiếng Anh: Green tiger prawn
Trang 8Hình 1.1 Hình dạng bên ngoài của tôm Rằn (Penaeus semisulcatus)
1.2.2 Đặc điểm phân bố của tôm Rằn
Đa số các loài tôm biển có ý nghĩa kinh tế đều thuộc họ Penaeidae, chúngphân bố rộng rãi ở các thủy vực vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, phân bố tập trung
nhất ở vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Các loài thuộc giống Penaeus
(giống tôm he) phân bố trong các thủy vực từ 40 độ vĩ Bắc đến 40 độ vĩ Nam Tôm Rằn phân bố khá rộng:
Tôm Rằn con thường sống ở vùng cửa sông, tôm lớn di cư ra vùng biểnsâu Mùa vụ sinh sản của tôm kéo dài, nhưng tập trung vào tháng 4 và tháng 5
Ấu trùng và tôm con của các giống loài này thường phân bố tập trung ởvùng cửa sông ven bờ do tác động cơ học của thủy triều Tôm trưởng thành phân
bố ngoài khơi và có tập tính di cư sinh sản theo đàn Bãi đẻ là nơi thủy vực có
độ sâu và nền đáy phù hợp với đặc tính sinh sản của từng loài riêng biệt Ví dụ:
Bãi đẻ của tôm thẻ là các thủy vực có độ sâu từ 10-20m
Bãi đẻ của tôm sú là thủy vực có độ sâu biến động từ 20-40 mét
- Ở vùng Tây Thái Bình Dương: Tôm Rằn phân bố từ biển Đỏ, Đông NamChâu Phi đến Nhật Bản,Triều Tiên, Trung Quốc, từ Đông Nam Á đến BắcAustralia
- Ở Đông Đại Tây Dương, loài này có thể phân bố tới Đông Địa Trung Hải,qua kênh đào Suez đến Ai Cập, Israel, Syrria và Bắc Thổ Nhĩ Kỳ Độ sâu phân
bố từ 1 đến 130 m, chất đáy bùn cát
Trang 9- Tôm Rằn con thường sống ở vùng cửa sông, tôm lớn di cư ra vùng biểnsâu Mùa vụ sinh sản của tôm kéo dài, nhưng tập trung vào tháng 4 và tháng 5.
Ở Việt Nam: Tôm Rằn sống ở những nơi có đáy cát bùn, có độ mặn, độtrong cao và ổn định Chúng phân bố khắp vùng biển Việt Nam, nhưng khá tậptrung ở vùng biển Bái Tử Long, ven biển miền Trung, quần đảo An Thời (KiênGiang) Tôm Rằn sống xa vùng cửa sông nhưng vào thời kỳ tôm con sống ởvùng bãi triều ven biển, giáp cửa sông
1.2.3 Tập tính sống và đặc điểm sinh sản
* Tập tính sống và vòng đời
Trong thiên nhiên, tôm sinh trưởng trên biển, tới mùa sinh sản chúng tiếnvào gần bờ đẻ trứng.Trứng nở ra ấu trùng trải qua 3 thời kỳ (Nauplius,Protozoea, Mysis), ấu trùng theo làn sóng biển dạt vào các cửa sông nơi có nướcsông và nước biển, thích hợp cho sự tăng trưởng của ấu trùng Tại đó, ấu trùng(Larvae) tiến sang thời kỳ hậu ấu trùng (Postlarvae), sau đó Postlarvae chuyểnsang thời kỳ tiền trưởng thành (Juvenile) đồng thời bơi ra biển tiếp tục tăngtrưởng, sinh sản và tiếp diễn chu trình sống
Vòng đời của tôm Rằn được mô tả ở sơ đồ dưới:
Hình 1.2 Vòng đời của tôm Rằn (Penaeus semisulcatus)
1 Trứng; 2 Naupilus; 3 Protozoea; 4 Mysis; 5 Postlarvae; 6 Adult
Trang 10Trứng sau khi được thụ tinh sẽ phát triển và nở ra ấu trùng nauplius Sau
đó ấu trùng nauplius tiếp tục biến thái qua các giai đoạn: Nauplius Protozoea
