BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGHUYỄN QUỐC TUẤN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN LÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DVN6 TRÊN ĐỊA BÀN XÃ XUÂN HOÀ HUYỆN NAM ĐÀN, NG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGHUYỄN QUỐC TUẤN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN LÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DVN6 TRÊN ĐỊA BÀN XÃ XUÂN HOÀ HUYỆN NAM ĐÀN, NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NÔNG HỌC
VINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN LÂN ĐẾN SINH
TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DVN6 TRÊN ĐỊA BÀN XÃ XUÂN HOÀ HUYỆN NAM ĐÀN, NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực nghiệm nghiên cứu khoa học là một công việc rất quan trọng trong đợtthực tập cuối khoá của sinh viên, đây cũng là cơ hội để sinh viên vận dụng những
Trang 4kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, đồng thời bước đầu làm quen với phươngpháp nghiên cứu khoa học, phương pháp tổ chức và phục vụ.
Được sự nhất trí của Ban Giám Hiệu nhà trường, khoa Nông Lâm Ngưtrường Đại Học Vinh và được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của các mức phân lân đến sinh trưởng, phát
triển và năng suất của giống DVN6 trong vụ xuân 2011 trên địa bàn xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn, Nghệ An.”
Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới BanGiám Hiệu nhà trường, các thầy cô giáo khoa Nông Lâm Ngư, trong nghành Nônghọc, đặc biệt tới thầy giáo KS.Nguyễn Hữu Hiền người đã trực tiếp giúp đỡ tôitrong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, đồng thời tôixin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy cô kỹ thuật viên phòng thí nghiệm khoa học câytrồng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thànhkhoá luận tốt nghiệp
Tôi xin cảm những ý kiến đóng góp vô cùng quý báu của các thầy cô giáokhoa Nông Lâm Ngư, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ bộ môn khoa học câytrồng
Cảm ơn gia đình bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhthực hiện luận văn
Lần đầu tiên tham gia nghiên cứu khoa học sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót,rất mong nhận được những ý kiến đóng quý báu của các thầy giáo, cô giáo và bạn
bè để luận văn của tôi hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 7 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Quốc Tuấn
Trang 5Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tất cả có được đều là sự nỗ lực củabản thân dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn
Tôi xin cam đoan những điều trên là hoàn toàn trung thực nếu có gì sai sựthật tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Tuấn
MỤC LỤC
Trang 6Trang
Mở Đầu ……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài ……… 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài ……… 2
2.1 Mục đích ……… 2
2.2 Yêu cầu ……… 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……… 2
3.1 Ý nghĩa khoa học ……… 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn ……… 3
CHƯƠNG 1 Tổng quan lài liệu nghiên cứu……… 4
1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam ………4
1.1.1 Tình hình sản xuất cây đậu tương trên thế giới ……… 4
1.1.2 Tình hình sản xuất cây đậu tương ở Việt Nam ……… 6
1.1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An 7
1.1.4 Tình hình sản xuất đậu tương ở Nam Đàn 8
1.2 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương ……… 9
1.2.1 Nhiệt Độ ……… 9
1.2.2 Ánh Sáng 9
1.2.3 Độ Ẩm 10
1.2.4 Đất và các chất dinh dưỡng 10
1.3 Vai trò của lân đối với cây đậu tương ……… 10
1.4 Lân trong đất ……… 10
1.4.1 Các dạng lân trong đất ……….12
1.4.1.1 Lân tổng số trong đất ……… 12
Trang 71.4.1.2 Lân trong dung dịch đất ……… 13
1.4.2 Thành phần lân trong đất ……….13
1.4.2.1 Lân hữu cơ trong đất 13
1.4.2.2 Lân khoáng trong đất 14
1.5 Tình hình nghiên cứu phân lân trên Thế Giới và ở Việt Nam …………16
1.5.1 Trên Thế Giới 16
1.5.2 Ở Việt Nam 16
CHƯƠNG 2 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu………17
2.1.Đối tượng, vật liệu nghiên cứu ………17
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu ……… 17
2.2.1 Địa điểm ………17
2.2.2 Thời gian nghiên cứu ………17
2.3 Nội dung nghiên cứu ………18
2.4 Phương pháp nghiên cứu ………18
2.4.1 Bố trí thí nghiệm ………18
2.4.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm ………19
2 4.3.1 Chuẩn bị giống trước khi gieo 19
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ………19
2.5.1 Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng ………21
2.5.2 Xác định diện tích lá và chỉ số diện tích lá ……… 21
2.5.3 Tích luỹ chất khô ……… 21
3.6.1 Xác đinh số lượng và khối lượng nốt sần ………22
3.6.2.1 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ……… 22
3.6.2.2 Các yếu tố cấu thành năng suất ………22
3.6.2.3 Năng suất ………22
3.6.3 Phương pháp xử lý số liệu ………23
CHƯƠNG 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận ………
3.1 Ảnh hưởng của các mức phân lân đến các chỉ tiêu sinh trưởng của đậu tương 24
Trang 83.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm 24
