BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN KHẮC TOÀN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PROTEIN CỦA CÁ CÒM Chitala ornata GIAI ĐOẠN CỠ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN KHẮC TOÀN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN
ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG PROTEIN CỦA CÁ CÒM (Chitala ornata)
GIAI ĐOẠN CỠ GIỐNG 2-3cm LÊN CỠ GIỐNG 8-10cm
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN
ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG PROTEIN CỦA CÁ CÒM (Chitala ornata)
GIAI ĐOẠN CỠ GIỐNG 2-3cm LÊN CỠ GIỐNG 8-10cm
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Khắc Toàn
Người hướng dẫn: ThS Tạ Thị Bình
Trang 3VINH - 2011
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, quan tâm quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Tạ Thị Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở để tôi hoàn thành tốt đề tài khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Tiến, cùng các anh, các chị tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã quan tâm tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và làm đề tài tốt nghiệp tại
cơ sở.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, lãnh đạo trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản đã tạo điều kiên giúp đỡ về mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn cảm ơn các bạn, các em cùng thực tâp tại cơ sở đã giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Vinh, tháng 7 năm 2011
Nguyễn Khắc Toàn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Ðặc điểm hình thái 4
1.1.3 Ðặc điểm phân bố 5
1.1.4 Tập tính sống 7
1.1.5 Ðặc điểm sinh trưởng 8
1.1.6 Ðặc điểm dinh dưỡng và thức ăn 8
1.1.7 Ðặc điểm sinh sản 10
1.1.8 Một số bệnh thường gặp của cá Còm và cách phòng trị 11
1.1.9 Giá trị kinh tế 13
1.2 Tình hình nuôi Cá Còm trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.2.1 Tình hình nuôi và nghiên cứu trên thế giới 14
1.2.2 Tình hình nuôi và nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.3 Một vài chỉ tiêu kỹ thuật nuôi Cá Còm 14
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Vật liệu nghiên cứu 16
2.3.1 Dụng cụ thí nghiệm 16
Trang 62.3.2 Cá giống 16
2.3.3 Thức ãn sử dụng 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.5 Chăm sóc, quản lí 19
2.5.1 Phương pháp cho cá ăn 19
2.5.2 Quản lý 19
2.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20
2.6.1 Số liệu môi trường môi trường 20
2.6.2 Số liệu sinh trưởng 20
2.6.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (Average daily growth) 21
2.6.4 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng (Special growth rate) 21
2.6.5 Tỉ lệ sống(S) (%) 21
2.6.6 Hệ số chuyển đổi thức ăn của cá (feed conversion rate) 21
2.6.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn FE (feed efficiency ) 22
2.6.8 Hiệu quả sử dụng protein PER (Protein efficiency ratio) 22
2.6.9 Chi phí thức ăn 22
2.7 Phương pháp xử lí số liệu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Biến động các yếu tố môi trường 23
3.1.1 Biến động nhiệt độ 23
3.1.2 Biến động pH 24
3.1.3 Biến động oxy hòa tan 25
3.1.4 Biến động NH 3 25
3.2 Tốc độ tăng trưởng 26
3.2.1 Tăng trưởng về khối lượng 28
3.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 30
Trang 73.3 Tỷ lệ sống 34
3.4 Hệ số chuyển đổi thức ăn 35
3.4.1 Hiệu quả sử dụng thức ăn 35
3.4.2 Hệ số sử dụng thức ăn 36
3.5 Hiệu quả sử dụng protein 37
3.6 Chi phí thức ăn 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 39
Kết luận 39
Kiến nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá Còm (Chitala ornata) Gray, 1831 4
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá Còm ở khu vực châu Á 7
Hình 2.1 Hệ thống ao thí nghiệm 18
Hình 2.2 Đo các yếu tố và môi trưởng 20
Hình 3.1 Biến động nhiệt độ nước trong ao thí nghiệm 23
Hình 3.2 Biến động hàm lượng ô xy hòa tan nước ao nuôi cá Còm 25
Hình 3.3 Tăng trưởng trung bình về khối lương của cá Còm 28
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng của cá Còm 29
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá Còm 30
Hình 3.6 Tăng trưởng trung bình về chiều dài của cá Còm 31
Hình 3.7 Tăng trưởng bình quân theo ngày về chiều dài 32
Hình 3.8 Tăng trưởng đặc trưng về chiều dài trong quá trình thí nghiệm 33
Hình 3.9 Tỷ lệ sống của cá Còm ở các nghiệm thức 34
Hình 3.10 Hiệu quả sử dụng protein - PER (g/g) của cá Còm nuôi bằng 3 loại thức ăn ở giai đoạn ương giống 37
Trang 9DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng thức ăn thí
nghiệm 17
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 17
Bảng 3.1 Biến động pH trong các nghiệm thức 24
Bảng 3.2 Biến động NH 3 trong các nghiệm thức 25
Bảng 3.3 Tăng trưởng của cá Còm giữa các nghiệm thức 26
Bảng 3.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong thời gian thí nghiệm 35
Bảng 3.5 Hệ số sử dụng thức ăn của cá Còm trong thời gian thí nghiệm 36
Bảng 3.6 Chi phí thức ăn để thu được 1kg cá tăng trọng 38
Trang 10Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sảnThức ăn công nghiệp
Thức ăn công nghiệp và cá tạpThức ăn cá tạp
Và
Trang 11MỞ ĐẦU
Thủy sản là một ngành có nhiều thế mạnh ở nước ta hiện nay, với kimngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 4,7 tỷ USD tăng hơn 6% so với năm 2009 thìđây là một trong ba ngành có đóng góp lớn nhất cho kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam
Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi ven biển và nghềnuôi biển thì nghề nuôi thủy sản nước ngọt vẫn khẳng định được vai trò củamình, không ngừng phát triển cả về diện tích, quy mô và sản lượng, các đốitượng nuôi ngày càng đa dạng, nhiều đối tượng có giá trị kinh tế được đưavào nuôi trong đó các loài cá đặc sản như cá Lăng Chấm, cá Chiên, cá BốngTượng… đã đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, một số loài có giá trịkinh tế như cá Còm, cá Chầy đất, cá Rầm xanh,… chưa thể phát triển thànhđối tượng nuôi phổ biến do nguồn cung cấp giống chưa chủ động phục vụnuôi thương phẩm, giống cá chủ yếu được khai thác từ tự nhiên Ngoài nhữngđối tượng truyền thống, việc nghiên cứu sản xuất giống và nuôi một số đốitượng cá có giá trị kinh tế là việc cần thiết
Cá Còm (Chilata ornata) là loài cá nước ngọt cá giá tri kinh tế cao, có
chất lượng thịt thơm ngon và được thị trường rất ưa chuộng Ngoài ra, đâycòn là đối tượng sinh trưởng tương đối nhanh, đạt được trọng lượng 1,5 – 2,0
kg ở tuổi 1+ và có khả năng chịu được môi trường nuôi bất lợi và có thể nuôi
cá Còm ở mật độ cao 8 – 10 con/m2 rất có triển vọng cho người nuôi
Nghề nuôi cá Còm phát triển trong mấy năm gần đây và đem lại hiệuquả kinh tế gấp nhiều lần so với nuôi các đối tượng nuôi nước ngọt truyềnthống khác như cá rô phi, cá chép, mè Năng suất nuôi có thể đạt đến 50 tấn/ha/ năm Do vậy cá Còm được đưa vào danh sách những loài có triển vọngtrong chủ trương đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến
Trang 12thủy sản (Nguyễn Thành Trung và ctv, 2000)
Hiện nay, cá tạp là thức ăn chủ yếu để nuôi cá Còm Tuy nhiên, giá thức
ăn ngày càng cao, số lượng cá tạp ngày càng khan hiếm do cạnh tranh thức ănvới các đối tượng thủy sản khác Sử dụng thức ăn là cá tạp còn gây ô nhiễmnguồn nước, ảnh hưởng đến chất lượng cá và hệ sinh thái ao nuôi Trong khi
đó, nếu sử dụng thức ăn công nghiệp để nuôi cá Còm vừa giảm được chi phíkhoảng 30% so với nuôi bằng cá tạp vừa giảm được tác động xấu đến môitrường
Nhằm góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi đồng thời giảm chi phí thức ăn,giảm thiểu tác động xấu đến môi trường ao nuôi, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “ Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng, tỉ lệ sống
và hiệu quả sử dụng protein của cá Còm (Chitala ornata) giai đoạn cá cỡ giống 2-3cm lên cỡ giống lớn 8-10cm”.
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định được loại thức ăn thích hợp cho cá còm giai đoạn cỡ giống 3(cm) lên cỡ giống lớn 8-10(cm)
2- Nội dung nghiên cứu :
- Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến tốc độ sinh trưởng
và phát triển của cá Còm trong giai đoạn ương giống
- Đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Còm trong quá trìnhương với các loại thức ăn khác nhau
- Đánh giá hiệu quả chuyển đổi thức ăn và hiệu quả sử dụng protein của
cá Còm trong quá trình ương giống
- Đánh giá chi phí thức ăn trong việc ương nuôi cá Còm bằng các loạithức ăn khác nhau
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu
1.1.1 Hệ thống phân loại
Cá Còm được mô tả lần đầu tiên bởi Hamilton năm 1922 với tên khoa
học là Notopterus chitala, Cá Còm được xếp chung giống với cá thát lát (Notopterus notopterus) và gần 10 loài khác Năm 1931 Gray cũng nghiên cứu về đối tượng này và đặt tên là Chilata ornata Ông đã tách Cá Còm thuộc một giống khác với cá thát lát, là giống Chilata, trong giống này có 3 loài là:
Cá Còm (C ornata), cá Còm hoa (C blanci) và cá vây mao(C lopis)
Theo mô tả của Fishbase (2000) và Mai Đình Yên và CTV (1979) hệthống phân loại được xác định như sau:
Loài Chitala ornata (Gray, 1831)
Tên Việt Nam: cá Còm, cá Nàng Hai hoặc cá Thát lát Cườm
Tên tiếng Anh là Clown knife fish
Trước đây, cá Còm được xếp chung một giống với cá Thát lát và có tên
khoa học đồng danh là Notopterus chilata hay Mystus chilata Hiện nay, cá Còm được tách riêng thành hai giống khác nhau là Notopterus và giống
Chitala.Trong đó cá Còm thuộc giống Chitala.
Trang 141.1.2 Ðặc điểm hình thái
Hình 1.1 Cá Còm (Chitala ornata) Gray, 1831
Họ cá Còm Notopteridae nhìn chung hình thái ngoài có dạng: thân dẹp
ngang, viền lưng cong rất rõ, viền bụng có gai, đầu nhỏ nhưng miệng tươngđối rộng Vây bụng bị thoái hóa, vây lưng nhỏ nằm khoảng giữa thân, vây hậumôn dài liền với vây đuôi.Vẩy tròn nhỏ, đường bên hoàn toàn
Cá Còm thân dẹp bên, lưng nhô cao nên được gọi là còm (tức là gù).Theo mô tả hình thái của Trương Thủ Khoa (1992) và Phạm Văn Khánh(2006), Cá Còm có đầu nhỏ, nhọn, miệng trước, rạch miệng xiên kéo dài quakhỏi mắt, lỗ miệng rộng, xương hàm trên phát triển Có một đôi râu mũi ngắn,mắt nằm lệch về phía lưng của đầu Lưng của thân và đầu mu xanh rêu, haibên hông và bụng màu trắng Cá nhỏ dưới 10 cm có 10-15 hàng băng đenchạy ngang thân, các băng này mờ dần khi cá lớn và trở thành những chấmđen lớn, tròn ở phần đuôi Mỗi chấm đều có vành trắng bên ngoài (5 – 10 trên
Trang 15các cá thể khác nhau) Ngay trên cùng một mẫu số lượng chấm đen hai bênthân cũng không giống nhau Kích thước cơ thể tối đa được ghi nhận vào
khoảng 1m và có khối lượng thân đến 10 kg (Mai Đình Yên & ctv, 1992).