Mysis Postlarvae Juvenile (tiền trưởng thành) Adult (trưởng thành).Tôm trưởng thành lại tham gia giao vĩ, đẻ trứng khép kín vòng đời tự nhiên
*Đặc điểm sinh sản
- Tôm Rằn bắt đầu thành thục về tính và tham gia sinh sản khi lớp vỏ đầungực đạt kích thước từ 36 - 40 mm, theo khuyến cáo của các nhà nghiên cứu,tôm phải đạt kích thước lớp vỏ đầu ngực khoảng 41- 45 mm thì 50% số cá thểmới tham gia sinh sản được
- Các cá thể có buồng trứng vào giai đoạn III, IV xuất hiện hầu hết vàocác tháng trong năm và có xu thế từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (Tôn ThấtChất, 2004)
- Mùa vụ sinh sản: Tôm Rằn có mùa đẻ kéo dài gần như quanh năm (TônThất Chất, 2004) Mùa vụ sinh sản từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, từ tháng 5đến tháng 7 và rộ nhất là vào tháng 11 đến tháng 1 năm sau
- Tôm Rằn đẻ trứng ở khu vực có độ sâu từ 15 – 30 m, phổ biến trongkhoảng 20 – 25 m
1.2.4 Một số đặc điểm hình thái của tôm Rằn trưởng thành.
Tôm Rằn là một loài có kích thước lớn và hình dạng rất giống với tôm Sú.Theo Trần Độ và cộng sự (1964); Nguyễn Văn Chung (1971, 1978, 1991,2000) và Phạm Ngọc Đẳng (1994, 1999), đặc điểm hình thái của tôm Rằn gồm:
- Chủy: phẩn giữa hơi gồ lên, phần cuối hơi cong, dài đến cuối đốt II hoặccuốn râu I, mép trên 10 – 12 răng, khoảng cách giữa các răng bằng nhau, mépdưới 2 – 4 răng
- Vỏ đầu ngực: Gờ sau chủy kéo dài gần đến mép sau vỏ đầu ngực, gờtrên chủy cao và sắc, kéo dài đến phía sau gai trên vị Rãnh trên chủy tương đốisâu, kéo dài đến phía sau gai trên vị
Trang 11Gờ sau chủy có rãnh giữa rõ rệt nhưng tương đối nông Gờ gan hẹp và sắckéo dài về phía trước và lệch về phía dưới gai khoảng 200, râu xúc tu 1 ngắn hơnrâu xúc tu 2.
- Phần bụng: từ đốt IV đến đốt V có gờ lưng, đốt đuôi và đốt VI dài bằngnhau, không có gai bên
- Có 5 đôi chân bò có nhánh nhỏ, chân bò 3 vượt quá đỉnh phiến
- Màu sắc: phần bụng có các vân ngang màu lục, vàng và nâu nhạt đanxen Chân hàm 2, 3 màu hồng Năm đôi chân bò có vân vòng màu tím và vàngnhạt Chân màu tím hồng Phần sau nhánh đuôi có màu lục nhạt Râu có khoangvàng – đỏ nhạt như cành trúc
- Kích thước trung bình lớn nhất ở con cái khoảng 166.6 mm (62g) và ởcon đực khoảng 139 mm (33g)
Chiều dài phát dục khoảng 120 mm Thời kỳ thành thục đi đẻ, tôm có chiều dàitrung bình 142.7 mm
Hình 1.3 Cấu tạo ngoài của tôm Rằn (Penaeus semisulcatus)(Kulum,2002).
1.2.5 Đặc điểm và sự phát triển của ấu trùng tôm Rằn
Sự thay đổi hình thái trong quá trình phát triển của ấu trùng tôm Rằn cơbản là giống với các loài tôm He khác đã được nghiên cứu (Gurel Turkmen,
Trang 122005) Sự phát triển của ấu trùng tôm Rằn được miêu tả qua 6 giai đoạnNauplius, 3 giai đoạn Protozoea, 3 giai đoạn Mysis và giai đoạn đầu hậu ấutrùng (PL – Postlarvae).