3.1.2 Ảnh hưởng của các mứ phân lân đến chiều cao cây 26
3.1.3 Ảnh hưởng của các mức phân lân đến số lượng nốt sần ………28
3.1.4 Ảnh hưởng của các mức lân bón đến diện tích lá ……… 31
3.1.5 Ảnh hưởng của các mức lân bón đến chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ 34
3.2 Ảnh hưởng của các mức lân bón đến khả năng tích luỹ vật chất khô … 36
3.3 Ảnh hưởng của các mức lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu tương 38
3.3.1 Ảnh hưởng của các mức lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất 38
3.3.2 Ảnh hưởng của các mức lân bón đến năng suất đậu tương 40
3.4 Hiệu suất sử dụng phân lân ………43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
Kết luân 44
Đề nghị ……….44 TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merill) còn được gọi là cây đậu nành, là
một cây trồng có từ lâu đời được xem là “cây đỗ thần”
Đậu tương là cây trồng chính trên một số vùng đất màu ở Nghệ An, sảnphẩm đậu tương đóng góp một phần không nhỏ đến sản xuất và chế biến tươngNam Đàn một thương hiệu nổi tiếng khắp cả nước Ngoài giá trị kinh tế cây đậutương còn có giá trị cải tao đất và có một vị trí quan trọng trong việc thực hiện côngthức luân canh cây trồng 3 vụ/năm để làm tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diệntích
Đậu tương cũng giống như nhiều loại cây trồng nông nghiệp khác muốn đạtđược năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải đáp ứng một số điều kiệnthích hợp như: nhiêt độ, ánh sáng, nước, giống, phân bón cho quá trình sinh trưởngphát triển của cây đậu tương và cây đậu tương luôn có mối quan hệ khăng khít vớiđất và phân bón trong một hệ sinh thái thống nhất Sự mất cân bằng dinh dưỡngtrong đất sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng bình thường của cây Phân bón có một
vị trí quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của đất Cung cấp dinh dưỡng chocây trồng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chấtlượng nông sản Để có một nền nông nghiệp phát triển bền vững bắt buộc phảichuyển từ nông nghiệp truyền thống “dựa vào đất” sang một nền nông nghiệp thâmcanh “dựa vào phân bón” Tuy nhiên, để nâng cao hiệu lực của phân bón cần phảixác định liệu lượng, tỷ lệ giữa các nguyên tố dinh dưỡng phù hợp với từng loại câytrồng trên từng chân đất và từng tiểu vùng khí hậu cụ thể
Đậu tương là cây trồng nông nghiệp có vị trí quan trọng trong cơ cấu câytrồng nông nghiệp của tỉnh Nghệ An Nghệ An với diện tích nông nghiệp 196000
ha, trong đó diện tích đậu tương chiếm 1.188 ha năm 2005
Trang 10Các nghiên cứu chủ yếu tạo ra các giống mới có năng suất và chất luợng cao,lượng phân bón và mật độ trồng thích hợp để mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Đối với đậu tương thì lân giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của bộ rễ,thân cây, tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu, sự cố định đạm của vi khuẩn nốt sần và sự tổnghợp lipit trong hạt trong quá trình quả chín Thiếu lân được coi là nguyên nhân hàngđầu hạn chế năng suất và bón lân là một tiến bộ kỹ thuật góp phần nâng cao sảnlượng cây trồng nhiều vùng ở Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi đã nghiên cứu đề tài “ Ảnh hưởng của các
mức phân lân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương ĐVN-6
vụ Xuân 2011tại huyện Nam Đàn, Nghệ An”.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mức lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống đậu tương ĐVN-6
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 11- Xác định có cơ sở khoa học về lượng phân lân ảnh hưởng đến năng suấtcủa đậu tương ĐVN-6
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất cây đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương là loại cây trồng có khả năng thích ứng rộng và nhu cầu ngàycàng tăng của xã hội, hiện nay cây đậu tương đã được trồng ở 78 nước trên thế giớicủa các châu lục Đậu tương được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ tiếp đến làchâu Á
Sản lượng đậu tương của thế giới tính đến năm 2009 là 259,7 triệu tấn Trong
đó lượng đâu tương dùng để ép lấy dầu là 205,61 triệu tấn, lượng còn lại dùng đểchế biến thức ăn cho gia súc và làm thực phẩm cho con người.Các nước sản xuấtđậu tương lớn trên thế giới là : Mỹ, Ac hentina, Brazin và Trung Quốc Nước cónhiều diện tích đậu tương nhất là Mỹ Hiện nay tổng sản lượng đậu tương của Mỹchiếm 55% sản lượng đậu tương thế giới Nhờ các phương pháp chọn lọc và nhậpnội, gây đột biến và lai tạo, họ đã tạo ra được những giống đậu tương mới
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ năm 2008 diện tíchtrồng cây đậu tương chuyển gen tại Hoa Kỳ chiếm 91,3% trong tổng diện tích trồngđậu tương trên cả nước, với diện tích trồng tăng từ 23.6 triệu ha năm 2007 lên 27.7triệu ha năm 2008 Diện tích trồng tăng trên 95% tại các bang như Indiana, Iowa,Kansas, Missouri, South Dakota và Nebraska Đậu tương chuyển gen được ngườidân Mỹ sử dụng nhiều Hàng năm khoảng 70 triệu tấn bột đậu tương là có nguồngốc từ đậu tương chuyển gen được dùng làm thức ăn chăn nuôi (Trần Đình Long,1999)[4]