Cá có một đôi râu mũi nhỏ và ngắn thích nghi với đời sống đáy và sănmồi về đêm (Lê Quý Cường, 2006)
Khi phân tích mẫu thu ở Tân Châu, Vĩnh Xương (Đồng Tháp), CầnThơ và TP Hồ Chí Minh , Mai Đình Yên và ctv, 1992 đã mô tả : Cá Còm cóthân dài rất dẹp hai bên, lưng cong gồ lên và độ cong tăng theo kích thước của
cá Đầu nhỏ, nhọn, dẹp bên Miệng trước, rạch xiên, kéo dài quá viền sau mắt.Xương hàm trên phát triển rộng Răng nhọn lên và mọc ở hàm dưới, phầngiữa xương hàm trước, xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi Có một đôi râumũi ngắn nhỏ Mắt lệch về phía lưng của đầu, gần mút mõm hơn điểm cuốixương nắp mang Khoảng cách hai mắt cong và lồi, tương đương đường kínhmắt Lỗ mang rộng Màng mang rất phát triển
1.1.3 Ðặc điểm phân bố
Phần lớn các loài trong họ Notopteridae phân bố chủ yếu ở các thủyvực nước ngọt khu vực Châu Phi và Châu Á Tuy nhiên có sự khác biệt giữacác loài ở hai khu vực này Những loài ở châu Phi chỉ có vây ngực và vây hậumôn, còn những loài ở Châu Á thì có thêm vây lưng (Michael K.Stoskpf vàetal, 1992).Họ cá thát lát là cá nhiệt đới sống ở các thủy vực nước ngọt, phạm
vi phân bố hẹp Cá Còm phân bố ở khu vực Đông Nam Á, lưu vực sông
Mekong (Lào, Canpuchia, Thái Lan, Việt Nam), sông Chao Phraya (TháiLan) và các nước Srilanka, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ
Họ cá thát lát phân bố rộng rãi trên toàn bộ lưu vực sông và những nơi
có điều kiện giống như dòng chính của hệ thống sông Mekong Trên lưu vựcsông Mekong cá thát lát phân bố rộng nhất sau đó đến Cá Còm, còn Cá Còm
Trang 16hoa là loài cá đặc hữu của sông Mekong chúng chỉ phân bố ở khu vực thácghềnh đá (Ủy hội sông Mekong, 2005).
Cá Còm sống ở sông rạch, ao đầm, ruộng trũng, có thể chịu đựng được
ở vực nước có lượng oxy thấp, nhờ có cơ quan hô hấp phụ Mùa nước to cá
đi vào các vùng ruộng ngập nước sinh sống, mùa khô cá ra sống ở các rạchlớn, sông chính, các vực nước sâu
- pH 5,5 ÷ 8,5
- DO 3 ÷ 8 mg/l
Theo Ramshorst, 1981, Cá Còm Ở Việt Nam, trong tự nhiên chỉ có Cá
Còm và Thát lát, không có Cá Còm hoa.Trong đó cá Thát lát sống hầu hếtthủy vực nước ngọt thuộc các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên, cũng có thể gặp
cá này ở các đầm nước lợ, cửa sông, vùng ven biển Giới hạn cao nhất về phíabắc là khu vực sông Lam – Nghệ An (Mai Đình Yên và CTV, 1979)
Cá Còm phân bố tự nhiên ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia
(vùng Châu Đốc, Tân Châu), các nơi khác như sông Đồng Nai và sông SàiGòn ít gặp hơn (Mai Đình Yên và CTV, 1992) Chúng còn phân bố trong cáckênh rạch, ao, mương, đầm lầy ở miền Tây Nam Bộ (Trần Ngọc Nguyên vàCTV 2005) Cá sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng đáy, thích yên tĩnh nên haychui rúc trong các rặng cây và hốc đá
Qua nghiên cứu của Nguyễn Chung, 2006 môi trường thích hợp cho CáCòm sinh trưởng và phát triển là :
- Nhiệt độ nước từ 20 ÷ 300C
- Độ mặn tối đa 6‰.thích sống ở môi trường nước hơi acid
Trang 17Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá Còm ở khu vực châu Á 1.1.4 Tập tính sống
Ở Việt Nam, Cá Còm phân bố tự nhiên từ Nam Trung bộ đến đồngbằng sông Cửu Long, trong đó phân bố nhiều ở lưu vực sông Cửu Long vàsông Đồng Nai (Nguyễn Văn Hảo, 2005) Chúng thường sống ở những nơinước tĩnh, chịu được môi trường chật hẹp, nước có lượng ô xy hoà tan thấpnhờ có cơ quan hô hấp phụ Ngoài ra, Cá Còm có khả năng chống chịu tốt vớiđiều kiện bất lợi, ít bệnh tật Đây là những đặc tính quý của loài cá này, cótiềm năng nuôi thâm canh với mật độ và năng suất cao trong ao đầm Mùanước lớn, cá theo nước vào đồng ruộng để sinh sống; mùa khô cá ra sông rạchhoặc khu vực nước sâu Cá Còm là cá nhiệt đới, ưa thích nhiệt độ từ 24-30oC
Cá có khả năng chịu lạnh kém, cá sẽ chết khi nhiệt độ nước dưới 10oC kéo dàivài tuần Ngưỡng nhiệt độ lạnh gây chết với Cá Còm cũng tương tự như cá
Rô phi và cá Tra Cá Còm có tập tính sống theo quần đàn và loại cá này
Trang 18thường học động mạnh vào ban đêm Cá Còm thường sống ở tầng giữa vàtầng đáy Khi nuôi trong ao đầm chúng thường tập trung vào các góc hoặcxung quanh bờ ao.