* Trứng có dạng hình cầu, đường kính D = 0.301 ± 0.002mm
Trứng được thụ tinh phân chia thành 2 tế bào sau 40 phút từ khi đẻ, pháttriển thành 128 tế bào sau 2 giờ 50 phút Sau đó các phần phụ bắt đầu hìnhthành
Phần phụ thứ 2 xuất hiện trước, rồi đến phần phụ thứ nhất và thứ 3 Sựphát triển này tiếp tục và chuyển sang giai đoạn Nauplius Từ khi trứng thụ tinhđến khi chuyển sang giai đoạn Nauplius mất khoảng 13giờ
1.2.5.1 Nauplius: Ở giai đoạn này, N có 6 lần thay vỏ đồng thời tăng quá trình
sinh trưởng Mỗi giai đoạn phụ được miêu tả và phân biệt bởi công thức sataeđựợc nêu ở bảng dưới
Bảng 1.1 Công thức gai ở mỗi giai đoạn phụ Nauplius (Gurel Turkmen, 2005)
Giai đoạn Anten I
Anten II MandibleNhánh
trong
Nhánhngoài
Nhánhtrong
Nhánhngoài
Chiều dài cơ thể (BL): Tính từ điểm đầu đến điểm cuối của lưng
Độ rộng của cơ thể (BW): Khoảng rộng nhất ở phần phụ thứ 2
Chiều dài toàn thân (TL): Tính từ đỉnh chủy đến cuối telson
Chiều dài vỏ giáp (CL): Từ đỉnh chủy đến trung điểm của mép sau vỏđầu ngực
* Nauplius I: BW = 0.196 ± 0.001 mm; BL = 0.324 ± 0.002 mm Cơ thể
hình qủa chuông, không phân đốt Môi trên và mắt đơn hình thành ở mặt bụng,
Trang 13gần phía cuối cơ thể Phần sau cơ thể phân chia tròn, có 1 cặp gai đuôi (caudalspine) (Gurel Turkmen, 2005).
* Nauplius III: BW = 0.199 ± 0.001 mm; BL = 0.402 ± 0.002 mm Phần
sau cơ thể phân chia, có vết cắt mỏng, có 3 cặp gai đuôi (caudal spine).Hassan,1982, cho Rằng N3 có 3-4 cặp gai chạc lưng (furcal spine)
Hình 1.6 Nauplius III Hình 1.7 Nauplius IV
* Nauplius IV: BW = 0.206 ± 0.001 mm; BL = 0.432 ± 0.002 mm Cơ
thể dài ra, các phần phụ bụng thấy rõ hơn Phần sau cơ thể phân cắt rõ và sâuhơn; có 4 hoặc 5 cặp gai đuôi (Gurel Turkmen, 2005) Theo Hassan,1982, N4 cóthể có 6 cặp gai chạc lưng
Trang 14* Nauplius VI: Hàm dưới và chân hàm phát triển Phần vỏ dày hơn Phần sau
cơ thể phân chia làm 2 nửa tròn, có 7 gai đuôi (Gurel Turkmen, 2005)
1.2.5.2 Protozoea
Cơ thể ấu trùng ở giai đoạn này gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng Trải qua 3lần thay vỏ
* Protozoea I: CL = 0.505 ± 0.007 mm; TL = 1.113 ± 0.024mm Xuất hiện
mắt kép nhưng chưa có cuống và được bao phủ bởi lớp vỏ đầu ngực Ngực có 6đốt Phần bụng chưa phân đốt Đuôi chia làm 2 nhánh, mỗi nhánh có 7 gai(Gurel Turkmen, 2005)