Trang 13Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của một số nước trên thế
giới
Nước
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Thế giới 91,39 92,98 94,90 22,93 23,82 22,78 209,53 221,50 216,14
Braxin 22,89 20,70 20,64 21,92 28,50 28,20 50,19 59,00 58,20Argentina 14,04 15,22 16,10 27,28 26,60 28,26 38,30 40,50 45,50Trung Quốc 9,50 9,26 8,90 17,79 17,05 17,53 16,90 16,20 15,60
(Nguồn:FAOSTAT,2008)
Nguồn gốc của đậu tương là Đông Nam Châu Á nhưng 45% diện tích trồngđậu tương và 55% sản lượng đậu tương của thế giới nằm ở Mỹ Nước Mỹ sản xuất 75triệu tấn đậu tương năm 2000, trong đó hơn một phần ba được xuất khẩu Các nướcsản xuất đậu tương lớn khác là Braxil,Argentina,Trung Quốc và Ấn Độ Phần lớn sảnlượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù tiêu thụđậu tương ở người trên đất nước này đang tăng lên Dầu đậu tương chiếm tới 80%lượng dầu ăn được tiêu thụ ở Mỹ.[FAOSTAT, 2006]
Các nước của châu Á có diện tích sản xuất đậu tương chỉ tương đương vớidiện tích sản xuất đậu tương của Brazin nhưng sản lượng mới chỉ đạt xấp xỉ 50% củaBrazin Hiện nay sản lượng đậu tương ở châu Á chưa đáp ứng được nhu cầu đậutương làm thực phẩm và thức ăn cho chăn nuôi Những nước nhập khẩu đậu tươngnhiều là: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia, Malaixia,Philippines
Trang 14Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới
1.1.2 Tình hình sản xuất cây đậu tương ở Việt Nam
Cây đậu tương có tính thích nghi trên diện rộng và không đòi hỏi điều kiệnchăm sóc cao nên cây đậu tương được người nông dân ưa thích và được gieo trồng
ở những vùng khác nhau vì thế đã hình thành nên nhiều khu vực trồng đậu tươngtập trung lớn hay được trồng rải rác khắp các vùng ở Việt Nam
Bảng 1.2 diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Viêt Nam
Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 15Cây Đậu tương là cây trồng chính có giá trị kinh tế cao và có giá trị đa dạng
về nhiều mặt
Diện tích và sản lượng đều tăng lên một cách đáng kể, năm 1980 diện tíchđậu tương cả nước chỉ đạt 42,20 nghìn ha thì đến năm 2007 diện tích đậu tương đạt190,10 nghìn ha và sản lượng năm 1980 chỉ đạt 32,10 nghìn tấn thì đến năm 2007sản lượng đạt 275,5 nghìn tấn
Diện tích trồng đậu tương tập trung phân bố ở các vùng khác nhau Diện tíchtrồng lớn nhất (30,6%) ở vùng Bắc Trung Bộ và diện tích đạt thấp nhất (5,12%) ởĐồng Bằng Sông Cửu Long
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương một số tỉnh trong cả nước
Tỉnh
Diện tích(nghìn ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(nghìn tấn)
1.1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Nghệ An
Hiện nay cây đậu tương đang được tỉnh Nghệ An chú trọng đưa vào sản xuất
và mở rộng diện tích để tạo sự đa dạng hóa cây trồng tuy nhiên diện tích cũng nhưsản lượng đậu tương ở Nghệ An đang còn thấp Năng suất đậu tương ở đây chưa caocũng do nhiều yếu tố tác động như: Sâu bệnh phá hại, thời tiết khắc nghiệt, kỹ thuậtsản xuất chưa cao, sử dụng giống cũ So với năng suất bình quân của cả nước thìtrước đây và hiện tại năng suất đậu tương ở Nghệ An luôn thấp hơn Diện tích sản
Trang 16xuất đậu tương ở Nghệ An phân bố chủ yếu ở các huyện như: Nghĩa Đàn, Nam Đàn,Diễn Châu, Hưng Nguyên và chiếm tỷ lệ không đáng kể như Nghi Lộc, QuỳnhLưu trong đó đậu được gieo trồng nhiều nhất ở Nam Đàn Tuy có diện tích lớn vềtrồng đậu tương nhưng năng suất, sản lượng đậu của huyện còn thấp Yếu tố ảnhhưởng lớn đến năng suất đậu tương ở Nam Đàn nói riêng và Nghệ An nói chungchính là yếu tố về phân bón Trong những năm qua nhìn chung nghiên cứu đậu tương
ở Nghệ An đang còn ít, các giống mới chưa được sử dụng nhiều vào sản xuất, cácloại giống sản xuất đều là những giống có năng suất thấp
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Nghệ An từ năm 2001- 2005
(Theo niên giám thống kê của Bộ NN và PTNT năm 2006)
Bình quân trong 5 năm(2001- 2005) diện tích trồng đậu tương cao nhất ởNam Đàn (204 ha), Nghĩa Đàn (105 ha), Diền Châu (70 ha), Hưng Nguyên (25ha)
1.1.4 Tình hình sản xuất đậu tương ở Nam Đàn
Nam Đàn luôn là huyện đứng đầu về diện tích trồng cây đậu tương củatỉnh.Toàn huyện có 12/24 xã trồng đậu tương với tổng diện tích 280 ha ( năm 2008).Các xã sản xuất đậu tương là : Xuân Lâm, Hùng Tiến, Hồng Long, Nam Cường,Nam Trung, Nam Phúc, Nam Lộc, Nam Tân, Nam Thượng, Thị trấn, Xuân Hòa,Khánh Sơn, Tuy nhiên cho đến hiện nay thì hàng năm huyện Nam Đàn còn phảinhập đậu tương từ các nơi khác về để phục vụ cho các làng nghề chế biến, hiệntrạng này cũng là do nghiên cứu về cây đậu tương trên vùng đất này đang còn ít, cácgiống mới chưa được tuyển chọn vào sản xuất.Chính vì thế cần tiến hành nhiềucông trình nghiên cứu về đậu tương hơn nữa ở Nam Đàn để chọn tạo các giống mới,
và phương pháp bón phân cho đậu tương có năng suất cao hơn nhằm tăng sản lượngcho toàn huyện
Trang 17Các đề tài nghiên cứu đậu tương còn ít, hơn nữa công tác dự tính dự báo sâubệnh hại không được thực hiện nên năng suất đang còn hạn chế do đó việc mở rộngdiện tích sản xuất đậu gặp nhiều khó khăn.
