một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba Bộ luật này về “T
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
A Khái quát về thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1
1 Khái niệm về thiệt hại 1
2 Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1
3 Điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 2
B Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4
1 Vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4
2 Cơ sở xác định thiệt hại và nguyên tắc bồi thường thiệt hại 7
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2MỞ ĐẦU
Bồi thường thiệt hại hợp đồng là một trong những chế định pháp lý của bồi thường dân sự, trong lịch sử pháp luật, việc bồi thường dân sự thường được giải quyết bằng phạm trù đạo đức, khi xã hội chưa có nhà nước, chưa có pháp luật vấn đề này thường được giải quyết theo phong tục, tập quán của từng bộ tộc người hoặc nhóm người Khi xã hội phát triển nhà nước và pháp luật ra đời, bồi thường dân sự nói chung
và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng được điều chỉnh bởi quan hệ pháp luật dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự hết sức
đa dạng, phức tạp, khó giải quyết, khó xác định các chủ thể tham gia Để làm rõ vấn đề
này, em chọn đề số 27 trong danh mục bài tập học kì: “Thiệt hại và cách xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
NỘI DUNG
A Khái quát về thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1 Khái niệm về thiệt hại
Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ
2 Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa
vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH
Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể Bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho bên bị thiệt hại Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015,
Trang 3một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba
Bộ luật này về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của bên gây thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có thể xác định trách nhiệm BTTH
Theo khoản 1 Điều 584 BLDS 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác
có liên quan quy định khác” Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại” Qua nghiên cứu có thể thấy, BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho bên bị thiệt hại
3 Điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
3.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm
Một là, có thiệt hại xảy ra Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.0
Hai là, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật Hành vi trái pháp luật
trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua
Trang 4hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định
Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực
tế làm phát sinh thiệt hại
Nếu như BLDS 2005 nêu ra 3 nguyên tắc cơ bản về BTTH ngoài hợp đồng, được quy định tại Điều 605[1] thì BLDS 2015 đã bổ sung thêm 2 nguyên tắc sau:
– Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra
– Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy
ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình
Thứ tư: Có lỗi của người gây thiệt hại.
Lỗi là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội đã được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách
xử sự sao cho xử sự đó phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện Bao gồm hai hình thức lỗi sau đây:
Trang 5+ Lỗi cố ý: Một người bị coi là có lỗi cố ý nếu họ đã nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó Nếu người này mong muốn thiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ là lỗi cổ ý trực tiếp Nếu họ không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra thì lỗi của họ là lỗi cố ý gián tiếp “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vỉ của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muon hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”
+ Lỗi vô ý: người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi vô ý nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù họ phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra khi họ thực hiện hành vi đó Nếu người này cho rằng thiệt hại không xảy ra thì lỗi của họ được xác định là lỗi vô ý cẩu thả; nếu họ cho rằng có thể ngăn chặn được thiệt hại thì lỗi của họ là lỗi vô ý vì quá tự tin “Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”
3.2 Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nguyên tắc BTTH là những tư tưởng chỉ đạo, mang tính định hướng cho các chủ thể phải tuân theo trong quá trình ban hành văn bản pháp luật và áp dụng pháp luật
về BTTH ngoài hợp đồng:
Nguyên tắc các bên đương sự thỏa thuận được Tòa án chấp nhận
Trong trường hợp các bên đương sự không thỏa thuận được thì Tóa án xem xét quyết định, nhưng khi quyết định cần phải xem xét điều kiện kinh tế của người gây ra thiệt hại, xem xét đến vấn đề giá cả tại địa phương tại thời điểm xét xử mà có phán quyết sao cho phù hợp
3.3 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
Trang 6Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là bất kì ai trừ trường hợp những người được pháp luật quy định không chịu trách nhiệm bồi thường như: người mất năng lực hành vi, người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm bồi thường,…
Người đủ tuổi thành niên một phần nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, trong trường hợp tài sản của người này không đủ thì cha mẹ phải bồi thường
Người chưa thành niên gây thiệt hại, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì người được giám hộ phải bồi thường, trong trường hợp người được giám
hộ không đủ tài sản hoặc không có khả năng bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường
B Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1 Vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp
lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đếm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xân phạm đến tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân tổ chức khác
1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần
Căn cứ vào lợi ích bị xâm phạm và những thiệt hại xảy ra mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân ra thành trách nhiệm nồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bù đắp về tinh thần
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc
bị giảm sút
Trang 7Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại
Việc phân loại hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc chứng minh thiệt hại xảy ra về mức bồi thường: về nguyên tắc người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy ra và mức bồi thường sẽ bằng với mức thiệt hại
1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra thiệt hại trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân chia thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con người gây ra và do tài sản gây
ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra được hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi con người gây ra Trường hợp này người gây thiệt hại đã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành vi đó chính là nguyên nhâ trực tiếp gây ra thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi tài sản chính là nguyên nhân gây ra thiệt hại khi hoạt động của những nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, cây cối đổ gẫy ra gây thiệt hại, gia súc gây thiệt hại,…
Việc phân loại có ý nghĩa trong việc xác định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra thì một điều không thể thiếu là hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Việc phân loại này cũng có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường: về nguyên tắc người nào có hành vi trái pháp luật gay ra thiệt hại thì người
Trang 8đó phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra còn đối với bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra thì về nguyên tắc chịu trách nhiệm bồi thường lại thuộc về chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản đó chứ không phải thuộc về tất cả mọi người đang chiếm giữ tài sản
1.3 Trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ
Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bồi thường thiệt hại được phân loại thành trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ bồi thường thiệt hại liên đới được hiểu là trách nhiệm nhiều người mà theo đó khi nhiều người cùng gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu một trong những người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại
Bồi thường thiệt hại riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người có trách nhiệm chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần thiệt hại do mình gây ra
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định cách thức thực hiện nghĩa