Hình 1.10 Protozoea I Hình 1.11 Protozoea II
Trang 15* Protozoea II: CL = 0.928 ± 0.009 mm; TL = 1.867 ± 0.015 mm Xuất
hiện cuống mắt Vỏ giáp chùm lên phần ngực nhưng chưa hoàn toàn Đã xuấthiện chân hàm thứ 3 và 5 cặp chân ngực (Gurel Turkmen, 2005)
* Protozoea III: CL = 1.054 ± 0.016 mm; TL = 2.719 ± 0.020 mm Giai
đoạn này dễ nhận biết hơn so với giai đoạn trước nhờ sự xuất hiện của chân đuôi(uropod) đã chẻ đôi và có dorsomedia spine trên các đốt bụng Chạc đuôi gồm8+8 gai (satae) (Gurel Turkmen, 2005) Theo Kungvankij, 1972 thì PIII có 7cặp gai chạc lưng (furcal spine)
Hình 1.12 Telson và chân đuôi Protozoea II
1.2.5.3 Mysis
* Mysis I: CL = 1.160 ± 0.018 mm; TL = 3.470 ± 0.027 mm Phần đầu vàngực gắn liền nhau Cuối giai đoạn này, trước khi thay vỏ, bước đầu các chânbụng có thể thấy được trên bề mặt bụng ở 5 đốt bụng đầu tiên Đuôi có 9+9 gai(Gurel Turkmen, 2005) Theo Kungvankij, 1972, MI có 7 cặp gai ở telson
Hình 1.13 Chân bụng Mysis I Hình 1.14 Chân ngực Mysis II
Trang 16* Mysis II: CL = 1.247 ± 0.011 mm; TL = 4.145 ± 0.021 mm Giai đoạn
này chân bụng vẫn chưa phân đốt Có 1 gai trên antennal scale và một gai nhọn
ở chủy Chân ngực phát triển mạnh thành kìm (Gurel Turkmen, 2005) TheoKungvankij, 1972, ở giai đoạn này không có gai chủy
* Mysis III: CL = 1.386 ± 0.018 mm; TL = 4.508 ± 0.033 mm Giai đoạn
này không phân biệt rõ so với giai đoạn trước bởi chỉ có 2 chân bụng phát triểnhơn Sự phân bố của gai ở vỏ, bụng, telsson vẫn như giai đoạn MII (GurelTurkmen, 2005) Theo Kungvankij, 1972, ở giai đoạn này trên chủy có gai răngcưa (tooth spine)
Hình 1.15 Vỏ đầu ngực Mysis III
1.2.5.3 Postlarvae 1
CL = 1.696 ± 0.017 mm; TL = 5.570 ± 0.019 mm
Chủy đâm thẳng và dài ra, đỉnh nhọn và cứng Có 3 gai răng cưa trênchủy Chân bụng rất phát triển và trở thành bộ phận bơi chính (Gurel Turkmen,2005) Theo Kungvankij, 1972, có thêm 1-2 gai chủy
Hình 1.16 Chân bụng Postlarvae 1
Trang 17Ở mỗi giai đoạn, ấu trùng sẽ có kích thước khác nhau do sự khác nhau vềkhu vực địa lý hoặc do điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, nhưng không có sự saikhác quá lớn so với các số liệu của nghiên cứu này.