1.2 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
1.2.1 Nhiệt Độ
Cây đậu tương có nguồn gốc ôn đới, nhưng không phải là cây chịu rét Tổngtích ôn của cây đậu tương biến động từ 1700oC đến 2700oC Nhiệt độ thích hợp chođậu tương mọc nhanh khoảng 30oC.[9] Phạm vi nhiệt độ tối thiểu và tối đa ở thời kìmọc là 10o - 40oC Trên 40oC hạt không mọc được và dưới 10oC sự vươn dài củatrục dưới lá mầm bị ảnh hưởng đáng kể Nhiệt độ cho hạt nảy mầm tốt nhất trongphạm vi là 18 - 26oC, trên 30oC hạt nảy mầm nhanh nhưng mầm yếu
Thời kì cây con từ lá đơn cho đến 3 lá kép, đậu tương chịu rét khá hơn ngô, ởthời kì lá đơn có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới 0oC, lá kép phát triển ở nhiệt độtrên 12oC Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là từ 22oC - 27o C Nhiệt độ xấu sẽảnh hưởng đến sự ra hoa kết quả Nhiệt độ ở 10oC ngăn cản sự phân hóa mầm, hoa,nhiệt độ ở dưới 18oC thì tỷ lệ đậu quả thấp Nhiệt độ cao hơn 39oC ảnh hưởng xấuđến tốc độ hình thành đốt, cây đậu tương sẽ phát triển lóng và phân hóa hoa Nhiệt
độ thích hợp nhất của lá đậu tương trong vụ hè là 25oC - 40o C Trong các thời kìsinh trưởng, phát triển cuối cùng nếu nhiệt độ quá thấp hạt khó chín, khó đồng đều,
tỷ lệ nước cao và chất lượng của hạt kém.(Nguyễn Thế Côn, 1992) [15]
1.2.2 Ánh Sáng
Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đên hình thái cây đậu tương, ánh sáng
là yếu tố quyết định đến sự quang hợp của lá, sự cố định (N 2) ở nốt sần, từ đó ảnhhưởng đến sản lượng chất khô của cây và năng suất của hạt Đậu tương là cây ngắnngày điển hình tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất vào các thời kì sinhtrưởng trước khi ra hoa, ánh sáng ngày ngắn vào các thời kì trên làm cho cây rútngắn được thời kì sinh trưởng, chiều cao cây giảm, số đốt ít và độ dài đốt giảm.[9]
Trang 181.2.3 Độ Ẩm
Nhu cầu nước của cây đậu tương thay đổi theo điều kiện khí hậu, nên kĩthuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng của cây đậu tương cũng đòi hỏi về độ ẩmnhất định ở thời kì đậu tương mọc, đất phải đủ ẩm để hạt mọc đều, nếu khô hạn kéodài thì hạt thối.Trong thời kì nảy mầm, lượng nước cần hút 100-150% trọng lượngkhô của hạt giống
Nhu cầu nước của đậu tương tăng dần khi cây lớn lên, sự mất nước do thoát nướctrong ngày thường nhiều lượng nước cây hút vào do rễ Những ngày có nhiệt độcao, gió khô làm cây héo tạm thời có thể làm giảm hoạt động đồng hóa ảnh hưởngtới năng suất hạt, chiều cao cây, số đốt, đường kính thân, số hoa, tỷ lệ đậu quả, sốhạt, trọng lượng hạt đều tương quan thuận với độ ẩm đất
Thời kì quả mẩy đậu tương cần nhiều nước nhất, hạn lúc này làm giảm năngsuất rõ rệt Hạn vào thời kì ra hoa và bắt đầu có quả, gây rụng hoa, trọng lượnggiảm.[9]
1.2.4 Đất và các chất dinh dưỡng
Cây đậu tương không yêu cầu nghiêm ngặt về đất trồng trọt Nói chung loạiđất nào trồng cũng được, đối với đất trồng hoa màu đều trồng được đậu tương Trênđất thịt nặng, đậu tương khó mọc nhưng sau khi mọc, đậu tương thích ứng với đấtnặng khá hơn so với cây màu khác, độ PH thích hợp cho cây đậu tương là 5,2-6,5(Ngô Thế Dần, 1982)
1.3 Vai trò của lân đối với cây đậu tương
Lân là nguyên tố đa lượng giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp,quá trình hình thành và chuyển hoá năng lượng cho mọi hoạt động trao đổi chất củacây trồng
Lân là thành phần của axit nucleic, photphatit, protein, lipit, coenzim, NAD,NADN, ATP và nhiễm sắc thể Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh,kích thích sự phát triển của rễ, sự ra hoa, sự phát triển của hạt và quả.[2] Ngoài việcxúc tiến sự phát triển của rễ, lân còn là thức ăn chính của vi khuẩn, có tác dụng đẩymạnh sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần, làm tăng khả năng hút, giữ
Trang 19đạm khí trời, hoa nở sớm và tập trung, nâng cao tỷ lệ đậu quả và quả chắc, màu sắcđẹp, giảm tỷ lệ nước trong quả Quan trọng hơn là xúc tiến quá trình hình thành chấtbéo, dầu và chất đạm, làm tăng tỷ lệ dầu trong hạt, quả chóng già chín Đặc biệt khibón lân sẽ tăng cường hiệu lực hút phân đạm, nên tiết kiệm được một lượng phân
đạm đáng kể (Hoàng Minh Châu, 1998)[2].