vụ, căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên
1.4 Trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập.
Căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ lỗi của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phân thành trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập
Trách nhiệm hỗn hợp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong đó cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi
Trách nhiệm độc lập là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt hại là người hoàn toàn không có lỗi
Trang 9Việc phân loại có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường và mức
độ thiệt hại
1.5 Trách nhiệm bồi thường của cá nhân, trách nhiệm bồi thường của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường nhà nước.
Căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân loại thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại cá nhân, trách nhiệm bồi thường thiệt hại pháp nhân, các tổ chức và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được hiểu là trách nhiệm dân sự à theo đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân người gây thiệt hại hoặc đại diện của người đó theo pháp luật như cha, mẹ, người giám hộ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân được hiểu là trách nhiệm dân
sự phát sinh do pháp nhân hoặc các tổ chức khác trong trường hợp người người của pháp nhân và các tổ chức khác gây thiệt hại khi được tổ chức hay pháp nhân giao cho
Trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại Nhà nước được hiểu là khi cán bộ, công chức gây thiệt hại thuộc phạm vi bồi thường nhà nước thì Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại chứ không phải chính cán bộ, công chức hay cơ quan, quản lý cán bộ công chức phải bồi thường
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể phải bồi thường và việc xác định nghĩa vụ hoàn lại Bên cạnh đó việc phân loại còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường, trình tự, thủ tục bồi thường,…bởi lẽ nếu trách nhiệm của Nhà nước thì sẽ bị giới hạn phạm vi áp dụng hoặc do đặc thù là một chủ thể đặc biệt thực hiên việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, tiền bồi thường thuộc ngân sách Nhà nước do đó việc thực hiện trình tự thủ tục bồi thường cũng không giống với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thông thường
2 Cơ sở xác định thiệt hại và nguyên tắc bồi thường thiệt hại
2.1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Trang 10Thông thường, khi tài sản bị xâm phạm, việc xác định thiệt hại thường dễ dàng hơn bởi vì sự thiệt hại về tài sản thì luôn luôn được định giá một cách cụ thể, hơn nữa thiệt hại về tài sản phần lớn là sự mất mát, hư hỏng, hoặc tài sản bị hủy hoại nên thường có số liệu cụ thể
Việc bồi thường bằng tài sản có thể được thực hiện bằng nhiều cách theo thỏa thuận của các bên theo nhiều hình thức bồi thường
2.2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
Khi xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, Tòa án phải dựa vào các chứng từ do đương sự cung cấp để quyết định mức bồi thường Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Tuy nhiên có những khoản chi phí không thể có hóa đơn như: khoản chi phí thuê xe máy đưa người đi cấp cứu thường không có hóa đơn, chứng từ nên khi xác định Hội đồng xét xử thường chỉ dựa vào thực tế chi phí của người bị thiệt hại để xác định
2.3 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người
mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng và tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại
Theo quy định của BLDS 2015 thì khoản chi phí mai táng phí được liệt kê cụ thể và Tòa án khi xét xử có thể dựa vào đó để xác định Tuy nhiên, nếu dựa vào các chi phí cụ thể do thân nhân bị hại đưa ra như tiền mua áo quan, hoa lễ, khăn xô, thì cũng cần phải thấy rằng giá cả của các loại đồ tang lễ này trên thị trường sẽ khác nhau Do vậy, cần phải xác định cụ thể mức tổi thiểu và mức tối đa của các khoản tiền này
Việc xác định khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng không có căn cứ cụ thể nên khi áp dụng pháp luật có sự không thống nhất Thông thường, để đưa ra mức cấp dưỡng này, Tòa án thường dựa vào hoàn