Khi ấu trùng phải phát triển để chuyển sang giai đoạn kế tiếp sẽ mất mộtkhoảng thời gian nhất định gọi là thời gian biến thái Thời gian biến thái của một
số giai đoạn ấu trùng tôm Rằn được liệt kê ở bảng 2 Khoảng thời gian biến tháiphụ thuộc nhiều vào chất lượng thức ăn.[4]
Bảng1.2 Thời gian biến thái của một số giai đoạn ấu trùng
(Tôn Thất Chất, 2005)
Z1 – Z2Z2 – Z3Z3 – M1
36 – 37.3
36 – 37.3
30 – 46
M1 – M2M2 – M3M3 – P1
Tôm Rằn (Penaeus semisulcatus) là một loài tôm có giá trị kinh tế cao,
được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Các công trình nghiên cứu củaBate (1881); Alkoch (1906); Kubo (1949); Barnard (1950); Hall (1962); Dall(1957); Holthuis (1980); Lui & cộng sự (1986); Bray và Lawrence (1992) đãhoàn thiện hệ thống phân loại, nêu lên được đặc điểm hình thái, phân bố và một
số đặc điểm sinh học của chúng
Trang 18Nghiên cứu về đặc điểm sinh học tôm Rằn của Shelman & cộng sự(1986), nghiên cứu của Issar & cộng sự (1987); Kumlu & cộng sự (1999);nghiên cứu vế sự thành thục và khả năng sinh sản của tôm Rằn của Browndy vàSamocha (1985), Aktas và Kumlu (1999); nghiên cứu về khả năng chịu đựngtrước điều kiện môi trường trong giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng của Kumlu
& cộng sự (1999, 2000) Đáng tiếc là giữ liệu những nghiên cứu này chưa đượccông bố
Những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo tôm Rằn còn ít Đáng chú ý là cáccông trình nghiên cứu của Aktas & cộng sự (1999, 2003); Coman & cộng sự(2003); Crocos (1997) và Browdy & cộng sự (1985, 1992) Các nghiên cứu này
có một số kết luận: Tôm Rằn 6 tháng tuổi có thể tham gia sinh sản, sự phát triểnbuồng trứng và sinh sản của tôm Rằn có mối quan hệ mật thiết với việc cắt mắt,
độ mặn, ánh sáng và chế độ dinh dưỡng
Kết quả thử nghiệm ở Đài Loan và Thái Lan cho thấy loài này nuôi được
ở những vũng vịnh, hải đảo và đầm phá có độ mặn cao và ổn định.Có một sốlượng hạn chế các nghiên cứu về việc nuôi tôm Rằn trong ao, như nghiên cứucủa Yashouv (1971); Issar & cộng sự (1987); Seidman & Issar (1988); Kumlu,Aktas & Eroldogan (2003) Các nghiên cứu này có một số kết luận như sau :nhiệt độ nước ao phù hợp cho tôm sinh trưởng là không dưới 270C, mật độ thả
30 con/m2 không có những tác động tiêu cực đến sự sinh trưởng của tôm TômRằn có tốc độ sinh trưởng 0,12 g/ngày nuôi ở mật độ 8 con/m2 nuôi trong 162ngày
Trang 19orientalis), trong đó tôm sú ngày càng chiếm tỉ lệ lớn trong tổng sản lượng tôm
nuôi
Nghề nuôi tôm ở Việt Nam đang gặp khó khăn lớn về môi trường, đặc biệtchất lượng nước, lượng phù sa bồi lắng lớn, chất thải bảo vệ thực vật làm chomôi trường bị ứ đọng, nhiều nhóm vi khuẩn gây bệnh phát triển Nguyên nhânchính là do môi trường bị ô nhiễm nặng, chất lượng tôm giống kém, diện tíchnuôi tôm phát triển ồ ạt thiếu quy hoạch làm ô nhiễm nguồn nước cấp cho vùngnuôi Do vậy, đã có nhiều nghiên cứu về đối tượng mới trong nuôi trồng thủy sản,
cụ thể là tôm Rằn nhưng chỉ ở mức mô hình thí nghiệmThừa Thiên Huế đã thửnghiệm thành công sinh sản nhân tạo tôm Rằn
Tôm Rằn ở Việt Nam cũng đã được nghiên cứu từ những năm 60 của thế
kỷ XX Đáng chú ý là các nghiên cứu của Trần Độ và cộng sự (1964); NguyễnVăn Chung (1971, 1978, 1991, 2000) và Phạm Ngọc Đẳng (1994, 1999); kếtquả nghiên cứu nêu lên được đăc điểm hình thái, hệ thống phân loại và sự phân
bố của tôm Rằn ở Việt Nam
Có một số nghiên cứu về sinh sản nhân tạo tôm Rằn Bắt đầu từ năm 1983