Lân thường được xem như là một yếu tố dinh dưỡng hạn chế sinh trưởng, pháttriển và năng suất của các loại cây họ đậu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Thiếu lânlàm giảm sự phát triển của lá và hình thành lá trên cây Chiều dài của cành ít chịu ảnhhưởng của sự thiếu hụt lân trong cây, trong khi đó thiếu lân làm cho bộ rễ phát triểnkém dẫn đến sự mất cân đối trong tỷ lệ giữa thân lá và rễ Lượng lân bón không thíchhợp sẽ làm giảm cường độ đồng hoá cacbon hyđrat, trong khi đó việc tổng hợp chấtnày thông qua quá trình quang hợp vẫn tiếp tục xẩy ra và gây ra hiện tượng tích luỹcarbonhydrate làm cho lá có màu xanh thẫm, trầm trọng hơn sẽ có màu huyết dụ và cóảnh hưởng bất lợi đến quá trình quang hợp của cây, cuối cùng sẽ làm giảm năng suấtcây trồng rất rõ rệt
Sự hình thành và phát triển của nốt sần ở rễ đậu tương và quá trình cố địnhđạm chịu sự ảnh hưởng rất lớn của lượng lân trong đất trồng đậu tương cũng nhưlượng lân được bổ sung từ các loại phân bón
Mối quan hệ chặt chẽ giữa nguyên tố lân và quá trình cố định đạm của cây
họ đậu được thể hiện như sau:
- Nốt sần bắt đầu hình thành khi lông hút của rễ bị lây nhiễm bởi vi khuẩnRhyzobium và ở giai đoạn này nếu thiếu hụt lân làm cho rễ kém phát triển sẽ ngăncản sự hình thành nốt sần và giảm cường độ quá trình cố định đạm cũng như sự hútnước và dinh dưỡng của cây
- Quá trình cố định đạm đòi hỏi nguồn năng lượng lớn cho sinh trưởng của vikhuẩn nốt sần và sự chuyển hoá N2 thành NH3 Nguồn năng lượng đó chủ yếu đượccung cấp từ lân ở dạng ATP.[2]
Trang 20- Lân có vai trò tích cực trong việc vận chuyển các sản phẩm của quá trìnhquang hợp từ lá về rễ và sự di chuyển của các hợp chất có đạm trong nốt sần về các
bộ phận khác của cây và làm tăng hàm lượng đạm trong thân lá
Ngoài ra, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ cây trồng,nhờ đó mà cây có khả năng thu hút nhiều hơn các nguyên tố dinh dưỡng từ đất và từphân bón
Thiếu lân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nốt sần, khả năng tích luỹchất khô và năng suất đậu tương, bón lân có tác dụng kích thích sự phát triển bộ rễ
vì vậy ở cây họ đậu nói chung và cây đậu tương nói riêng được bón lân đầy đủthường hình thành một lượng lớn nốt sần hữu hiệu ở rễ, nốt sần lớn và thường cómàu hồng, vì vậy làm tăng khả năng tích luỹ đạm của cây Thiếu lân làm cho câycằn cỗi, sinh trưởng chậm, lá non vàng nhạt thể hiện dấu hiệu khô héo nhanh, làmcho hoa rụng nhiều, quả ít, kém chắc, năng suất và phẩm chất đậu tương đều giảm.(Nguyễn Như Hà, 2006) [16]
Do sự phân hoá đa dạng về nguồn gốc phát sinh, đất Việt Nam có hàmlượng lân tổng số dao động khá mạnh từ 44 - 1.310 mg P2O5/kg (tương đương với0,01 - 0,30% P2O5) nghĩa là từ mức rất nghèo lân đến giàu lân Mẫu chất là yếu tốquan trọng quyết định hàm lượng lân trong đất Đất cát biển và các loại đất pháttriển trên đá mẹ axit có hàm lượng lân tổng số trung bình nghèo nhất (44 - 264mg/kg) Đất phù sa Đồng Bằng Sông Hồng có hàm lượng lân tổng số dao động từ(350 - 650 mg P2O5/kg ), đất Đồng Bằng Sông Cửu Long có hàm lượng lân tổng sốnghèo hơn (110 - 540 mg P2O5/kg ), đất đỏ bazan có hàm lượng lân tổng số thuộc
Trang 21loại cao nhất (4.340 - 1.310 mg P2O5/kg) Nhìn chung đất Việt Nam đựơc xếp vàoloại nghèo lân.[17]
Bảng 1.5 Hàm lượng lân trong một số loại đất ở Việt Nam
(%)
Lân dễ tiêu (mg/100g đất)
(Nguồn: Nguyễn Trọng Bộ, Viện Thổ Nhưỡng Nông hoá)[1]
1.4.1.2 Lân trong dung dịch đất