1.1.5 Ðặc điểm sinh trưởng
Cá Còm là loài cá có kích thước cơ thể lớn, dài đến 100 cm và nặngtrên 10 kg (Quddus và Shafi, 1983; Rahman, 1989) Trong tự nhiên cá 1+ cóthể đạt 1,5 ÷ 2 kg, mỗi năm tăng từ 0,9 ÷ 1,1 kg Cá thể lớn nhất được ghinhận có trọng lượng thân đến 19 kg (Azadi và ctv., 1994) Trong khi đó, cáThát lát có chiều dài tối đa là 40 cm (Raiboth, 1991) Còn loài cá Thát lát cókích thước nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm Trong ao nuôi của huyện Thốt Nốt– Cần Thơ cá đạt 100 g sau 12 tháng nuôi (Bùi Xuân Nam, 2001)
Thời gian từ khi trứng thụ tinh ấp đến là 7 ngày Cá bột mới nở đến cácon phải mất đến 35 ÷ 40 ngày mới đạt 3 ÷ 4 cm, cá giống tăng trưởng nhanhđạt 5 ÷ 6 cm sau 15 ngày Để đạt kích thước 10 ÷ 12cm phải ương tiếp 30 ÷
35 ngày Nuôi thương phẩm cá lớn nhanh, sau 6 tháng cá có thể đạt 400 ÷ 500g/con, sau 12 tháng nuôi cá có thể đạt 1 kg/con (Nguyễn Chung, 2006)
Đối với cá thát lát cá mới nở có kích thước 0,9 ÷ 1 cm, sau 30 ngàyương cá đạt 3 ÷ 4 cm (Nguyễn Thành Trung, 1999) Cá đạt tuổi 1+ có kíchthước 20 cm và khối lượng 100 g/con (Bộ thủy sản, 1996 )
Điểm nổi trội của Cá Còm so với các loài cá đang nuôi ở đồng bằngsông Cửu Long là khi nuôi thương phẩn, cá nuôi càng lâu càng có hiệu quảkinh tế, sự tiêu tốn thức ăn giảm Ở những loài cá rô phi, cá tra, cá basa nuôiđến đạt kích thước thương phẩm phải lo thị trường tiêu thụ, nếu tiếp tục nuôi
cá tăng trưởng chậm, tiêu tốn nhiều thức ăn (Nguyễn Chung, 2006)
1.1.6 Ðặc điểm dinh dưỡng và thức ăn
Trong tự nhiên, Cá Còm là loài ăn tạp, thiên về thức ăn động vật Thức
ăn trong dạ dày của Cá Còm bao gồm côn trùng ở nước, nhuyễn thể, tôm và
Trang 19cá nhỏ (Rahman, 1989) Chưa có tài liệu ngoài nước công bố về nhu cầu dinh
dưỡng và sản xuất thức ăn nuôi Cá Còm thương phẩm Cá Còm là loài cá có
tập tính hoạt động và bắt mồi về ban đêm Trong điều kiện nuôi chúng ăngiun, cá mồi, cá tạp, ngoài ra còn có khả năng sử tốt thức ăn chế biến (PhạmVăn Khánh, 2006; Đoàn Khắc Độ, 2008)
Cá Còm có đặc tính sống quần đàn, khi lớn đặc tính này vẫn còn nhưng
cá tự phá bầy săn mồi riêng lẻ Cá sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng đáynhưng trong thực tế nuôi thương phẩm, Cá Còm vẫn ăn mồi ở tầng mặt, cũngtranh mồi như những loài cá khác nếu như tập cho ăn đúng giờ
Cá Còm có các đặc điểm thích nghi với đặc tính bắt mồi sống và chủ
động: thân hình thoi, dẹp bên giúp cá di chuyển nhanh nhẹn và nhẹ nhàng;miệng rộng có nhiều răng sắc nhọn; mang có 4 cung mang, lược mang thưa
và ngắn (mỗi cung mang có 12 ÷ 14 lược mang); dạ dày hình chữ Y; tỷ lệchiều dài ruột và chiều dài cơ thể Li/L = 0,23 ÷ 0,27 (Lê Quý Cường, 2006)
Giai đoạn cá bột 1 ÷ 4 ngày sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng.Giai đoạn cá 4 ÷ 8 ngày tuổi, cá ăn Moina, Daphnia
Từ ngày thứ 9, cá có thể ăn trùn chỉ, ấu trùng giáp xác, côn trùng
Sau 50 ngày tuổi cá có tính ăn giống cá trưởng thành
Trong nuôi thương phẩm có thể cho cá ăn mồi sống hoặc cũng có thểtập cho cá ăn thức ăn chế biến (70% bột cá + 30% bột cám), các phụ phẩmnông nghiệp, phụ phẩm lò mổ, thức ăn đông lạnh hay thức ăn công nghiệp.Khẩu phần ăn của cá từ 3 ÷ 7% khối lượng cá, tùy theo loại thức ăn và điềukiện môi trường (Nguyễn Chung, 2006)
Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến nhu cầu dinh dưỡng của
Cá Còm nói riêng và cá Thát lát nói chung Người nuôi thường cho Cá Còm
ăn thức ăn là cá tạp, hoặc cá tạp trộn với 30-50% thức ăn tự chế hoặc kết hợpcho ăn 70% cá tạp và 30% thức ăn viên hỗn hợp (Phạm Văn Khánh, 2006)
Trang 20Cá nuôi theo hình thức này có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, tương đương vớinuôi bằng cá tạp Việc sử dụng cá tạp làm thức ăn thủy sản gây ô nhiêm môitrường và lây lan dịch bênh Do vậy cần thiết phải hạn chế bớt việc sử dụng
cá tạp và tiến tới nuôi Cá Còm hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.