là nghiên cứu của Mai Đình Phong, Nguyễn Khắc Đổ (1996) Đặc biệt năm2002-2003 với sự tài trợ của dự án SUMA, GS.TS Nguyễn Văn Chung & cộng
sự đã nghiên cứu đặc điểm sinh học nhân tạo tôm Rằn tại Nha Trang (KhánhHòa) và đã cho sinh sản nhân tạo thành công tôm Rằn tại trại giống của ViệnHải Dương học Nha Trang, mở ra triển vọng cho việc sản xuất giống tôm Rằnvới quy mô lớn
Năm 2004 - 2007, Tôn Thât Chất (ĐHNL, Huế) và cộng sự đã nghiên cứucho sinh sản nhân tạo tôm Rằn tại Thừa Thiên Huế tạo ra hơn 5 triệu Post Từnăm 2005 đến 2007, tiếp tục sinh sản nhân tạo trên 5 triệu Post, giá 10 đồng/con,được bà con nông ngư chấp nhận; thành công này đã tạo một bước phát triểnmới cho ngành nuôi trồng thủy sản của tỉnh
Trang 20Ở Việt Nam, có rất ít nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của các yếu tố môitrường nuôi nói chung đến sự sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của tôm Rằn.Các nghiên cứu chỉ được thực hiện trong phòng thí nghiệm và bước đầu thửnghiệm nuôi tôm trong ao đất, tiêu biểu là các nghiên cứu của th.s Tôn ThấtChất (2004, 2005)
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Tôm Rằn (Penaeus semisulcatus, de Haan 1850)
Tên địa phương: Tôm thẻ Rằn, tôm Vằn, tôm Rằn
Tên tiếng Anh: Green tiger prawn
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ ngày 5/5/2008 – 5/10/2008
- Địa điểm: Hương Phong - Hương Trà - Thừa Thiên Huế
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất đáy lên:
+ Tăng trưởng về chiều dài của tôm Rằn
+ Tăng trưởng về khối lượng của tôm Rằn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi lên:
+ Tăng trưởng về chiều dài của tôm Rằn
+ Tăng trưởng về khối lượng của tôm Rằn
- Nghiên cứu tỷ lệ sống:
+ Ở các loại chất đáy khác nhau
+ Ở các mật độ nuôi khác nhau
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập số liệu thứ cấp: số liệu được thu thập qua các nguồn sách báo,công trình nghiên cứu, kết quả công bố của các tài liệu khoa học,
- Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn những người nuôi tôm, cùng tham giavào các hoạt động sản xuất với hộ nuôi tôm
Trang 222.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
+ Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế thủy ngân 2 lần/ngày, 7h và 14h
+ Độ mặn: đo bằng máy đo độ mặn salinity
+ pH: đo bằng test pH 2 lần/ngày, 7h và 14h
+ Màu nước: quan sát bằng mắt thường
+ Độ kiềm: đo bằng test độ kiềm 1 lần/tuần
2.4.3 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng của tôm Rằn:
+ Phương pháp thu mẫu: thu mẫu định kỳ 10 ngày 1 lần bằng các dụng cụsẵn có tại nông hộ Lấy mẫu theo nguyên tắc ngẫy nhiên, mỗi lần lấy mẫu là 30con
+ Phương pháp xác định chiều dài toàn thân tôm : chiều dài toàn thân tôm(L) là khoảng cách từ mũi chủy đến cuối telson khi thân tôm năm trên cùng mộtđường thẳng Tôm được đặt thẳng trên thước kẻ chia vạch đến mm
+ Phương pháp xác định khối lượng thân: khối lượng thân là khối lượngtoàn thân tôm được cân bằng cân tiểu ly sai số 0,01 g
+ Tăng trưởng tuyệt đối theo chiều dài toàn thân tôm:
GL=
1 2
1 2
T T
L L
−
−
( mm/ ngày) ( 1)+ Tăng trưởng tuyệt đối theo khối lượng thân tôm:
Gw=
1 2
1 2
T T
W W
−
−
(g/ngày) (2 )
Trong đó: L1: chiều dài tôm lúc thả (mm)
L2: chiều dài tôm lúc kiểm tra (mm)
W1: khối lượng tôm lúc thả (g)
W2: khối lượng tôm lúc kiểm tra (g)
T1: ngày thả (ngày) T2: ngày kiểm tra (ngày)