Lân hoà tan trong dung dịch đất có nồng độ rất thấp (1mg/lít) và tuỳ theo độchua đất mà lân trong dung dịch đất có thể tồn tại dưới dạng H2PO4- và HPO42-, khiPH< 7,2 thì lân trong dung dịch đất tồn tại dưới dạng H2PO4- và ngược lại khi PH >7,2 thì lân trong dung dịch đất tồn tại dưới dạng HPO42 Cây trồng hút lân chủ yếudưới dạng H2PO4- và một phần dưới dạng HPO42- , ở nước ta đại đa số các loại đất
có PH < 6 do vậy phần lớn lân trong dung dịch đất tồn tại ở dạng H2PO4-.[5]
1.4.2 Thành phần lân trong đất
1.4.2.1 Lân hữu cơ trong đất
Lân hữu cơ nằm trong các tế bào vi sinh vật (30 - 50%) và các tàn dư hữu cơkhác trong đất Lân hữu cơ chiếm 20 - 80% lân tổng số trong đất Hàm lượng lân
Trang 22hữu cơ trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khí hậu, thực bì, thành phần cơgiới, loại hình sử dụng đất, cách bón phân, việc tưới nước và tháo nước.[3] Nóichung ở vùng ấm áp trên lớp đất mặt tỷ lệ lân hữu cơ trong lân tổng số thấp hơn ởvùng lạnh Vùng xích đạo lân hữu cơ chiếm 35,2% lân tổng số, trong khi ở vùnglạnh tỷ lệ này là 48,6% Đất hữu cơ và than bùn cũng có nhiều lân hữu cơ hơn đấtkhoáng Ở đất khoáng, đất có tỷ lệ sét cao thì tỷ lệ lân hữu cơ cũng cao Trong lânhữu cơ thì ba nhóm: inozitol photphat (0,3 - 62%), axit nucleic (0,1 - 65%) vàphotpholipid (0,03 - 5,4) chiếm từ 50 - 70%.[3].
Phần lớn trong đất Việt Nam, lân hữu cơ có hàm lượng dao động trong khoảng
10 - 45% so với lân tổng số tuỳ theo loại đất
Lân hữu cơ trong đất tồn tại chủ yếu dưới dạng các tàn dư thực vật hữu cơ vàmột phần được tổng hợp bởi các vi sinh vật đất từ các nguồn hữu cơ khác nhau Lânhữu cơ hoàn toàn không có khả năng cung cấp trực tiếp cho cây trồng mà chỉ trở nênhữu hiệu khi được khoáng hoá Quá trình phân huỷ chất hữu cơ với sự tham gia của các
vi sinh vật C/P là một trong những chỉ tiêu quan trọng quyết định khả năng giải phónglân từ các nguồn này vì các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ sẽ lấy lân từ dung dịch đất
và gây hiệu ứng tăng lượng lân cố định thay vì giải phóng lân Trong điều kiện oxy hoávới khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam rất thuận lợi cho qúa trình khoáng hoá thìlân hữu cơ là nguồn dự trữ lân quan trọng đối với cây trồng (Nguyễn Thị Dần, TháiThị Phiên).[3]
1.4.2.2 Lân khoáng trong đất
Trong đất lân tồn tại ở hai dạng đó là: dạng lân hữu cơ và dạng lân vô cơ.Các công trình nghiên cứu tập trung vào nhóm lân vô cơ.[3]
Kết quả phân tích của các tác giả cho thấy tỷ lệ % các nhóm lân vô cơ trongđất Việt Nam tuỳ thuộc vào các loại đất hay nói cách khác là tuỳ thuộc vào hàmlựơng canxi, sắt, nhôm và độ pH của đất Tuy vậy có thể nhận định chung là:
- Nhóm photphat sắt, photphat nhôm chiếm ưu thế, chiếm từ 90 - 95%, trong
đó photphat sắt trội hơn photphat nhôm (trừ đất bazan).[3]
- Nhóm photphat canxi thấp, từ 5 - 10%
Trang 23- Nhóm photphat hoà tan hầu như không đáng kể, chỉ chiếm từ 0 đến 5%trong tổng số lân vô cơ.
Mức độ phong hoá là yếu tố quan trọng nhất chi phối đến sự phân bố cácnhóm lân trong đất Trong đất chua bị khoáng hoá mạnh thì Al - P, Fe - P và Rs - Pchiếm ưu thế trong đất và ngựơc lại trong đất kiềm thì Ca - P lại chiếm ưu thế
Fe - P trong đất tồn tại chủ yếu dưới dạng Strengit (FePO4.2H2O) và Vivianit((Fe3(PO4)2.8H2O)), Al - P tồn tại chủ yếu dưới dạng Variscit (AlPO4.2H2O) và mộtphần dưới dạng Wavlit (Al3(OH)3(PO4)2.2H2O), các dạng phosphat Canxi chủ yếutồn tại dưới dạng Fluroapatit((Ca5PO403F0 và hydroxyapatit ((Ca5(PO4)3OH)) Cácdạng phosphat có độ hoà tan khác nhau, vì vậy cũng đóng vai trò khác nhau trongcung cấp chất dinh dưỡng lân cho cây trồng
Trang 24(*) số liệu trong ngoặc đơn là % so với tổng số.