1.1.7 Ðặc điểm sinh sản
* Tuổi và kích thước thành thục
Theo Nguyễn Chung, 2006 ngoài tự nhiên cá thành thục sinh dục là
2+ ÷ 3+ nặng 1÷ 2 kg Trong nuôi vỗ cá có thể thành thục lần đầu ở 2+ nặng 2
kg, thực tế cá khoảng 1,0 kg nuôi vỗ vẫn cho đẻ được Cá Thát lát thành thụclần đầu ở tuổi 1+ kích thước 17 ÷ 18 cm, nặng 40 ÷ 60 g/con (Nguyễn DuyKhoát, 1997) Theo Mai Đình Yên (1983), cá nàng hai 1 năm tuổi thành thụcnặng khoảng 1 kg Tuổi sinh sản của cá nàng hai là ở năm thứ ba; buồngtrứng cá phát triển không đồng đều ở nhiều giai đoạn, do đó cá có thể đẻ đượcnhiều lần trong năm
Để nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của Cá Còm, (Hossain vàctv, 2006) đã thu thập 4 cặp Cá Còm bố mẹ (cá cái 4,2-5,0kg ; cá đực 2,8-3,6kg) từ sông Modhumoti (Bangladesh) vào tuần đầu tiên của tháng 7 vànuôi trong 4 ao diện tích từ 900-1300m, độ sâu 1,5-1,7m Cá đã thành thụcsinh sản tự nhiên trong ao Thế hệ F1 của đàn cá gốc này được sử dụng đểnghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất giống Theo nghiên cứunày, Cá Còm thành thục và tham gia sinh sản lần đầu ở tuổi thứ 3 Tinh sàocủa con đực có màu kem sáng, noãn sào của cá cái có màu nâu nhạt.Sức sinhsản tuyệt đối 5.761 trứng trên cá thể cái có khối lượng thân 4.200 g Nhìnchung, cá cái có sức sinh sản tuyệt đối thấp do trứng có kích thước lớn (khốilượng 1 trứng là 54 mg và đường kính 4,58 mm)
* Tập tính sinh sản và mùa vụ sinh sản
Tập tính sinh sản của Cá Còm là đẻ trong tổ đẻ và canh gác trứng(Azadi và ctv, 1995) Trứng Cá Còm dạng bám dính, sau khi đẻ trứng bám
Trang 21vào các giá thể và tỷ lệ nở của cá bột đạt trên 90% (Hossain và ctv, 2006) Cáthường đẻ vào tuần trăng khi trăng tròn hoặc trăng non, sau khi đẻ trứng bámvào các giá thể của tổ đẻ Tỷ lệ cá cái/cá đực trong tự nhiên là 0,7:1,0(Parameswaran và Sinha, 1996), tỷ lệ này cũng tương tự trong điều kiện nuôitrong ao (0,69:1,0) (Hossain và ctv, 2006)
Trong tự nhiên, mùa sinh sản của cá nàng hai là suốt mùa mưa từ tháng
5 đến 11, cá tái phát dục sau khi sinh sản 7-10 tuần và có thể sinh sản 2-3 lầntrong mùa mưa Cá nuôi trong ao hồ có thể chủ động nuôi thành thục cho sinhsản 4-5 lần kéo dài từ tháng 2 đến tháng 11 nếu được nuôi dưỡng đúng mứccho ăn đầy đủ dinh dưỡng (Nguyễn Chung, 2006)
Cá nàng hai bắt đầu thành thục vào tháng 2 đến tháng 4 tỷ lệ thành thụcđạt 30%, tháng 5 tỷ lệ thành thục tăng lên 70%, từ tháng 6 đến tháng 7 tỷ lệthành thục đạt 100%, tháng 8 tỷ lệ thành thục giảm xuống còn 80% và giảmdần đến cuối tháng 11 Cá tái thành thục sau 6 tuần và tham gia sinh sản lầnthứ hai (Trần Ngọc Nguyên, Nguyễn Thành Trung và Phan Văn Thành, 2005)
1.1.8 Một số bệnh thường gặp của cá Còm và cách phòng trị
Cá Còm khi nuôi trong ao nếu nuôi với mật độ thưa, mức độ thâm canhthấp thì ít bị nhiễm bệnh Nhưng khi nuôi với mật độ cao có đầu tư thâm canhnên có thể gặp một số loại bệnh như nhiễm trùng huyết do các loài vi khuẩngây bệnh P seudomonas, Aeromonas, Edwardlsiella Bệnh thường xuất hiệnkhi mật độ quá dày, nước ao quá nhiều chất hữu cơ do thức ăn dư thừa bịphân hủy, sinh ra các khí độc hại
Ngoài ra bệnh cũng liên quan đến các thương tổn da, vẩy do các tácnhân cơ học, do dinh dưỡng kém, hàm lượng oxy trong nước giảm thấp, vikhuẩn sẽ có cơ hội xâm nhập vào cõ thể gây bệnh cho cá nuôi Khi cá nhiễmbệnh khuẩn huyết, có thể sử dụng một số loại thuốc kháng sinh như
Trang 22Kanamycin trộn vào thức ăn (50 – 70 mg/kg thể trọng) và cho cá ăn liên tục
từ 7–10 ngày
Về môi trường ao nuôi, khi cá bệnh phải thay nước mới, sạch cho ao.Nếu có điều kiện thì kéo cá tập trung cho tắm bằng thuốc tím (kMnO4) vớinồng độ 3 – 5 ppm trong 15 – 30 phút
Cá Còm còn gặp các loại ký sinh trùng như Trùng bánh xe (hay còn
gọi là Trùng mặt trời – Tricho dina), Trùng quả dưa (Ichthiophthyrius), nhưng
chủ yếu gặp cá bị nhiễm bệnh trong gốc vây, gây ra các vết lở loét và xuấthuyết hoặc hoại tử
Bệnh thường gặp ở những ao nuôi mật độ quá dày, cho ăn thừa thức ăn,nước ao quá bẩn Để điều trị có thể dùng Sulphat đồng (CuS04) ngâm cá vớinồng độ 0,5 – 0,7g/m3 nước hoặc tắm cá bệnh với nồng độ 2 – 5g/m3 nước trongthời gian 5 – 15 phút, dùng muối ăn (NaCl) 2 – 30/00 tắm cho cá 5 – 15 phút Ngoài ra cá cũng dễ bị các loài giáp xác ký sinh như Trùng mỏ neo
(Lernea) và rận cá (Argulus) Chúng bám vào các vết thương ở mang, da và
trên cơ thể cá, nhất là giai đoạn cá hương, cá giống Lõi bám của Trùng mỏneo lam cho vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào cơ thể cá và gây bệnh Khi cá bịcác loài trên ký sinh, có thể dùng thuốc tím nồng độ 10 – 20 ppm tắm cho cá
20 – 30 phút, hoặc dùng lá xoan bó thành bó thả trong ao với liều lượng 0,3 –
Trang 23Để phòng bệnh, phải cho cá ăn đầy đủ, thức ăn phải đảm bảo vệ sinh,giữ môi trường nước ao nuôi sạch, đủ oxy.
1.1.9 Giá trị kinh tế
Cá Còm là loài cá có giá trị kinh tế cao có thể chế biến thành nhiềumón ăn cao cấp Chất lượng thịt tương đương với thịt cá Thát lát nhưng cỡ cáthương phẩm lớn, tỷ lệ thịt nhiều hơn Thịt Cá Còm được dùng chế biến thànhchả cá và nhiều món ăn đặc sản Cá Còm cũng được dùng để chế biến nhiềumón ăn dân dã gắn với tên địa phương như Cá Còm rút xương rán vàng, CáCòm kho khô, Cá Còm làm mắm nêm, Cá Còm nấu chua me đất đượcngười tiêu dùng rất ưa chuộng Sản phẩm chả Cá Còm còn được chế biến xuấtkhẩu, có giá trị kinh tế cao
Nghề nuôi Cá Còm phát triển trong mấy năm gần đây đem lại hiệu quảkinh tế gấp nhiều lần so với nuôi các đối tượng cá nuôi nước ngọt khác như cátra, rô phi hay cá mè, trôi, trắm, chép Nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên có thểnuôi Cá Còm ở mật độ cao 8-10 con/m2 Năng suất nuôi có thể đạt đến 50 tấn/ha/năm Do vậy Cá Còm được đưa vào danh sách những loài có triển vọngtrong chủ trương đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp chếbiến thủy sản (Nguyễn Thành Trung và ctv, 2000) Nhờ có hình dạng thânkhá đặc biệt, cơ thể mềm mại và vây bơi luốn lượn hình gợn sóng nên CáCòm còn được dùng làm cá cảnh
Trong tự nhiên do khai thác quá mức bằng những phương tiện huỷ diệt,
là nguyên nhân chủ yếu trực tiếp làm giảm nghiêm trọng nguồn lợi loài cánày Do vậy Cá Còm được liệt vào sách đỏ Việt Nam và xếp ở mức đe dọabậc T là loài cần được bảo vệ (Sách đỏ Việt Nam, 2000.T254) Việc sinh sảnnhân tạo thành công Cá Còm và nuôi cá thương phẩm sẽ góp phần làm giảm
bớt áp lực khai thác tự nhiên loài cá này
Trang 241.2 Tình hình nuôi Cá Còm trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi và nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về Cá Còm ở nước ngoài chủ yếu là phân loại, đặc điểmsinh học, kỹ thuật nuôi Cá Còm làm cảnh và sản xuất giống nhân tạo trongđiều kiện thí nghiệm Chưa có nhiều tài liệu đề cập đến nuôi thương phẩm
Cá Còm
1.2.2 Tình hình nuôi và nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, Cá Còm đã được nuôi thử nghiệm ở một
số địa phương ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đem lại hiệu quả kinh
tế cao
Ở Việt Nam, nghiên cứu về Cá Còm đã được thực hiện khá nhiều, từđặc điểm phân loại học (Mai Đình Yên & ctv, 1992) đến sinh sản nhân tạo vànuôi thương phẩm (Phạm Văn Khánh, 2006; Đoàn Khắc Độ, 2008) Cá Còmđược nuôi khá phổ biến ở các tỉnh phía Nam như An Giang, Đồng Tháp, CầnThơ vì những khu vực này có điều kiện tự nhiên phù hợp với sinh trưởng của
Cá Còm Năm 2006, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã thử nghiệmnuôi ghép Cá Còm trong ao nuôi cá Rô phi tại Bắc Ninh Sau 8 tháng nuôi cáđạt kích cỡ bình quân > 1 kg/con (Nguyễn Hồng Điệp, thông tin cá nhân)
Do hạn chế về kỹ thuật và cá giống nên Cá Còm chưa được nhân rộng ra cácđịa phương khác
1.3 Một vài chỉ tiêu kỹ thuật nuôi Cá Còm
Theo tổng hợp của Phạm Văn Khánh (2006) các chỉ tiêu kỹ thuật nuôi
Cá Còm như sau:
+ Ao nuôi: Diện tích từ 200 m2 trở lên, độ sâu 1-1,2m nước
+ Cá giống và mật độ nuôi: Cá giống cỡ 6-8 cm, mật độ 5-10 con/m2
+ Thức ăn và kỹ thuật cho ăn: 2 tuần đầu: Lượng thức ăn cho 1.000 con
cá giống như sau: 50 gam cám gạo + 50 gam bột cá trộn đều, nấu chín và cho
Trang 25cá ăn Những tuần sau đó cho cá ăn 50% thức ăn chế biến (50% bột cá + 50%cám gạo) và 50% cá tạp, cá vụn, ốc, tép Tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp.Khẩu phần ăn 5-7% khối lượng cá trong ao Mỗi ngày cho cá ăn 2-3 lần
+ Chăm sóc: Thay nước mới cho ao, mỗi đợt thay 30-50% lượng nướctrong ao Khi nước ao có màu xanh đậm hoặc mùi hôi phải tháo nước cũ, cấpthêm nước sạch cho ao
+ Phòng trị bệnh: Cá Còm tuy có sức chống chịu tốt xong vẫn có thểmắc một số bệnh phổ biến trên cá nước ngọt trong trường hợp ao nuôi vớimật độ quá cao, nước ao có chất lượng kém Để phòng bệnh cho cá, phải cho
cá ăn đầy đủ, thức ăn đảm bảo vệ sinh, giữ gìn môi trường nước ao sạch, đủ
ô xy
+ Thu hoạch: Sau 1năm tuổi cá đạt khối lượng trung bình từ 400-800 g/con
Trang 26Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá Còm (Chitala ornata) giai đoạn cỡ giống 2-3cm.
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 27/4/2011- 2/6/2011
Ðịa điểm nghiên cứu: Tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
-2.3 Vật liệu nghiên cứu
2.3.1 Dụng cụ thí nghiệm
- Máy nghiền thức ăn
- Các dụng cụ đo môi trường:
+ Máy đo pH + Nhiệt kế thủy ngân (độ chính xác 10C)+ Test đo DO, NH3,pH …
- Cân điện tử (với độ chính xác 0,01g)
- Giấy kẻ ô ly với mỗi vạch trên giấy cách nhau 1mm
- Thước đo (với độ chính xác 0,1mm) và thuốc gây mê cá
- Các dụng cụ khác: Xô, chậu, vợt, cần cho ăn, sàng cho ăn, cốc đongcho ăn
2.3.2 Cá giống
+ Cá Còm (Chitala ornata) giai đoạn giống cỡ 2-3cm, chọn cá giống:
khoẻ mạnh, không dị hình, sạch bệnh, màu sắc tươi sáng, cá được vận chuyển
từ miền Nam (Đại học Cần Thơ) về Viện Nghiên cứu NTTS 1
+ Phương thức vận chuyển cá: Vận chuyển cá Còm bằng máy bay
Trang 27+ Tắm nước muối loãng nồng độ 0,2 - 0,3% (200-300g muối/100 lítnước) trong 15 phút trước khi thả cá.
2.3.3 Thức ãn sử dụng
+ Công thức 1(CT1): 100% Thức ăn công nghiêp (35% protein)
+ Công thức 2(CT2): 50% thức ăn công nghiệp + 50% cá tạp
Chất béo(%)
Tro(%)
Xơ(%)TAHH 10,0 34,75 5,0 10,7 6,0
HH&CT 52,4 23,5 6,1 5,6 1,9
CT 71,8 18,4 6,56 3,24 0,0
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm
+ Thí nghiệm được tiến hành trong 3 ao đất Ao lớn có diện tích 720m2
và được ngăn đôi thành 6 ao nhỏ.Mỗi ao có diện tích 360m2
CT2 CT3 CT3(Ao G2) (Ao G4) (Ao G6)
Trang 28+ Ao nuôi có diện tích 720 m2/ao lớn, ao được ngăn đôi thành 2 ao đấtnhỏ mỗi ao có diện tích 360m2/ ao nhỏ Ao được ngăn bởi giai lưới có cỡ mắtlưới nhỏ Độ sâu của ao ương từ 1,2-1,5m Khi tiến hành ương nuôi cá aođược chuẩn bị kỹ lưỡng.
Trang 292.5 Chăm sóc, quản lí
2.5.1 Phương pháp cho cá ăn
Trong 3 - 5 ngày đầu, cá có thể sử dụng nguồn thức ăn sẵn có trong ao
và phù hợp với cỡ miệng cũng như nhu cầu dinh dưỡng của cá đó là các loàiđộng thực vât phù du, động vật đáy Đồng thời bổ sung thêm thức ăn hỗn hợpcông nghiệp kết hợp thức ăn tươi sống
* Lượng thức ăn: Lượng thức ăn cho ăn được tính theo phần trăm tổngkhối lượng cá, cụ thể:
Thức ăn 1: 7% tổng khối lượng cá
Thức ăn 2: 10% tổng khối lượng cá
Thức ăn 3: 15% tổng khối lượng cá
* Thời điểm cho ăn
Hằng ngày cho ăn 4 lần vào các thời điểm: 8h ; 11h ; 14h ; 17h
Sau 12 ngày tiến hành thu mẫu cá để phân tích và kiểm tra tốc độ tăngtrưởng về chiều dài cũng như khối lượng
2.5.2 Quản lý
- Duy trì ổn định các yếu tố môi trường như DO, nhiệt độ, pH…
- Quản lý tốt khẩu phần ăn trong các ô thí nghiệm
Trang 30- Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá về khả năng bắt mồi của cá
- Sau mỗi lần thu mẫu cân đo phải tiến hành lấy mẫu cá phân tíchdinh dưỡng
2.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.6.1 Số liệu môi trường môi trường
Định kỳ xác định các thông số môi trường như: pH, Nhiệt độ, và oxyhòa tan Các thông số môi trường được xác định 2lần/ngày vào lúc 8h và 16h
- Xác định nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân
- Xác định pH bằng máy đo pH
- Xác định oxy hoà tan bằng test đo
- Xác định NH3,định kỳ 4 ngày/lần và được xác định vào buổi sáng lúc 8h
Hình 2.2 Đo các yếu tố và môi trưởng
2.6.2 Số liệu sinh trưởng
Tiến hành đo cá định kỳ 12 ngày/lần Số lượng 30con/ao thí nghiệm.Tiến hành đo khối lượng bằng cân điện tử và đo chiều dài toàn thân bằngthước vạch chia cm
Trang 312.6.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG ( Average daily growth )
) 1 ( ) 2 (
T T
tb L tb L
) 1 ( ) 2 (
T T
Wtb Ln Wtb
L 1 và L 2 là chiều dài cá trước và sau thí nghiệm
T 1 và T 2 là thời gian nuôi đầu và thời gian nuôi sau
2.6.6 Hệ số chuyển đổi thức ăn của cá (feed conversion rate)
Tổng khối lượng thức ăn đã sử dụng (kg)
FCR=
Tổng khối lượng cá tăng thêm (kg)
Trang 322.6.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn FE (feed efficiency )
Tổng khối lượng cá tăng thêm
FE (g/g) =
Thức ăn tiêu thụ theo trọng lượng khô
2.6.8 Hiệu quả sử dụng protein PER (Protein efficiency ratio)
Khối lượng cá tăng thêm
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Biến động các yếu tố môi trường
3.1.1 Biến động nhiệt độ
Trong quá trình thí nghiệm, nhiệt độ nước dao động từ 23-320C Nhiệt
độ trung bình 26,40C vào buổi sáng, vào buổi chiều nhiệt độ trung bình giữacác thí nghiệm là 29,40C Do thí nghiệm được tiến hành từ tháng 4 cho đếntháng 6 cũng là vào mùa hè nên nhiệt độ nước trong ao khá cao Nhiệt độ thấpnhất là 23 0C và cao nhất là 370C, có sự chênh lệch khá cao giữa nhiệt độ buổisáng và buổi chiều
0114/5/2
0116/5/2
0118/5/2
Hình 3.1 Biến động nhiệt độ nước trong ao thí nghiệm
Nhiệt độ môi trường trong quá trình thí nghiệm biến động khá caonhưng nhìn chung ngưỡng nhiệt độ biến động phù hợp với khoảng nhiệt độ
Trang 34phát triển của cá Còm Nhiệt độ giữa sáng và chiều nằm trong khoảng daođộng từ (40C - 60C) Theo Nguyễn Chung và ctv (2006) và Nguyễn LongNhựt (2004) cá Còm có khả năng chịu nhiệt cao từ 26-300C, ngưỡng giới hạnnhiệt độ của cá Còm có thể chịu đựng được từ 14-360C Như vậy, nhiệt độtrong thí nghiệm cao nhưng ngưỡng nhiệt này nằm trong khoảng sinh trưởng
và phát triển của cá Còm
3.1.2 Biến động pH
Bảng 3.1 Biến động pH trong các nghiệm thức
Công thức Min Khoảng dao động MaxTAHH 7.9 7,9-8,5 8,5HH&CT 8,0 8,0-8,4 8,4
CT 7,6 7,6-8,5 8,5
Giá trị pH trong quá trình thí nghiệm dao động từ 7,7- 8,5 (Bảng 3.1).Vào buổi sáng pH dao động trong khoảng 7,6-8,4 và buổi chiều pH dao độngtrong khoảng 7,7- 8,5 pH thường đạt giá trị cao nhất vào buổi chiều lúc 14h-15h Trong quá trình thí nghiệm giá trị pH dao động giữa buổi sáng và buổichiều thường không lớn Theo nghiên cứu của Nguyễn Chung (2006) và kếtquả thí nghiệm cho thấy đây là ngưỡng rất phù hợp cho cá Còm phát triển.Qua phân tích ANOVA một nhân tố thì không có sự sai khác giữa các nghiệmthức (P>0,05)
Trang 353.1.3 Biến động oxy hòa tan
Hình 3.2 Biến động hàm lượng ô xy hòa tan nước ao nuôi cá Còm
Hàm lượng oxy hòa tan trung bình trong ao thí nghiệm dao động trongkhoảng 5,0-6,5mg/l Qua các lần đo thì hàm lượng oxy đạt cao nhất là 7,4mg/l
và đạt giá trị nhỏ nhất là 4,5mg/l Hàm lượng oxy hòa tan tối ưu cho cá Còmđược khuyến cáo là >3mg/l, mức độ oxy cho phép trong môi trường sống của
cá Còm là 3mg/l và cá sẽ ngừng ăn khi mức oxy <1mg/l (Nguyễn Chung vàctv, 2006) Trong thí nghiệm ngưỡng oxy của cá Còm dao động trong ngưỡng4-7mg/l rất phù hơp cho sự phát triển của cá Còm
3.1.4 Biến động NH 3
Bảng 3.2 Biến động NH 3 trong các nghiệm thức
Chỉ tiêu Trung bình Min Max