Fle: đất phù sa trung tính ít chua ở đồng bằng Sông Hồng
Các kết quả nghiên cứu về sử dụng phân bón cho đậu tương đã cho thấy rằng
để đạt hiệu quả sử dụng phân bón cao nhất cần dựa vào kết quả phân tích đất
Trong các nguyên tố dinh dưỡng thì lân được coi là nguyên tố có vai trò rấtlớn đối với sự sinh trưởng và phát triển của đậu tương Hiệu lực của lân phụ thuộcvào loại đất trồng đậu tương, lượng bón, tỷ lệ, phương pháp bón và dạng lân được
sử dụng.[14]
Bón lân cho đậu tương có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ lipit ở hạttrong thời kỳ chín Bón đủ lân, hàm lượng dầu trong hạt tăng rõ rệt
Trang 25Ở Tây Phi người ta xác định liều lượng phân lân thích hợp để bón cho câyđậu tương là 30 kg P2O5 /ha, nhưng ít nhất là số phân này ở dạng hoà tan.
Tại nhiều vùng trồng đậu tương của Trung Quốc, loại phân lân thường được
sử dụng bón cho đậu tương là super photphat và phân lân nung chảy Loại phân lânnày phù hợp cho đất có độ phì trung bình, đất chua.(www.Faostat.org)[14]
Trang 26CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Giống: Đậu tương ĐVN-6
Vật liệu nghiên cứu gồm có giống đậu tương có triển vọng do viện nghiêncứu ngô (bộ môn cây màu) giống đậu tương có triển vọng được đưa vào thí nghiệm
- Phân chuồng hoai mục
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm
- Thí nghiệm được bố trí tại xã Xuân Hoà, huyện Nam Đàn, Nghệ An
- Đất thí nghiệm được tiến hành trên đất cổ phù sa bồi tụ
- Một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất được tiến hànhtrong phòng thí nghiệm bộ môn nông học, khoa Nông Lâm Ngư, Đại học Vinh
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện vụ Xuân 2011
Trang 27Ngày gieo: 20/02/2011
Ngày thu hoạch: 25/5/2011
Trong phòng thí nghiệm từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức lân bón đến sinh trưởng, phát triển củagiống đậu tương ĐVN-6
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức lân bón đến diện tích lá và chỉ số diện tích láNghiên cứu ảnh hưởng của mức lân bón khả năng tích lũy vật chất khô củagiống đậu tương ĐVN-6
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức lân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất giống đậu tương ĐVN-6
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Xác định ảnh của lượng phân lân đến năng suất đậu tương ĐVN-6 Thínghiệm 1 nhân tố bố trí ngẫu ngiên hoàn toàn RCB, với 3 lần nhắc lại, mỗi ô thínghiệm có kích thước là (4 x 2,5) = 10 m2 , tương ứng với 1 lần nhắc lại, khoảngcách các giữa các ô trong cùng lần nhắc lại là 30cm và giữa lần nhắc lại là 40cmxung quanh bố trí hàng rào bảo vệ bằng cây đậu tương Diện tích thí nghiệm là150m2
Trang 28Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB)
Dải bảo vệ
Ghi chú :
I, II, III, IV, V các công thức thí nghiệm
a, b, c: là các lần nhắc lại
2.4.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm
2 4.3.1 Chuẩn bị giống trước khi gieo
Giống là khâu rất quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến mật độ, năng suất,
do vậy giống cần được chuẩn bị cẩn thận trước khi gieo Chuẩn bị giống gồm cáckhâu
- Phơi hạt giống: dù được bảo quản cẩn thận nhưng qua thời gian bảo quảnhạt giống ít nhiều bị ẩm Do đó trước khi gieo, hạt giống cần được phơi lại cho thậtkhô để khi gieo hạt giống tăng cường hoạt động của enzym chuyển hoá các chấttrong hạt mạnh mẽ, rút ngắn thời kỳ ngủ nghỉ của hạt giống, làm cho hạt giống nảymầm nhanh đều và khoẻ Việc phơi lại hạt giống còn dể diệt nấm bệnh, giống đượcphơi trên nong tre
- Chọn và phơi hạt giống: chọn những hạt to, mẩy vỏ lụa sáng, không chọnhạt nhăn nheo, tróc vỏ lụa, xây xát cơ giới
- Xử lý hạt giống: trước khi gieo chúng tôi tiến hành kiểm tra tỷ lệ nảy mầm,kết quả cho thấy tỷ lệ nảy mầm đạt 92% và đảm bảo chất lượng để gieo
* Làm đất
Trước khi làm đất, làm sạch cỏ dại rồi tiến hành làm đất, đất ruộng thí nghiệmđược làm kỹ đảm bảo độ tơi xốp, thoáng khí nhằm tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển
Trang 29tốt, vi khuẩn Rhyzobium hoạt động mạnh Mặt ruộng được san bằng phẳng tránh đọngnước cục bộ.
Lên luống: sau khi làm đất xong thì tiến hành lên luống, chia ô thí nghiệmnhằm thoát nước tốt khi mưa lớn
- Lượng phân bón: Bón theo các công thức thí nghiệm
Bón phân được chia làm 3 đợt:
- Bón lót: 1/2 lượng vôi + 100% phân chuồng + 100% supe lân và lấp đất mỏngtrước khi gieo
Đối với bón vôi, vì vôi có phản ứng chậm nên cần được bón trước khi gieohạt 1 tuần
Bón thúc:
- Bón thúc lần 1: bón lúc đậu tương có 3 - 4 lá, bón 1/ 2 N + 1/2 K2O , bón xagốc 7 - 10cm, bón theo hàng kết hợp với làm cỏ xới xáo
- Bón thúc lần 2: sau khi tàn lứa hoa đầu, kết hợp vun cao gốc 15 - 20cm,bón 1/2 N + 1/2 K2O + 50 % lượng vôi còn lại
* Chăm sóc
- Xới lần 1: Khi cây có 2-3 lá kép, kết hợp bón thúc đạm và diệt cỏ dại
- Xới lần 2: Trước cây ra hoa, kết hợp chống đổ và diệt cỏ dại
- Tưới nước giữ độ ảm thường xuyên khoảng 70-75% độ ẩm tối đa đồngruộng
* Phòng trừ sâu bệnh
Phòng là chính để hạn chế thuốc bảo vệ thực vật
Trang 30- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện và tiêu diệt sâu bệnh kịpthời.
Một số loại thuốc dùng để diệt sâu bệnh như:
- Dùng Dip terex 0,2% phòng trừ bọ xít
- Dùng Pa dan để trừ sâu đục quả
- Dùng Monitor để diệt trừ sâu xanh hại lá
Mức độ nhiễm sâu hại chính:
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.5.1 Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng
- Thời gian từ khi gieo đến mọc mầm( ngày ): tính từ ngày gieo đến ngày có50% số cây mọc trên ô thí nghiệm
- Tỷ lệ mọc mầm(%) = (số cây mọc/tổng số hạt gieo) x 100%
- Phương pháp: Đếm số cây mọc trên hàng có đánh dấu trước mỗi ngày mộtlần vào buổi sáng
* Chiều cao cây:
- Mỗi lần nhắc lại theo dõi 10 cây được đánh dấu trước
- Xác định ở 5 thời kỳ: 4 lá kép, 6 lá kép, bắt đầu hình thành quả, bắt đầuhình thành hạt, bắt đầu chín
- Phương pháp đo: Đo từ đốt lá mầm thứ nhất đến đỉnh sinh trưởng
2.5.2 Xác định diện tích lá và chỉ số diện tích lá
Xác định diện tích lá
- Cách lấy mẫu: Mỗi giống nhổ 10 cây ở 3 vị trí, mỗi vị trí lấy ngẫu nhiên 5cây liên tiếp/1ô thí nghiệm Diện tích lá được xác định 3 thời kỳ R3, R5, R7, tiếnhành ở những vị trí không cắm que đánh dấu để đo chiều cao cây
- Phương pháp xác định: Sử dụng máy đo diện tích lá có số xêri là IR2002Sau khi lấy mẫu về đem rửa sạch để ráo nước Sau đó ngắt toàn bộ lá ra khỏithân, chỉ cắt phần phiến lá rồi xếp lá lên máy đo diện tích lá để xác định diện tích lá,nhắc lại 3 lần (Chú ý: Lá khi sử dụng phải ráo nước, sạch và tươi như trạng thái tựnhiên của nó)
Trang 31Xác định chỉ số diện tích lá
Chỉ số diện tích lá được xác định theo công thức:
LAI = Diện tích lá bình quân/cây x Mật độ
Đơn vị tính của chỉ số diện tích lá: m2lá/m2đất
2.5.3 Tích luỹ chất khô
- Cách lấy mẫu: Sử dụng mẫu sau khi đã đo diện tích lá ở trên
- Phương pháp xác định: sử dụng phương pháp sấy khô
Cây lấy mẫu: Toàn bộ thân, rễ, lá được rửa sạch, để cho ráo nước rồi cho vàotúi đựng mẫu riêng biệt Các túi đựng mẫu này được ký hiệu để phân biệt nhau và
để phân biệt với túi đựng phần lá của nó Sau đó xếp các túi dựng mẫu vào tủ sấy
Lúc đầu sấy nhiệt độ 600C trong khoảng 10phút sau đó tăng nhiệt độ tủ sấylên 1050C, tiếp tục sấy ở nhiệt độ 1050C trong khoảng 36 giờ thì lấy túi mẫu ra đểnguội trong bình hút ẩm khoảng 5 phút (để tránh mẫu hút ẩm trở lại) rồi tiến hànhcân lần thứ nhất Tiếp tục sấy trong khoảng 2 giờ rồi cân lần thứ 2 Làm lại nhiềulần như vậy cho đến khi thấy khối lượng mẫu đem sấy không thay dổi là được Khichúng ta cân mẫu lần cuối cùng thì lấy mẫu đậu trong các túi đựng mẫu ra và tiếnhành cân bao đựng mẫu
Sau đó dựa vào ký hiệu của các túi đựng mẫu này và các túi đựng mẫu lá đểgép các túi mẫu ở cùng một công thức với nhau thì xác định được khối lượng khôcủa từng công thức Sau đó lấy trị số trung bình để tính trọng lượng khô của từngcây ứng với mỗi công thức
3.6.1 Xác đinh số lượng và khối lượng nốt sần (ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, bắt
đầu hình thành quả, hạt bắt đầu chín)
3.6.2.1 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
3.6.2.2 Các yếu tố cấu thành năng suất
- Cách lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu khi thu hoạch đậu tương trên ô thínghiệm không cắm que đánh dấu để đo chiều cao cây Mỗi giống nhổ lấy 15 cây ở 3
vị trí, mỗi vị trí lấy ngẫu nhiên 5 cây liên tiếp/1ô thí nghiệm
- Phương pháp xác định: Tiến hành xác định các chỉ tiêu sau: